1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n

58 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 719,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn cũng ở trong môi trường như vậy. Giờ đây ngoài những áp lực cạnh tranh của các công ty nội địa, TBSC còn phải đương đầu với áp lực cạnh tranh của các công ty liên doanh có vốn góp nước ngoài có quy mô, tầm vóc hơn hẳn các công ty nội địa. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, không chỉ Chính phủ mà mỗi một DN nói chung và DN sản xuất gạch ngói nói riêng cần phải nhận thức tình hình một cách sáng suốt, đánh giá toàn diện thực trạng của mình, những điểm mạnh, điểm yếu, những thách thức nội tại, những thách thức mới cũng như những lợi thế so sánh và những vận hội. Từ đó có chiến lược đúng đắn cho sự phát triển bền vững đối với DN của mình. Đây cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề thực tập của em –Đề tài : “Các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch bàn trong điều kiện hội nhập”.Mục đích chính của đề tài này là đề ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn sau khi phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của công ty cũng như nhận định các cơ hội, đe dọa của môi trường ngành gạch ngói Việt Nam hiện nay trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO.

Trang 1

Mục lục Trang 1

Danh mục các chữ viết tắt 4

Danh mục bảng, biểu 4

Danh mục hình vẽ, biểu đồ 5

Lời nói đầu 6

1 Tí nh cấp thiết của đề tài 6

2 M ục đích của đề tài 8

3 Đ ối tượng và phạm vi đề tài 8

4 P hương pháp nghiên cứu đề tài 8

5 B ố cục đề tài 9

CHƯƠNG 1 : KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 10

1.1 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH 10

1.1.1 C ạnh tranh và năng lực cạnh tranh 10

1.1.1.1 K hái niệm về cạnh tranh 10

1.1.1.2 C ác loại hình cạnh tranh 10

1.1.2 K hái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12

Trang 2

1.1.3 C

ác yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12

1.1.3.1 C ác yếu tố bản thân doanh nghiệp 13

1.1.3.2 N hu cầu của khách hàng 13

1.1.3.3 C ác lĩnh vực có liên quan và phụ trợ 13

1.1.3.4 C hiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh 14

1.1.3.5 V ai trò của Chính phủ 14

1.2 C Ơ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO 15

1.2.1 C ơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO 15

1.2.2 T hách thức khi Việt Nam gia nhập WTO 20

1.2.3 B ài học rút ra 23

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN TBC 25

2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triền công ty TBSC 25

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về TBSC 25

2.1.1.1 Các thông tin cơ bản 25

Trang 3

2.1.1.2 Lĩnh vực hoạt động chủ yếu 25

2.1.1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức TBSC 26

2.1.2 Giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường 27

2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của TBSC trong điều kiện hội nhập 28

2.2.1 Phân tích môi trường bên ngoài 28

2.2.1.1 Tình hình thị trường chung 28

2.2.1.2 Tình hình ngành sản xuất gạch ngói trên thị trường 31

2.2.1.3 Phân tích đối thủ cạnh tranh 34

2.2.2 Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp 35

2.2.2.1 Nguyên vật liệu 35

a Nguồn nguyên liệu 35

b Sự ổn định của các nguồn cung nguyên vật liệu 35

c Ảnh hưởng của giá cả NVL đến doanh thu và lợi nhuận 36

2.2.2.2 Trình độ công nghệ 37

a Quy trình sản xuất 37

b Trình độ công nghệ 37

c Tình hình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới 38

d Tình hình kiểm tra chất lượng sản phẩm và dịch vụ 39

2.2.2.3 Hoạt động bán hàng và marketing 40

2.2.2.4 Định hướng chiến lược đầu tư phát triển 40

2.2.2.5 Đánh giá năng lực cạnh tranh của TBSC 45

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN 1 N âng cao trình độ quản trị và đào tạo đội ngũ lãnh đạo 50

