1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CHUYÊN đè môn học tài CHÍNH TIỀN tệ và chính sách tiền tệ thực trạng và giải pháp hoàn thiện CSTT ở việt nam

44 464 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kếtquả đó một phần nhờ nhà nước đã sử dụng một cách có hiệu quả các công cụđiều tiết vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ là một công cụ đặc biệt quan trọng.Bởi lẽ trong nền kinh tế thị tr

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Thanh Hóa, ngày tháng năm 2015

Giảng viên hương dẫn

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và phương pháp viết chuyên đề: 1

3 Nội dung chuyên đề: 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 3

1.1: Giới thiệu về môn tài chính tiền tệ 3

1.2 Những nội dung chính trong môn Tài chính Tiền tệ 4

1.3 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ 5

1.3.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ 5

1.3.1.1 Vai trò của chính sách tiền tệ 5

1.3.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 6

1.3.3 Vai trò của NHTW trong xây dựng và thực hiện CSTT: 9

1.3.4 Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ 11

1.3.4.1 Công cụ trực tiếp: 13

1.3.4.2 Công cụ gián tiếp: 15

1.3.4.3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM 20

2.1 Thực trạng thi hành chính sách tiền tệ 20

2.2 Đánh giá về việc thi hành chính sách tiền tệ 24

2.2.1 Các thành quả đạt được 25

2.2.1.1 Góp phần tăng trưởng kinh tế: 25

2.2.1.2 Góp phần làm giảm lạm phát: 26

2.2.1.3 Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác: 27

2.2.2 Những khó khăn và tồn tại của việc thực hiện chính sách tiền tệ 28

2.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 32

2.3.1 Những quan điểm định hướng hoàn thiện: 32

Trang 3

2.3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến thể chế: 34

2.3.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ: 37

CHƯƠNG 3 : NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC 39

3.1 Giáo trình và tài liệu học 39

3.2 Cơ sở vật chất 39

3.3.Tính hữu ích và thiết thực của môn học 39

3.4 Nhận xét về giáo viên giảng dạy 39

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới, đa dạng hoáquan hệ ngoại giao và kinh tế, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới,chúng ta đã giành được những kết quả đáng khích lệ trong chương trình ổn địnhhoá nền kinh tế tạo tiền đề đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế đất nước Kếtquả đó một phần nhờ nhà nước đã sử dụng một cách có hiệu quả các công cụđiều tiết vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ là một công cụ đặc biệt quan trọng.Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ (CSTT) có ảnh hưởng lớnđến các biến số vĩ mô của nền kinh tế như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng,giá cả, lạm phát Chúng ta phải thừa nhận rằng chính sách mở cửa và từngbước hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội để chính sách tiền tệ đổi mới, thích hợp vớinền kinh tế đang chuyển dần sang kinh tế thị trường Tuy nhiên, cùng với tiếntrình hội nhập ngày một sâu rộng và trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày một sâusắc, CSTT của VN đang phải đối mặt với nhiều thách thức Nói như vậy cónghĩa là ở VN, hệ thống NH nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng vẫn là mộtlĩnh vực cần được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Vì vậynghiên cứu CSTT và các công cụ điều hành CSTT ởVN là vấn đề mang ý nghĩa

lý luận và thực tiễn cao, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay ở nước ta,khi nềnKTTT đang được xác lập và phát triển

Trên cơ sở đó em đã quyết định chọn đề tài: “Chính sách tiền tệ- thực

trạng và giải pháp hoàn thiện CSTT ở Việt Nam”.

2 Mục đích và phương pháp viết chuyên đề:

2.1 Mục đích:

- Nắm được hệ thống kiến thức cơ bản về tài chính, tiền tệ và ngân hàngcũng như khái quát được hệ thống kiến thức của môn học và chương trình, tàiliệu phục vụ môn học

- Tạo được kiến thức nền tảng về tài chính, tiền tệ và ngân hàng giúp sinhviên lĩnh hội được kiến thức của các môn học khác hiệu qủa hơn

Trang 5

- Có được kỹ năng nhận diện, nắm bắt và giải quyết được các vấn đề vềtài chính, tiền tệ và ngân hàng trong quá trình học tập cũng như quá trình làmviệc và cuộc sống sau này.

2.2 Phương pháp:

- Giảng viên hướng dẫn sinh viên nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản

về tài chính, tiền tệ và ngân hàng, hướng dẫn nghiên cứu các văn bản pháp luật

có liên quan

- Sinh viên tìm tài liệu liên quan đến môn tài chính tiền tệ và các tài liệuliên quan đến đề tài, sau đó tổng hợp thành một bài hoàn chỉnh

3 Nội dung chuyên đề:

Nêu lên thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ởViệt Nam hiện nay

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.1: Giới thiệu về môn tài chính tiền tệ

Tài chính tiền tệ là một lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và phức tạp, liênquan đến toàn bộ hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Sự lành mạnhcủa hoạt động tài chính tiền tệ là điều kiện cần thiết cho sự ổn định và phát triểnbền vững của nền kinh tế, đặc biệt để hội nhập thành công vào các hoạt độngkinh tế quốc tế Cùng với kiến thức về kinh tế học hiện đại, kiến thức và trình độ

lí luận về tài chính - tiền tệ là hành trang cần thiết cho các hoạt động nghiên cứu,điều hành kinh doanh và điều hành kinh tế, giúp nhận thức sâu sắc các hiệntượng đã và đang xảy ra trong các lĩnh vực lưu thông tài chính, tiền tệ, tín dụng,ngân hàng trong nước và quốc tế

