MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy. Theo luật pháp của Việt nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn.Vậy Tiền xuất hiện bao giờ, và nó đã trải qua quá trinh phát triển đến ngày nay như thế nào? Cũng để trả lời câu hỏi trên, nên em đã chọn đề tài Chế độ tiền và những liên hệ đến việt nam, làm đề tài phân tích của mình, trong quá trinh làm bài, do nhiều yếu tố khách quan cũng như kiến thức còn hạn hẹp, có gì sai sót mong cô góp í để em có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình. 2.Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu về những khái niệm về tiền tệ Tìm hiểu về các chế độ của tiền tệ Lịch sử tiền Việt Nam và Thế giới
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người
ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng
để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy Theo luật pháp của Việt nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn.Vậy Tiền xuất hiện bao giờ, và nó đã trải qua quá trinh phát triển đến ngày nay như thế nào? Cũng
để trả lời câu hỏi trên, nên em đã chọn đề tài " Chế độ tiền và những liên hệ đến việt nam", làm đề tài phân tích của mình, trong quá trinh làm bài, do nhiều
yếu tố khách quan cũng như kiến thức còn hạn hẹp, có gì sai sót mong cô góp í
để em có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình
2.Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về những khái niệm về tiền tệ
- Tìm hiểu về các chế độ của tiền tệ
- Lịch sử tiền Việt Nam và Thế giới
PHOTO QUANG TUẤN ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: vtvu2015@gmail.com ; Fabook: vttuan85
Trang 2NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA TIỀN TỆ
1.1.Giá trị và giá cả của tiền tệ
Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được Giá trị của tiền tệ là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một Dollar Nói cách khác giá trị của tiền tệ là nghịch đảo của giá cả hàng hóa Giá cả của tiền tệ chính là lãi suất, nói một cách khác, giá cả của tiền tệ là số tiền mà người ta phải trả cho cơ hội được vay nó trong một khoảng thời gian xác định
Giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất nhất định làm đơn vị tiền tệ
1.2.Tính chất của tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông) phải có các tính chất cơ bản sau đây:
Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền nữa Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi
Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng Chính vì thế những tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác
Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về số gạo nhiều hơn
Trang 3mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ khác cũng cần thiết không kém
Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng như mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc
Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệ phải dễ vận chuyển Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4
Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm
vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa Vì thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền giấy và tiền xu Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phân biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm
ra cách đây 2 năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi
Trang 4Chương 2: CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ
Chế độ tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia, được quy định bằng luật pháp
2.1.Các nhân tố của chế độ tiền tệ
Chế độ tiền tệ có 3 nhân tố:
- Bản vị tiền tệ: là cơ sở định giá đồng tiền quốc gia Là tiêu chuẩn chung mà mỗi nước chọn làm cơ sở cho chế độ tiền tệ của mình Bản vị tiền tệ chính là cái được sử dụng làm căn cứ để định giá đồng tiền Có thể chọn một kim loại nào
đó hoặc có thể lấy ngoại tệ hay sức sản xuất trong nước để làm bản vị tiền tệ
- Đơn vị tiền tệ: mỗi một quốc gia có một đơn vị tiền tệ khác nhau, ví dụ ở Việt Nam là “đồng”, ở Mỹ là “dollar”…
- Công cụ lưu thông tiền tệ: là những phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán được sử dụng, chẳng hạn như: tiền giấy, tiền tín dụng, tiền xu…
Trong lịch sử tiền tệ, kể từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, các nước đã trãi qua nhiều chế độ bản vị tiền tệ khác nhau
2.2.Chế độ lưu thông tiền kim loại
2.2.1.Chế độ bản vị bạc
Bản vị bạc là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một trọng lượng bạc nhất định theo pháp luật của nước đó, thưo đó Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền bạcm tiền giấy Quốc gia được Nhà nước xác định trọng lượng bạc nhất định, được tự do chuyển đổi ra bạc theo tỷ lệ quy định và được lưu thong không hạn chế