2 Ti ết kiệm chi phí – nâng cao hiệu quả, tăng thu – giảm chi 51

Trang 5

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEM: Diễn đàn hợp tác Á – Âu

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2009

Bảng 2: Sản lượng gạch dự kiến đến năm 2020

Bảng 3: Danh sách các nhà cung cấp nguyên liệu chính cho Công ty

Bảng 4: Năng lực sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn Bảng 5: Năng lực của máy, thiết bị

Trang 6

Bảng 6: Tình hình biến động nhân viên của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1 : Cơ cấu tổ chức công ty

Hình 2: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình Công ty CP Hình 3 : Tăng trưởng GDP theo năm của cả nước

Hình 4: Cầu thị trường năm 2020

Hình 5: Cơ cấu lao động theo trình độ của công ty

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sau gần hai thập kỉ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Sản xuất hàng hóa đã có bước phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Trong quá trình hội nhập, mối quan hệ kinh

tế thương mại đã được mở rộng hầu khắp các lĩnh vực Đến nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với hơn 160 nước và vùng lãnh thổ; tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 Hiệp định hợp tác đầu tư và 40 Hiệp định chống đánh thuế 2 lần; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước và vùng lãnh thổ… Nhưng hiện nay Việt nam vẫn đang đứng trước ngưỡng cửa WTO, có thể nói cơ hội là rất lớn song thách thức cũng không nhỏ Trong xu hướng hiện tại, các nước đang ngày càng ít sử dụng biện pháp bảo hộ “lộ liễu” không được WTO chấp nhận như : cấm, hạn chế nhập khẩu hoặc áp đặt thuế nhập khẩu cao Thay vào đó, chính sách bảo hộ của các nước lại bắt đầu tính đến việc áp dụng các rào cản thương mại hiện đại lồng vào các lý do chính đáng như áp dụng các tiêu chuẩn kĩ thuật, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật, môi trường, thủ tục hải quan, ghi nhãn mác hàng hóa, lạm dụng Luật chống bán phá giá… Như vậy, xu thế hội nhập trên thế giới hiện tại đang tạo ra một sức ép rất lớn đối với các nước phát triển, trong đó có Việt nam, chúng ta đang phải chịu sức ép buộc phải mở cửa và tiến hành tự

do hóa Theo các chuyên gia kinh tế, nếu Việt Nam không hội nhập nhanh hơn, mạnh hơn thì điều tất yếu là chúng ta sẽ tụt hậu so với các nước trong khu vực, chịu sự thiệt thòi của người đi sau Ảnh hưởng trước tiên chúng ta đang phải gánh chịu từ chính các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, vốn là những nước sản xuất nhiều sản phẩm cạnh tranh với Việt Nam

Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong thời gian

Trang 8

qua, thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp tác đa phương và song phương Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), đã kí Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ… hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước như mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức được kết nạp làm thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO (World Trade Organisation) Đây là một nỗ lực của Chính phủ Việt Nam sau 11 năm đàm phán, nhưng cũng là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu

Sự gia nhập WTO mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời cũng mang lại những đe dọa, thách thức Đặc biệt, trong lĩnh vực sản xuất gạch ngói sẽ có những cơ hội rất lớn để phát triển do nhu cầu xây dựng về nhà ở cũng như các cao ốc văn phòng làm việc ngày càng tăng nhanh Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói Việt Nam cũng sẽ mất đi sự bảo hộ bấy lâu của Chính Phủ và phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp có vốn góp liên doanh nước ngoài cùng ngành

Hội nhập quốc tế đã buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để

đủ sức đứng vững trên thương trường Một thực trạng phổ biến hiện nay là: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế và yếu kém nên khả năng tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường rất thấp, đặc biệt là thị trường quốc tế

Vì vậy, xây dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu không làm được

Trang 9

điều này, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn gánh chịu những hậu quả tương tự trên chính “sân nhà”

Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn cũng ở trong môi trường như vậy Giờ đây ngoài những áp lực cạnh tranh của các công ty nội địa, TBSC còn phải đương đầu với áp lực cạnh tranh của các công ty liên doanh có vốn góp nước ngoài có quy mô, tầm vóc hơn hẳn các công ty nội địa Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, không chỉ Chính phủ mà mỗi một