Giáo trình Tài chính - Tiền tệ đề cập đến cơ sở lí luận và những kiến thức

cơ bản về tài chính, tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, cung cấp một tầm nhìn tổngquát, toàn diện, có tính hệ thống về môi trường, bản chất, nội dung, quy luật vậnđộng và phát triển của tất cả các sự kiện kinh tế xã hội liên quan đến hoạt độngtài chính, tiền tệ, giúp người học hiểu rõ khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò

và nội dung của các phạm trù liên quan, nắm vững được các quy luật, nguồn gốchình thành, các hình tái tồn tại và các đặc trưng nhận dạng các phạm trù tàichính - tiền tệ Đây cũng là cơ hội để củng cố thêm kiến thức và lí luận cơ bản,

mở rộng và định hướng cho việc đi sâu vào nghiên cứu các khoa học chuyênngành và tham gia tìm hiểu các lĩnh vực khoa học khác

Trên cơ sở những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình nghiên cứu,giảng dạy và công tác quản lí thực tế, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các tài liệuliên quan, giào trình Tài chính - Tiền tệ được biên soạn theo các quan điểm tàichính - tiền tệ hiện đại, phù hợp với các chương trình đào tạo tiên tiến Các nộidung trong giáo trình đều là những kiến thức và lí luận cơ bản gắn liền vớinhững biến động trong đời sống kinh tế, chính trị xã hội hàng ngày Giáo trình

Trang 7

đáp ứng được cơ bản những yêu cầu cả về mặt lí thuyết và thực tiễn có liên quanđến tài chính - tiền tệ nói chung và tín dụng - ngân hàng nói riêng.

1.2 Những nội dung chính trong môn Tài chính Tiền tệ

Môn học tài chính tiền tệ hình thành trên cơ sở tổng hợp có chọn lọcnhững nội dung chủ yếu của 2 môn học “Tài chính học ” và “Lưu thông tiền tệ -Tín dụng” của chuyên ngành Tài chính và Ngân hàng Những kiến thức của mônhọc này mang tính tổng hợp, có liên quan trực tiếp đến điều kiện kinh tế vĩ môtrong nền kinh tế thị trường có điều tiết Do vậy nó trở thành môn học cơ sở chotất cả sinh viên dại học thuộc các ngành kinh tế

Môn học này cung cấp cho sinh viên những kiến thức, những khái niệm

và những nội dung chủ yếu về tài chính, Tiền tệ, Tín dụng và ngân hàng Nó cótác dụng làm cơ sở bổ trợ cho việc nghiên cứu các môn kinh tế ngành

Giáo trình Tài chính tiền tệ gồm có 7 chương, nội dung của các chươngnhư sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về tiền tệ

Khái quát chung về bản chất, chức năng, vai trò của tiền tệ Đồng thời nêulên sự phát triển các hình thái tiền tệ

Chương 2: Các chế độ tiền tệ

Nội dung chương này bao gồm các chế độ tiền tệ, chế độ lưu thông tiền tệ

ở Việt Nam, Chế độ tiền tệ Việt Nam

Chương 3: Cung cầu tiền tệ

Ở chương này, nội dung quan tâm đến các vấn đề về cung cầu tiền tệ, cácquan điểm về nhu cầu tiền tệ, các khối tiền tệ và sự cân đối cung cầu tiền tệ; tìnhhình cân đối cung cầu tiền tệ ở Việt Nam

Chương 4: Lạm phát

Khái niệm, hậu quả và những biện pháp khắc phục lạm phát Tình hìnhlạm phát ở Việt Nam trong các giai đoạn

Chương 5: Những vấn đề cơ bản về tài chính và hệ thống tài chính

Sự ra đời và phát triển của của tài chính; bản chất, chức năng, vai trò củatài chính Chức năng, nhiệm vụ của các khâu trong hệ thống tài chính

Trang 8

Chương 6: Thị trường tài chính

- Những vấn đề chung về thị trường tài chính; Chức năng, phân loại và vaitrò của thị trường tài chính

- Khái niệm, phân loại thị trường vốn; các công cụ trên thị trường vốn ở

Mỹ và Việt Nam

- Sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007

Chương 7: Tín dụng – Ngân hàng và chính sách tài chính quốc gia.

- Khái niệm, chức năng và vai trò của tín dụng; các hình thức tín dụng;ngân hàng thương mại; các tổ chức tài chính phi ngân hàng

- Sự ra đời, phát triển, vai trò và chức năng của Ngân hàng Trung ương

- Mục tiêu và quan điểm chính sách tài chính quốc gia ở Việt Nam giaiđoạn 2006 – 2010; nội dung của chính sách tài chính quốc gia

1.3 Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ

1.3.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ

Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộkhối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớncủa kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữvững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá Theo nghĩa thông thường

là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kỳ tới(thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạmphát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hoá

1.3.1.1 Vai trò của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ có một vai trò nhất định trong việc điều hành nền kinht

ế củamỗi một quốc gia Sự lùa chọn tính đúng đắn trong quá trìnhthực thi chí

nh sách tiền tệ đem lại kết quả khả quan cho những mục tiêu được đặt ra

Do vậy, đối bất cứ một quốc gia nào, đất nước nào cũng cần xem xét, nghiêncứu tình hình nền kinh tế của quốc gia mình để nhằm xây dựng một chính sác

h tiền tệ phù hợp đảm bảo được tính hợp lý và thực hiện chúng

Trang 9

1.3.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

CSTT là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước, hướng tới các mụctiêu vĩ mô sau :

