1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM để hạn CHẾ lạm PHÁT TRONG năm 2008 2012

36 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 120,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2 1.1. Khái quát về chính sách tiền tệ và lạm phát 2 1.1.1.Lạm phát 2 1.1.2. Tác động của lạm phát. 2 1.2. Chính sách tiền tệ. 4 1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ. 4 1.4. Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát. 5 CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8 2.1. Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012. 8 2.1.1 Năm 2008. 8 2.1.2. Năm 2009. 13 2.1.3. Năm 2010 17 2.1.4. Năm 2011. 21 2.1.5. Năm 2012. 22 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 29 3.1.Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong năm 2013. 29 3.1.1. Tiếp tục phân bổ tín dụng cho từng TCTD. 29 3.1.2. Điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền. 30 3.1.3. Hỗ trợ thanh khoản cho TCTD thông qua thị trường mở. 30 3.1.4. Điều hành lãi suất. 31 3.1.5. Điều hòa lưu thông tiền mặt. 31 3.1.6. Xây dựng và hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu, VAMC. 31 KẾT LUẬN 33 LỜI NÓI ĐẦU Có thể nói, trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền tệ (CSTT) của ngân hàng trung ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng. Do nắm trong tay các công cụ đế điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà qua đó có thế tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh toán quốc tế và sự ốn định của nền kinh tế quốc gia. Trong nền kinh tế phát triến nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ấn nguy cơ lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như CSTT được tận dụng trước tiên với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Việc sử dụng CSTT như thế nào và hướng mục tiêu của CSTT ra sao là một trong những vấn đề rất quan trọng mà NHTW cần hướng tới. Điều hành các giải pháp tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của TCTD, phù hợp vói mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đặc biệt là kiềm chế lạm phát. Để nắm được chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của NHNN và tác động và vai trò của những chính sách đó trong việc ổn định giá cả kiềm chế lạm phát, cùng với những gì đã được học ở trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh em đã chọn đề tài “ Phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN để giảm lạm phát trong giai đoạn 2008 2012 ” . Trong phạm vi bài tiểu luận này em xin phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN , đồng thời phân tích những tác động của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát trong những năm gần đây.

Trang 1

CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ

LỚP : CDTN13TH

THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2014.

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2

1.1 Khái quát về chính sách tiền tệ và lạm phát 2

1.1.1.Lạm phát 2

1.1.2 Tác động của lạm phát 2

1.2 Chính sách tiền tệ 4

1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ 4

1.4 Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát 5

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8

2.1 Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012 8

2.1.1 Năm 2008 8

2.1.2 Năm 2009 13

2.1.3 Năm 2010 17

2.1.4 Năm 2011 21

2.1.5 Năm 2012 22

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT .29

3.1.Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong năm 2013 29

3.1.1 Tiếp tục phân bổ tín dụng cho từng TCTD 29

3.1.2 Điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền 30

3.1.3 Hỗ trợ thanh khoản cho TCTD thông qua thị trường mở 30

3.1.4 Điều hành lãi suất 31

3.1.5 Điều hòa lưu thông tiền mặt 31

3.1.6 Xây dựng và hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu, VAMC 31

KẾT LUẬN 33

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Có thể nói, trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền

tệ (CSTT) của ngân hàng trung ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng Donắm trong tay các công cụ đế điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà qua

đó có thế tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và ảnh hưởng trựctiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh toán quốc tế và

sự ốn định của nền kinh tế quốc gia

Trong nền kinh tế phát triến nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ấn nguy

cơ lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như CSTT đượctận dụng trước tiên với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu Việc sử dụng CSTTnhư thế nào và hướng mục tiêu của CSTT ra sao là một trong những vấn đề rấtquan trọng mà NHTW cần hướng tới

Điều hành các giải pháp tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng điđôi với an toàn hoạt động của TCTD, phù hợp vói mục tiêu điều hành chínhsách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăncho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp

lý, đặc biệt là kiềm chế lạm phát

Để nắm được chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của NHNN và tác động vàvai trò của những chính sách đó trong việc ổn định giá cả kiềm chế lạm phát,cùng với những gì đã được học ở trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh

em đã chọn đề tài “ Phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN để giảm lạm phát trong giai đoạn 2008 - 2012 ” Trong phạm vi bài tiểu luận này em xin

phân tích chính sách tiền tệ của NHNN VN , đồng thời phân tích những tác độngcủa CSTT nhằm kiểm soát lạm phát trong những năm gần đây

Trang 5

CHƯƠNG 1 :

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1.1 Khái quát về chính sách tiền tệ và lạm phát