DN nói chung và DN sản xuất gạch ngói nói riêng cần phải nhận thức tình hình một cách sáng suốt, đánh giá toàn diện thực trạng của mình, những điểm mạnh, điểm yếu, những thách thức nội tại, những thách thức mới cũng như những lợi thế so sánh và những vận hội Từ đó có chiến lược đúng đắn cho sự phát triển bền vững đối với DN của mình Đây cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề thực tập của em –Đề tài : “Các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch bàn trong điều kiện hội nhập”

2 Mục đích của đề tài:

Mục đích chính của đề tài này là đề ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn sau khi phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của công ty cũng như nhận định các cơ hội, đe dọa của môi trường ngành gạch ngói Việt Nam hiện nay trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO

3 Đối tượng và phạm vi đề tài:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch bàn TBSC và một số doanh nghiệp liên quan hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gạch ngói tại khu vực miền Bắc Tuy nhiên, chuyên đề thực tập chỉ giới hạn phạm vi tập trung nghiên cứu các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho TBSC

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh và dự báo trên nền tảng các lý thuyết về cạnh

Trang 10

tranh, lý thuyết quản trị chiến lược, thu thập các số liệu liên quan để phân tích sự vận động của hiện tượng nghiên cứu

- Số liệu sử dụng chủ yếu là số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo thống kê của công ty và các ngành liên quan Một số số liệu sơ cấp từ phương pháp điều tra trực tiếp của một nhóm các đối tượng có chọn lọc

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 11

CHƯƠNG 1 : KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị… thường xuyên được nhắc tới trên các phương tiện thông tin đại chúng và được nhiều người quan tâm, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh” Trong kinh tế - chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Theo Michael Porter thì cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh

là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980) Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành

1.1.1.2 Các loại hình cạnh tranh

Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu

Trang 12

cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái

- Quan điểm về cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến kết cục thảm hại của những địch thủ tranh đấu trong thương trường Hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là

sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi

- Quan điểm về cạnh tranh lành mạnh

Trong bối cảnh thương trường là một thương trường toàn cầu hóa của một thế giới đang đi trên một tiến trình hội nhập Thế giới hội nhập là một thế giới cạnh tranh Các loại rào chắn bị dỡ bỏ Trên một sân chơi bình đẳng, các nguồn lực của thế giới đang tranh nhau để được sử dụng theo cách tốt nhất, nghĩa là phải trả chi phí thấp hơn nhưng

có sản phẩm tốt hơn Đó chính là ý nghĩa tích cực của một môi trường cạnh tranh tự do trên một sân chơi ngang bằng Doanh nghiệp cần phải lắng nghe khách hàng, hợp tác với các nhà cung cấp, lập ra các nhóm mua hàng và xây dựng những quan hệ đối tác chiến lược (thậm chí là với đối thủ cạnh tranh) Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thành công Đây là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là cạnh tranh làm hại lẫn nhau Cạnh tranh không phải là “chiến tranh” và cũng không phải

là “hòa bình” Cạnh tranh không còn là những động thái của tình huống, không phải chỉ

là những hành động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn không ngừng, khi

đó các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ tốt nhất thì điều đó có nghĩa là không

có giá trị gia tăng nào có thể giữ nguyên và tồn tại vĩnh viễn mà có sự biến đổi mới lạ

Trang 13

1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng

để thu lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, năng lực canh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải thiện vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”

1.1.3 Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Tổng hợp các trường phái lý thuyết, trên cơ sở quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được xác định trên 4 nhóm yếu tố sau:

Trang 14

1.1.3.1 Các yếu tố bản thân doanh nghiệp:

Các yếu tố về bản thân doanh nghiệp bao gồm:

Các yếu tố về con người (chất lượng, kỹ năng làm việc );

Các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường);

Các yếu tố về vốn… các yếu tố này chia làm 2 loại:

Loại 1: các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, lao động; Loại 2: các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động trình độ cao… Trong đó, yếu tố về trình độ có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính độc quyền Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết định phải được đầu tư chuyên sâu