Thứ nhất: ổn định giá cả

Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT Trong quátrình thực nghiệm cho thấy để ổn định giá cả phải ổn định giá trị đồng tiền, ổnđịnh giá trị đồng tiền là ổn định sức mua của tiền tệ Để đạt được điều đóNHTW đã đề ra mục tiêu trong chính sách tiền tệ là ổn định chỉ số giá cả Đểthực hiện mục tiêu ổn định giá cả NHTW có nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiềnbằng cách áp dụng nhiều biện pháp để điều chỉnh sự biến động giá cả trongphạm vi mong muốn cả về ngắn và dài hạn

Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vĩ mô cũng như vi

mô Nó giúp cho nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển kinh tếmột cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động của giá cả Mặt khác nócòn giúp cho môi trường đầu tư ổn định góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thácmọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các DN cũng như các cá nhân phát triển sản xuấtđem lại nguồn lợi cho mình cũng như cho xã hội

Thứ 2: Tăng trưởng kinh tế cao:

Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ổn định là yêu cầu phát triển kinh tếcủa mỗi quốc gia và là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo cho sự ổnđịnh của tiền tệ Ngược lại tiền tệ ổn định thì tăng trưởng kinh tế mới bền vững

Có thể nói, đây là một mục tiêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nước,đặc biệt là các nước đang phát triển Bởi lẽ muốn phát triển kinh tế, giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập để từ đó cải thiện đời sống con người thì trước hết nềnkinh tế phải có tăng trưởng cao Chính sách tiền tệ trong một khoảng thời giannào đó của một quốc gia có thể được xác định theo một trong hai hướng: Chínhsách tiền tệ mở rộng và CSTT thắt chặt

Trang 10

Khi NHTW thi hành CSTT mở rộng trong điều kiện nền kinh tế có dưthừa nguồn lực, thì nó sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế theo 2 chiều hướng:

- Khi khối tiền tệ gia tăng, tức là tiền tệ trỏ nên dồi dào hơn trước thìnhìn chung lãi suất hạ, cầu đầu tư sẽ tăng lên nhanh chóng

- Do chi phí để có tiền giảm đồng thời việc giảm lãi suất làm cho chiphí cơ hội của việc giữ tiền giảm xuống đã khuyến khích dân chúng tiêu dùngnhiều hơn làm cho tổng cầu tăng lên Khi đó hoạt động thương mại trên thịtrường trở nên nhộn nhịp, hàng tồn đọng của các DN được giải quyết và các nhà

DN quyết định mở rộng đầu tưư để tăng sản lượng Như vậy việc tăng khối tiền

tệ của NHTW không những làm tăng cầu tiêu dùng mà còn làm tăng cầu tiêuđầu tư, nhờ đó khuyến khích tăng sản lượng quốc gia hay là tăng trưởng kinh tế

Vì vậy tăng trưởng kinh tế cao chính là một mục tiêu quan trọng của CSTT

Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển kinh tế thường không tránhkhỏi hiện tượng lạm phát Khi nền kinh tế phát triển quá nóng, sản lượng thực tếvượt quá sản lượng tiềm năng, tỷ lệ lạm phát thường cao Để chống lạm phátNHTW phải “thắt chặt”CSTT Cũng vẫn bằng các công cụ điều tiết trong tay,NHTW đã làm cho lượng tiền cung ứng giảm xuống, lãi suất tăng, giá cả hànghoá và dịch vụ giảm, lạm phát bị đẩy lùi Như vậy về ngắn hạn giữa lạm phát vàtăng trưởng, việc làm có quan hệ đánh đổi cho nhau Cho nên việc tăng, giảmcung ứng tiền tệ ở mức độ nào có thể kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả nhưngvẫn đảm bảo có tăng trưởng và công ăn việc làm cao là bài toán khó trong việchoạch định và điều hành CSTT của các quốc gia

Thứ 3 :Tạo công ăn việc làm

Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinh tế - xã hội của mọiquốc gia hiện nay Nếu xã hội có ít công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp cao sẽdẫn đến hậu quả là sự lãng phí về các nguồn lực làm giảm sản lượng quốc gia,hơn nữa còn làm giảm thu nhập trong dân chúng gây khó khăn cho đời sống củahọ.Vì vậy việc làm cao là một trong những yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia

có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển CSTT có vai trò to lớn trong

Trang 11

một quốc gia đang ở trong tình trạng suy thoái Tình hình lúc đó là sản xuất ởdưới mức tiềm năng, đầu tư giảm, kéo theo tình trạng thất nghiệp gia tăng Đểthoát khỏi tình trạng đó, NHTW quyết định thi hành CSTT “mở rộng”

Với các công cụ điều tiết trong tay trong tay, NHTW sẽ làm cho cungtiền tăng lên lãi xuất giảm xuống nhờ đó mà khuyến khích đầu tư Hơn nữa sauthời kỳ suy thoái tiền công thường giảm thấp dẫn đến thúc đẩy các doanh nghiệp

mở rộng sản xuất tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội Kết quả là tỷ lệ thấtnghiệp giảm xuống Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện CSTT mởrộng sẽ khuyến khích đầu tưư tạo nhiều công ăn việc làm với cái giá phải trả làlạm phát tăng Ngược lại, khi NHTW thi hành CSTT thắt chặt thì đầu tưư giảmsút và thất nghiệp gia tăng