1.1.1.Lạm phát

Là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.Trong mộtnền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồngtiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ củamột loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thìngười ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của mộtquốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệtrong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần nàyvẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại vớilạm phát làgiảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thìđược người ta gọi là sự "ổn định giá cả"

nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tốn thất cho xã hội

Chi phí da giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền

và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát

Trang 6

làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phảithường xuyên đến ngân hàng đế rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ

"chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thờigian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanhnghiệp sẽ mất thêm chi phí đế in ấn, phát hành bảng giá sản phâm

Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp

do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thựcđơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phíthực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối sovới doanh nghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bố nguồn lực dựa trêngiá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vimô

Lạm phát có thể làm thay đối nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ýmuốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạmphát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổinhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhậptrên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế

Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng đế làmthước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này cogiãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình

Đối với lạm phát không dự kiến được:

Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cảigiữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thườngđược lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vayđược hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiếnngười cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dựkiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn Các nhàkinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm

Trang 7

phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là khôngđáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừaphải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phânphối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậychính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.

Nhìn chung, khi lạm phát ở mức cao sẽ có ảnh hưởng xấu tới xã hội Do

đó, Chính phủ phải có giải pháp khắc phục, kiềm chế và kiếm soát lạm phát Cónhiều giải pháp đế kiểm soát lạm phát nhưng ở tiểu luận này tôi chỉ xin phântích giải pháp sử dụng chính sách tiền tệ đế kiếm soát lạm phát

1.2 Chính sách tiền tệ.

Khái niệm:

Là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trungương đế đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ốnđịnh tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chínhsách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thểtrực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, qui định mức dựtrữ bắt buộc, hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối

1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ.

Công cụ tái cấp vốn: Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung

ương đối với các Ngân hàng thương mại Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngânhàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thờitạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanhtoán của họ

Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt Buộc: Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô

hiệu hóa trên tống số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan(cho vay) của các Ngân hàng thương mại

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Là hoạt động Ngân hàng Trung ương

mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu vềgiấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương

Trang 8

mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thươngmại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.

Công cụ lãi suất tín dụng: Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực

hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đối lãi suất không trục tiếp làm tăng thêmhay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãmsản xuất Nó là 1 công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổngthể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thế của Ngân hàng Trung ươngnhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhấtđịnh

Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính

hành chính của Ngân hàng Trung ương đế khống chế mức tăng khối lượng tíndụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngânhàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tíndụng cho nền kinh tế

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ

và đồng ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biếu hiênquan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bấy điều tiết cungcầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinhdoanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hìnhsản xuất, xuất nhập khấu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanhtoán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước, về thực chất tỷ giá khôngphải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đối lượng tiền tệtrong lun thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tếđang chuyến đối coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ

1.4 Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát.

Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc chủ động giảm cung đầu tư và cắt giảmcầu tiêu dùng được tài trợ bởi tín dụng cá nhân Xét trên tương quan tài sản vàtiêu dùng, các cá nhân sẽ giảm chi tiêu và tăng tỷ lệ tiết kiệm đế dành cho tiêudùng tương lai Do vậy, trong ngắn hạn thắt chặt tiền tệ ảnh hưởng về phía cầu

Trang 9

của thị trường và làm suy giảm sản lượng và giá cả Do chi phí vốn tăng cao,nhà sản xuất sẽ cắt giảm vốn đầu tư và tín dụng lưu động đế giảm sản lượngtương ứng.

Trong trường hợp thắt chặt tiền tệ cần thực hiện từng bước đế đảm bảorằng thị trường tiền tệ không bị sốc, đảm bảo sự ổn định hệ thống tài chính vàkiểm tra mức độ chịu đựng của thị trường tiền tệ

Do chính sách tiền tệ có độ trễ nhất định từ các chính sách (khoảng haiquý), nên hiệu quả chống lạm phát của chính sách thắt chặt tiền tệ chúng ta chưa

hy vọng có một kết quả ngay

Thắt chặt tiền tệ không có nghĩa rằng lạm phát gia tăng do chi phí vốn tăngcao, đẩy giá hàng hóa tăng Trên thực tế tổng chi phí vốn sẽ giảm do doanhnghiệp sẽ cắt giảm vốn lưu động và nhân sự và chi phí nói chung để đáp ứngmức cầu mới yếu hơn

Điều này có nghĩa rằng, các nhà sản xuất sẽ phải chấp nhận mức tăng giácân bằng thấp hơn mức tăng giá trước đây Điều này hoàn toàn ngược lại vớiquan điếm cho rằng lãi suất cao sẽ dẫn tới chi phí vốn doanh nghiệp cao Mộtđiều hoàn toàn bình thường là với mức lãi suất cao, doanh nghiệp sẽ ngừng vàgiảm vay tiền, tức là điều chỉnh hành vi, chứ không phải là chấp nhận mức chiphí cao và tiếp tục sản xuất

Câu hỏi đặt ra là mức thắt chặt như thế nào là đủ?

