1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRƯƠNG sĩ tú GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM

41 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 291 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ21.1. Khái niệm21.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ31.2.1. Kiểm soát lạm phát31.2.2. Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp41.2.3. Ổn định và tăng trưởng kinh tế.41.2.4. Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền51.2.5. Xung đột giữa các mục tiêu51.2.6. Các mục tiêu trung gian61.3. Cơ cấu chính sách tiền tệ:61.4. Phối hợp chính sách tài khoá và tiền tệ71.5. Các công cụ của chính sách tiền tệ71.5.1. Nghiệp vụ thị trường mở81.5.2. Dự trữ bắt buộc.91.5.3. Chiết khấu, tái chiết khấu101.5.4. Chính sách lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi.121.5.5. Cung ứng tiền mặt pháp định131.5.6. Kiểm soát tín dụng chọn lọc141.5.7. Ấn định hạn mức tín dụng14CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM162.1. Chính sách tiền tệ ở Việt Nam162.1.1 Tình hình kinh tế tiền tệ162.1.1.1.Tình hình tỷ giá162.1.1.2 Tình hình lạm phát172.1.1.3.Tình hình thất nghiệp172.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế172.2. Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ.182.2.1 Dự trữ bắt buộc.182.2.2. Chiết khấu, tái chiết khấu.182.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở192.2.4 Quản lý lãi suất của NHTM từ năm 2009đến nay.192.2.5 Quản lý ngoại hối202.3.Đánh giá quá trình điều hành chính sách tiền tệ.212.3.1 Những mặt tích cực212.3.2 Những kết quả đạt được232.3.3 Những hạn chế còn tồn tại232.3.4 Nguyên nhân242.3.4.1 Nguyên nhân khách quan242.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan252.3.4.3. Đó là sự bất cập của các thủ tục pháp ý, hành chính, sự yếu kém của bộ máy hành chính.262.3.4.4 Nguyên nhân thuộc về những người lập , ra quyết định ,thực hiện quyết định.262.3.4.5 các công cụ chính sách tiền tệ nói riêng và các chính sách kinh tế noi chung chưa thực sự đồng bộ. Nhiều khi còn kìm hãm nhau, nhất là trong dài hạn.272.3.4.6 Những hạn chế của chính sách lãi suất trong giai đoạn 2010 đến nay27CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NÀH NƯỚC VIỆT NAM323.1. Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trường mở.323.1.1. Hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện công nghệ nhằm thực hiện có hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở.323.1.2. Ban hành quy chế về hoạt động của thị trường mở và hình thành cơ chế can thiệp linh hoạt, kịp thời của NHNN trên thị trường mở323.1.3. Các biện pháp liên quan khác:333.2. Các giải pháp đối với chính sách lãi suất.333.2.1. Cần có một chính sách lãi suất đồng bộ.333.2.2. Thực hiện lãi suất cơ bản để tiến tới tự do hoá lãi suất .343.2.3. Đã đến lúc cần một lãi suất sàn.353.3. Cần có các công cụ gián tiếp để điều hành CSTT.373.4. Về các thủ tục hành chính, bộ máy hành chính.373.5. Chính sách tiền tệ cần được sử dụng một cách đồng bộ cùng với các chính sách quốc tế khác.38KẾT LUẬN39 LỜI MỞ ĐẦUChiến lược phát triển kinh tế Việt Nam từ nay đến 2020 được khẳng định tại hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII là Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới là phải ổn định được được môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phù hợp. Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô.Trong các công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất được coi là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua tác động điều chỉnh các mối quan hệ trên thị trường tài chính, tiền tệ. Vì vậy muốn ổn định thị trường tài chính tiền tệ, tạo điều kiện ổn định môi trường kinh tế vĩ mô không thể không đề cập đến vai trò của chính sách lãi suất trong hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia và trong hệ thống các chính sách kinh tế.Trong nền kinh tế thị trường , chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ mô cực kỳ quan trọng nhằm ổn định giá trị của đồng tiền kiềm chế lạm phát, hạn chế thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Thời gian gần đây nền kinh tế nước ta đã có những dấu hiệu của sự suy thoái tăng trưởng kinh tế giảm, tổng cầu giảm lạm phát ở mức thấp, vốn đầu tư giảm, sản xuất kinh doanh trì trệ. Điều này đòi hỏi một chính sách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển trong sự nghiệp CNHHĐH đất nước.Từ những nhận định trên, em đã quyết định lựa chọn đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do tài liệu và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được cô xem xét và chỉ bảo. em xin phép được dành những lời trân trọng nhất bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2 1.1 Khái niệm 2

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 3

1.2.1 Kiểm soát lạm phát 3

1.2.2 Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp 4

1.2.3 Ổn định và tăng trưởng kinh tế 4

1.2.4 Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền 5

1.2.5 Xung đột giữa các mục tiêu 5

1.2.6 Các mục tiêu trung gian 6

1.3 Cơ cấu chính sách tiền tệ: 6

1.4 Phối hợp chính sách tài khoá và tiền tệ 7

1.5 Các công cụ của chính sách tiền tệ 7

1.5.1 Nghiệp vụ thị trường mở 8

1.5.2 Dự trữ bắt buộc 9

1.5.3 Chiết khấu, tái chiết khấu 10

1.5.4 Chính sách lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi 12

1.5.5 Cung ứng tiền mặt pháp định 13

1.5.6 Kiểm soát tín dụng chọn lọc 14

1.5.7 Ấn định hạn mức tín dụng 14

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM 16

2.1 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 16

2.1.1 Tình hình kinh tế tiền tệ 16

2.1.1.1.Tình hình tỷ giá 16

2.1.1.2 Tình hình lạm phát 17

2.1.1.3.Tình hình thất nghiệp 17

2.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế 17

2.2 Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ 18

2.2.1 Dự trữ bắt buộc 18

2.2.2 Chiết khấu, tái chiết khấu 18

2.2.3 Nghiệp vụ thị trường mở 19

2.2.4 Quản lý lãi suất của NHTM từ năm 2009đến nay 19

2.2.5 Quản lý ngoại hối 20

2.3.Đánh giá quá trình điều hành chính sách tiền tệ 21

2.3.1 Những mặt tích cực 21

2.3.2 Những kết quả đạt được 23

2.3.3 Những hạn chế còn tồn tại 23

2.3.4 Nguyên nhân 24

Trang 2

2.3.4.1 Nguyên nhân khách quan 24

2.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan 25

2.3.4.3 Đó là sự bất cập của các thủ tục pháp ý, hành chính, sự yếu kém của bộ máy hành chính 26