1.1.3.2 Nhu cầu của khách hàng:

Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì DN có lợi thế về mặt này thì có hạn chế về mặt khác Vấn đề

cơ bản là, DN phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt nhất những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Thông qua nhu cầu của khách hàng, DN có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình Nhu cầu khách hàng còn có thể gợi mở cho DN để phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ mới Các loại hình này có thể được phát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó DN là người trước tiên có được lợi thế cạnh tranh

1.1.3.3 Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ:

Sự phát triển của doanh nghiệp không thể tách rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như: thị trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin…

Trang 15

Ngày nay, nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin, các DN có thể theo dõi và tham gia vào thị trường tài chính, thị trường BĐS 24/24 giờ trong ngày

1.1.3.4 Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh:

Sự phát triển của DN sẽ thành công nếu được quản lý và tổ chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó Sự cạnh tranh giữa các

DN sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ

Trong bốn yếu tố trên, yếu tố 1 và 4 được coi là yếu tố nội tại của DN, yếu tố 2 và

3 là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự phát triển của chúng Ngoài ra, còn

có một yếu tố mà DN cần tính đến là vai trò của Chính Phủ Vai trò của Chính Phủ có tác động tương đối lớn đến khả năng cạnh tranh của DN, nhất là trong việc định ra các chính sách về công nghệ, đào tạo và trợ cấp

1.1.3.5 Vai trò của Chính phủ:

Trong thời gian gần đây, cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với các DN

đã từng bước được hoàn thiện Động lực kinh doanh đã được phát huy, nhiều rào cản đã được loại bỏ, tạo điều kiện cho mọi DN hoạt động trong và ngoài nước Một số công cụ chính sách vĩ mô đã phát huy tác dụng như: Luật DN, Nghị định 90, Quỹ hỗ trợ DNVVN,

cơ chế tín dụng… Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm trên con đường hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô nhằm tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển năng động và có hiệu quả của DNVVN

Chính phủ và các cơ quan nhà nước cần góp phần mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây dựng và hỗ trợ phát triển các DN Các công cụ chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ trên các mặt khác nhau là rất cần thiết Môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và các nhân tố xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nhân và nền kinh tế của đất nước Do

đó, thông qua chủ trương chính sách cụ thể, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh phát triển, qua đó hình thành một khu vực DN hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững Sự phát triển của khu vực này sẽ góp phần đắc lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển phồn thịnh của nước nhà

Trang 16

1.2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu một bước chuyển về chất trong tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam khởi đầu từ giữa những năm 1980

1.2.1 Cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO

Gia nhập WTO nhằm tạo môi trường để các nền kinh tế phát triển Đối với Việt Nam, cơ hội mới đem lại khi gia nhập WTO chính là việc cải cách thể chế, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ…

WTO đã và đang tác động hữu hình và vô hình tới nền kinh tế - xã hội của Việt Nam ở cả hai khía cạnh thuận lợi và khó khăn, mặc dù đây không phải là vấn đề dễ dàng bóc tách

1 - Gia tăng kim ngạch xuất khẩu

Đây là một dấu hiệu chính thể hiện tác động rõ rệt của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh kể từ thời điểm gia nhập WTO

- Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu tăng 21,3%, năm 2008 đã đạt hơn 62 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 Kết quả hoạt động xuất khẩu trong năm 2007 cho thấy trong năm đầu tiên gia nhập WTO, Việt Nam đã nắm được các cơ hội để tăng quy mô xuất khẩu cũng như đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu

- Sang năm 2008, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã được mở rộng đến 150 quốc gia và vùng lãnh thổ

Trang 17

- Đến năm 2009, kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của khủng hoảng kinh tế thế giới, do đó giá trị kim ngạch xuất khẩu giảm 9%; tuy nhiên đó là do tác động

về giá chứ không phải do giảm về lượng Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, hầu hết các nền kinh tế là đối tác thương mại chính của Việt Nam như Hoa