Không thế có một câu trả lời chính xác, nó tùy thuộc vào niềm tin của thịtrường với hiệu quả của chính sách tiền tệ Nhiều người cho rằng, thị trườngchưa tin chính sách kiểm soát lạm phát với bằng chứng giá cả tăng ngay sau khi

tỷ giá và giá xăng tăng, phớt lờ tuyên bố kiềm chế lạm phát của Chính phủ vàNgân hàng Nhà nước

Tuy nhiên, đó chỉ là bề nối và thực tế cho thấy đây là một phản ứng bìnhthường của thị trường với một số hàng thiết yếu chứ không phải với nhiều mặthàng khác Đồng thời chính sách tiền tệ có độ trễ và cần sự kiếm chứng trongthời gian tới Như vậy, việc giá tăng do tỷ giá và giá xăng không phản ánh được

Trang 10

tính hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Trang 11

CHƯƠNG 2 : CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

VIỆT NAM2.1 Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012.

2.1.1 Năm 2008.

Tình hình kinh tế : Năm 2008 là năm mà tình hình kinh tế có nhiều biếnđộng lớn Ba tháng đầu năm nền kinh tế đang trên đà phát triển và chưa nhận rađược dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế Sáu tháng tiếp theo, chúng ta bắt đầunhận ra sự bất ôn trong nền kinh tế và có những biện pháp ngăn chặn Ba thángcuối năm là thời gian khủng hoảng kinh tế bộc lộ rõ và lan rộng Giai đoạn nàychúng ta tập trung vào "chữa bệnh"

Với tình hình chung là bất động sản trong vòng vài tháng đã tăng lên chóngmặt, tăng lên 2 đến 3 lần so với năm 2007 đã tạo thành những bong bóng BĐS

đc dọa đầu tư

Thị trường chứng khoán biến động thất thường nhưng hiện có xu hướng đixuống 30%

Muốn thúc đây tăng trưởng kinh tế phải có vốn đầu tư Tuy nhiên dòngvốn chủ yếu đê thúc đây đầu tư hiện nay là vốn tín dụng ngân hàng Vô tìnhchúng ta vướng vào một vòng mang tên "tín dụng"

Với mục tiêu kiêm chế lạm phát, hỗ trợ thị trường chứng khoán, kiềm hãm

sự tăng trưởng nóng của thị trường BĐS NHNN đứng trước một bài toán khótrong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ

Tất cả khó khăn trên đặt lên vai trò chính sách tiền tệ của NHNN

Có thể nói rằng, năm 2008 là năm mà nền kinh tế trong nước có những biếnđộng rất lớn Năm 2008, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biếnđộng chưa từng có về lãi suất, tỷ giá Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linhhoạt, hiệu quả, lúc thắt chặt, lúc nới lỏng Việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nớilỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có

Trang 12

trong lịch sử.

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, trong vòng 3 tuần đầu của tháng

2 năm 2008 NHTM đã thực hiện đồng thời 4 biện pháp thắt chặt tiền tệ củaNHN

Thứ nhất : Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11 % đồng thời

mở rộng thêm phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc

Thứ hai : Phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc Ba NHTM

nhà nước lớn nhất, mỗi ngân hàng phải mua 3000 tỷ đồng.Các loại tín phiếutrước đây được giao dịch trên thị trường mở với NHNN thì giờ NHNN nói rõ làkhông được vay tái cấp vốn

Thứ ba : Từ tháng 2/2008 các loại lãi suất chủ đạo của NHNN tăng hơn

trước

Thứ tư : NHNN ban hành quỵết định sổ 03/2008/ỌĐ-NHNN ngày

1/2/2008 về sửa đổi chỉ thị về cho vay chứng khoán Quyết định 03 còn thắt chặt

về cho vay chứng khoán hơn Chỉ thị 03 trước

Với 4 quyết định được coi là cứng rắn và kiên quyết nói trên trong điều hànhCSTT của NHNN đã gây ra các tác động sốc và phản ứng tiêu cực tức thì của thịtrường tiền tệ và của NHTM Có thế nói đây là một cú phanh gấp trong quá trìnhtụt dốc của nền kinh tế nhằm ngăn chặn vật giá leo thang và lạm phát

