Có thể chúng ta chưa đưa ra định nghĩa về thương mại dịch vụ thống nhất trong một văn bản pháp luật là vì, nếu gọi là thương mại dịch vụ thì nó phải chịu sự điều chỉnh của Luật thương mạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
LÊ THỊ TUYẾT HẰNG
CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VẤN ĐỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
- LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
GV HƯỚNG DẪN: ThS VŨ DUY CƯƠNG
Trang 2TP Hồ Chí Minh, năm 2006
MỤC LỤC:
Trang
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1 Khái quát về dịch vụ và thương mại dịch vụ 2
1.1 Khái niệm 2
1.1.1 Dịch vụ 2
1.1.2 Phân loại dịch vụ 3
1.2 Thương mại dịch vụ 4
1.2.1 Khái niệm 4
1.2.2 Phân biệt thương mại dịch vụ với dịch vụ thương mại 5
1.2.3 Vai trò, vị trí của thương mại dịch vụ 6
1.2.3.1 Vai trò 6
1.2.3.2 Vị trí 7
2 Tự do hóa thương mại dịch vụ 7
2.1 Khái niệm 7
2.2 Các biện pháp tự do hóa thương mại dịch vụ 8
2.3 Nội dung cơ bản của GATS 10
2.3.1 Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa 11
2.3.2 Các nghĩa vụ và nguyên tắc 12
2.3.2.1 Các nghĩa vụ và nguyên tắc chung 12
2.3.2.2 Các nghĩa vụ có điều kiện 13
2.3.2.3 Các điều khoản khác 14
2.3.3 Quy định về tự do hóa dịch vụ 15
2.3.4 Vấn đề mang tính thông lệ và điều khỏan cuối cùng 15
2.3.5 Các phụ lục của GATS 16
2.3.5.1 Phụ lục về miễn trừ của Điều II 16
Trang 32.3.5.2 Phụ lục về di chuyển của tự nhiên nhân 16
2.3.5.3 Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng không 16
2.3.5.4 Phụ lục về dịch vụ tài chính 17
2.3.5.5 Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng hải 17
2.3.5.6 Phụ lục về dịch vụ viễn thông 17
2.4 Ý nghĩa của GATS 17
3 Khái quát về các nước đang phát triển 18
3.1 Thế nào là các nước đang phát triển 18
3.2 Các ưu đãi dành cho các nước đang phát triển 19
3.2.1 Thương mại hàng hóa 20
3.2.1 Thương mại dịch vụ 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM 1 Vai trò của các nước đang phát triển đối với tự do hóa thương mại dịch vụ 22
2 Anh hưởng của tự do hóa thương mại dịch vụ đến các nước đang phát triển 23
2.1 Thuận lợi 23
2.2 Khó khăn 24
3 Tự do hóa thương mại dịch vụ và giải pháp cho Việt Nam 25
3.1 Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam 25
3.2 Tình hình mở cửa thị trường thương mại dịch vụ của Việt Nam trong những năm gần đây 27
3.2.1 Các quy định liên quan của ASEAN về thương mại dịch vụ 28
3.2.1.1 Các cam kết nền chung 28
3.2.1.2 Các cam kết cụ thể theo các ngành dịch vụ 29
a Dịch vụ tài chính 30
b Dịch vụ kinh doanh 30
c Dịch vụ viễn thông 30
d Dịch vụ vân tải 31
e Dịch vụ xây dựng 31
Trang 4f Dịch vụ du lịch và liên quan 31
3.2.2 Các quy định của APEC 31
a Dịch vụ tài chính 32
b Dịch vụ kinh doanh 33
c Dịch vụ viễn thông 33
d Dịch vụ vận tải 34
e Dịch vụ xây dựng 34
f Dịch vụ du lịch và liên quan 35
3.2.3 Thương mại dịch vụ trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ 35
3.2.3.1 Cam kết nền chung 36
3.2.3.2 Cam kết theo ngành cụ thể 36
a Dịch vụ tài chính 37
b Dịch vụ viễn thông 37
c Dịch vụ pháp lý 38
d Dịch vụ du lịch và lữ hành 38
3.3 Kiến nghị những biện pháp liên quan đến vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ của Việt Nam 43
3.3.1 Kiến nghị chung 43
3.3.2 Kiến nghị đối với một số ngành dịch vụ cụ thể 47
a Dịch vụ tài chính 47
b Dịch vụ viễn thông 48
c Dịch vụ pháp lý 49
d Dịch vụ giáo dục 49
Kết luận 51
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
AFAS : Hiệp định khung của ASEAN về thương mại dịch vụ
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BOT : Hợp đồng xây dựng, kinh doanh, chuyển giao
BTA : Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
BTO : Hợp đồng xây dựng, chuyển giao, kinh doanh
CPC : Phân loại các sản phẩm chủ yếu của Liên hợp quốc
FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATS : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc gia
IAP : Chương trình hành động quốc gia
MFN : Quy chế đối xử tối huệ quốc
NT : Nguyên tắc đối xử quốc gia
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Thương mại 1997 – NXB Chính trị quốc gia – 2004
2 Luật Thương mại 2005 – NXB Chính trị quốc gia – 2005
3 Hiệp định giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ về Thương mại – NXB Thống kê
4 Lê Thanh Bình – Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa – NXB Chính trị quốc gia – 2002
5 Nguyễn Minh Chí, Phạm Thế Hưng, Triệu Thị Thanh Hương – Các điều ước quốc tế về thương mại – NXB Chính trị quốc gia – 2004
6 Nguyễn Văn Dân – Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế – NXB Khoa học xã hội – 2001
7 Nguyễn Bá Diến, Hoàng Ngọc Giao – Về việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ – NXB Chính trị quốc gia – 2002
8 Lê Đăng Doanh – Tầm quan trọng của ngành dịch vụ và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam – Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 321/tháng 2.2005
9 Nguyễn Thị Thanh Hoài, Chu Văn Hùng – Một số vấn đề lý luận cơ bản
về tự do hóa kinh tế –Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 313/tháng 6.2004
10 Nguyễn Thị Bích Hường – Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế – NXB Chính trị quốc gia –
2005
Trang 711 Nguyễn Thị Mơ – Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hải trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế – NXB Chính trị quốc gia – 2002
12 Nguyễn Thị Mơ – Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại – NXB Lý luận chính trị – 2005
13 Phan Thảo Nguyên – Các nội dung cơ bản của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới – Tạp chí Nhà nước
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU:
Kể từ năm 1986 đến nay, nước ta đã trải qua 4 kỳ đại hội Đảng toàn quốc, trong
4 lần đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt một đường lối đổi mới là mở cửa thị trường, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đưa đất nước phát triển đi lên, thoát khỏi tình trạng trì trệ của nền kinh