Rõ ràng trong quá trình điều tiết vĩ mô, khi NHTW quyết định thay đổiCSTT từ thắt chặt sang mở rộng thì một trong những mục tiêu phải đạt được củaCSTT là tạo ra công ăn việc làm cao trong xã hội

Thứ 4: Ổn định thị trường tài chính

Theo Fried Man - Nhà kinh tế học người Mĩ thì tạo ra một nền tài chính

ổn định để hệ thống NHTM và các TCTD khác có thể hoạt động một cách cóhiệu quả là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài các mục tiêu trên NHTW với cáccông cụ của CSTT có thể góp phần ổn định thị trường tài chính và làm lànhmạnh hoá các quan hệ tiền tệ tín dụng trong nền kinh tế Bởi lẽ hoạt động kinhdoanh tiền tệ của các TCTD nói chung và ngân hàng thương mại nói riêngkhông phải lúc nào cũng thuận lợi Đặc biệt có những lúc ngân hàng lâm vàocuộc khủng hoảng nào đó, dân chúng sẽ đổ xô tới các ngân hàng để rút tiền về

Sự rút tiền ồ ạt đó có thể dẫn đến các ngân hàng thiếu khả năng chi trả Chínhvào thời điểm khó khăn đó, NHTW sẽ thông qua việc cho vay chiết khấu đểcung cấp các khoản tiền dự trữ cho các NHTM Nhờ vậy mà các NHTM có đủkhả năng đối phó với các dòng tiền rút ra và tránh được nguy cơ phá sản khôngnhững thế,khi cần thiết NHTW còn có thể ngăn chặn được khả năng phá sản củacác tổ chức tài chính

Trang 12

Như vậy, thông qua việc cho vay chiết khấu, NHTW thực hiện đượcvai trò “người cho vay cuối cùng” nhằm ngăn chặn những vụ hoảng loạn vềngân hàng hoặc tài chính, tránh được những tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh

tế, nhờ đó mà thị trường tài chính được ổn định Với những mục tiêu kinh tế vĩ

mô kể trên, CSTT thực sự được coi là một công cụ đầy quyền uy của NHTWtrong việc điều tiết kinh tế nhằm tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và lànhmạnh

Mục tiêu trung gian:

Thông qua mục tiêu trung gian NHTW ảnh hưởng đến tổng cầu, từ đótác động vào mục tiêu cuối cùng Để được chọn là mục tiêu trung gian thì phảithoả mãn một số yêu cầu: Mục tiêu đó phải đảm bảo tiêu chuẩn định lượng, cóthể đưa ra dấu hiệu giúp ngân hàng trung ương biết được tác động của mình làđúng hay sai, NHTW phải kiểm soát và chi phối được mục tiêu này để đạt đượcmục tiêu cuối cùng Và điều quan trọng là nó phải có khả năng ảnh hưởng trựctiếp đến mục tiêu cuối cùng của CSTT

Các mục tiêu trung gian của CSTT bao gồm: Mức cung tiền tệ, lãi suấtthị trường trung và dài hạn, tỷ giá, khối lượng tín dụng

Hiện nay các nước thường sử dụng mức cung tiền tệ hoặc lãi suất tiền

tệ làm mục tiêu trung gian của CSTT Với các mục tiêu trung gian NHTWkhông thể chủ động một cách hoàn toàn vì vậy NHTƯ phải lựa chọn các mụctiêu hoạt động để chỉ đạo thường xuyên và trực tiếp

1.3.3 Vai trò của NHTW trong xây dựng và thực hiện CSTT:

Trong 15 năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạoNHNN từng bước đổi mới vững chắc, góp phần xứng đáng trong những thànhtựu của nền kinh tế đạt được: Mức tăng trưởng kinh tế cao và liên tục, ổn định

và kiểm soát lạm phát, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân

Ngày nay CSTT ngày càng trở nên quan trọng, đối với hoạt động của cácNHTW, không ít các quốc gia đã xác định mục tiêu hoạt động của NHTW cũng

là mục tiêu của CSTT Vì vậy, việc nâng cao vai trò của NHNN trong xây dựng

Trang 13

và thực thi CSTT có ý nghĩa quan trọng để góp phần đổi mới, hoàn thiệnNHNN trong thời gian tới

Trong những năm qua, với những nỗ lực mới, NHNN tiếp tục góp phầnxứng đáng trong thành công ổn định giá trị đồng tiền quốc gia Đặc biệt, trongđiều kiện nền kinh tế bị tác động của nhiều khó khăn như ảnh hưởng của thiêntai, khủng hoảng tiền tệ Châu Á

- Xây dựng dự án CSTT quốc gia để chính phủ xem xét trình Quốc hộiquyết định và tổ chức thực hiện chính sách này

- NHNN là cơ quan của chính phủ và là NHTW của nước cộng hoàXHCN Việt Nam Trên thực tế, NHNN được coi như một bộ đặc thù trong chínhphủ Trong hoàn cảnh cụ thể của Việt nam, mô hình này có ưu điểm:

+ Trong cơ chế Đảng lãnh đạo và chính phủ quản lý thống nhất toàn diệncác mặt đời sống, kinh tế xã hội thì việc Thống đốc NHNN là thành viên củachính phủ và có sự quan tâm, hỗ trợ của chính phủ đối với các hoạt động củangân hàng

