MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong mỗi môn học, ngoài thời gian học trên lớp được các thầy cô giảng dạy thì bản thân của mỗi sinh viên phải tự tìm tòi học hỏi để nầng cao kiến thức, nhằm phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo. Nhận thức được điều đó và để có hiệu quả cao nhóm chúng em lựa chọn đề tài “ Tìm hiểu vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường để tim hiểu”, thiết bởi đây là vấn đề mà số đông thanh viên trong nhóm chúng em còn chưa được hiểu rõ. 2. Mục đích nghiên cứu Sau khi lựa chọn đề tài, nhóm chúng em đưa ra những mục đích nghiên cứu sau: Phá sản là gì? Những vấn đề chung về pháp luật phá sản? Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường? Đối với các chủ nợ, con nợ, người lao động, xã hội ... Đưa ra nhận định.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong mỗi môn học, ngoài thời gian học trên lớp được các thầy cô giảng dạythì bản thân của mỗi sinh viên phải tự tìm tòi học hỏi để nầng cao kiến thức,nhằm phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo
Nhận thức được điều đó và để có hiệu quả cao nhóm chúng em lựa chọn đề
tài “ Tìm hiểu vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường để tim hiểu”, thiết bởi đây là vấn đề mà số đông thanh viên trong nhóm chúng em
còn chưa được hiểu rõ
-Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường? Đối với các chủ
nợ, con nợ, người lao động, xã hội
- Đưa ra nhận định
Trang 2đú Ban hành phỏp luật phỏ sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng nhữngthuộc tớnh của phỏp luật với tư cỏch là cụng cụ điều chỉnh cỏc quan hệ xó hộitrong điều kiện tồn tại Nhà nước như tớnh quy phạm, tớnh bắt buộc chung nhằm tỏc động một cỏch hiệu quả nhất đến quan hệ giữa cỏc chủ thể quan hệphỏ sản, giải quyết xung đột lợi ớch của cỏc chủ thể đú theo đỳng bản chất vốn
cú của nú Ngoài ra, việc giải quyết xung đột giải quyết này cũng khụng thểkhụng tớnh đến những nhiệm vụ cụ thể đặt ra trước cỏc nhà làm luật ở mỗi quốcgia trong từng thời kỳ phỏt triển kinh tế của mỡnh
Như vậy phỏ sản là hiện tượng bỡnh thường và cần thiết của kinh tế thịtrường, cũn phỏp luật phỏ sản là sự can thiệp cú ý thức của Nhà nước vào hiệntượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiờu cực và khai thỏc những mặttớch cực và khai thỏc những mặt tớch cực của nú Thụng qua phỏp luật phỏ sản,Nhà nước và Toà ỏn cú thể can thiệp vào quỏ trỡnh hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp với một cỏch nhỡn hện đại, năng động và hết sức mềm dẻo
2 Những vấn đề chung về phỏp luật phỏ sản
2.1.Phá sản - sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trờng
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các nền kinh tế trên thếgiới đã cho thấy rằng, phá sản ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế -xã hội nhất định Điều này giải thích tại sao, phá sản là hiện tợng bình thờng,phổ biến trong nền kinh tế thị trờng nhng lại rất xa lạ với nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung
Trang 3Phá sản đã có từ lâu, nhng với t cách là một hiện tợng phổ biến thì nó chỉxuất hiện trong nền kinh tế thị trờng Trong nền kinh tế này, cùng với các quyềncơ bản khác của công dân, quyền tự do kinh doanh đã rất đợc Nhà nớc tôntrọng, đề cao và bảo vệ Với t cách là một quyền cơ bản của công dân, quyền tự
do kinh doanh có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều bộ phận cấu thành nh quyền
tự do thành lập doanh nghiệp; quyền tự do quyết định quy mô kinh doanh;quyền tự do lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh; quyền tự do định đoạtcác vấn đề phát sinh trong khi hành nghề; quyền tự do thiết lập các quan hệ kinhtế; quyền tự do lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp; quyền tự do cạnh tranhtrong khuôn khổ pháp luật Nh vậy, quyền tự do cạnh tranh nh một bộ phận cấuthành rất quan trọng của quyền tự do kinh doanh đã tạo tiền đề pháp lý để cácdoanh nghiệp tham gia vào các cuộc chiến với nhau nhằm giành giật thị trờng,khách hàng, lợi nhuận Cũng nh mọi cuộc chiến khác, cuộc chiến giữa các nhàkinh doanh cũng mang lại những hậu quả nhất định mà thờng là, bên cạnhnhững doanh nghiệp do kinh doanh có hiệu quả nên đã tồn tại và phát triển thìluôn có một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do làm ăn kém hiệu quả,