tế Và trong năm 2006, đất nước ta sẽ có rất nhiều sự kiện: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, là nước chủ nhà đăng cai hội nghị APEC và một điều quan trọng nữa là Việt Nam đang trong giai đoạn nước rút của tiến trình đàm phán gia nhập WTO Trong xu thế hội nhập đó, các vấn đề mà mọi người quan tâm là Việt Nam đã và sẽ
có những chính sách gì về kinh tế thương mại nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế
Việt Nam là một nước đang phát triển, cũng như những nước đang phát triển khác, việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế có gì khác biệt, các định chế kinh tế quốc tế có dành những quy chế gì đặc biệt cho các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng hay không? Đó là những vấn
đề đáng để chúng ta quan tâm Tuy nhiên các quy chế pháp lý quốc tế và quốc gia
về thương mại là vô cùng rộng lớn, không thể tìm hiểu hết cùng một lúc, trong đó thương mại hàng hóa là một lĩnh vực có chính sách tương đối rõ ràng, dễ tìm hiểu, còn thương mại dịch vụ là một lĩnh vực rất phức tạp; so với thương mại hàng hóa thì thương mại dịch vụ còn là vấn đề khá mới mẻ và chúng ta có rất ít sự hiểu biết
về nó mà đây lại là một lĩnh vực có vai trò rất lớn trong nền kinh tế Vì vậy khóa
luận này lựa chọn đề tài “Các quốc gia đang phát triển và vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ – liên hệ đến Việt Nam” để nghiên cứu, nhằm tìm hiểu rõ hơn
về các quy chế pháp lý quốc tế về thương mại dịch vụ nói chung và dành cho các quốc gia đang phát triển nói riêng, đồng thời qua đó liên hệ đến các chính sách về thương mại dịch vụ của Việt Nam, tìm hiểu nó và đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật về thương mại dịch vụ của Việt Nam
Đề tài này được nghiên cứu thông qua các phương pháp duy vật biện chứng, phân tích, chứng minh, so sánh, nhằm làm rõ các vấn đề có liên quan
Về kết cấu, ngoài các phần như mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo thì đề tài này bao gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung.
Chương 2: Thực trạng tự do hóa thương mại dịch vụ ở các nước đang phát
triển và ở Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ do tính vô hình, khó nắm bắt, sự đa dạng
và phức tạp của các loại hình dịch vụ và do trình độ phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia khác nhau nên có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau
Dịch vụ theo Từ điển tiếng Việt phổ thông là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Còn theo Từ điển bách khoa Việt Nam tập 1 thì dịch vụ là những họat động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh họat
Như vậy ngay cả trong các từ điển của Việt Nam cũng đã có những cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ
Trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS: General Agreement on
Trade in Services) cũng không nêu ra định nghĩa về dịch vụ mà chỉ mô tả “dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm quyền của chính phủ” (dịch vụ cung cấp trong thi hành
thẩm quyền của chính phủ là dịch vụ được cung cấp không trên cơ sở thương mại cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều người cung cấp dịch vụ)
Trong cuốn sách “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch
vụ thương mại” ( Nguyễn Thị Mơ) thì “dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được” Định nghĩa
này nêu lên được hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ:
Thứ nhất: dịch vụ là một sản phẩm, là kết quả của quá trình lao động sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
Trang 10 Thứ hai: khác với hàng hóa là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất
và không thể lưu trữ được
1.1.2 Phân loại dịch vụ:
Có nhiều cách phân loại dịch vụ tùy vào mục đích nghiên cứu:
a Căn cứ vào tính thương mại của dịch vụ, người ta phân biệt dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không manh tính thương mại
Dịch vụ mang tính thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận
Dịch vụ không mang tính thương mại là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận Ví dụ như các dịch vụ công cộng do các đoàn thể, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng hoặc do cơ quan nhà nước cung ứng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Cách phân loại này giúp xác định được mục tiêu, đối tượng và phạm vi của thương mại dịch vụ, không phải tất cả các dịch vụ đều có thể trao đổi, mua bán, mà chỉ có những dịch vụ đã được thương mại hóa và mang tính thương mại mới nằm trong phạm vi của thương mại dịch vụ
b Dựa vào mục tiêu của dịch vụ, người ta có thể chia dịch vụ thành 4
“dịch vụ về hàng hóa” vì các hoạt động này gắn kết chặt chẽ với việc sản xuất, trao
đổi, buôn bán các sản phẩm hàng hóa Dịch vụ xã hội và dịch vụ cá nhân được xếp
vào “dịch vụ tiêu dùng” vì đó là những dịch vụ được tiêu dùng trực tiếp bởi cá nhân,
Trang 11tổ chức nhằm phục vụ các nhu cầu xã hội, thường không liên quan đến thương mại hàng hóa nhưng vẫn mang tính thương mại
Cách phân loại này giúp phân biệt dịch vụ về hàng hóa mang tính chất thương mại với các dịch vụ về tiêu dùng mang tính chất thương mại và không mang tính chất thương mại
WTO phân loại dịch vụ dựa vào nguồn gốc ngành kinh tế (về cơ bản dựa vào CPC (Central products classification: phân loại các sản phẩm trung tâm của Liên hợp quốc)), chia tất cả các ngành dịch vụ của nền kinh tế thành 12 ngành và bao gồm 155 phân ngành(1)
1.2 Thương mại dịch vụ:
1.2.1 Khái niệm:
Thương mại dịch vụ (trade in services) là khái niệm chỉ hoạt động thương mại
trong lĩnh vực dịch vụ, là việc cung ứng, mua bán, trao đổi, kinh doanh và đầu tư vào các hoạt động dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Như vậy dịch vụ trở thành đối tượng để mua bán trên thị trường, vì vậy ta có thể phân biệt với thương mại hàng hóa, đối tượng của thương mại hàng hóa là hàng hóa