2.3.4.4 Nguyên nhân thuộc về những người lập , ra quyết định ,thực hiện quyết định 26

2.3.4.5 các công cụ chính sách tiền tệ nói riêng và các chính sách kinh tế noi chung chưa thực sự đồng bộ Nhiều khi còn kìm hãm nhau, nhất là trong dài hạn 27

2.3.4.6 Những hạn chế của chính sách lãi suất trong giai đoạn 2010 đến nay 27

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NÀH NƯỚC VIỆT NAM 32

3.1 Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trường mở 32

3.1.1 Hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện công nghệ nhằm thực hiện có hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở 32

3.1.2 Ban hành quy chế về hoạt động của thị trường mở và hình thành cơ chế can thiệp linh hoạt, kịp thời của NHNN trên thị trường mở 32

3.1.3 Các biện pháp liên quan khác: 33

3.2 Các giải pháp đối với chính sách lãi suất 33

3.2.1 Cần có một chính sách lãi suất đồng bộ 33

3.2.2 Thực hiện lãi suất cơ bản để tiến tới tự do hoá lãi suất 34

3.2.3 Đã đến lúc cần một lãi suất sàn 35

3.3 Cần có các công cụ gián tiếp để điều hành CSTT 37

3.4 Về các thủ tục hành chính, bộ máy hành chính 37

3.5 Chính sách tiền tệ cần được sử dụng một cách đồng bộ cùng với các chính sách quốc tế khác 38

KẾT LUẬN 39

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam từ nay đến 2020 được khẳng định tại hộinghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII là "Tiếp tục đẩy mạnh côngcuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệuquả và sức cạnh tranh của nền kinh tế"

Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới

là phải ổn định được được môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phùhợp Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh

mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô

Trong các công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất được coi là mộtcông cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua tác động điều chỉnh các mối quan hệ trênthị trường tài chính, tiền tệ Vì vậy muốn ổn định thị trường tài chính tiền tệ, tạo điềukiện ổn định môi trường kinh tế vĩ mô không thể không đề cập đến vai trò của chínhsách lãi suất trong hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia và trong hệthống các chính sách kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường , chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ môcực kỳ quan trọng nhằm ổn định giá trị của đồng tiền kiềm chế lạm phát, hạn chế thấtnghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Thời gian gần đây nền kinh tế nước ta đã có những dấu hiệu của sự suy thoáităng trưởng kinh tế giảm, tổng cầu giảm lạm phát ở mức thấp, vốn đầu tư giảm, sảnxuất kinh doanh trì trệ Điều này đòi hỏi một chính sách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt đểtạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển trong sự nghiệp CNH-HĐH đất

nước.Từ những nhận định trên, em đã quyết định lựa chọn đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam".Trong quá trình

nghiên cứu đề tài, do tài liệu và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránhkhỏi những thiếu sót, rất mong được cô xem xét và chỉ bảo em xin phép được dànhnhững lời trân trọng nhất bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo đã tận tình hướng dẫn,giúp đỡ em hoàn thành đề tài

Trang 4

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH

SÁCH TIỀN TỆ 1.1 Khái niệm

Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương tácđộng vào nên kinh tế để điều khiển mức cung tiền nhằm đảm bảo các mục tiêu của nhànước

Mức cung tiền là tổng số tiền có khả năng thanh khoản Nó bao gồm tiền mặtđang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các Ngân hàng Thương mại

Có hai loại hình chính sách tiền tệ đó là chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sáchtiền tệ thắt chặt

- Chính sách tiền tệ thắt chặt tác động để làm giảm lượng tiền cung ứng khi nềnkinh tế quá nóng, tốc độ tăng trưởng quá cao, lạm phát cao Đây chính là chính sáchtiền tệ để chống lạm phát

- Chính sách tiền tệ nới lỏng

Với chính sách này ngân hàng Trung ương sẽ cung thêm tiền cho nền kinh tế,tăng lượng tiền cho lưu thông để khuyến khích đầu tư, gia tăng sản lượng, tạo việc làmcho người lao động và góp phần tạo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

Ở mỗi quốc gia chính sách tiền tệ do Ngân hàng Trung ương vạch ra và chínhsách ngân hàng trung ương sẽ đưa nó vào vận hành trong thực tế nhằm thực hiện cácmục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô Trên cơ sở đó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, tình hìnhcủa mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính

Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng được một "tứ giác thần kỳ" ứng vớimột tốc độ lạm phát 1 - 3%, thất nghiệp vào khoảng 4%, tăng trưởng kinh tế phải đạt

từ 3 - 5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2 - 3% trênGNP Một quốc gia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt được tứ giác thần kỳ này

Vì chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sáchkinh tế tài chính cuả quốc gia và trong hệ thống đó các bộ phận cấu thành có mối quan

hệ tác động hữu cơ với nhau Do vậy một chính sách tiền tệ hữu hiệu đòi hỏi phải đượcthiết lập và vận hàng trong mối quan hệ hữu cơ với các chính sách khác đứng trên giác

độ toàn cục chứ không phải tồn tại với tư cách là một yếu tố độc lập mặc dù nó cực kỳquan trọng Tuy nhiên, chính sách tiền tệ có một vai trò quan trọng tương đối độc lậpvới các chính sách khác xuất phát từ 3 luận điểm sau:

Trang 5

Một là: Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm

Hai là: Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm

Ba là: Không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả và tiền tệ Chính vì vậy

chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng tạo ra đầu tư, tạo ra tiếtkiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ, giá cả