nợ nần chồng chất, không thể thanh toán đợc các nghĩa vụ tài chính đến hạn nênbuộc phải chấm dứt sự tồn tại của mình và rút khỏi thị trờng Trong điều kiện
nh vậy, một vấn đề đặt ra mà Nhà nớc nào cũng phải quan tâm giải quyết là làmsao tạo điều kiện để doanh nghiệp con nợ này rút khỏi thơng trờng một cách êmthấm, có trật tự và ít gây ra hậu quả xấu cho các chủ thể có liên quan nói riêng
và cho xã hội nói chung Muốn thực hiện đợc các mục tiêu này thì Nhà nớckhông thể đứng ngoài cuộc mà phải can thiệp bằng cách ban hành pháp luật để
xử lý một loạt các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp mắc nợ Ví dụ, Nhà nớcphải quy định khi nào và với điều kiện gì thì một doanh nghiệp con nợ bị coi là
đã lâm vào tình trạng phá sản; ai có quyền làm đơn yêu cầu việc giải quyết phásản; cơ quan nào trong bộ máy nhà nớc có nghĩa vụ giải quyết việc phá sản; thủtục Toà án thụ lý và giải quyết vụ phá sản; cơ chế quản lý tài sản của con nợ lâmvào tình trạng phá sản; thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của thiết chế thực hiệnviệc quản lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; tài sản phá sảngồm những gì; khi giải quyết phá sản thì có những tài sản nào của con nợ không
đợc đem chia cho các chủ nợ; thứ tự u tiên thanh toán từ tài sản phá sản; con nợ
có phải tiếp tục trả cho các chủ nợ các khoản nợ còn thiếu cha đợc trả haykhông, v.v … Tất cả những vấn đề đó cần phải đ Tất cả những vấn đề đó cần phải đợc Nhà nớc thông qua việc banhành các văn bản pháp luật mà giải quyết một cách thấu đáo, hợp tình, hợp lý.Tổng hợp những văn bản pháp luật này tạo thành một lĩnh vực pháp luật đợc gọi
là pháp luật về phá sản mà xơng sống của nó là Luật Phá sản Tóm lại, vì có phá
Trang 4sản nên phải có pháp luật về phá sản và pháp luật về phá sản là tổng thể các vănbản do Nhà nớc ban hành, trong đó quy định về tình trạng phá sản; điều kiện ápdụng các thủ tục phá sản (thủ tục phục hồi, thủ tục thanh lý); địa vị pháp lý củacác chủ thể tham gia tố tụng phá sản; trình tự tiến hành việc giải quyết phá sản;thứ tự u tiên thanh toán từ tài sản phá sản và các vấn đề khác có liên quan đếnviệc giải quyết một vụ phá sản cụ thể.
Loài ngời không chỉ biết đến nền kinh tế thị trờng mà còn biết đến một môhình kinh tế khác đã từng tồn tại một thời gian dài trong thế kỷ 20 là nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung Đặc trng của nền kinh tế này là thừa nhận nguyên tắcNhà nớc lãnh đạo nền kinh tế (Ví dụ, ở Việt Nam, nguyên tắc này đợc ghi nhậntrong Hiến pháp năm 1980 tại Điều 22 và Điều 33); ghi nhận sự thống lĩnh củachế độ sử hữu xã hội chủ nghĩa dới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữutập thể (Điều 18, Điều 23, Điều 26 Hiến pháp 1980); phủ nhận quyền tự do kinhdoanh thông qua việc khẳng định sự độc quyền ngoại thơng của nhà nớc (Điều
21 Hiến pháp 1980) và cấm đoán các hình thức sản xuất kinh doanh phi xã hộichủ nghĩa (Điều 24, 25 Hiến pháp 1980) Tóm lại, trong nền kinh tế này không
có sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, không có tự
do kinh doanh, tức là không có đầy đủ các tiền đề kinh tế – pháp lý để tạo ra
đ-ợc sự cạnh tranh thực sự trên thơng trờng Khi muốn thì Nhà nớc quyết địnhthành lập ra các doanh nghiệp nhà nớc và chỉ đạo, điều hành sự hoạt động của
nó Khi doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ thì Nhà nớc hoặc là bù lỗ bằngtiền ngân sách để cho nó tiếp tục tồn tại hoặc là chấm dứt sự tồn tại của nó bằngcách ra quyết định giải thể Trong hoàn cảnh nh vậy, không thể có phá sản và do
đó, không thể có pháp luật về phá sản Điều này giải thích tại sao, ở Liên Xô vàcác nớc XHCN trớc đây không hề có Luật Phá sản mà chỉ có các quy định phápluật về giải thể doanh nghiệp nhà nớc mà thôi
2.2 Thủ tục giải quyết phá sản - thủ tục tố tụng t pháp đặc biệt
Khác với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự (tố tụng dân sự) hay thủ tụcgiải quyết một vụ kiện kinh tế (tố tụng kinh tế), thủ tục giải quyết một vụ phásản (tố tụng phá sản) đợc coi là một loại tố tụng t pháp đặc biệt Do tính chất
đặc biệt này nên trong pháp luật tố tụng các nớc, thủ tục phá sản bao giờ cũng
đợc điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt Tính chất đặc biệtcủa thủ tục phá sản đợc thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể.