Như vậy, trên đây là điều chỉnh mở rộng nghiệp vụ thị trường mở củaNHNN nhằm thu hồi lượng tiền mặt quá lớn đồng thời thắt chặt tín dụng của cácNHTM

Lãi suất: Lãi suất biến động mạnh và liên tục tăng cao trong những tháng

đầu năm và giải dần trong những tháng cuối năm:

Trong những tháng đầu năm 2008, đặc biệt là trong khoảng thời giantháng 2/2008 đến tháng 5/2008, lãi suất huy động liên tục tăng cao trong cuộcchạy đua về lãi suất Tuy nhiên, những tháng cuối năm, lãi suất thị trường có

xu hướng giảm: Lãi suất huy động và cho vay bằng VND giảm 2,5%-3%/năm Tác động của việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt: việc thực thi

Trang 13

chính sách thắt chặt tiền tệ của NHTW thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, pháthành tín phiếu bắt buộc và công cụ lãi suất, đã tác động trực tiếp đến thị trườngtiền tệ và hoạt động kinh doanh của các NHTM, theo hướng làm giảm quy mônguồn vốn; giảm khả năng cho vay Quá trình này tác động làm tăng chi phíkinh doanh, tăng lãi suất cho vay của các NHTM và trực tiếp đến thanh khoảncủa các NHTM trong thời gian này.

Tỷ giá: Tỷ giá trên thị trường diễn biến phức tạp và chia thành 4 giai đoạn:

Giai đoạn đầu (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 - 25/03/2008): Tỷ giá liên

tục giảm, dưới mức.Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụtgiảm (từ mức 16.112 đồng xuông 15.960 đồng, mức thấp nhất là 15.560đồng/USD) Trên thị trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD

Nguyên nhân là thời điêm này đang ở giai đoạn gần tết Dương lịch, do đólượng kiều hối chuyên về nước khá lớn Thứ hai, các nhà đầu tư dự kiến VND sẽtăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nêncác nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyến qua VND Tập trung vào các đốitượng là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4

tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khâu vay USD đê phục vụ sản xuất kinhdoanh Các NHTM lúc này cũng đẩy mạnh bán USD

Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việckiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008) NHNN không thựchiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ

tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008

Giai đoạn 2 (từ 26/03 - 16/07): Tăng với tổc độ chóng mặt tạo cơn sốt

USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do

Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữatháng 6, đỉnh điêm lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600đồng so với mức trần Tâm lý hoang mang cộng với động thái đầu cơ của giới

Trang 14

buôn ngoại tệ trên thị trường tự do đẩy USD cùng với giá vàng tăng mạnh lêngần 19 triệu đồng/lượng.Tỷ giá lên đỉnh ngày 18/06, sau đó giảm dần Ngày27/06, NHNN tăng biên độ USD/VND từ 1% lên 2%.

Nguyên nhân USD tăng mạnh trong giai đoạn này chủ yếu do tâm lý bất

ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng tháigăm ngoại tệ của giới đầu cơ Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả DNxuất và nhập khấu đến hạn cao; Tăng nhập khấu vàng do chênh lệch lớn giữa giávàng trong nước và quốc tế

Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán Tráiphiếu chính phủ khi lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoảnthấp trên thị trường thế giới đấy nhu cầu mua USD chuyến vốn về nước lên cao(bán ròng 0,86 tỷ USD)

Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối vớidoanh nghiệp xuất khấu (theo quyết định sổ 09/2008/ỌĐ, NHNN không chophép vay đề chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuấtkhẩu) giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên thịtrường

Giai đoạn 3 (từ 17/07 - 15/10): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.

Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã được chặn đứng,

tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịchbình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 - tháng 11 Nhậnthấy tình trạng sổt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử, NHNN

đã công khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tintrên thị trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm.Đồng thời lúc này, NHNN

đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiêmsoát chặt các đại lý thu đôi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự dokhông đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ khác đêlách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ canthiệp thị trường thông qua các NHTM

Trang 15

Giai đoạn 4 (từ 16/10 đến nay): tỷ giá USD tăng trở lại.

Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là16.998 sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá Tuy nhiên cunghạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3%trong ngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD

Nguyên nhân: Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đâu tưnước ngoài đây mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệuUSD), cố phiếu (100 triệu USD) Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tưnước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính quôc.Nhu câu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40triệu USD/ngày).Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN khôngcho phép nhập vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD đênhập khẩu (do USD là đồng tiền thanh toán chính)

NHNN bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM đáp ứng nhu cầu nhập khấumột số mặt hàng thiết Dự trừ bắt buộc

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008 NHNN điều chỉnhtăng 1% tỷ lệ DTBB đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi VND vàngoại tệ đối với hầu hết các TCTD

Những tháng cuối năm 2008, đế ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đãđiều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng VND từ 11% xuống 6% vàtiền gửi bằng ngoại tệ từ 11% xuống 7%

Như vậy, năm 2008 là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặtvới những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đoimới.Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6 thángđầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những phản ứng kịp thời,

sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằmkiềm chế lạm phát có hiệu quả và ôn định kinh tế vĩ mô Các công cụ chính sáchtiền tệ được điều hành linh hoạt đế hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tínhthanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷ giá theo túi hiệu thị trường

Trang 16

Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động củathị trường ngoại hối và của các tô chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụngquá nóng có thê gây mất an toàn hệ thống của các tô chức tín dụng Đen cuốinăm 2008, đe chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặtđược chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng Chính sách ten tệ chưa thểnói là cực chuẩn nhưng có thể nói là thành công.

Tuy nhiên, do Chính phủ không dự đoán được tình hình khủng hoảng xảy

ra nên việc áp dụng CSTT của NHNN được thực hiện trong bị động và tình hìnhcăng thẳng, Việc thắt chặt CSTT đột ngột trong giai đoạn đầu sẽ tạo ra cú sốclớn và gây ra các phản ứng tiêu cực tức thời của thị trường tiền tệ và củaNHTM Thêm vào đó, sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu trong ngắn hạn sẽ khiếncho nền kinh tế trong ngắn hạn không thể thực hiện được tất cả các mục tiêu củachính sách tiền tệ

2.1.2 Năm 2009.

Tình hình kinh tế: Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp

nhiều khó khăn, thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớntrong năm 2008 đã đây kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹpđáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác độngtiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta chính sách tiền tệ(CSTT) đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bấtcập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy, lạm phát cao năm 2008,cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cán cânthương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trênthị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷ giá

Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanhnghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tíndụng, nhưng cũng gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụngtăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND

Trang 17

2009 - Khó khăn đã vượt qua Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngânhàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối họp đồng bộvới nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường.

Từ đầu năm 2009 đến nay, đê tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và dân

cư trong xã hội tiêp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh thầncủa các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện cho cácNHTM hoạt động ôn định và hiệu quả, NHNN đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%

Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm

2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi Do áp lực từcuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanhnghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ

Mặt khác do tác động phụ của chính sách hồ trợ lãi suất cho vay bằng VND

và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp khôngmuốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND đe mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầumua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng

Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triên khaiquyết liệt nhiều giải pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán

USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +1-5% so với tỷ giá

bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầungoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hồ trợ nhu cầu nhập khấu các mặt hàngthiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trườngngoại tệ trên ngân hàng

Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại

tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số doanhnghiệp nhập khâu lớn chuyên từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; phối hợpchặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiêm soát nhập siêu và đáp ứng các nhucầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế

Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như

Trang 18

phối hợp với các bộ, ngành kiêm tra, xử lý vi phạm đổi với các hành vi quảngcáo, niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăngcường kiêm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại vàhoạt động của các đại lý đối ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm.

Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ củacác doanh nghiệp và người dân như đấy mạnh công tác tuyên truyền và công bốcông khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu cácNHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất chovay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009

và giảm tiếp xuổng mức không quá 3%/năm kê từ ngày 01/6/2009, lãi suất huyđộng giảm xuống mức không quá 1,5%/năm kế từ ngày 01/6/2009)

Đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng yêu cầu các NHTM cô phần đồngthuận giảm lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ như các NHTM nhà nước

ke từ ngày 8/6/2009 Các biện pháp trên đã có tác động giảm áp lực thiếu cungngoại tệ trên thị trường, giữ được thị trường ổn định

Tuy nhiên, diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là tháchthức cho thực thi CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện

mà vẫn tiếp tục gia tăng (theo số liệu của Tong cục Hải quan 11 tháng tổng kimngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 113,6 tỷ USD, giảm 14,7% so với cùng kỳnăm 2008, trong đó, xuất khẩu là 51,33 tỷ USD, giảm 11,5% và nhập khẩu là62,28 tỷ USD, giảm 17%

Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng 21,3%xuất khấu), nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu tư trực tiếpnước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu tư gián tiếp nước ngoài khôngtăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủng hoảng kinh tế toàn cầu

do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình này tiếp tục gây bất lợicho việc ôn định tỷ giá

Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngânsách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp lực

Ngày đăng: 03/10/2014, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w