Thương mại dịch vụ là một khái niệm mới mẻ đối với Việt Nam, nó chưa được quy định một cách thống nhất trong một văn bản pháp luật của Việt Nam Luật thương mại Việt Nam năm 1997 chỉ có khái niệm dịch vụ thương mại và Luật
thương mại 2005 cũng chỉ có khái niệm “cung ứng dịch vụ”
Trang 12“Cung ứng dịch vụ” là hoạt động thương mại theo đó, một bên (gọi là bên cung
ứng) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (khoản 9 Điều 3 Luật thương mại 2005)
Như vậy cung ứng dịch vụ chỉ là một nội dung của hoạt động thương mại dịch
vu Có thể chúng ta chưa đưa ra định nghĩa về thương mại dịch vụ thống nhất trong một văn bản pháp luật là vì, nếu gọi là thương mại dịch vụ thì nó phải chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại, trong khi đó thương mại dịch vụ là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn mà trình độ phát triển kinh tế cũng như kỹ thuật lập pháp của nước ta chưa thể điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ thống nhất trong một văn bản pháp luật mà mỗi ngành dịch vụ lại chịu sự điều chỉnh của một văn bản pháp luật riêng biệt (ví dụ như các dịch vụ tài chính được điều chỉnh trong các văn bản như Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật các tổ chức tín dụng; hoạt động du lịch được điều chỉnh bằng Luật du lịch,…) Hơn nữa, có nhiều dịch vụ mà ta chưa thật sự coi đó là hàng hóa, còn mang tính độc quyền rất cao, chưa dám mở cửa do có liên quan đến
an ninh kinh tế (như dịch vụ tài chính-ngân hàng, nếu như chúng ta chưa có đủ năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng như chưa có được khung pháp lý vững chắc thì rất dễ dẫn đến khủng hoảng tài chính), an ninh quốc gia (ở Việt Nam các dịch vụ truyền thông, đặc biệt là các dịch vụ phát thanh truyền hình hầu như chỉ do nhà nước thực hiện, vì nếu những lĩnh vực này tư nhân hoặc nước ngoài được phép tham gia một cách tự do thì các thế lực chống phá nhà nước rất dễ truyền bá các tư tưởng phản động mà chúng ta khó kiểm soát được Hoặc dịch vụ vận tải hàng không, đây là dịch vụ còn mang tính độc quyền cao, vì nó có liên quan đến an ninh hàng không)
1.2.2 Phân biệt thương mại dịch vụ với dịch vụ thương mại:
Dịch vụ thương mại là một khái niệm chưa có sự thống nhất, thường được sử dụng ở các nước đang phát triển, nơi mà hoạt động thương mại dịch vụ chưa phát triển thay vì dùng khái niệm thương mại dịch vụ như ở các nước phát triển
Trang 13Dịch vụ thương mại theo Điều 5 Luật thương mại Việt Nam 1997 gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa, ví dụ như dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hóa, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ giám định hàng hóa,… Như vậy, dịch vụ thương mại chỉ bao gồm các loại hình dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa trên thị trường (Luật thương mại 2005 không quy định thế nào là dịch vụ thương mại, Luật này điều chỉnh chung các loại hình dịch vụ)
Thương mại dịch vụ là một khái niệm rất rộng, trong đó bao gồm tất cả các hành
vi cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận
Như vậy có thể nói, khái niệm thương mại dịch vụ bao trùm lên khái niệm dịch
vụ thương mại, nói cách khác, dịch vụ thương mại cũng là các hành vi cung ứng dịch vụ nằm trong khái niệm thương mại dịch vụ
1.2.3 Vai trò, vị trí của thương mại dịch vụ:
Sự phát triển của thương mại dịch vụ góp phần làm cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu rộng hơn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho các lực lượng sản xuất khác phát triển
Sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ là động lực cho sự phát triển kinh tế Ngành dịch vụ được coi là bộ phận tăng trưởng nhanh nhất của nền thương mại trong nước Ví dụ ở Hoa Kỳ, dịch vụ tạo ra 80% việc làm, ¾ tổng sản phẩm quốc nội và 30% giá trị xuất khẩu 1
Trang 14
Sự phát triển của dịch vụ này là điều kiện cho sự phát triển của dịch vụ khác Ví
dụ dịch vụ quảng cáo, ngân hàng, vận chuyển phát triển thì dịch vụ du lịch, dịch vụ giải trí phát triển
Ngân hàng thế giới dự đoán thu nhập từ tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ lớn hơn thu nhập từ tự do hóa thương mại hàng hóa Những số liệu của Ngân hàng thế giới cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hóa thương mại dịch vụ Ví dụ: Những nước tự do hóa dịch vụ viễn thông và tài chính đã tăng trưởng nhanh hơn các nước khác 1,5% trong thời gian một thập kỷ trước; tự do hóa thương mại dịch
vụ tại các nước đang phát triển có thể tạo thêm 6 nghìn tỷ USD trong thời gian từ
2005 đến 2015 1
1.2.3.2 Vị trí:
Tỷ trọng thương mại dịch vụ trong thương mại quốc tế ngày càng tăng
Tổng giá trị thương mại dịch vụ của những năm đầu thế kỷ XXI đã tăng gấp 4 lần so với tổng giá trị thương mại dịch vụ năm 1980 Giá trị thương mại dịch vụ năm 2002 đạt 2.900 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng giá trị thương mại thế giới Xuất khẩu thương mại dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao, giai đoạn 1980-2002 trung bình tăng 9%, cao hơn tốc độ 6% của thương mại hàng hóa
Về đầu tư, khoảng 60% giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay thuộc về lĩnh vực dịch vụ
Thương mại dịch vụ góp phần thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế, tỷ trọng dịch
vụ trong GNP đạt 60-70% ở các nước phát triển và gần 40% ở các nước kém phát triển hơn và có chiều hướng tiếp tục tăng Chỉ riêng ngành du lịch đã đóng góp 10,2% trong GNP toàn cầu
Các ngành dịch vụ tạo ra nhiều cơ hội việc làm, Tại các quốc gia phát triển, tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ chiếm 60-70% toàn bộ lực lượng lao động
2 Tự do hóa thương mại dịch vụ :
2.1 Khái niệm:
1 Hội thảo về thương mại dịch vụ (Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh – Ngày 25/11/2003)
Trang 15Trước khi đi đến khái niệm tự do hóa thương mại dịch vụ ta cần làm rõ khái niệm tự do hóa