Bản vị bạc hay còn gọi là ngân bản vị là hệ thống tiền tệ của một quốc gia
lấybạc làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông tiền tệ Bản vị bạc là hệ thống phổ biến trước thế kỷ 19; sau bị nhiều quốc gia thay thế bằng bản vị vàng
Trang 52.2.2.Chế độ song bản vị
Là chế độ hai bản vị mà trong đó quy định tỷ lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vào giá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyết định Do đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng chỉ hai loại giá cả: Giá cả tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim lại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường, vì vậy giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ bị hỗn loạn và dẫn đến sự hỗn loạn của thị trường
2.2.3.Chế độ bản vị tiền vàng
Đồng tiền của một nước được bảo đảm bằng một trọng lượng vàng nhất định theo quy định của pháp luật với những yêu cầu như Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng, tiền giấy quốc gia được nhà nước xác định một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đỏi ra vàng theo tỉ lệ đó, và tiền vàng được lưu thông không hạn chế Chế độ này được áp dụng phổ biến ở các nước cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỉ XX
2.3 Chế độ bản vị vàng thỏi
Chế độ này cũng quy
định cho đơn vị tiền tệ quốc
gia một trọng lượng vàng cố
định Nhưng vàng được đúc
thành thỏi mà không thành
tiền, không lưu thông trong
nền kinh tế mà chỉ dự trữ để
làm phương tiện thanh toán
quốc tế và chuyển dịch tài
sản ra nước ngoài Tiền giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định Chế độ này từng được áp dụng ở Anh năm 1925, ở Pháp năm 1928
Trang 6Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng
Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi, v.v )
Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giá tiền tệ Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền
tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa
Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng Thay vào đó, tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do họ phát hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó Ở một số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫn được áp dụng
2.4.Chế độ bản vị vàng hối đoái
Chế độ bản vị hối đoái vàng là chế độ bản vị trong đó tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muốn đổi ra vàng phải thong qua một ngoại tệ Ngoại tệ phải được tự do chuyển đổi ra vàng, như đô la Mỹ, bảng Anh Đây là chế độ quy định tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng Muốn đổi ra vàng, cần phải thông qua một ngoại tệ Ngoại tệ đó phải được
Trang 7tự do chuyển đổi ra vàng như USD, Bảng Anh Chế độ này từng được áp dụng
ở Ấn Độ năm 1898, ở Đức năm 1924, ở Hà Lan năm 1928
2.5.Chế độ bản vị ngoại tệ
Chế độ bản vị ngoại tệ là chế độ tiền tệ mà đơn vị tiền quốc gia được xác định bằng đơn vị tiền tệ của nước ngoài (ngoại tệ) Đó phải là các ngoại tệ mạnh
và được tự do chuyển đổi trên thị trường
Chế độ này sử dụng phổ biến ở những nước có ít vàng hoặc bị lệ thuộc vào nước khác Chế độ này từng được áp dụng từ 1944-1971 Bắt đầu sụp đổ từ 1960
2.6 Chế độ tiền giấy không chuyển đổi ra vàng có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ
Chế độ tiền giấy không được chuyển đổi ra vàng có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ là chế độ tiền tệ mới trong đó đơn vị tiền tệ của một nước không thể
tự do chuyển đổi ra kim loai quý
Dưới chế độ này, đơn vị tiền tệ của một quốc gia không được chuyển đổi ra kim loại quý Theo đó, vàng bị rút ra khỏi lưu thông trong nước, tiền giấy không được đổi ra vàng và vàng chỉ được dùng để thanh toán quốc tế Chế đô này phổ biến vào những năm 1930
Trang 8Chương 3: LỊCH SỬ TIỀN Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
3.1.Chế độ lưu thông tiền tệ ở Việt Nam
3.1.1.Thời kỳ phong kiến
Tiền thời nhà Trần
Thời kỳ phong kiến nhà Trần đã lưu thong tiền đúc bằng đồng, đây là tiền được đúc đầu tiên ở Việt Nam
Ngoài những đĩnh vàng, đĩnh bạc, tiền tệ Việt Nam chủ yếu là tiền đồng, tiền kẽm
Thời Đinh, Lê: Đinh Tiên Hoàng cho đúc tiền đồng hiệu Thái bình thông bảo sau đó Lê Đại Hành cho đúc tiền đồng Thiên phúc trấn bảo
Thời Lý: dưới triều vua Lý Thái Tông, tiền đồng có hiệu Minh đạo thông bảo, sang đến triều Lý Thần Tông, tiền đồng hiệu là Thuận thiên thông bảo Thời Trần, Hồ: các triều vua cũng cho đúc tiền đồng, đến đời Trần Minh Tông (1323) thì chuyển sang đúc tiền kẽm, tuy nhiên do tiền kẽm sử dụng không được thuận tiện nên nhanh chóng bị bãi bỏ Dưới triều vua Trần Thuận Tông,
Hồ Quý Ly chấp chính đã bắt đầu cho phát hành tiền giấy gọi là Thông bảo hội sao Tiền giấy Thông bảo hội sao có các loại mệnh giá sau: 1 quan vẽ rồng, 30 đồng vẽ sóng nước, 10 đồng vẽ cây đào, 5 tiền vẽ chim phượng, 3 tiền vẽ kỳ lân,