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

1.2.1 Kiểm soát lạm phát

Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian Khi lạm phát ở mức

độ cao (lạm phát phi mã, siêu lạm phát) thì sẽ dẫn tới phân phối lại thu nhập và của cảigiữa các tầng lớp giai cấp khác nhau Khi giá cả tăng lên một cách bất thường thìngười mất là những người đang nắm các tài sản danh nghĩa còn người được là nhữngngười có các khoản nợ tính theo các giá trị danh nghĩa Khi lạm phát tăng lên ở mức

độ cao thu nhập thực tế của dân cư sẽ giảm, đời sống của nhân dân lao động sa sút ,lạm phát cao còn gây ra hiện tượng đầu tư tích trữ hàng hoá và hiện tượng chuyển tiềnsang các loại hàng hoá khác, làm cho cầu về hàng hoá tăng (gồm cả cầu giả tạo) dẫntới mất cân đối cung cầu và giá cả hàng hoá tăng lên làm tốc độ lạm phát càng cao và

dễ bị rơi vào vòng xoáy lạm phát nếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài.Lạm phát cao còn gây ra các rối loạn khác như: làm sai lệch các biến số kinh tế vĩ mô,các điều khoản của hợp đồng danh nghĩa ban đầu trong việc mua hoặc bán, chovayhoặc đi vay đều tính tới yếu tố lạm phát thông thường nhưng không thể tính tới yếu

tố lạm phát bất thường.Khi đó mọi người, nhất là các chủ đầu tư sẽ không an tâm tintưởng trong việc tính toán công việc đầu tư nên không khuyến khích đầu tư

Còn khi lạm phát ở mức độ vừa phải (lạm phát dự tính), thường là dưới 10% thì

nó không có tác động tiêu cực mà theo nhiều nhà kinh tế nó còn là một liều thuốc bổtăng trưởng kinh tế bởi lẽ lạm phát chính là việc đưa một khối lượng tiền ra lưu thôngqua đó mở mang hoạt động của các doanh nghiệp tạo điều kiện đầu tư chiều rộng vàchiều sâu Do đó thu hút nhiều lao động, thất nghiệp giảm nền kinh tế tăng trưởng caohơn trước

Như vậy, nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương là kiểm soát lạm phát ổn định giátrị đồng nội tệ tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển bình thường, đảm bảo đời sốngcho người lao động Tuy nhiên thực chất của việc kiểm soát lạm phát là chấp nhận sựbiến động với một biên độ cho phép (lạm phát một con số) Còn khi lạm phát ở mức

Trang 6

cao thì Ngân hàng Trung ương sẽ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để làm giảmmức cung tiền, giảm lạm phát.

1.2.2 Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp

Những người trong lực lượng lao động khi không có việc làm sẽ trở thành ngườithất nghiệp Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thịtrường cho dù quốc gia đó là phát triển, đang phát triển hây kém phát triển

Khi thất nghiệp mức cao, sản xuất sút kém các nguồn lực không được sử dụnghết, thu nhập của dân cư giảm sút Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã hội, nhiềuhiện tượng tiêu cực phát triển, tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng Người ta có thểtính toán được sự thiệt hại kinh tế Đó là sự giảm sút to lớn về sản lượng và đôi khicòn kéo theo nạn lạm phát to lớn Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp mang lại ởnhiều nước lớn đến mức không thể so sánh với thiệt hại do tính không hiệu quả của bất

cứ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác Những kết quả điều tra xã hội học cũng cho thấythất nghiệp luôn gắn với các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp tổn thương về mặt tâm

lý và niềm tin của nhiều người, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống,làm sóimòn nếp sống lành mạnh và có thể ảnh hưởng đến cả chính trị như biểu tình

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp chứ khôngphải là làm cho thất nghiệp bằng không mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, khi nềnkinh tế toàn dụng nhân công

Chúng ta có thể thấy rằng khi nền kinh tế phát triển thì công ăn việc làm được tạo

ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm đi và ngược lại khi nền kinh tế trì trệ thì công ăn việclàm bị suy giảm, thất nghiệp tăng lên Arthur Okun đã phát hiện ra một quy luật rằngkhi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng thì mức thất nghiệp tăng 1%

Định luật Okun có thể được coi làa chìa khoá cho các nhà vạch chính sách, ví dụ

để giảm 1% thất nghiệp hàng năm thì phải tăng GNP lên 2%/năm và như vậy cần phải

có một khối lượng gia tăng đầu tư là bao nhiêu hàng năm cho các ngành kinh tế để giatăng được sản lượng 2% mỗi năm

Để tạo thêm việc làm, giảm bớt thất nghiệp ngân hàng Trung ương sẽ sử dụngchính sách tiền tệ mở rộng, tăng lượng cung tiền, giảm lãi suất và từ đó kích thíc đầutư

1.2.3 Ổn định và tăng trưởng kinh tế.

Mục đích cao nhất của chính sách tiền tệ là làm thế nào để phát triển kinh tế, gia

Trang 7

tăng sản lượng của nền kinh tế.