+ Trong khi nền kinh tế Việt nam vẫn còn trong giai đoạn chuyển đổi,chưa thể vận hành hoàn toàn và đầy đủ theo cơ chế kinh tế thị trường thì với vịtrí là một Bộ trong chính phủ, NHNN có thể giúp việc đắc lực hơn cho chínhphủ Điều này có nghĩa là góp phần được nhiều hơn vào công cuộc đổi mới,phát triển kinh tế đất nước

+ Trong bất cứ sự phát triển nào đều phải trải qua các giai đoạn, nếuchuyển ngay sang một mô hình tổ chức hoàn toàn khác thì chẳng những các cơ

Trang 14

quan, đơn vị có liên quan chưa chấp nhận, gây ách tắc trong việc phối hợp lẫnnhau, mà bản thân NHNN cũng chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết đểtheo cơ chế hoạt động hoàn toàn mới

Ý kiến đề xuất:

- Cho phép NHNN chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứngcho lưu thông tiền tệ Hàng năm, chính phủ duyệt lượng tiền bổ xung cho lưuthông, nhưng không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu cho chi tiêu ngân sách NN

mà phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, của điều hành CSTT đểNHNN cố thể chủ động trong công tác phát hành tiền phục vụ thực hiện tốtCSTT

- Góp phần tăng cường khả năng điều hành các công cụ thực hiện CSTTcủa NHNN Tập trung mọi nguồn vốn tín dụng, đặc biệt là các nguồn vốn tài trợ

từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào hệ thống ngân hàng không để tình trạngphân tán các nguồn vốn tín dụng lamf cho NHNN không kiểm soát được nguồnvốn này và vì thế không thể điều tiết lượng tiền cung ứng tring lưu thông

- Hạn chế sự can thiệp quá sâu đói với NHNN của các cơ quan, tổ chứctrong hoạt động và thực hiện CSTT NHNN cần được chủ động và chịu tráchnhiệm trước Quốc hội, Chính phủ về thực hiện CSTT Các cơ quan, tổ chứckhông can thiệp quá sâu vào hoạt động của NHNN

- Hạn chế nhiệm vụ của NHNN với vai trò một bộ trong chính phủ và bộchủ quản để NHNN tập trung thực hiện vai trò NHTW của đất nước nên giảmdần một số nhiệm vụ thuộc chức năng một bộ quản lý nhà nước thuần tuý, cũngnhư bộ chủ quản đói với các TCTD Nhà nước

1.3.4 Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,phát triển và tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của quốc gia Trong khi nềnkinh tế phát triển thấp, tích luỹ từ nội bộ không, các nguồn lực của nền kinh tếchưa có điều kiện khai thác thì việc hỗ trợ của dòng vốn từ bên ngoài là rất cầnthiết và đóng vai trò quan trọng đối việc tăng trưởng kinh tế

Trang 15

Tuy nhiên để có thể thu hút dòng vốn từ bên ngoài đòi hỏi chúng taphải thực thi hàng loạt các chính sách kinh tế có liên quan nhằm tạo môi trườngcho dòng vốn được lưu chuyển dưới dạng tác động của cung cầu tiền tệ trên thịtrường Ta biết rằng tiền tệ là vấn đề rất nhạy cảm,việc thực thi chính sách tiền

tệ không những tác động đến tình trạng của nền kinh tế quốc gia mà còn ảnhhưởng đến các nước khác do xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thếgiới Mặt khác, việc thực thi chính sách tiền tệ rất đa dạng, phần kớn tuỳ vàoquan điểm nhận định của các nhà lãnh đạo, tuy nhiên, cho dù thế nào đi nữa thìnhững gì đúc kết từ thực tiễn điều hành chính sách vẫn là cơ sở quan trọng choviệc định hướng, hoàn thiện về sau Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu,tổng kếtviệc thực thi chính sách tiền tệ trong thời gian qua là điều đáng quan tâm

Theo điều 2 của Luật NHNN Việt nam thì: “chính sách tiền tệ là một

bộ phận của chính sách kinh tế-tài chính của nhà nước nhằm ổn định giá trị đồngtiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảmquốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân” Với chính sách này, Nhànước thống nhất quản lý mọi hoạt động của ngân hàng, động viên các nguồn lựctrong nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, tạo nguồn vốn đểphát triển kinh tế Trên cơ sở đó, giữ vững định hướng XHCN, giữ vững chủquyền quốc gia mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội,góp phần thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Mục đích của chính sách tiền tệ là nhằm điều tiết lượng tiền trong lưuthông, sự điều tiết này thể hiện qua 2 hướng: mở rộng tiền tệ và thắt chặt tiền tệ.Việc điều tiết lượng cung tiền như thế nào để cho nền kinh tế phát triển mộtcách nhịp nhàng luôn là vấn đề nan giải của các quốc gia,thiếu hay thừa tiềnluôn tác động tiêu cực đến nó Tuy nhiên, trong thực tế điều hành chính sáchtiền tệ, tuỳ vào từng thời kỳ phát triển kinh tế và hoàn cảnh cụ thể của kinh tế

xã hội mà sử dụng chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ Đây cũng là vấn đềmang tính nhạy cảm của các nhà điều hành CSTT

Trang 16

Để làm được điều này NHTW phải sử dụng hàng loạt các công

cụ Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHTW có thể sử dụng đểtác động vào mục tiêu của CSTT