Có rất nhiều quan điểm về tự do hóa 1:
Theo Anne O.Krueger (“Problems of Liberalization”, 1986) tự do hóa được
xem là mọi chính sách làm giảm sự kiểm soát của nhà nước hoặc nhằm xóa bỏ hoàn toàn hoặc thay thế bởi một sự kiểm soát được nới lỏng hơn
Theo A Koves và P Marer (“Economic Liberalization in Eastern Europe and in
Market Economies”, 1991), tự do hóa theo nghĩa rộng là quá trình giảm vai trò của
nhà nước trong các quyết định kinh tế vĩ mô, dựa vào cơ chế giá cả hơn là sự kiểm soát và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới
Còn theo APEC, tự do hóa được coi là từ trái nghĩa với “trở ngại” hoặc “hàng rào” Như vậy tự do hóa là không quản chế, không cản trở, không có hàng rào, là quá trình xóa bỏ trở ngại giao dịch kinh tế quốc tế
Từ đây ta có thể nói, tự do hóa thương mại là một thuật ngữ chỉ sự dở bỏ dần dần và hoàn toàn các hàng rào hiện tại đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ, kết quả của quá trình này thường được nhắc đến là thương mại tự do và mang lại khối lượng thương mại lớn hơn cho tất cả các nước tham gia vào các họat động này Vậy, tự do hóa thương mại dịch vụ là quá trình giảm bớt sự can thiệp mang tính bảo hộ của nhà nước vào thương mại dịch vụ, không phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ của nước ngoài với nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ của nước sở tại
2.2 Biện pháp tự do hóa thương mại dịch vụ:
Do bản chất vô hình của dịch vụ nên trong thương mại dịch vụ không thể áp dụng bất kỳ loại thuế nào khi sản phẩm dịch vụ thâm nhập vào lãnh thổ một quốc gia khác Vì vậy bảo hộ ngành công nghiệp dịch vụ nội địa được thực hiện thông qua quy định của nước sở tại về đầu tư trực tiếp nước ngoài và về sự tham gia của
1
Nguyễn Thị Thanh Hoài, Chu Văn Hùng – Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự do hóa kinh tế –Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế số 313/tháng 6.2004
Trang 16các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào ngành dịch vụ trong nước Những quy định đó có thể dưới dạng như cấm các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đầu tư vào hoặc thành lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ; các quy định cũng có thể được áp dụng trên cơ sở phân biệt đối xử đối với các thể nhân cung cấp dịch vụ, theo đó dành cho họ sự đối xử kém ưu đãi hơn so với các nhà cung cấp trong nước; các quy định cũng có thể quy định dành đối xử khác biệt đối với các nhà cung cấp dịch vụ giữa các nước khác nhau
Vì vậy, nếu một nước muốn tự do hóa thương mại dịch vụ phải quyết định xem phải nên duy trì những biện pháp nào, và nên sửa đổi hoặc xóa bỏ những biện pháp nào cho phù hợp với các quy định của GATS Những biện pháp cần được xem xét
là những biện pháp có ảnh hưởng đến sự xâm nhập của sản phẩm dịch vụ hoặc ngành dịch vụ vào thị trường nước sở tại, và những biện pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động sau khi thành lập của các nhà cung cấp dịch vụ Các biện pháp đó có thể bao gồm:
Các biện pháp hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch
vụ hoặc các sản phẩm dịch vụ nước ngoài
Các biện pháp phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng hoặc các sản phẩm dịch vụ nội địa với các nhà cung ứng hoặc các sản phẩm dịch vụ nước ngoài
Đối với các biện pháp tiếp cận thị trường mà các nước tham gia đàm phán cam kết không muốn xóa bỏ hoàn toàn, thì các nước đó có thể quy định những cam kết của họ phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể Hình thức của các điều kiện cụ thể có thể áp dụng đó được liệt kê trong Điều XVI của GATS, ngoài ra không thể áp dụng bất kỳ điều kiện nào khác:
Các hạn chế về số lượng các nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ các ngân hàng nước ngoài chỉ có thể đặt một số lượng nhất định các chi nhánh hoặc công ty con)
Các hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch dịch vụ hoặc tài sản (ví dụ chỉ cho phép tái bảo hiểm 10% với các công ty nước ngoài)
Các hạn chế về tổng số lần giao dịch dịch vụ hoặc tổng số lượng sản phẩm dịch vụ
Trang 17Các hạn chế về tổng số lượng tự nhiên nhân hoặc có thể được tuyển dụng trong một khu vực cụ thể hoặc số lượng tự nhiên nhân mà nhà cung cấp dịch vụ (ví
dụ đa số thành viên ban giám đốc phải là người bản xứ)
Các biện pháp yêu cầu những loại hình pháp nhân nhất định qua đó dịch vụ được cung cấp (ví dụ trong ngành ngân hàng hoặc bảo hiểm, các công ty con phải là công ty độc lập)
Những hạn chế về cổ phần góp vốn nước ngoài (ví dụ hạn chế tỉ lệ cổ phần tối đa là 49%)
Tương tự, một nước cũng có thể đồng thời trong khi đưa ra các cam kết về đối
xử quốc gia, quy định rằng nước đó sẽ tiếp tục duy trì một số hành vi phân biệt đối
xử giữa các nhà cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm dịch vụ trong nước và nước ngoài Cũng tương tự như GATS, Điều III Hiệp định khung Asean về dịch vụ cũng quy định thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ bằng cách:
Xóa bỏ đáng kể các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường giữa các quốc gia thành viên: và
Cấm các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường mới hoặc có tính chất hạn chế và phân biệt đối xử hơn
2.3 Nội dung cơ bản của GATS:
Thương mại dịch vụ đang ngày càng phát triển và hiện chiếm khoảng 20% thương mại thế giới Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), một hiệp định được đàm phán trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruquay áp dụng nguyên tắc
cơ bản của thương mại hàng hóa vào trong thương mại dịch vụ Trước vòng đàm phám Uruquay, thương mại dịch vụ không chịu sự điều chỉnh của bất kỳ một luật lệ nào ở cấp độ quốc tế Hiệp định chung về thương mại dịch vụ được đàm phán trong vòng đàm phán này đã tiến được một bước lớn nhằm đưa thương mại dịch vụ vào phạm vi điều chỉnh của các quy phạm luật pháp quốc tế