2 tiền vẽ rùa, 1 tiền vẽ mây Dân cư có tiền cũ phải nộp hết vào kho của Nhà nước và cứ 1 quan tiền đồng đổi thành 1 quan 2 tiền giấy, ai tàng trữ sẽ bị tử hình nhằm loại bỏ hẳn tiền đồng và bắt buộc sử dụng tiền giấy
Trang 9Thời Lê, Mạc: trải qua giai đoạn bị nhà Minh đô hộ, khi Lê Thái Tổ lật đổ ách thống trị của nhà Minh và lên ngôi vua, tiền đồng trong nước không còn, ông cho đúc tiền đồng Thuận thiên thông bảo và quy định 1 tiền bằng 50 đồng Triều vua Lê Thái Tông đúc tiền đồng hiệu Thiệu bình và quy định 1 tiền bằng
60 đồng Năm 1528, Mạc Đăng Dung cho đúc tiền kẽm và cả tiền sắt, đến năm
1658, tiền kẽm và tiền sắt bị cấm sử dụng Dưới triều vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng), do những cuộc nội chiến liên miên tốn kém chi phí nên nhà vua cho mở rất nhiều sở đúc tiền để đúc tiền kẽm Năm 1726 (Cảnh Hưng thứ 37), tiền đồng niên hiệu Cảnh Hưng thuận bảo lại được đúc từ binh khí và đại bác bằng đồng không sử dụng nữa
Thời Nguyễn: Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho mở các sở đúc tiền ở Bắc thành, Gia Định để đúc tiền đồng Gia Long thông bảo Các triều vua sau của nhà Nguyễn tiếp tục đúc tiền đồng và có lúc đúc cả tiền kẽm Song song với tiền đồng, các loại thoi bạc, thoi vàng và tiền bạc, tiền vàng cũng xuất hiện từ khoảng năm 1820, cuối triều Gia Long, đầu triều Minh Mạng Vàng được định giá gấp 17 lần bạc và mỗi lạng bạc giá 2 quan 3 tiền đồng
3.1.2 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược (đến 8/1945)
Trong thời kỳ này, đơn vị tiền tệ của cả khu vực Đông Dương là piastre, được dịch ra tiếng Việt là "đồng" hay đôi khi là "bạc" Tiền tệ do chính quyền trong giai đoạn này lấy bạc làm bản vị nhưng những đồng tiền của các triều vua nhà Nguyễn vẫn được lưu hành chủ yếu ở các vùng nông thôn mặc dù bất hợp pháp Tiền đúc lúc đầu có đồng bạc Mexico nặng 27 gam 073 (độ tinh khiết 902 phần nghìn), sau đó là đồng bạc Đông Dương được đúc ở Pháp nặng 27 gam (độ tinh khiết 900 phần nghìn) Tiền giấy thời kỳ này được Ngân hàng Đông Dương phát hành và có thể đem đến ngân hàng đổi thành bạc Một sắc lệnh ngày 16 tháng 5 năm 1900 cho phép Ngân hàng Đông Dương in tiền giấy gấp ba lần số bạc đảm bảo nhưng khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra thì tỷ lệ này không còn giữ được nữa, tiền giấy phát hành gấp nhiều lần số bạc đảm bảo Sau một số biện pháp cải cách tiền tệ, ngày 31 tháng 5 năm 1930, Tổng thống Pháp
có sắc lệnh quy định đồng bạc Đông Pháp (Đông Dương) có giá trị là 655
Trang 10miligam vàng (độ tinh khiết 900 phần nghìn), từ đó chấm dứt chế độ bản vị bạc
mà chuyển sang bản vị vàng
3.1.3 Thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (9/1945 đến 4/1975)
Từ 1945-1954: Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 31 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nghị định phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Và ngày 31 tháng 11 năm 1946, giấy bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Nông - Công - Binh Các loại giấy bạc đều có số Ả Rập, chữ quốc ngữ, chữ Hán, Lào, Campuchia chỉ mệnh giá, có ký tên Bộ trưởng Bộ Tài chính (Phạm Văn Đồng hoặc Lê Văn Hiến) và Giám đốc Ngân khố trung ương Do đó ngoài tên gọi là giấy bạc cụ Hồ, nhân dân còn gọi là giấy bạc tài chính Ngày 5 tháng 6 năm
1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và phát hành giấy bạc ngân hàng Giấy bạc ngân hàng đổi lấy giấy bạc tài chính theo tỷ lệ 1 đồng ngân hàng đổi 10 đồng tài chính Giấy bạc ngân hàng có các loại mệnh giá: 1 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1.000 đồng và 5.000 đồng Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Hán và chữ quốc ngữ) và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Công - Nông
- Binh, hình bộ đội ở chiến trường Trên tờ giấy bạc có số hiệu, mệnh giá ghi bằng số Ả Rập, chữ quốc ngữ và chữ Hán Sau đó, việc liên lạc giữa địa phương
và trung ương có nhiều khó khăn, nên chính quyền trung ương cho phép Trung
Bộ và Nam Bộ phát hành tiền riêng Tiền này có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng Hình ảnh trang trí cũng tương tự như giấy bạc ngân hàng chỉ khác là trên giấy bạc có chữ ký của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam
Bộ (Phạm Văn Bạch), đại diện Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Nam Bộ Một số tỉnh được phát hành tín phiếu, phiếu đổi chác, phiếu tiếp tế hoặc giấy bạc chỉ lưu hành trong tỉnh Thời kỳ đó, ở Nam Bộ nền kinh tế chia ra hai vùng, sử dụng hai loại tiền khác nhau, vùng thuộc sự kiểm soát của Pháp lưu hành tiền do Pháp phát hành Mặt khác, mặc dù Chính phủ phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng do phương tiện giao thông còn khó khăn nên