Doanh nghiệp với t cách là một chủ thể pháp luật có thể tham gia vào rấtnhiều quan hệ xã hội khác nhau, và do đó, có thể trở thành chủ thể của nhiềuquyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau Ví dụ, khi ký hợp đồng với doanh nghiệp
Trang 5khác và bị doanh nghiệp đó vi phạm hợp đồng thì doanh nghiệp bị hại có quyềnlàm đơn kiện ra Toà án một cách độc lập, riêng lẻ để nhờ Toà án can thiệp Nhvậy, đặc điểm nổi bật của tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế là ở chỗ, trong tốtụng này, các chủ nợ thực hiện việc đòi nợ một cách độc lập, riêng lẻ, nói mộtcách nôm na, nợ của ai thì ngời đó kiện ra Toà án mà đòi Khác với thủ tục đòi
nợ thông thờng này, thủ tục phá sản là thủ tục mà ở đó, việc đòi nợ và thanhtoán nợ đợc tiến hành một cách tập thể Trong quá trình giải quyết vụ việc phásản, các chủ nợ không thể tự xé lẻ để đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ đềuphải đợc tập hợp lại thành một chủ thể pháp lý duy nhất, gọi là Hội nghị chủ nợ.Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả các chủ nợ để tham gia vào việc giải quyếtphá sản Khi bị áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn bộ tài sản của con nợ đợc đavào một quỹ chung dùng để trả cho các chủ nợ theo một thứ tự u tiên nhất định
đã đợc Luật Phá sản quy định trớc Nếu tài sản của con nợ không đủ để thanhtoán tất cả các khoản nợ thì các chủ nợ đợc thanh toán theo tỷ lệ giữa khoản nợ
mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu với số tài sản còn lại của doanh nghiệp
Thứ hai, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đợc tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt, nh một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ.
Nếu nh thủ tục đòi nợ thông thờng (đòi nợ thông qua việc khiếu kiện ra Toà
án) có thể đợc tiến hành bất cứ lúc nào thì thủ tục phá sản chỉ đợc áp dụng khidoanh nghiệp mắc nợ đã lâm vào một tình trạng tài chính bi đát, dờng nh không
có lối thoát mà ngời ta thờng gọi là tình trạng phá sản Nói cách khác, thủ tụcphá sản là thủ tục pháp lý không dễ đợc xảy ra; nó chỉ xuất hiện nh một giảipháp cuối cùng mà các chủ nợ phải sử dụng để đòi nợ khi mà các phơng thức
đòi nợ thông thờng khác đã trở nên bất lực
Thứ ba, thủ tục phá sản là thủ tục mà hậu quả của nó thờng là sự chấm dứt hoạt động của một thơng nhân.
Trong tố tụng dân sự hoặc kinh tế, sau khi bản án của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật thì con nợ đơng nhiên có nghĩa vụ phải chấp hành Đó là lẽ thông th-ờng Điều đáng lu ý của các loại tố tụng thông thờng này là ở chỗ, sau khi trả nợxong thì con nợ vẫn tồn tại và hoạt động một cách bình thờng Trong tố tụngphá sản thì tình hình lại khác Cái khác biệt của thủ tục này so với tố tụng dân
sự, kinh tế là ở chỗ, thông thờng, để giúp các chủ nợ thu hồi đợc các món nợ củamình thì Toà án phải ra những quyết định pháp lý đặc biệt nh quyết định ápdụng thủ tục thanh lý (thực chất là quyết định nhằm chấm dứt sự tồn tại củadoanh nghiệp) để rồi nhân cơ hội đó mà bán toàn bộ tài sản của nó để trả chocác chủ nợ Nói cách khác, cái đặc thù của thủ tục phá sản là ở chỗ, kết quả thựchiện nó thờng dẫn đến sự chấm dứt hoạt động của chính bản thân con nợ
Trang 6Thứ t, thủ tục phá sản không chỉ thuần tuý là một thủ tục đòi nợ mà còn là một thủ tục có khả năng giúp con nợ phục hồi.