Mục tiêu của GATS là nhằm “thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của tất cả các đối
tác thương mại và sự phát triển của các nước đang phát triển” thông qua việc mở
rộng thương mại dịch vụ Hiệp định nhằm đạt được mục tiêu này bằng cách áp dụng
Trang 18các nguyên tắc của GATT vào thương mại dịch vụ, có sửa đổi cần thiết để tính đến các đặc thù của thương mại dịch vụ
Cơ cấu của GATS:
GATS bao gồm:
Hiệp định khung trong đó đưa ra các khái niệm, nguyên tắc và quy định chung
cho các biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ
Các phụ lục kèm theo Hiệp định, trong đó thiết lập những nguyên tắc cho các ngành cụ thể và bổ sung cho nguyên bản Hiệp định
Các cam kết cụ thể tự do hóa trong các ngành và tiểu ngành dịch vụ được nêu trong lịch trình của từng quốc gia thành viên
Nội dung của Hiệp định:
2.3.1 Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa:
GATS điều chỉnh các biện pháp của chính phủ được đưa ra trên cơ sở thương mại gây tác động tới thương mại dịch vụ Bởi vậy nó bao gồm cả doanh nghiệp của khu vực tư nhân và cả doanh nghiệp do nhà nước quản lý hoặc sở hữu nếu họ cung cấp dịch vụ trên cơ sở thương mại Các dịch vụ do các cơ quan chính phủ mua để sử dụng riêng được loại trừ khỏi phạm vi của Hiệp định Tuy nhiên Hiệp định này quy định phải tổ chức các cuộc đàm phán đa phương để đưa các mua sắm này vào các khuôn khổ quy định quốc tế, có tính đến các điều khoản liên quan của hiệp định về mua sắm của chính phủ
Thuật ngữ “dịch vụ” bao hàm bất kỳ loại dịch vụ nào trong bất kỳ ngành dịch vụ nào, kể cả việc sản xuất, phân phối, marketing, bán và giao hàng theo 4 phương thức:
Cung cấp dịch vụ qua biên giới: dịch vụ được cung cấp từ một nước này sang một nước khác Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ có bản thân dịch
vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặt tại nước nhận dịch
vụ (ví dụ dịch vụ điện thoại quốc tế, hàng không quốc tế…)
Trang 19Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: người tiêu dùng của một nước tiêu dùng dịch vụ tại lãnh thổ của một nước khác (ví dụ khách du lịch của nước A đến nước B và sử dụng các dịch vụ của nước B)
Cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại lãnh thổ của nước thành viên khác (công ty một nước thành lập chi nhánh cung cấp dịch vụ ở nước ngoài)
Cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện của các thể nhân: công dân nước này cung ứng dịch vụ ở nước khác (ví dụ các chuyên gia tư vấn,…)
2.3.2 Các nghĩa vụ và nguyên tắc:
Có thể chia làm 2 nhóm: các nghĩa vụ và nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ, và các nghĩa vụ có điều kiện áp dụng cho các ngành được nêu trong các cam kết cụ thể của các quốc gia
2.3.2.1 Các nghĩa vụ và nguyên tắc chung:
Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN):
Đây là nghĩa vụ bắt buộc trong GATS, theo nguyên tắc này, chính phủ một nước thành viên không được phép phân biệt đối xử giữa các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác mà phải dành cho họ sự đối xử không kém phần ưu đãi hơn so với mức mà nước thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho bên thứ ba nào đó Đãi ngộ tối huệ quốc áp dụng với mọi ngành dịch vụ, nhưng cho phép một số ngoại lệ tạm thời đặc biệt
Tính minh bạch:
GATS quy định chính phủ các nước phải công bố tất cả luật pháp và quy chế có liên quan trong vòng hai năm (tính đến hết 1997), các nước phải lập điểm tư vấn trong nội bộ chính trị quan sát tại các nước này Các công ty nước ngoài và chính phủ các nước có thể sử dụng các điểm tư vấn này để có những thông tin về quy chế của bất kỳ ngành dịch vụ nào Hơn nữa, các nước phải thông báo với WTO về mọi thay đổi trong quy chế ngành dịch vụ
Trang 20Công nhận lẫn nhau:
Mục đích của nguyên tắc công nhận lẫn nhau là nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối
xử trên thực tế đối với các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài Hiệp định quy định: nếu hai hay nhiều hơn hai chính phủ đạt hiệp nghị thống nhất, cùng thừa nhận tư cách của nhau (ví dụ như giấy phép hoặc giấy chứng minh tư cách của người cung ứng dịch vụ), thì các thành viên khác cũng có cơ hội tham gia hiệp định hoặc đàm phán hiệp định giống như vậy Sự thừa nhận tư cách của các nước khác không được phân biệt, cũng không được gây nên chủ nghĩa bảo hộ giả dạng
Độc quyền và đặc quyền cung cấp dịch vụ:
Các ngành dịch vụ thường thể hiện sức mạnh độc quyền của mình trên thị trường nội địa, các đặc quyền cung cấp dịch vụ đôi khi được các chính phủ dành cho một số lượng nhỏ các nhà cung cấp, và GATS cho phép điều này, nhưng trong tất cả các trường hợp như vậy, các thành viên có nghĩa vụ đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ không lạm dụng độc quyền và các đặc quyền dành cho họ hoặc hành động theo một cách thức trái với nghĩa vụ chung và riêng của họ theo Hiệp định này
2.3.2.2 Các nghĩa vụ có điều kiện:
Đãi ngộ quốc gia (NT) và tiếp cận thị trường:
Đây là nghĩa vụ có điều kiện và được đàm phán trong quá trình gia nhập Kết quả đàm phán về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia được ghi nhận trong danh mục cam kết cụ thể Theo đó những lĩnh vực đã được ghi nhận trong cam kết cụ thể, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước mình
Hiệp định còn đưa ra một số nghĩa vụ có điều kiện khác nhằm đảm bảo sự thực thi đầy đủ hơn các cam kết của các nước Đối với các ngành đã có cam kết cụ thể thì các nghĩa vụ này bao gồm:
Đảm bảo rằng tất cả các quy định áp dụng chung trong nước có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ được quản lý theo cách khách quan và hợp lý (Điều VI.1)
Trang 21Duy trì hoặc thành lập tòa án trọng tài hoặc thủ tục tố tụng nhằm xem xét
lại quyết định hành chính có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ (Điều VI.2)
Cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cung cấp dịch vụ trong một
khoảng thời gian hợp lý (Điều VI.3)