Kỳ, EU, Nhật Bản năm 2009 đều bị tăng trưởng âm Do đó, nhu cầu nhập khẩu của các nền kinh tế này đều giảm mạnh, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong năm 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với năm 2008

Bảng 1: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2009

Mặt hàng Kim ngạch xuất khẩu năm 2009 (tỷ USD) % thay đổi về lượng (so với cùng kỳ 2008) % thay đổi về kim ngạch (so với cùng kỳ 2008)

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Tổng cục Thống kê ( ngày 31/12/2009)

Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc hàng hóa Việt Nam không bị phân biệt đối xử như trước, điển hình là hạn ngạch hàng dệt may đã được xóa bỏ Số liệu thống kê cho thấy, tính chung kim ngạch xuất nhập khẩu 2 năm 2008-2009 trung bình 150 tỷ USD/năm, tương đương với hơn 160% tổng GDP của cả nước Những nhóm ngành được lợi nhiều nhất khi Việt Nam gia nhập WTO là những ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày và điện tử

Như vậy, có thể thấy rằng trong ba năm qua, xuất khẩu vẫn duy trì đà tăng trưởng nhưng cũng bộc lộ là dễ bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài như biến động giá

cả thế giới, rào cản thương mại và sự thay đổi chính sách của các nước nhập khẩu Những

Trang 18

lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng có thể bị giảm sút, do đó những ngành này có thể gặp khó khăn trong xuất khẩu và cả trong sản xuất

2 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh

Đây là tác động hữu hình dễ nhận thấy từ việc Việt Nam gia nhập WTO

- Mức vốn đầu tư nước ngoài với các cam kết thể hiện trong năm 2006 là 12 tỷ USD; năm 2007 là 21 tỷ USD; năm 2008 vọt lên 71 tỷ USD

- Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, khi sản xuất trong nước còn gặp nhiều khó khăn tồn kho sản xuất công nghiệp lớn, thì kết quả thu hút và giải ngân vốn FDI năm 2009 là điểm sáng trong bức tranh kinh tế chung của Việt Nam Từ quý II/2009, khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi thì kết quả thu hút vốn FDI cũng có nhiều dấu hiệu khả quan Theo thống kê, mức vốn FDI đăng

kí năm 2009 ở mức 21,4 tỷ USD tương đương số vốn đăng kí và tăng thêm của năm 2007

- Sau ba năm chính thức trở thành thành viên của WTO , Việt Nam đã thu hút được

số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng kí hơn 114 tỷ USD với hơn 4000 dự án đầu tư nước ngoài, cao hơn 4,5 lần so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006-2010

Với việc gia nhập WTO , Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một số ngành như điện tử, tin học , dệt may, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…

số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành đó sẽ ngày càng tăng Cùng với vốn, các nhà đầu tư nước ngoài đã và sẽ tiếp tục mang công nghệ hiện đại, phương thức quản

lý tiên tiến vào Việt Nam , tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực có

kĩ năng nói riêng và các ngành công nghiệp, dịch vụ nói chung

Kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong ba năm qua là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài Môi trường đầu tư - kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng

Trang 19

đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực

3 - Nhận thức, khả năng thích ứng và hiệu quả của doanh nghiệp tăng

Có thể thấy rằng hội nhập thông qua WTO đã tác động sâu rộng đến xã hội Việt Nam, đặc biệt sau khi gia nhập WTO thì nhận thức của DN đã rõ hơn Trong khủng hoảng và hội nhập, các DN đã thấy rõ hơn sự bất định của thị trường và từ đó ứng phó một cách tương đối thành công với tác động này Thực tế cho thấy phần lớn các DN đã xoay sở và thích ứng được với những tác động của hội nhập, với những cuộc cạnh tranh khốc liệt hơn cũng như những cơ hội mở rộng hơn Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn tới rất nhiều khó khăn nhưng cũng chính là cơ hội lớn để DN cũng như toàn bộ nền kinh tế đổi mới, tái cấu trúc