Mục tiêu ổn định tăng trưởng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làmcao, bởi vì khi những nhà kinh doanh đầu tư nhiều hơn vào tư liệu sản xuất để mở rộngquy mô sản xuất và gia tăng khối lượng sản phẩm thì mức thất nghiệp thấp Ngược lại,khi thất nghiệp cao và các xí nghiệp nhàn rỗi thì không có lợi để một hãng đầu tư thêmcác máy móc và thiết bị, các nguôn lực không được sử dụng hết và như vậy không thểtăng trưởng kinh tế cao

Để tăng trưởng kinh tế Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nớilỏng

Mặt khác khi mức cung tiền tăng các thành phần dân cư có tiền nhiều hơn sẽ tăngsức cầu tiêu thụ Cả hai sức cầu về sản phẩm tiêu dùng và đầu tư đều tăng từ đó tổngsản phẩm xã hội sẽ tăng Nếu mức gia tăng đó lớn hơn nhịp gia tăng dân số sẽ có tăngtrưởng kinh tế

1.2.4 Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền

Trong nền kinh tế mở, một sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ít hay nhiều đều ảnhhưởng tới hoạt động kinh tế trong nước tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế.Một tỷ giá hối đoái quá thấp (đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với ngoại tệ) cótác dụng khuyến khích nhập khẩu gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tươngđối đắt khi bán cho nước ngoài Như vậy sẽ gây trở ngại trong nước về xuất khẩu, bấtlợi cho những cuộc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước Khi đó khốilượng dự trữ ngoại hối dễ bị xói mòn

Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ có giá trị thấp) so với ngoại tệ cótác dụng bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩutương đối đắt hơn, hàng xuất khẩu tương đối rẻ hơn Do đó những sản phẩm có nguyênliệu nhập khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu gặp trở ngại

Như vậy một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều dẫn tới những tác động kép tíchcưc và tiêu cực Do đó nhiệm vụ của ngân hàng Trung ương là sử dụng những công

cụ, chính sách của mình can thiệp, giữ cho tỷ giá không thăng trầm quá đáng, làm dịubớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế quốc dân trong nước, giúp các hãng

và cá nhân mua hoặc bán hàng hoá ở nước ngoài dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạchcho tương lai

1.2.5 Xung đột giữa các mục tiêu

Trang 8

Nhìn chung giữa các mục tiêu tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát có mối quan

hệ chế ước lẫn nhau trong thời gian ngắn

Khi kìm chế được lạm phát thì tăng trưởng chậm lại dẫn đến suy thoái, thấtnghiệp cao Và khi mở rộng đầu tư khắc phục suy thoái, phát triển kinh tế thì sẽ tạođược nhiều công ăn việc làm hơn, thất nghiệp giảm nhưng lại rất khó kìm chế lạmphát

1.2.6 Các mục tiêu trung gian

Trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng Trung ương phải xác định các mục tiêutrung gian của chính sách tiền tệ, nhằm đạt đến các mục tiêu cuối cùng của chính sáchnày Bởi lẽ, ngân hàng trung ương sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xét đoánnhanh chóng tình hình thực hiện hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuốicùng hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó

Bằng việc tăng, giảm các khối lượng tiền tệ ngân hàng trung ương góp phần tácđộng đến tăng, giảm tổng cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội Đồng thời Ngân hàngTrung ương cũng có thể sử dụng công cụ lãi suất để tác động đến sự tăng giảm khốilượng tiền tệ từ đó mà tác động đến sự tăng giảm khối lượng tiền tệ, từ đó tác độngđến tổng cung và tổng cầu xã hội Tuy nhiên thực tiễn thi hành chính sách tiền tệ ởnhiều mức cho phép người ta thiên về hướng lựa chọn các khối tiền tệ làm mục tiêutrung gian hơn là lựa chọn lãi suất

1.3 Cơ cấu chính sách tiền tệ:

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ bao gồm 3 thành phần cơ bản gắnvới 3 kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông đó là chính sách tín dụng, chính sách ngoại hối

và chính sách đối với ngân sách nhà nước

- Chính sách tín dụng Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng phươngtiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàngdựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệthống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường

- Chính sách ngoại hối Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản cógiá trị thanh toán đối ngoại, phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế bền vững và gia tăng việc làm trong xã hội, bảo đảm chủ nghĩa tiền tệ của đấtnước

- Chính sách đối với ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo cung ứng phương tiện

Trang 9

thanh toán cho chính phủ trong trường hợp ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt Phươngthức cung ứng tối ưu là ngân hàng trung ương cho ngân sách Nhà nước vay theo kỳhạn nhất định Dần dần và tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để bù đắp thiếu hụtngân sách.

1.4 Phối hợp chính sách tài khoá và tiền tệ

Chính sách tài khoá là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng đểđiều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế

Khi tổng cầu ở mức vừa phải sản lượng tương đối ổn định ở mức dự kiến, có thể

sử dụng hỗn hợp tài chính chặt chẽ - tiền tệ nới lỏng hoặc tài chính mở rộng tiền tệchặt chẽ để làm biến đổi thành phẩm của tổng cầu Với hỗn hợp tài chính chặt chẽ vàtiền tệ nới lỏng vừa đủ để tổng cầu không thay đổi nhưng tiêu dùng và đầu tư tăng lên,chỉ tiêu Chính phủ giảm xuống Hỗn hợp này có thể ổn định sản lượng hiện tại nhưng

có lợi cho sự tăng truởng tương lai nhờ mở rộng quỹ vốn, số có thêm việc làm vớinăng xuất cao hơn Tuy nhiên nếu sự cắt giảm chỉ tiêu Chính phủ tập trung vào khoảnđầu tư công cộng mang lại lợi ích chung thì cần được cân nhắc xem xét kỹ lưỡng hơn.Với hỗn hợp tài chính mở rộng và tiền tệ chặt chẽ có thể giữ nguyên tổng cầu mởrộng khả năng đầu tư công cộng và hạn chế sự bành trướng về tiêu dùng và đầu tư.Trong thực tiễn đời sống kinh tế có quá nhiều các nhân tố kinh tế, xã hội, tâmlý Tìm lại trong thời gian dài, ngắn khác nhau, tác động cùng chiều hoặc ngượcchiều đến nhiều vấn đề kinh tế Mô hình trên đây chỉ là một mô hình đơn giản nên thậtkhó dự đoán kết quả thực sự khi thực hiện các hỗn hợp chính sách nói trên Cũng vì lẽ

đó chính sách tài khoá thường được coi hơn bởi nó tác động trực tiếp vào tổng cầu cònchính sách tiền tệ phải qua một cơ chế lan truyền từ tác động vào thị trường tiền tệ vàqua hiệu ứng của thị trường này tác động đến hành vi ứng xử của các tác nhân kinh tế

để có được một tổng cầu theo dự kiến Khó có thể đánh giá chính sách tác động củachính sách tiền tệ