Không áp dụng các hạn chế trong chuyển tiền và thanh toán quốc tế trừ phi
một nước gặp khó khăn nghiêm trọng về cán cân thanh toán (Điều XII)
2.3.2.3 Các điều khoản khác:
Các điều khoản khác còn lại trong Phần III của Hiệp định có thể được chia làm
2 nhóm:
Nhóm thứ nhất gồm các lĩnh vực mà Hiệp định quy định là cần phải tiến
hành đàm phán Hiệp định quy đinh rằng các nước thành viên cần phải tiếp tục tiến
hành đàm phán để phát triển các quy tắc điều chỉnh việc sử dụng trợ cấp và áp dụng
các biện pháp tự vệ đối với thương mại dịch vụ
Nhóm thứ hai là các điều khoản cho phép ngoại lệ đối với các quy tắc
chung, gồm các điều khoản:
Hội nhập kinh tế: Hiệp định cho phép các nước tham gia các thỏa thuận
tự do hóa thương mại giữa một số nước hạn chế, miễn là các thỏa thuận đó bao trùm
phần lớn các ngành dịch vụ và các điều kiện khác được đáp ứng
Hạn chế cán cân thanh toán: các nước được phép áp dụng các hạn chế về
chuyển tiền, thậm chí ở các ngành mà họ đã đưa ra các cam kết cụ thể khi các nước
này gặp khó khăn về cán cân thanh toán
Hội nhập thị trường lao động: Hiệp định không ngăn cản một nước thành
viên tham gia vào một thỏa thuận với một nước khác nhằm tiến tới hội nhập đầy đủ
thị trường lao động bằng cách miễn yêu cầu về giấy phép lao động cho các công
dân của nhau
Các ngoại lệ an ninh và các ngoại lệ chung: Hiệp định không ngăn cản
các nước áp dụng các biện pháp mà họ cho là cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội,
đới sống của con người, động vật và thực vật hoặc các lợi ích an ninh cần thiết
Trang 222.3.3 Quy định về tự do hóa dịch vụ:
Điều XIX quy định rằng muộn nhất vào tháng 1.2000, các thành viên WTO phải
tham gia vào một vòng đàm phán mới, đàm phán là nhằm “đạt được tự do ở mức độ
cao hơn”, “sẽ được tiến hành trên cơ sở đôi bên cùng có lợi”, và nhằm “đảm bảo sự cân bằng tổng thể giữa quyền lợi và nghĩa vụ” của các nước tham gia Đây là điều
khoản đặc biệt mà chỉ GATS mới có, các hiệp định khác của WTO cũng không có điều khỏan này Điều khoản này đã tạo ra cơ hội mới rất lớn trong phát triển lĩnh vực thương mại dịch vụ của thế giới Trong điều này cũng đưa ra đảm bảo rằng các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ tiếp theo trong khuôn khổ GATS sẽ được tăng cường về phạm vi, mức độ mở cửa thị trường Điều này còn quy định dành cho Hội đồng Thương mại dịch vụ của WTO hướng dẫn và quyết định các vấn đề lớn của các quốc gia đang phát triển, đó là việc các nước đang phát triển phải đàm phán như thế nào, nỗ lực như thế nào để mở cửa thị trường nước mình cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và vấn đề chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho các nước chậm phát triển
Điều XX và XXI là những quy định về thủ tục mang tính kỹ thuật trong các cam kết của các nước thành viên, các yếu tố cần thiết của cam kết, vấn đề điều chỉnh, sửa đổi, hoặc rút các cam kết ra khỏi danh mục Đồng thời cũng quy định các cam kết của các thành viên là một phần không thể tách rời của Hiệp định, là nghĩa vụ quốc tế và có giá tri pháp lý như chính bản thân Hiệp định GATS
2.3.4 Vấn đề mang tính thông lệ và điều khoản cuối cùng:
Phần này của GATS cũng tương tự như các phần của các hiệp định khác của WTO Việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại dịch vụ sẽ được tiến hành theo các quy định chung của WTO về cơ chế giải quyết tranh chấp Tuy nhiên trong phần này cũng quy định một điều khoản đặc biệt để giải quyết tranh chấp phát sinh do các hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các quốc gia liên quan, theo đó Hội đồng WTO sẽ ra một quyết định riêng chỉ định các chuyên gia giữ vai trò trọng tài viên để giải quyết tranh chấp nảy sinh Các quy định khác của phần V cũng nhắc lại những vấn đề mang tính thông lệ của WTO, như quy định thành lập Hội đồng
Trang 23Thương mại dịch vụ của WTO và các điều khoản khác đã được nêu trong Hiệp định thành lập WTO
Điều XXVII cho phép các thành viên được quyền từ chối các lợi ích phái sinh từ các thỏa thuận cung cấp dịch vụ tại nước không phải là thành viên WTO Điều XXVIII đưa ra các khái niệm, định nghĩa quan trọng nhất được sử dụng trong GATS Những định nghĩa này sẽ được sử dụng thống nhất trong mọi hoạt động, văn bản liên quan đến thương mại dịch vụ của WTO
2.3.5 Các phụ lục của GATS:
2.3.5.1 Phụ lục về miễn trừ của Điều II:
Hiệp định GATS quy định một nước nếu muốn có thể duy trì các biện pháp trái với quy tắc MFN trong khoảng thời gian quá độ không quá 10 năm
Mục đích của các nước trong việc tạo ra những ngoại lệ MFN là duy trì chế độ
ưu đãi cho một số nước trong lĩnh vực thương mại dịch vụ trong khuôn khổ hợp tác khu vực hoặc trong khuôn khổ các thỏa thuận khác
Phụ lục này cũng quy định quyền rà soát lại những miễn trừ MFN của Hội đồng thương mại dịch vụ và những việc mà Hội đồng phải làm trong quá trình này
2.3.5.2 Phụ lục về di chuyển của tự nhiên nhân:
Các chính phủ được phép đàm phán các cam kết cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho việc tạm trú của thể nhân ở một nước khác nhằm mục đích cung cấp dịch vụ Hiệp định GATS không áp dụng đối với những tự nhiên nhân tới một nước nhằm mục đích làm việc hoặc cư trú lâu dài, hoặc các biện pháp liên quan đến quyền công dân, quyền cư trú
2.3.5.3 Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng không:
GATS chỉ điều chỉnh các loại hình dịch vụ như dịch vụ sửa chữa, bảo trì máy bay, dịch vụ tiếp thị vận tải hàng không và dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính GATS không áp dụng đối với các quyền không vận và các dịch vụ liên quan đến việc thực thi quyền này “quyền không vận được hiểu là quyền vận chuyển hành khách, hàng hóa, hoặc thư tín nhằm mục đích lợi nhuận”, các quyền này thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định đa phương và song phương
Trang 242.3.5.4 Phụ lục về dịch vụ tài chính:
Phụ lục này điều chỉnh các dịch vụ tài chính như dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác Phụ lục này cho phép các chính phủ được thực hiện các biện pháp đặc biệt để bảo vệ nhà đầu tư, người gửi tiền và để đảm bảo sự hòa nhập ổn định của hệ thống tài chính, và không áp dụng đối với các dịch vụ được chính phủ cung cấp vì mục đích quản lý hệ thống tài chính, chẳng hạn như hoạt động của hệ thống ngân hàng trung ương
2.3.5.5 Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng hải:
Tháng 6-1996, chính phủ các nước thành viên WTO tham gia đàm phán về dịch
vụ vận tải hàng hải đã thỏa thuận ngừng đàm phán và trên cơ sở những gì đã thỏa thuận được, sẽ nối lại và tiếp tục đàm phán toàn diện hơn về lĩnh vực này
2.3.5.6 Phụ lục về dịch vụ viễn thông:
Phụ lục này quy định các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép tiếp cận mạng lưới viễn thông công cộng một cách bình đẳng, các quyền được đề cập đến trong phụ lục này liên quan đến các dịch vụ viễn thông cơ bản như điện thoại, điện báo, telex; các dịch vụ phát thanh, truyền hình không nằm trong phụ lục này
2.4 Ý nghĩa của GATS:
Sự ra đời của GATS có một ý nghĩa rất lớn, nó đã đặt thương mại dịch vụ ngang
tầm với thương mại hàng hóa và nó cũng có ý nghĩa lớn đối với các quốc gia đang phát triển Xét về ý nghĩa thương mại đối với các nước đang phát triển, GATS hy vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội mới Lợi ích chính của các biện pháp tự do hóa thương mại dịch vụ của GATS mà các nước này thực hiện sẽ là sự hiệu quả do tính cạnh tranh của thị trường nội địa tăng lên Sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào các ngành dịch vụ như bưu chinh viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… sẽ buộc các ngành nội địa ở những nước mà chúng vốn được bảo hộ mạnh phải nâng cao vị trí cạnh tranh của mình bằng cách áp dụng nhiều biện pháp cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn Chất lượng ngành dịch vụ ngày càng cao sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng mà còn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp chế tạo trong họat động kinh doanh xuất khẩu của họ
Trang 25GATS mang lại cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong nước trong việc hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Những cam kết do chính phủ đưa ra cũng tạo cho các ngành dịch vụ ở các nước đang phát triển một cơ hội hợp tác với các ngành dịch vụ ở các nước phát triển để tận dụng công nghệ của những nước này
GATS còn quy định những điểm liên lạc (Điều IV), điều này mang lại lợi ích lớn cho các nước đang phát triển, khi tham gia các thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực dịch vụ, các nước đang phát triển sẽ tìm hiểu được các kiến thức về các khía cạnh thương mại và kỹ thuật của dịch vụ và công nghệ mà họ đang cần
GATS mang lại nhiều cơ hội xuất khẩu mới cho các nước đang phát triển đặc biệt là những ngành dịch vụ cần nhiều lao động
Thông qua việc quy định sự di chuyển của thể nhân, GATS làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các thể nhân nhất là những lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà không cần thành lập văn phòng đại diện hay một hình thức
hiện diện thương mại khác
3 Khái quát về các nước đang phát triển:
3.1 Thế nào là các nước đang phát triển?
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về các nước đang phát triển, tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
“Các nước đang phát triển” là khái niệm dùng để chỉ chung cho các quốc gia
trước đây là thuộc địa và nửa thuộc địa ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh, trước đây còn được gọi là “Thế giới thứ ba” “Thế giới thứ ba” (Tiers Monde) lần đầu tiên được Alfred Sauvy một nhà dân số học nổi tiếng đưa ra trong bài viết “Ba thế giới, một hành tinh” năm 1952
“Thế giới thứ ba” được Alfred Sauvy dùng để chỉ những nước không thuộc các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cũng không thuộc các nước xã hội chủ nghĩa phát triển Cụm từ “Tiers Monde” được Sauvy liên hệ từ cụm từ “tiers état” (đẳng cấp thứ ba), đó là đẳng cấp thấp kém nhất trong thời kỳ trước cách mạng Pháp 1789,
Trang 26“thế giới thứ ba” cũng nghèo khổ, kém phát triển, bị bóc lột, bị thống trị như đẳng cấp thứ ba 1
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) chia các thành viên của mình thành 4 nhóm:
Kém phát triển: Các thành viên được xếp vào loại này căn cứ vào các tiêu
chuẩn phân loại của Liên hợp quốc và hiện nay WTO có khoảng 50 thành viên thuộc loại này
Có nền kinh tế chuyển đổi: Là những nước trước đây có nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung nay chuyển sang nền kinh tế thị trường
Đang phát triển: là nhóm thành viên đông đảo nhất của WTO, hiện nay
chưa có định nghĩa thống nhất về việc coi nước nào là nước đang phát triển mà chủ yếu là do mỗi nước tự nhận
Phát triển: là những thành viên còn lại ngoài 3 nhóm trên và hầu hết đó là
thành viên của tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)
Với cách phân loại như vậy nên hiện nay ¾ số thành viên của WTO là các nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Các hiệp định đa biên nhận thấy rằng các nước này có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận tất cả hoặc một số nghĩa vụ, quy định đề ra và các hiệp định này đã quy định dành đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước trên Các điều khoản đó có thể chia làm 3 loại:
Các điều kiện yêu cầu các nước thực hiện các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại của các nước đang phát triển và kém phát tiển nhất,
Sự linh hoạt dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển nhất trong việc chấp nhận các nghĩa vụ trong các hiệp định của WTO
Cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát triển nhất để xây dựng năng lực cho các nước này thực hiện các hiệp định
3.2 Các ưu đãi dành cho các quốc gia đang phát triển: thể hiện cả trong lĩnh