Nh phần trên đã nói, mặc dù thủ tục phá sản thực chất là một thủ tục đòi nợtập thể nhng điều đó không có nghĩa là, khi con nợ bị mở thủ tục phá sản thìngay lập tức, tài sản của nó sẽ bị dùng để thanh toán cho các chủ nợ Hiện nay,ngoài mục tiêu thanh lý, pháp luật phá sản ở nhiều nớc trên thế giới còn đặtthêm một mục tiêu rất quan trọng nữa cho thủ tục phá sản, đó là việc giúp con
nợ phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Mục tiêu này cần phải
đ-ợc đặt ra là vì Nhà nớc nào cũng muốn tránh đđ-ợc càng nhiều càng tốt những hậuquả xấu do việc phá sản gây ra Việc tuyên bố phá sản một doanh nghiệp sẽkhông chỉ ảnh hởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân các chủ nợ,con nợ, ngời lao động mà còn kéo theo nhiều hậu quả bất lợi cho xã hội nóichung Đối với các chủ nợ, trong trờng hợp con nợ gặp khó khăn, việc thanh lýngay tài sản của con nợ để thu hồi nợ không phải bao giờ cũng là giải pháp tối ucho họ vì không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản cũng còn đủtài sản để thanh toán hết các món nợ của mình Vì vậy, sẽ là tốt hơn nếu con nợ
đợc giúp đỡ để thoát khỏi tình trạng phá sản, tiếp tục hoạt động để có cơ hộitốt hơn cho việc trả nợ Đối với ngời lao động, việc doanh nghiệp nơi họ đanglàm việc bị phá sản sẽ dẫn tới việc hàng loạt ngời bị thất nghiệp và kéo theo đó
là những hậu quả xấu về mặt xã hội nh đói nghèo, tệ nạn xã hội, tội phạm … Tất cả những vấn đề đó cần phải đ
Đối với môi trờng kinh doanh, việc phá sản của các doanh nghiệp, nhất là nhữngdoanh nghiệp lớn, có nhiều đối tác làm ăn hoặc hoạt động trong những ngànhnghề quan trọng đối với quốc kế dân sinh rất dễ làm phát sinh tác động dâychuyền đến các lĩnh vực kinh tế khác cũng nh đến hoạt động của các doanhnghiệp khác trong nền kinh tế Vì vậy, việc tạo điều kiện phục hồi cho con nợ làmột xu hớng ngày càng đợc khẳng định trong pháp luật phá sản hiện đại
Trong thủ tục phá sản, con nợ đợc Toà án tạo điều kiện tối đa cho việc phụchồi hoạt động kinh doanh Một trong những biện pháp để giúp con nợ thoátkhoải tình trạng phá sản là pháp luật cho phép con nợ đợc chủ động xây dựngphơng án hoà giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh củamình Kế hoạch này sẽ đợc trình lên Hội nghị chủ nợ để thông qua và nếu đợcthông qua thì về cơ bản, doanh nghiệp con nợ đợc khôi phục lại vị trí pháp lýban đầu, tiếp tục sản xuất, kinh doanh một cách bình thờng Theo Luật phá sảncủa nhiều nớc thì Toà án chỉ ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối vớinhững con nợ trong trờng hợp đã có căn cứ rõ ràng chứng minh về việc con nợ
đã không thể phục hồi hoặc con nợ đã không thành công trong việc thực hiệnphơng án phục hồi
Trang 7Thứ năm, thủ tục phá sản - một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp.