Khi thực hiện chính sách tiền tệ để quản lý (kiểm soát) tổng cầu thường gặp phảimột trở ngại là lạm phát Trong những điều kiện nào đó về cung, chính sách tiền tệ nớilỏng có thể không đẩy được đường LM sang phải, toàn bộ gia tăng của mức cung tiềnkhông có ảnh hưởng đến tổng cầu mà chuyển toàn bộ vào giá làm cho lạm phát trở nêntrầm trọng

1.5 Các công cụ của chính sách tiền tệ

Trang 10

1.5.1 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua bán các giấy tờ

có giá với mục đích tác động đến thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ

có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các ngân hàng thương mại tại ngân hàngtrung ương, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này từ

đó làm thay đổi mức cung tiền

Trên thị trường mở Ngân hàng trung ương chủ yếu mua bán trái phiếu của chínhphủ Bằng cách mua trái phiếu ngân hàng trung ương làm tăng khối dự trữ của ngânhàng thương mại Khi đó, ngân hàng thương mại có thể mở rộng khả năng cho vaygấp bội lần tuỳ theo mức dự trữ bắt buộc Hơn nữa việc ngân hàng Trung ương muatrái phiếu với lãi suất thấp góp phần tăng cung tín dụng từ đó làm lãi suất tín dụng hạthấp, kích thích các doanh nghiệp đi vay Đây cũng là một cách gia tăng khối tiền tệ.Ngược lại, bằng cách bán trái phiếu trên thị trường mở cho bất kỳ đối tượng nào,ngân hàng Trung ương thu hút tiền vào làm giảm bớt khối tiền tệ Kết quả làm cho dựtrữ của ngân hàng Thương mại tại ngân hàng Trung ương bị giảm , từ đó hạn chế khốilượng cấp phát tín dụng của ngân hàng thương mại

Nếu sự mua bán trái phiếu không có ngân hàng trung ương tham gia mà chỉ làgiữa các ngân hàng thương mại với nhau thì khối tiền tệ không thay đổi Đó chỉ là một

sự di chuyển trái phiếu từ ngân hàng thương mại này sang ngân hàng thương mại khác

và một sự di chuyển ngược lại từ một phần dự trữ thặng dư của ngân hàng thừa vào dựtrữ của ngân hàng thiếu

Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi vìnhững nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay đổitrong cơ số tiền tệ, và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ

Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ thị trường mở chủ động nhằmthay đổi mức dự trữ và cơ sồ tiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bù lạinhững chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ

Nghiệu vụ thị trường mở có những ưu điểm là:

Thứ nhất: Nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt và chính xác, có thể được sử dụng

ở bất cứ mức độ nào

Thứ hai: Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng được đảo ngược lại Khi có một sai

lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, ngân hàng trung ương có thể

Trang 11

lập tức đảo ngược lại việc sử dụng công cụ đó Nếu ngân hàng trung ương thấy rằngcung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá nhiều trên thị trường mở, thì lập tức nó cóthể sửa chữa ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán.

Thứ ba: Nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành nhanh chóng không

gây những chậm chế về mặt hàng chính Khi ngân hàng Trung ương muốn thay đổi cơ

số tiền tệ hoặc dự trữ nó chỉ việc ra lệnh cho người kinh doanh chứng khoán và việcmua bán được thực hiện tức khắc

Nhược điểm: đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán phát triển và chỉ có thể ápdụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lưu thông đều nằm ở tài khoản tại ngânhàng

1.5.2 Dự trữ bắt buộc.

Ngân hàng trung ương được giao quyền bắt buộc các ngân hàng trung gian phải

ký gửi tại ngân hàng Trung ương một phần của tổng số tiền gửi mà ngân hàng trunggian nhận được từ dân cư và các thành phần kinh tế theo một tỉ lệ nhất định Phần bắtbuộc kỳ gửi đó được gọi là dự trữ bắt buộc và tỷ lệ phần trăm mà ngân hàng trungương quy định như trên gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc Như vậy tỉ lệ dự trữ bắt buộc là hệ

số giữ dự trữ bắt buộc và tổng số tiền ký thác của khách hàng tại ngân hàng trung gian

Mục đích của việc thực hiện dự trữ bắt buộc là nhằm:

- Giới hạn khả năng thương mại của ngân hàng trung gian, tránh được trường hợpngân hàng này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể phương hạitới quyền lợi của người ký gửi tiền ở ngân hàng tức là đảm bảo an toàn tiền gưỉ củakhách hàng

- Việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian ở ngân hàng trung ương còn làmột phương tiện để ngân hàng trung ương có thêm quyền lực để điều khiển hệ thốngngân hàng tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với ngân hàng trung ương

- Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong những trườnghợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh được tình trạngkhủng hoảng ngân hàng

Về nguyên tắc, khi ấn định một một dự trữ bắt buộc thấp, ngân hàng trung ươngmuốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, tức làmuốn gia tăng khối lượng tiền tệ Điều này sẽ kích thích được các hoạt động kinh tế,tăng khả năng giao lưu các nguồn vốn tài chính giữa các doanh nghiệp, thể hiện một

Trang 12

chính sách tiền tệ nới lỏng Ngược lại khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc, ngân hàngtrung ương muốn giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, báo hiệu mộtchính sách tiền tệ thắt chặt Điều này tác động tới lợi nhuận của ngân hàng trung gian.Chính vì thế khi tiến hành gia tăng dự trữ bắt buộc đòi hỏi phải nghiên cứu trước sứcchịu đựng của ngân hàng trung gian với mức dự trữ mới sẽ ban hành Để ngân hàngtrung gian không bị lỗ và cộng tác với ngân hàng trung ương trong việc thực thi chínhsách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể trả lãi cho mức dự trữ thặng dư nào đó củangân hàng trung gian, kèm theo một chính sách lãi suất thích hợp Cộng vào đó, ngânhàng trung ương có thể vận dụng mức dự trữ bắt buộc một cách uyển chuyển hơn,bằng cách phân biệt nhiều mức dự trữ bắt buộc, chẳng hạn, do tính chất thanh khoảncủa mỗi loại tiền gửi, ngân hàng trung ương có thể quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc củatiền gửi không kỳ hạn cao hơn tỉ lệ dự trữ bắt buộc cả tiền gửi có kỳ hạn.