Mỗi loại công cụ đều có cơ chế tác động riêng và đem lại những kếtquả trên những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên các công cụ này đều nhằm ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lượng tiền cung ứng và lãi suất để từ đó đạtđược các mục tiêu của CSTT

1.3.4.1 Công cụ trực tiếp:

Công cụ trực tiếp là công cụ có tác động về lượng và NHTW kiểm soátcông cụ bằng biện pháp hành chính Khi NHTW sử dụng công cụ trực tiếp nótác động trực tiếp vào mục tiêu trung gian, từ mục tiêu trung gian đã tác độngđến tổng cầu

Hạn mức tín dụng:

Hạn mức tín dụng là công cụ trực tiếp của CSTT, đó chính là mức dư nợtối đa mà NHTW buộc các TCTD phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh

tế Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ tín dụng của các NHTM,

từ đó nó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế, vì mỗi khoản chovay cấu thành dư nợ tín dụng của các NHTM thì tương đương với nó là mộtnguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh hưởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so vớilượng tiền cung ứng Để cho hạn mức tín dụng có hiêu quả thì khi đưa ra hạnmức tín dụng bao giờ cũng phải nhỏ hơn nhu cầu vay của nền kinh tế dẫn đếnkhan hiếm tiền Khi đó viêc thay đổi HMTD mới có ý nghĩa tác động vào hạnmức đồng thời tác động đến vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, hạn mức tín dụngnhỏ hơn nhu cầu vay của nền kinh tế là bao nhiêu còn là vấn đề cần xem xét.NHTƯ căn cứ vào mục tiêu của CSTT, vào lượng tiền cung ứng để xác địnhHMTD Nếu HMTD quá nhỏ thì dẫn đến các NHTM sẽ độc quyền tín dụng vàảnh hưởng đến lãi suất cho vay Nếu HMTD lớn hơn so với nhu cầu vay thì cácNHTM sử dụng không hết hạn mức nên việc thay đổi hạn mức cũng không cóhiệu quả

Trang 17

*Ưu điểm: Hạn mức tín dụng là công cụ hành nên NHTW chủ động thay

đổi quy định hạn mức theo mong muốn để đạt được các mục tiêu của CSTT Khicác công cụ khác không có điều kiện áp dụng thì công cụ này có thể phát huyhiệu quả trong trường hợp lạm phát cao

*Nhược điểm: Do đây là công cụ mang tính hành chính và do con người

xác định nên không thể chính xác và sẽ không có hiệu quả khi HMTD quy địnhkhông phù hợp với nhu cầu tín dụng của nền kinh tế Đây là công cụ kém linhhoạt, không thể thay đổi thường xuyên Một khi HMTD xác định không chínhxác thì NHTƯ không thể chủ động sử dụng hạn mức để điều tiết tiền cung ứng

Ở Việt nam, NHNN bắt đầu sử dụng HMTD như một công cụ của CSTT từtháng 6/1994 Thời kỳ đầu chỉ áp dụng cho 4NHTM quốc doanh là: NH ngoạithương, NH công thương, NH đầu tư và phát triển Nhưng sau vài năm đổi mới,quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quá nhanh, nên NHNN quyết định ápdụng HMTD cho hầu hết các NHTM

Tính đến cuối năm 1997 có 26 NHTM trong nước phải áp dụngHMTD Tuy nhiên ngay từ năm 1995, 1996 công cụ HMTD đã bộc lộ nhữnghạn chế là mức tăng dư nợ tín dụng thực tế đã vượt quá HMTD cho phép và đếnnăm 1998 công cụ HMTD đã mất dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự giatăng của tổng phương tiện thanh toán Hơn nữa việc mở rộng tín dụng trong giaiđoạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nếu tiếp tục thực hiệnHMTD sẽ tạo thêm những nhân tố khó khăn cho các NHTM trong việc mở rộngtín dụng Vì vậy từ quý II năm 1998, NHNN đã không áp dụng công cụ này nhưmột công cụ thường xuyên để điều hành CSTT

Theo chiều hướng phát triển của nền kinh tế, những năm tiếp theo khithị trường tiền tệ đã ổn định và thị trường vốn đã đi vào hoạt động thì công cụHMTD sẽ được xoá bỏ

Công cụ lãi suất:

Bên cạnh HMTD, NHTW còn sử dụng công cụ lãi suất ấn định dướicác hình thức như: ấn định khung lãi suất, ấn định trần lãi suất cho vay, sàn lãisuất tiền gửi NHTƯ ấn định trực tiếp trần lãi suất cho vay để khống chế mức lãi

Trang 18

suất mà các NHTM áp dụng cho vay với nền kinh tế Khi NHTW tăng, giảm trầnlãi suất cho vay, NHTM cũng phải tăng, giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh

tế từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của các tổ chức kinh tế Công cụ nàykhông phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế sự cạnh tranh của các NHTM.Đặc biệt trong trường hợp NHTW ấn định mức lãi suất không phù hợp như mứclãi suất quá thấp sẽ làm cho cầu tiền tăng nhanh hơn dự đoán, các ngân hàng gặpkhó khăn về nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu này, mặt khác nếu mức lãi suất quácao sẽ làm cầu tiền giảm dẫn đến đầu tưư giảm, hệ thống NHTM sẽ không kịpđiều chỉnh theo, bỏ lỡ cơ hội đầu tư Khi NHTW ấn định lãi suất buộc cácNHTM phải chấp hành làm hạn chế tính linh hoạt của thị trường tiền tệ