So với tố tụng dân sự và kinh tế thì tố tụng phá sản phức tạp hơn nhiều Tínhphức tạp của thủ tục này thể hiện ở chỗ, khi giải quyết việc phá sản, Toà án phảithụ lý và xử lý rất nhiều công việc khác nhau về tính chất chứ không chỉ đơnthuần chỉ là các công việc có tính chất tài sản nh trong tố tụng dân sự và kinh tếthông thờng Ví dụ, Toà án không chỉ giải quyết các vấn đề về việc doanhnghiệp có mất khả năng thanh toán nợ hay không, nợ bao nhiêu, nợ ai mà cònphải giải quyết nhiều vấn đề khác nh: việc phục hồi hoạt động của doanhnghiệp, việc quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, việc thành lập và điềuhành hoạt động của thiết chế quản lý và thanh lý tài sản, việc triệu tập và chủ trìHội nghị chủ nợ … Tất cả những vấn đề đó cần phải đ Việc phải xử lý một lúc nhiều công việc phức tạp nh vừanêu trên đã làm cho tố tụng phá sản hoàn toàn khác với tố tụng dân sự, kinh tếthông thờng không chỉ về quy mô mà còn cả về tính chất Điều này lý giải tạisao tố tụng phá sản luôn luôn đợc điều chỉnh pháp luật riêng và trở thành mộtthủ tục tố tụng t pháp đặc biệt
II VAI TRề CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Nh phần trên đã phân tích, sự tồn tại tất yếu của phá sản đã dẫn đến sự tồn tạitất yếu của pháp luật phá sản Pháp luật phá sản có vai trò rất quan trọng trong
đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Vai trò đó thể hiện ở những nộidung chủ yếu sau đây:
1 Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ
Với một nền kinh tế hàng húa nhiều thành phần cú sự quản lý của Nhà nướcnền kinh tế thị trường đó hỡnh thành và phỏt triển ở nước ta rất phong phỳ, đadạng với nhiều loại hỡnh doanh nghiệp Tuy nhiờn do sự tỏc động của cỏc quyluật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật giỏ trị, quy luật cung cầu, trongnền kinh tế nước ta cũng đó nảy sinh nhiều hiện tượng hay quan hệ kinh tế vốnkhụng tồn tại trong cơ chế kế hoạch húa Một trong những hiện tượng đú là sựphỏ sản của cỏc doanh nghiệp Khi một doanh nghiệp bị phỏ sản sẽ kộo theonhững hậu quả nhất định như sự xỏo trộn trong nền sản xuất, ảnh hưởng đếncụng ăn, việc làm của người lao động, đến lợi ớch chung của Nhà nước và xóhội Do đú, để đảm bảo, duy trỡ mối quan hệ hài hũa giữa những lợi ớch nờu
Trang 8trên, đòi hỏi chúng ta phải có một cơ chế pháp lý thống nhất và chặt chẽ Phápluật phá sản ra đời là bộ phận cấu thành không thể thiếu của pháp luật kinhdoanh để giải quyết mối quan hệ nợ nần trong hoàn cảnh đặc biệt: khi mà doanhnghiệp lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính không thể phục hồi Khi một nhàđầu tư cho các doanh nghiệp vay vốn, họ có hai phương pháp để đòi nợ: Đòi nợbằng phương pháp thông thường, thông qua việc đưa đơn kiện ra Tòa án, Trọngtài kinh tế hoặc Đòi nợ bằng một cơ chế đặc biệt - thông qua thủ tục phásản Pháp luật phá sản với cơ chế thủ tục phá sản được biết đến như một thủ tụcđòi nợ tập thể, trong đó vấn đề trọng tâm là bảo vệ và đảm bảo công bằng chocác chủ nợ.
Vai trò của pháp luật phá sản nhìn từ góc độ lợi ích của chủ nợ thểhiện:
Thứ nhất là pháp luật phá sản quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản của chủ nợ với thủ tục đơn giản, thuận tiện cho các chủ nợ Theo Điều
13 LPS 2004 thì ta thấy rõ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản củachủ nợ rất dễ dàng được đáp ứng khi mà chủ nợ “nhận thấy doanh nghiệp, hợptác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảođảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanhnghiệp, hợp tác xã đó” Nghĩa vụ của chủ nợ khi làm đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản cũng rất dễ dàng đáp ứng được, đó là cần phải:Chứng minh mình là chủ
nợ (xuất trình các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần);Chứng minh khoản nợ đã đến hạn thanh toán (dựa vào thời hạn ghi trên giấy nợ
mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán); Chứng minh mình đã yêucầu con nợ thanh toán nợ nhưng con nợ không thực hiện hoặc thực hiện khôngđầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình (báo cáo quá trình đòi nợ) Các nghĩa vụ nàyhoàn toàn trong tầm tay của các chủ nợ để Tòa án phải ra quyết định tuyên bốdoanh nghiệp mắc nợ bị phá sản, để rồi nhân việc đó mà bán toàn bộ tài sản củadoanh nghiệp đó đi, nhằm thanh toán cho chủ nợ
Trang 9Thứ hai là pháp luật phá sản quy định nhiều biện pháp bảo toàn tài sản củacon nợ, mở rộng khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ Từ cổ xưa, pháp luật phásản đã xác định việc bảo toàn tối đa tài sản của con nợ nhằm bảo vệ lợi ích tàisản của các chủ nợ như là nhiệm vụ trung tâm của thủ tục phá sản Do đó, tạođiều kiện cho các chủ đầu tư tự tin hơn trong quá trình cho vay và đòi nợ LPS
2004 đã mở rộng khả năng đòi nợ của các chủ nợ khi đưa ra khái niệm phá sản