Điểm lợi chính của việc sử dụng dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động tới tất cảcác ngân hàng như nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng tiền tệ Nhưnghạn chế của nó là một sự thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tạo ra một sự thay đổilớn của lượng tiền cung ứng và có thể tạo ra một cú sốc đối với nền kinh tế

Khi bị "lỡ tay" trong việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì ngân hàng trung ương

sẽ không kịp bổ sung

Đặc biệt đối với những nước có lượng tiền mặt trong lưu thông còn quá nhiềunhư Việt Nam thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc chưa có tác động mạnh đến lượng tiền cungứng

Biện pháp thay đổi dự trữ bắt buộc cần thực hiện một cách thận trọng và muốn cóhiệu quả cần phải đi kèm với những biện pháp khác, cần phải có những nhà hoạchđịnh chính sách có khả năng cao

1.5.3 Chiết khấu, tái chiết khấu

Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ, tức là nhận tiền gửi

và cho vay phần lớn tiền gửi đó Nhưng không phải lúc nào hoạt động của ngân hàngcũng thuận lợi Có những lúc người gửi tiền đến rút tiền quá nhiều, ngân hàng dễ rơivào tình trạng kẹt vốn Những trường hợp ào ạt rút tiền thường xảy ra theo những chu

kỳ kinh tế Do đó nhiều ngân hàng khó tránh khỏi tình trạng thiếu khả năng chi trả, do

đó nếu không có ngân hàng trung ương, ngân hàng trung gian sẽ rất nguy hiểm vì dễrơi vào tình trạng phá sản Chính vào những lúc khó khăn đó, ngân hàng thương mại sẽ

Trang 13

tìm mọi cách để có được vốn để chi trả có thể là đi vay, và người cho vay cuối cùngcủa ngân hàng thương mại chính là ngân hàng trung ương.

Ngân hàng trung ương sẽ cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại qua nhiều hìnhthức, thông dụng nhất là tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu (tái chiết khấu) cácthương phiếu Khi chấp nhận chiết khấu tức là ngân hàng trung ương đã làm tăng khốitiền tệ Đây là hình thức phát hành tiền được xem là lành mạnh do được đảm bảo bằngcác giấy tờ có giá, và khi các chứng khoán đáo hạn ngân hàng Trung ương sẽ đòi cácmón nợ cho vay Bên cạnh đó, việc cho vay này luôn gắn liền với yêu cầu của nềnkinh tế do sự tác động trực tiếp của quy luật cung cầu

Thông qua lãi suất tái chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể khuyến khíchgiảm hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế,đồng thời giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền Khi thực hiện chính sách "thắt chặt" tiền

tệ, ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên Khi đó các ngân hàng thươngmại sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những cơ hội cho vay Và ngược lại, khithực hiện chính sách tiền tệ "nới lỏng", ngân hàng trung ương hạ thấp lãi suất chiếtkhấu, ngân hàng thương mại trong trường hợp này đi vay rẻ lên có khynh hướng giảmbớt lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu vay gia tăng

Ngoài ra, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ đắc lực trong địnhhướng phát triển kinh tế Đối với chính sách kích thích xuất khẩu, ngân hàng trungương sẽ ưu tiên tái chiết khấu các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiếtkhấu đối với các thương phiếu đó

Tuy nhiên, khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung ương đã tăng khốilượng tiền cung ứng Chính vì tầm quan trọng đó nên ngân hàng trung ương chỉ có thểchấp nhận tài chính chiết khấu theo ba điều kiện sau:

- Ngân hàng thương mại đó phải còn hạn mức tín dụng chưa sử dụng hết

- Khối lượng tiền cung ứng bằng con đường tín dụng tức chỉ tiêu tín dụng chonền kinh tế còn được phép cung ứng thêm

- Ban thân các ngân hàng thương mại đem thương phiếu để tái chiết khấu phải lànhững thương phiếu tốt

Như vậy, chiết khấu và tái chiết khấu chính là hành động mua các thương phiếucủa ngân hàng trung ương nhằm điều chỉnh mức cung ứng tín dụng của NHTM đối vớinền kinh tế, đồng thời qua đó điều chỉnh cung ứng tiền tệ

Trang 14

Chiết khấu và tái chiết khấu có những ưu điểm và nhược điểm sau:

- Ưu điểm:

+ Các khoản cho vay của NHTM đều được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá Do

nó có khả năng tự thanh toán

+ Có tính chất tích cực hơn biện pháp hạn mức tín dụng do chịu sự tác động củaquy luật cung cầu

- Nhược điểm:

+ NHTW bị thụ động do yếu tố chủ động đi vay hay không nằm ở NHTM

+ Yếu tố chính trị trong lãi suất chiết khấu quá lớn Việc áp đặt một lãi suất chiếtkhấu chịu yếu tố chủ quan của NHTW rất lớn, nó có thể đưa ra một lãi suất chiết khấukhông phù hợp với lãi suất thị trường khi NHTW bị phụ thuộc nhiều vào chính phủ

1.5.4 Chính sách lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi.

Lãi suất (interest rates) được xem là công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền tệtrong việc cung ứng tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông Sở dĩ, nói lãisuất là công cụ gián tiếp, bởi lẽ, lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượngtiền tệ trong lưu thông

Thông thường chính sách lãi suất đi vay (Bid Rates) hay lãi suất tiền gửi và lãisuất cho vay (offered Rates) biến đổi cùng chiều, nghĩa là, cả hai mức lãi suất đó đềutăng lên hay giảm xuống đồng thời Khi lãi suất tiền gửi được nâng lên thì lãi suất chovay cũng được nâng lên và ngược lại, tuỳ theo chính sách của ngân hàng trung ương.Tuy nhiên, nó vận động ngược chiều với giá cả của chứng khoán

Để lãi suất có thể đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu thì việc hình thành lãisuất phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Lãi suất tín đụng danh nghĩa bình quân bao giờ cũng phải bé hơn lợi nhuậndanh nghĩa bình quân

- Lãi suất tín dụng danh nghĩa phải bằng lãi suất thực cộng với một tỷ lệ lạmphát

- Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bao giờ cũng phải bằng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn

- Lãi suất đồng ngoại tệ bằng lãi suất đồng nội tệ

- Lãi suất dài hạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất ngắn hạn

- Lãi suất giữa các thành phần kinh tế khác nhau phải giống nhau

- Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân

Trang 15

Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất.