1.3.4.2 Công cụ gián tiếp:

Công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là công cụ tác động vào mụctiêu trung gian qua việc điều chỉnh các mục tiêu hoạt động

Dự trữ bắt buộc:

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải gửi tại NHTW để thực hiệnCSTT quốc gia Nó được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dưtiền gửi tuỳ theo tính chất và thời hạn mà các TCTD huy động được Tỷ lệ nàygọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Từ năm 1991, DTBB được áp dụng như là một công cụ chủ yếu đểđiều hành CSTT ở Việt nam Theo pháp lệnh ngân hàng, tỉ lệ DTBB có thể ởmức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM Song xét hoàncảnh thực tế lúc bấy giờ: Tiềm lực của các NHTM Việt nam còn nhỏ bé và lạmphát đã được kiềm chế ở mức đáng kể nên NHNN đã quy định tỉ lệ DTBB đốivới các NHTM ở nước ta là mức 10% Lúc đầu, kỷ luật chấp hành tỉ lệ DTBBcủa các NHTM chưa nghiêm, rất ít NHTM dự trữ đủ 10%, nhất là cácNHTM cổphần

Để nâng cao tính hiệu lực của các công cụ này, tạo cơ sở cho việc quản

lý cung tiền một cách gián tiếp, trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ

lệ DTBB quy định mức DTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM, đồng thời

Trang 19

đẩy mạnh việc áp dụng qui chế phạt đối với những trường hợp không tuân thủđúng quy định về DTBB

Vào tháng 10/1995, NHNN đã ban hành quy chế DTBB mới nhằmtăng thêm hiệu lực của công cụ này Theo qui chế mới thì DTBB chỉ được tínhđối với các loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống, tỉ lệ DTBB thống nhất

ở mức 10% và được áp dụng cho tất cả các NHTM Đến 1/12/1997 Thống đốcNHNN tiếp tục ban hành quyết định về quy chế DTBB Qui chế DTBB lần này

đã được quy định cụ thể hơn, linh hoạt hơn thể hiện ở việc quy định tiền gửiDTBB tại NHNN được tính bình quân trong cả kỳ duy trì Tỉ lệ DTBB được ápdụng chung cho các NHTM và các loại tiền gửi huy động có kỳ hạn dưới 12tháng là 10%, NHNN không phải trả lãi cho tiền gửi DTBB Những quy địnhmới đã khuyến khích các NHTM chủ động hơn trong điều hành nguồn vốn kinhdoanh và thực hiện DTBB đúng như quy định phù hợp với mục tiêu điều hànhCSTT trong giai đoạn này

Vào cuối năm 1998 đầu năm 1999, NHNN tiếp tục hạ thấp tỉ lệ DTBBđối với các NHTM nhằm mở rộng tín dụng và kích thích đầu tư Tuy nhiên, quavài tháng sau nền kinh tế vẫn tiếp tục có những biểu hiện khác thường Trướctình hình đó, NHNN ra quyết định giảm tỉ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳhạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng của các NHTM do lãi suất giảm tạo điều kiện đểcác NHTM giảm lãi suất cho vay, từ đó tăng khả năng cung ứng vốn cho nềnkinh tế góp phần đưa nền kinh tế tăng trưởng trở lại

Công cụ này có ưu, nhược điểm sau:

*Ưu điểm: DTBB là công cụ chủ động của NHTW, NHTW có quyền

quy định mà các NHTM không có quyền phản đối, sự thay đổi tỉ lệ DTBB là tuỳthuộc vào ý muốn của NHTW Thay đổi một tỉ lệ DTBB sẽ gây tác động mạnhtới thay đổi lượng tiền cung ứng vì NHTW chỉ cần thay đổi một tỉ lệ % nhỏ tỉ lệDTBB thì sẽ dẫn đến thay đổi bội số của lượng tiền cung ứng vì nó tác động đếntát cả các TCTD

*Nhược điểm: Tuy nhiên tăng, giảm DTBB không thể thay đổi thường

xuyên vì nếu thay đổi thường xuyên sẽ gây xáo trộn hoạt động của các TCTD

Trang 20

dẫn đến việc quản lý vốn khả dụng của các NHTM trở nên khó khăn Tiền gửiDTBB không tính lãi nên sẽ ảnh hưởng đến chi phí của các TCTD, nếu DTBBcao dẫn đến chi phí lớn coi như một khoản thuế đánh vào các TCTD

Vì vậy, sử dụng công cụ DTBB là giải pháp tình thế khi cần thiết phảithắt chặt tiền tệ Hiện nay một số nước không còn chú ý đến công cụ này nữa và

có thể quy định mức DTBB bằng 0 hoặc kết hợp với các công cụ khác để thựcthi CSTT

Công cụ cho vay chiết khấu:

Cho vay chiết khấu được coi là một công cụ gián tiếp để giúp NHTW cácnước thực hiện CSTT của mình Tuy nhiên, việc áp dụng công cụ này ở Việtnam những năm vừa qua còn đang ở trạng thái giản đơn do các phương tiệnlàm căn cứ để NHNN thực hiện cho vay chiết khấu còn chơa phát triển đầy đủ.Tuy vậy ngay từ năm đầu của quá trình đổi mới để thực hiện CSTT, NHNN đã