đã đoạn tuyệt với nguyên nhân khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh vàthời hạn thua lỗ.“Không đủ tiền và tài sản để thanh toán các khoản nợ đến hạnbất luận vì lý do gì mà không thể khắc phục được thì đều được coi là đã lâmvào tình trạng phá sản” (Điều 3) Các biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ cụthể được quy định trong luật như sau: Cử người quản lý và điều hành hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ nếu xét thấyngười quản lý của doanh nghiệp không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tụcđiều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản củadoanh nghiệp (Điều 30); Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48); Đình chỉ thi hành án dân sự(Điều 57); Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58); Ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55); Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang
có hiệu lực (Điều 54); Chủ nợ không có bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa ántuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44) Pháp luật phá sản quy định một loạtnhững quyền hạn cho chủ nợ như vậy là để đảm bảo cho chủ nợ lợi ích củamình, hạn chế tình trạng chây ỳ, dây dưa thanh toán nợ
Pháp luật phá sản với cơ chế thủ tục phá sản được biết đến như một thủ tụcđòi nợ tập thể, trong đó vấn đề trọng tâm là bảo vệ và đảm bảo công bằng chocác chủ nợ Bản chất của thủ tục phá sản là các chủ nợ thông qua việc yêu cầuTòa án tuyên bố con nợ bị phá sản để thu hồi vốn của mình Cơ hội đòi nợthông qua thủ tục phá sản càng cao thì thủ tục đó càng hấp dẫn các chủ nợ, vìvậy cho nên thủ tục phá sản nhanh chóng trở thành một công cụ hiệu quả bảo vệlợi ích các chủ nợ, mở rộng khả năng đòi nợ của các chủ nợ Bảo vệ quyền lợihợp pháp của các chủ nợ, qua đó tạo điều kiện duy trì và phát triển thị trường
Trang 10vốn, bảo vệ chủ nợ là mục tiờu rất quan trọng của Luật Phỏ sản Khi nhà đầu tưtiềm năng thấy phần vốn đầu tư của mỡnh khụng an toàn, khú cú thể đũi lạiđược vỡ những lý do phi thị trường thỡ nhà đầu tư sẽ khụng yờn tõm bỏ vốn kinhdoanh, cho vay nợ… Hậu quả tiếp theo là thị trường vốn cung cấp cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng Khú cú thể hỡnh dung đượcmột nền kinh tế thị trường mà khụng cú được một thị trường vốn lành mạnh,phỏt triển Ngoài ra phỏp luật phỏ sản cũn dựng để bảo vệ lợi ớch của chớnh bảnthõn cỏc doanh nghiệp mắc nợ; Bảo vệ lợi ớch của bản thõn những người laođộng; Đảm bảo trật tự, an toàn xó hội, và giỳp cơ cấu lại nền kinh tế.
Trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tợng bình thờng, ít doanhnghiệp nào có thể tránh khỏi Khi có nợ thì chủ nợ đơng nhiên có quyền đòi nợthông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởikiện ra Toà án Tuy nhiên, việc đòi nợ bằng con đờng kiện tụng ra Toà dân sự,Toà kinh tế nhiều khi không thể giải quyết đợc một cách thoả đáng quyền và lợiích hợp pháp của các nhà kinh doanh Vì vậy, bên cạnh tố tụng dân sự và tố tụngkinh tế với t cách là các thủ tục đòi nợ thông thờng, Nhà nớc phải thiết kế thêmmột cơ chế đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi cần thì có thể sử dụng để đòi
nợ, đó là thủ tục phá sản Tính u việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phásản là ở chỗ, việc đòi nợ đợc bảo đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố chấmdứt sự tồn tại của con nợ và thông qua đó mà bán toàn bộ tài sản của nó để trảcho các chủ nợ Mặc dù ngày nay, tố tụng phá sản còn phải thực hiện thêm một
số mục tiêu nữa, trong đó có mục tiêu giúp doanh nghiệp mắc nợ phục hồi (tức
là bảo vệ cả lợi ích của con nợ) nhng về cơ bản, tố tụng phá sản từ khi ra đời đếnnay vẫn là loại tố tụng t pháp đợc đặt ra nhằm trớc hết và chủ yếu là để bảo vệlợi ích của các chủ nợ Việc u tiên bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đãlàm cho thủ tục phá sản trở thành một công cụ pháp lý có vai trò rất lớn trongviệc thúc đẩy hoạt động đầu t của các nhà kinh doanh Từ khi có Luật phá sản,các nhà kinh doanh sẽ yên tâm hơn vì các món nợ của họ đã có một cơ chế tốthơn để đợc bảo vệ
Pháp luật phá sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nớc đốivới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Điều này đợc thể hiệnqua hàng loạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ nh:quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản, quyền khiếu nại Danhsách chủ nợ, quyền có đại diện trong thiết chế quản lý tài sản và thanh toán tài
Trang 11sản, quyền đề xuất phơng án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ, quyền
đợc khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản, v.v
Vớ dụ : Cụng ty A thế chấp một tài sản trị giỏ 600 triệu đồng để vay ngõn
hàng Y số tiền 350 triệu đồng Nếu cụng ty A lõm vào tỡnh trạng phỏ sản vàđang tiến hành thủ tục tuyờn bố phỏ sản thỡ Ngõn hàng Y là chủ nợ sẽ bằng tàisản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba mà giỏ trị tài sản đảm bảo
ớt hơn khoản nợ đú
Vớ dụ : Cụng ty X nợ Cụng ty Z 180 triệu đồng, trong khi đú tài sản của
Cụng ty X thế chấp để đảm bảo trả nợ là 150 triệu đồng.Như vậy nếu Cụng ty Xlõm vào tỡnh trạng phỏ sản và đang tiến hành thủ tục tuyờn bố phỏ sản thỡ Cụng
ty Z bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba
2 Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội để con nợ rút khỏi thơng trờng một cách trật tự.