- Quan điểm thứ nhất: ấn định lãi suất, tức là ngân hàng trung ương phải qui địnhlãi suất đối với các ngân hàng trung gian

-Quan điểm thứ hai: Thả nổi lãi suất, tức là lãi suất do thị trường quyết định

Ở các nước công nghiệp phát triển, phần lớn các ngân hàng trung ương theochính sách tác động gián tiếp tới lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay ít khi ngân hàngtrung ương áp dụng biện pháp ấn định lãi suất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,ngân hàng trung ương cũng ấn định một "trần" (ceiling) lãi suất tối đa áp dụng cho tiềngửi

Hiện một số nước còn đang áp dụng biện pháp ấn định lãi suất đối với các ngânhàng trung gian, không được cạnh tranh với nhau về lãi suất Theo hướng này, thôngthường ngân hàng trung ương quy định lãi suất trần tối đa đối với tiền gửi và lãi suấtsàn đối với tiền cho vay

Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu của ngân hàng thế giới cho thấy những trần(ceilings) cứng nhắc đã làm cản trở sự tăng trưởng về tiết kiệm tài chính và giảm thiểuhiệu năng của đầu tư Chính phủ ở nhiều nước đang phát triển ngày càng thừa nhận lãisuất chịu sự quản lý của nhà nước có thể có hại, họ có khuynh hướng để cho thị trường

có tiếng nói lớn hơn Song, trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiếtlập, nhà nước có thể tiếp tục quản lý lãi suất

Tóm lại, công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ là công cụ cực kỳ lợi hại, có sứcphản công rất ghê gớm, một nhà kinh tế người Mỹ đã nói, nó là một công cụ để kíchthích sản xuất đồng thời là một công cụ để kìm hãm sản xuất, tuỳ thuộc vào sự khônngoan hay khờ dại của những người sử dụng công cụ này

1.5.5 Cung ứng tiền mặt pháp định

Ngân hàng trung ương có thể trực tiếp làm tăng, giảm dự trữ và cung ứng tiền,bằng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái và nghiệp vụ cho vayvới chính phủ, ngoàinghiệp vụ thị trường mở và cho vay chiết khấu, tái chiết khấu

Khi ngân hàng trung ương đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ, lập tức sẽ làm gia tănglượng tiền trong lưu thông, dẫn đến tỷ giá ngoại tệ lên cao, nghĩa là phá giá đồng bản

tệ Ngược lại, khi hàng trung ương đem ngoại tệ ra bán, làm giảm nhanh cung ứngtiền, lượng tiền trong lưu thông giảm đi, tỷ giá ngoại tệ hạ thấp xuống, tức là nâng giáđồng bản tệ

Trang 16

Khi ngân sách chính phủ thâm hụt (budget deficit), nhu cầu vay mượn của chínhphủ sẽ phát sinh, ngân hàng trung ương thường phải cho chính phủ vay tiền Lượngtiền cho vay này sẽ làm tăng cung ứng tiền trong nền kinh tế thông qua việc chi tiêucủa chính phủ Ngược lai, đến khi ngân sách thặng dư, Ngân hàng trung ương đòi nợ

và chính phủ trả nợ, lượng tiền mặt của chính phủ bị ngân hàng trung ương rút về, làmcho cung ứng tiền trong lưu thông giảm theo

Để chính sách này thật sự mang tính hữu hiệu, cần phải thường xuyên nâng caochất lượng kiểm soát và thanh tra ngân hàng trung gian

Trang 17

thương mại không sử dụng hết hạn mức tín dụng mà ngân hàng thương mại quy địnhcho nó.

+ Làm giảm bớt động lực cạnh tranh giữa ngân hàng thương mại vì các ngânhàng thương mại hoạt động tốt khi sử dụng hết hạn mức tín dụng cũng không thể huyđộng vốn được thêm trong khi các ngân hàng thương mại hoạt động kém vẫn được huyđộng vốn vì chưa hết hạn mức

+ Có thể làm phát sinh các hình thức tín dụng không chính thức nằm ngoài tựkiểm soát của Ngân hàng trung ương

+ Gây ra rất nhiều khó khăn về vốn cho doanh nghiệp chỉ vì với những giới hạncho phép ngân hàng thương mại chỉ tìm kiếm những khoản đầu tư lớn

Ngoài những công cụ được trình bày trên đây con có các công cụ khác cũng được

áp dụng trong việc thực thi chính sách tiền tệ như: chính sách tỷ giá, ấn định một biênvực bắt buộc trong việc cho vay, chính sách ngoại hối, dự trữ ngoại hối

Trang 18

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ Ở VIỆT NAM 2.1 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình kinh tế tiền tệ

2.1.1.1.Tình hình tỷ giá

Tháng 9/2007, thị trường ngoại tệ liên ngân hang được thiết lập ,NHNN thựchiện vai trò người mua bán cuối cùng trong ngày tỷ giá chính thức vẫn được ngânhang công bố,chỉ có biên độ giao động là có sự thay đổi