vực thương mại hàng hóa lẫn thương mại dịch vụ:
1 Bàn về thế giới thứ ba – Nguyễn Khắc Viện – NXB Thông tin lý luận 1985 (Trang 9)
Trang 273.2.1 Thương mại hàng hóa:
Về thuế quan:
Khi tham gia vào WTO, các nước đang phát triển phải cam kết ràng buộc thuế đối với 100% hàng nông sản và 73% sản phẩm công nghiệp, còn các nước công nghiệp phát triển là 100% và 97% Ngoài ra dựa vào mức thuế đã ràng buộc, các nước thành viên phải tiến hành cắt giảm thuế quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, thuế suất đối với các nông sản sẽ phải cắt giảm trung bình 36% ở các nước phát triển và 24 % ở các nước đang phát triển, việc cắt giảm được tiến hành lần lượt trong vòng 6 năm đối với các nước phát triển (1995-2000) và 10 năm đối với các nước đang phát triển (1995-2004)
Ngoài ra các nước phát triển còn có thể đơn phương dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển hưởng thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) khi hàng hóa của nước đang phát triển nhập khẩu vào nước phát triển
Các biện pháp phi thuế quan:
Đối với vấn đề trợ cấp trong nông nghiệp, các nước công nghiệp sẽ phải cắt giảm 36% nguồn ngân sách trợ cấp dành cho xuất khẩu nông sản phẩm trong vòng 6 năm tính từ 1995, khối lượng hàng hóa được hưởng trợ cấp giảm 21% cũng trong thời gian trên Đối với các nước đang phát triển, mức độ cắt giảm là 24% nguồn ngân sách trợ cấp dành cho xuất khẩu nông phẩm, khối lượng hàng hóa được hưởng trợ sẽ được giảm 14% trong vòng 10 năm tính từ năm 1995 Tuy nhiên, các quốc gia đang và kém phát triển nhất còn có thể duy trì các loại trợ cấp xuất khẩu khác như: trợ cấp giảm chi phí tiếp thị nông sản, kể cả các chi phí vận chuyển, nâng cấp
Trang 28Trong quá trình đàm phán về mở cửa thị trường dịch vụ, các nước công nghiệp phát triển phải áp dụng phương pháp loại trừ, tức là lĩnh vực dịch vụ nào không mở cửa thì liệt kê, các lĩnh vực dịch vụ còn lại đều phải mở cửa Riêng đối với các nước đang phát triển được áp dụng phương pháp chọn-cho, tức là mở cửa lĩnh vực dịch
vụ nào thì liệt kê lĩnh vực đó, các lĩnh vực không liệt kê là không cam kết Tuy nhiên việc chọn cho không phải được thực hiện một cách tùy ý mà phải thông qua đàm phán
Điều XIX của GATS cho phép các nước đang phát triển những linh hoạt nhất định để mở cửa ít ngành dịch vụ hơn hoặc tự do hóa ít loại hình giao dịch hơn trong đàm phán thương mại, do vậy, đương nhiên công nhận quyền của họ trong việc thực hiện các biện pháp tự do hóa phù hợp với điều kiện phát triển của mình Điều này cũng công nhận rằng khả năng mở cửa thị trường mà các nước đang phát triển đưa
ra có thể tuân theo các điều kiện nhằm mục đích đẩy mạnh khả năng của các ngành dịch vụ trong nước và khả năng chuyển giao công nghệ thông qua thương mại Ngoài ra trong các điều khoản khác của GATS cũng như trong phụ lục của GATS cũng dành những ưu đãi khác cho các nước đang phát triển, ví dụ như trong Điều XV về trợ cấp đã “công nhận vai trò của trợ cấp đối với các chương trình phát triển của các nước đang phát triển và có tính đến nhu cầu của các Thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển, về sự linh hoạt này” Trong phụ lục về dịch
vụ viễn thông cũng cho phép các quốc gia đang phát triển áp dụng một số biện pháp hạn chế về mở cửa thị trường viễn thông và sử dụng mạng viễn thông của mình nếu xét thấy cần thiết để tăng cường năng lực viễn thông của nước mình, tuy nhiên những hạn chế này phải được các nước nêu trong cam kết của mình
Như vậy với một nước được gọi là nước đang phát triển thì khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế họ sẽ được hưởng rất nhiều những ưu đãi từ những hiệp định đa biên mang lại cũng như do các quốc gia công nghiệp phát triển đơn phương dành cho
Trang 29CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM
1 Vai trò của các nước đang phát triển đối với tự do hóa thương mại dịch vụ
Với ¾ quốc gia trên thế giới là các nước đang phát triển thì trong quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ cần phải xem xét đến vai trò của các quốc gia này
Với dân số đông trong khi trình độ kinh tế phát triển thấp, các quốc gia đang phát triển không đủ sức thỏa mãn tất cả các nhu cầu sử dụng dịch vụ trong đời sống dân cư, nếu có thể thì chất lượng dịch vụ cũng không cao, vì vậy khi mở cửa thị trường hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia này phải trao đổi mua bán dịch vụ với nhau và với các quốc gia công nghiệp phát triển, và trong quá trình này các quốc gia đang phát triển trở thành thị trường tiêu thụ dịch vụ đầy tiềm năng của các nước phát triển
Không chỉ nhập khẩu các dịch vụ như dịch vụ thông tin, vi tính, tài chính, ngân hàng,… là những dịch vụ đòi hỏi trình độ công nghệ cao, mà các doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển khi tìm kiếm thị trường ở nước ngoài cũng phải tiêu tốn nhiều cho việc sử dụng dịch vụ ở nước ngoài
Cũng do dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, với giá nhân công rẽ, các nước đang phát triển là nơi để các quốc gia phát triển thực hiện trào lưu “ chuyển ra bên ngoài” (out – sourcing) như Mỹ, Anh,… hiện nay, nhiều loại dịch vụ như kế toán, thiết kế kỹ thuật, thiết kế phần mềm,… được chuyển giao sang các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, An Độ,…
Ngoài ra các quốc gia đang phát triển còn có vai trò quan trọng trong việc cung ứng dịch vụ Mặc dù trong tổng lượng dịch vụ xuất khẩu trên thế giới (khoảng 20%) thì phần đóng góp của các quốc gia đang phát triển tương đối nhỏ nhưng một vài nước trong số này đã có mặt trong nhóm 25 nước dẫn đầu xuất khẩu dịch vụ trên thế giới, và sự đóng góp này sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai khi mà tiềm năng sản xuất dịch vụ ở các quốc gia này được khai thác đúng mức Các quốc gia đang phát triển có lợi thế trong việc cung ứng các dịch vụ đòi hỏi nhiều lao động như các