Khi mới xuất hiện, pháp luật phá sản không đặt ra vấn đề bảo vệ con nợ Lúc
đó, ngời ta cho rằng, phá sản là một tội phạm và ngời gây ra sự phá sản là mộtphạm nhân, do đó, họ không những không đợc bảo vệ mà còn bị trừng phạt bằngnhiều hình thức, kể cả việc tử hình Ngày nay, quan niệm về việc kinh doanh đã
đợc thay đổi, do đó, cách ứng xử của Nhà nớc và pháp luật đối với con nợ lâmvào tình trạng phá sản cũng đã đợc thiết kế theo hớng tích cực, có lợi cho con
nợ Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Do sự biến
động khó lờng của thị trờng và các yếu tố khách quan khác nên tình trạng kinhdoanh thua lỗ, không trả đợc nợ đến hạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối vớibất kỳ nhà kinh doanh nào Mặt khác, một doanh nghiệp bị phá sản thì có thểkéo theo nhiều hậu quả xấu đối với xã hội, mà trớc hết là đối với ngời lao động
và các chủ nợ Chính vì vậy mà ngày nay, khi các doanh nghiệp bị lâm vào tìnhtrạng phá sản thì vấn đề đầu tiên mà Nhà nớc quan tâm giải quyết không phải làviệc tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của nó cho cácchủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tìnhtrạng khó khăn này Điều đó giải thích tại sao, pháp luật của đa số các nớc đềuquy định nhiều hình thức phục hồi khác nhau để doanh nghiệp lâm vào tìnhtrạng phá sản lựa chọn, áp dụng
Pháp luật phá sản Việt Nam cũng đã đợc xây dựng theo khuynh hớng này
Cụ thể là, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và gần đây là Luật Phá sản
2004 đã không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mà còn bảo
Trang 12vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệp mắc nợ và đặc biệt là đãkhông coi phá sản là một tội phạm nh quan niệm của một số nớc trên thế giới.
Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quy định hàng loạt những quyền chodoanh nghiệp mắc nợ trong quá trình giải quyết phá sản Chẳng hạn, kể từ thời
điểm Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ
đều đợc đình chỉ và giải quyết theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiếnhành, đồng thời nghiêm cấm việc đòi nợ một cách riêng lẻ Pháp luật phá sảncủa nhiều nớc đã tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục khókhăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động bình thờng
mà không quy định bắt buộc Toà án phải tuyên bố phá sản ngay khi có đơn yêucầu Ngay sau khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp mắc nợ cũng
có quyền xây dựng phơng án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất, kinhdoanh, trình Hội nghị chủ nợ xem xét thông qua (Điều 15 Luật PSDN 1993).Toà án chỉ ra quyết định mở thủ tục thanh lý khi Hội nghị chủ nợ không thôngqua phơng án tổ lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, hay trong trờng hợp doanhnghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không thành công phơng án tổ chức lạihoạt động sản xuất, kinh doanh đã đợc Hội nghị chủ nợ thông qua Ngoài ra,con nợ còn có quyền cử ngời đại diện tham gia Tổ quản lý tài sản và Tổ Thanhtoán tài sản (Điều 15, Điều 42 Luật PSDN 1993), quyền đợc khiếu nại Danhsách chủ nợ, khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản (Điều 40 Luật PSDN1993) Khi có quyết định mở thủ tục thanh lý, tài sản còn lại của doanh nghiệp
sẽ đợc thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự nhất định; sau khi thanh toán, mọikhoản nợ của doanh nghiệp, cho dù cha đợc thanh toán đầy đủ cũng đợc coi là
đã thanh toán và các chủ nợ không có quyền đòi nợ nữa, trừ một vài ngoại lệ đ
-ợc quy định trong Luật phá sản của từng nớc Các quy định có nội dung tơng tựcũng đã đợc Luật Phá sản 2004 ghi nhận đầy đủ và cụ thể hơn qua việc quy địnhthủ tục phục hồi bên cạnh thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp
3 Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của ngời lao động
Phá sản không chỉ gây ra hậu quả xấu cho các chủ nợ, con nợ mà còn cho cảngời lao động Điều này trớc hết thể hiện ở chỗ, chính vì có phá sản mà ngời lao
động phải mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất nghiệp Do vậy, muốn bảo vệngời lao động, trớc hết là phải làm sao để doanh nghiệp không bị phá sản Cơchế phục hồi doanh nghiệp đợc pháp luật đề ra chính là để thực hiện chủ trơngnày vì trên thực tế, cứu đợc doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản cũngchính là cứu đợc ngời lao động thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Nhng mặtkhác, khi ngời lao động làm việc mà không đợc trả đủ lơng trong một thời giandài thì Nhà nớc cũng cần phải tạo ra một phơng thức nào đó để họ có thể đòi đ-
Trang 13ợc số tiền lơng mà doanh nghiệp nợ Để thực hiện đợc mục tiêu này, pháp luậtphá sản phải quy định cho họ một số quyền nh quyền đợc nộp đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản, quyền đợc tham gia quá trình giải quyết vụ việc phá sản, quyền
đợc u tiên thanh toán nợ lơng và các khoản tiền hợp pháp khác mà họ đợc hởngtrớc các khoản nợ thông thờng của doanh nghiệp
4 Pháp luật phá sản góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Theo lẽ thờng, khi mà con nợ có quá nhiều chủ nợ nhng lại có quá ít tài sản
để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con nợ là điềurất có thể xảy ra Nếu cứ để các chủ nợ “mạnh ai nấy làm”, tuỳ nghi “xiết nợ”,
tự do tớc đoạt tài sản của con nợ một cách vô tổ chức, không công bằng thì trật
tự, an toàn xã hội sẽ không đợc bảo đảm Vì vậy, Nhà nớc nào cũng cần phải cóbiện pháp để can thiệp vào việc đòi nợ này nhằm tránh đợc các hệ quả tiêu cực
nh vừa nêu trên Thủ tục phá sản chính là một công cụ pháp lý có khả năng giúpNhà nớc đa ra đợc nhiều cơ chế để thực hiện đợc việc thanh toán nợ một cáchcông bằng giữa các chủ nợ Căn cứ vào pháp luật phá sản, Toà án sẽ thay mặtNhà nớc đứng ra giải quyết một cách công bằng, khách quan mối xung đột vềlợi ích giữa các chủ nợ và con nợ và điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, antoàn trong xã hội
5 Pháp luật phá sản góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế, thúc
đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn.
Phá sản không phải là hiện tợng hoàn toàn có ý nghĩa tiêu cực Xét trênphạm vi toàn cục của nền kinh tế thì việc phá sản và giải quyết phá sản là có ýnghĩa tích cực Điều này đợc thể hiện ở những điểm nh sau:
Thứ nhất, phá sản và pháp luật phá sản là công cụ răn đe các nhà kinh doanh,
buộc họ phải năng động, sáng tạo nhng cũng phải thận trọng trong khi hànhnghề Một thái độ hành nghề, trong đó có sự kết hợp giữa tính năng động, sángtạo và tính cẩn trọng là hết sức cần thiết vì nó giúp các nhà kinh doanh đa ra đợcnhững quyết định hợp lý - tiền đề cho sự làm ăn có hiệu quả của từng doanhnghiệp Sự làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp riêng lẻ đơng nhiên sẽ kéotheo sự làm ăn có hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung
Thứ hai, pháp luật phá sản không chỉ là công cụ răng đe, buộc các doanh
nghiệp phải luôn tự hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển mà còn là cơ sởpháp lý để xoá bỏ các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, tạo ra môi tr ờngkinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu t Thông qua thủ tục phá sản, nhữngdoanh nghiệp thua lỗ triền miên, nợ nần chồng chất nh những “con bệnh” trongnền kinh tế đều phải đợc xử lý, đa ra khỏi thơng trờng Nh vậy, thủ tục phá sản