áp dụng hìmh thức cho vay chiết khấu đối với cácNHTM Cơ sở để thực hiệnchiết khấu là các khế ước tín dụng tức là các văn bản pháp lý ghi nhận mộtkhoản vay với một mức lãi suất vàmột thời hạn nợ nhất định của một DN đốivới một NHTM Thông qua việc thế chấp các khế ước tín dụng này, NHNN đãcho vay ngắn hạn đối với các NHTM, nhờ vậy mà các NHTM đã khắc phụcđược những khó khăn tạm thời trong thanh toán, lại có thể đáp ứng được nhucầu tín dụng cho nền kinh tế

Bên cạnh đó, NHTW đã áp dụng lãi suất tái chiết khấu Đây là loại lãisuất được NHTW áp dụng để chiết khấu lại các chứng từ có giá của các NHTM.Lãi suất tái chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tái chiết khấutăng sẽ tác đôngj vào mặt bằng giá vốn đầu vào của NHTM, gây áp lực và lãisuất nền kinh tế sẽ tăng theo dẫn đến thu hẹp khả năng cho vay của NHTM, làmcho hệ số tạo tiền giảm và ngược lại Đi kèm với lãi suất tái chiết khấu, NHTWcòn quy định hạn mức tái chiết khấu tức là quy định mức cho vay tối đa trên cơ

sở lãi suất đã quy định để gây ảnh hưởng về lượng vốn mà các TCTD vay củaNHTW

Trang 21

*Ưu điểm: Chính sách tái chiết khấu là công cụ có khả năng tác động vào

các mục tiêu trung gian của CSTT NHTW chủ động sử dụng công cụ này thểhiện qua việc chủ động quy định lãi suất tái chiết khấu, hạn mức tái chiết khấu

và các điều kiện chiết khấu cho từng đối tượng cụ thể Chính sách tái chiết khấu

là công cụ linh hoạt, sự nhạy cảm của CSTT với lãi suất sẽ ảnh hưởng đến toàn

bộ cơ cấu cho vay của các TCTD với hiệu ứng thông báo mạnh có tác động đếnnền kinh tế NHTW có thể dùnh chính sách này để thực hiện vai trò người chovay cuối cùng cung cấp dự trữ cho hệ thống NHTM khi nó thiếu vốn khả dụng,nhất là trong điều kiện xảy ra khủng hoảng ngân hàng, lúc này cửa sổ chiết khấugiống như cái van an toàn cho hệ thống tiền tệ của quốc gia

*Nhược điểm: Công cụ này không phát huy hiệu quả khi các điều kiện tái

chiết khấu không đảm bảo Nhiều khi NHTW không thể chủ động chi phối được

số tiền tái chiết khấu vì nó còn phụ thuộc vào nhu cầu vốn của TCTD Mặt khác,công cụ này còn có ý nghĩa tác động một chiều, khi cần tăng lượng tiền cungứng thì NHTW sẽ điều chỉnh lãi suất thấp để các NHTM có nhu cầu vay và sẽgặp khó khăn khi cần thu tiền về vì bị ràng buộc bởi thời gian Hơn nữa, chínhsách tái chiết khếu có thể làm lẫn lộn những ý định của NHTW do việc thay đổilãi suất, vì thế để khắc phục phải biết kết hợp công cụ này với các công cụ khácnhư công cụ dự trữ bắt buộc

1.3.4.3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở:

Thị trường mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người ta thực hiện việcmua-bán các công cụ tài chính ngắn hạn Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt độngmua- bán các chứng từ có giá ngắn hạn của NHTƯ trên thị trường mở

Ở Việt nam, sau nhiều năm tích cực chuẩn bị triển khai, tới ngày12/7/2000, nghiệp vụ thị trường mở do NHNN chủ trì đã mở phiên giao dịchđầu tiên đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong điều hành CSTT củaNHTW theo phương pháp gián tiếp Ở đây ta trình bày vài nét về mục tiêu vànhiệm vụ của CSTT-Xuất phát điểm để NHTW đưa ra các công cụ điều hành Ởgóc độ khái quát, CSTT là những mục tiêu và những giải pháp đồng bộ màNHTW sử dụng trong điều hành nhằm tác động vào khả năng sẵn có và giá của

Trang 22

vốn khả dụng, qua đó ảnh hưởng lên toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụngtrong nền kinh tế Nói cách khác, CSTT phải nhằm vào mục tiêu bảo đảm

ổn định giá trị đồng tiền và an toàn hệ thống tín dụng bằng cách kiểm soát cáckênh bơm và rút tiền NHTW trong lưu thông Theo thuật ngữ tiền tệ, đây lànhiệm vụ kiểm soát lượng tiền cung ứng được điều tiêt qua hai kênh bao gồmkênh tín dụng và kênh mua bán

Các tăng hay giảm tiền cung ứng qua các kênh này đều có những ưunhược điểm khác nhau phụ thuộc vào điều kiện khách quan của nền kinh tế vàkhả năng cho phép của NHTW

Theo đánh giá của các chuyên gia NHTW, điều tiết lượng tiền cungứng qua nghiệp vụ thị trường mở có nhiều ưu thế hơn các kênh khác Tại đâyNHTW đóng vai trò người chủ trì có điều kiện thực hiện ý đồ kiểm soát củamình một cách chủ động Thông qua việc mua bán các giấy tờ có giá trên thịtrường thứ cấp giữa một bên là NHTW với một bên khác là các TCTD, làmlượng tiền biến thiên chỉ theo một chiều hoặc tăng giảm phù hợp với yêu cầucan thiệp của NHTW

Ngày đăng: 16/12/2015, 08:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w