Năm 2009, mức thâm hụt cán cân thương mại ở nước ta lên đến 4 tỷ USD, tỷ lệnhập siêu so với GDP là 16.%, cao gấp rưỡi so với mức độ nhập siêu cao nhất của thếgiới của các nước ,nhu cầu về USD tăng làm giảm giá trị đồng nội tệ trong nước Dovậy NHNN đã mở rộng biên độ giao dộng của tỷ gía từ 0.5%trước đây lên 1% vàtháng 2/2010 biên độ này là5%, bên cạnh đó tỷ giá vẫn nâng dần lên nhình chung từđầu năm 2010 tỷ giá USD/VND liên tục tăng lên không còn ổn định như thời gian

2006 -2009

Ngày 2/7/2010 ngòi nổ cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á bắt đầu xuất phát từthái lan,là một nước trong khu vực , Việt Nam cũng bị ảnh hưởng đến tình hình buôngbán,thanh toán và kể cả tâm lý ngày 13/10/2010, NHNN công bố quyết định nới lỏngbiên độ tỷ giá và mua bán ngoại tệ lên 10%so vói tỷ gia chính thức cầu ngoại tệ trênthị trường tiền tệ rất cao nên hầu như việc mua bán ngoại tệ của NHTM thường xuyênbám sát mức trần cho phép mặc dù vậy trên thị trường giá trị đó còn cao hơn nhiều cólúc lên đến 14000đ/USD, đây chính là hậu quả việc nắm giữ ngoại tệ do lo lắng vềcuộc khủng hoảng của VNĐ đứng trước tình hình này những tháng đầu /2011, NHNN

đã đưa ra hàng loạt các biện pháp nhằm ổn định thị trường như: quy mô về giao dịchngoại hối,các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mới, các quy định về trạng thái tiền tệ chophép các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ đặc biệt là hai lần điều chỉnh tỷ giá :lần thứ nhất , ngày 16/2/2011 NHNN quyết dịnh nâng tỷ giá từ 11.175/1USD lên11800đ/USD làm tỷ giá giao dịch của NHTM xấp xỉ với tỷ giá trên thị trường tựdo.Lần thứ hai diễn ra vào ngày 7/8/2011 tỷ giá chính thức được nâng từ 11888đ/USDlên 12.998đ/USD, tăng 16.3% bên cạnh đó biên độ giao động cũng được thu hẹp lạicòn 7% chứ không phải là 10% như trước việc tự động điều chỉnh tỷ giá của NHNN

đã làm thu hẹp khoảng cách giữa các tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá của các

Trang 19

NHTM vào những tháng cuối /2011 tỷ giá của hai thi trường này là xấp xỉ nhau.

Bắt đầu từ ngày 16/2/2013 một cơ chế điều hành tỷ giá mới đã được điều hànhtại việt nam Thay cho việc công bố tỷ giá chính thức,hàng ngày NHNN sẽ công bố tỷgiá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đồng việt nam sovới đồng USD

Từ đó đến nay tỷ giá USD/VNĐ dao động ở mức 14000VNĐ/USD mức tăng đếnhết tháng 12/2013 so với 12 /2011 chỉ có 1%

2.1.1.3.Tình hình thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã lên mức báo động Theotính toán không chính thức của NHTG, thì giai đoạn hiện nay tỷ lệ thất nghiệp củaViệt Nam xấp xỉ 7%, lao động qua dạy nghề chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng sốlao động , theo tính toán của Bộ lao động và thương binh xã hội thì tỷ trọng này chỉ đạt

là 12.2% (thời báo kinh tế Việt Nam số 67 trang7) Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thànhthị trong những năm gần đây còn ở mức cao nhất là trong những năm 2013 (7.4%),Năm 2009 là 6.01% /2011 là 6.85% (bài thị trường lao động số 1/2000)

2.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế

Trong công cuộc đổi mới kinh tế trong những năm vừa qua,chúng ta đã thu được

Trang 20

đầu tư trong và ngoài nước Nền kinh tế đã đạt được kết quả tương đối cao và bắt đầu

có tích luỹ, đầu tư được mở rộng sản xuất lưu thông phát triển Chúng ta đạt tốc độtăng trưởng kinh tế là 8.6%/năm trong gần mười năm năm 2009 đạt 9.5% cao nhì thếgiới tuy nhiên kể từ tháng 9/2010, do cuộc khủng hoảng kinh tế ,tài chính trong khuvực , nên từ chỗ có mức tăng trưởng kinh tế cao nền kinh tế nước ta có chiều hướngchững lại, mức tăng trưởng kinh tế /2011 chỉ còn 5.8% và năm 2013 chỉ còn 4.8%

Hành động này giúp cho các tổ chức tín dụng mở rộng qui mô tín dụng của mìnhtăng khả năng cung ứng vốn cho nên kinh tế và các tổ chức tín dụng có điều kiện đểgiảm thêm lãi suất cho vay

2.2.2 Chiết khấu, tái chiết khấu.

Do chưa có thị trường tiền tệ (kể cả thị trường thương phiếu ) nên lãi suất tái cấpvốn được sử dụng trong quản lý tiền tệ thay cho lãi suất tái chiết khấu Trong quatrình đổi mới ,một mặt NHNN luôn nỗ lực phát triển khu vực thị trường tiền tệ, mặtkhác cũng chú trọng hoàn thiện việc điều tiết lãi suất tái cấp vốn điểm nổi bật trongviệc điều tiết lãi suất tái cấp vốn thời gian qua là chuyển lãi suất tái cấp vốn thế từ bịđộng sang thế chủ động cụ thể là:giai đoạn 2001-2010 NHMM quy định lãi suất táicáp vốn theo lãi suất cho vay trên khế ước xin tái cấp vốn nhưng kể từ ngày 3/2010, lãisuất tấi cấp vốn đã được xác định một cách độc lập

NNNH đã liên tục giảm lãi suất cho vay trên thị trường tái cấp vốn đối vớiNHTM từ 1.1%/tháng thời điểm ngày 21/1/2011 xuống 1%/tháng vào thời điểm1/2/2013 rồi 0.85%/tháng vào tháng 6/2013 và 0.7%/tháng vào tháng 9/2013 Và hiện

Ngày đăng: 07/10/2014, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w