Một điểm quan trọng là sau khi gia nhập WTO, môi trường kinh doanh trong nước

đã được cải thiện theo hướng thuận lợi và minh bạch hơn Sau khi gia nhập WTO, số lượng DN tham gia kinh doanh ngày một tăng; nhiều DN tăng trưởng nhanh về số lượng

và kim ngạch buôn bán Sau 3 năm gia nhập WTO, các DN Việt Nam đã thâm nhập được nhiều thị trường hơn, có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ, vật tư nguyên liệu và cơ hội xuất khẩu sản phẩm do thị trường được mở rộng và không bị phân biệt đối xử

- Năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với 2007

- Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều tăng rõ rệt Ví dụ, hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2,7 tỷ USD, tăng 25,5 % so với năm 2007; hàng dệt may đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5%; sản phẩm gỗ đạt 2,78 tỷ USD, tăng 15,6%; cà phê đạt 2,02 tỷ USD, tăng 5,8%

Trang 20

- Trong năm 2009, mặc dù kim ngạch xuất khẩu chung giảm, nhưng xét về lượng nhiều ngành vẫn có sự gia tăng đáng kể với sản phẩm gạo tăng 25,4%, cà phê tăng 10,2%, than đá tăng 29,9% và cao su tăng 10,3%

4 - Hệ thống phân phối dần được cải thiện

Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO đã tác động tích cực và mang lại nhiều cơ hội đối với lĩnh vực phân phối; đó là sự khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cho sự phát triển của thị trường phân phối của Việt Nam Có thể thấy rằng, sự xuất hiện của các “đại gia” bán lẻ quốc tế đã làm thay đổi diện mạo của thị trường bán lẻ

ở Việt Nam Bên cạnh đó, nhượng quyền thương mại cũng có nhiều tiềm năng phát triển Trung Nguyên và Kinh Đô là hai doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực này Điều này

đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường bán lẻ trong nước Ví dụ, tổng công ty thương mại Sài Gòn đã đề ra chương trình phát triển hệ thống phân phối của mình bằng cách nâng cấp các cơ sở hiện có, xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại và chợ đầu mối lớn

Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực đối với hệ thống phân phối từ việc gia nhập WTO, có nguy cơ thị trường Việt Nam bị thao túng bởi các công ty đa quốc gia thông qua các cam kết về mở cửa thị trường Sự hiện diện của các nhà bán lẻ chuyên nghiệp nước ngoài sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với các nhà bán lẻ nội địa Trên thực tế, các công ty Việt Nam đều có quy mô nhỏ, mới được thành lập và yếu về khả năng cạnh tranh, đặc biệt là trong khâu quản lý chất lượng Nếu không nhanh chóng đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu thì khi các nhà bán lẻ nước ngoài đã đủ mạnh, hoàng hóa Việt Nam sẽ mất chỗ đứng ngay ở chính sân nhà mình

Những yếu kém này thực sự là thách thức đối với các DN Việt Nam khi cố gắng vượt qua tình trạng hiện tại để phát triển và đạt được các tiêu chí toàn cầu trong cạnh tranh quốc tế

Trang 21

5 - Một số tác động vô hình khác

Bên cạnh các tác động hữu hình như đã đề cập ở trên, ba năm gia nhập WTO cũng

đã có những tác động vô hình đến nền kinh tế Việt Nam

Thứ nhất, nhận thức của xã hội đối với nhu cầu hội nhập đã tăng đáng kể Trước đây, khi Việt Nam bắt đầu tiếp cận với vấn đề hội nhập đã có rất nhiều mối lo ngại sâu sắc về những khó khăn thách thức, nhưng giờ đây thì ai cũng nhận thấy những lợi ích to lớn

Thứ hai, vị thế của Việt Nam đã được thay đổi đáng kể so với trước khi gia nhập WTO, kéo theo sự đổi mới mạnh mẽ hơn về thể chế nhà nước

Thứ ba, Chính phủ và các doanh nghiệp nhận biết rõ hơn sự bất định của thị trường quốc tế, để từ đó tìm ra cách ứng phó linh hoạt, chủ động

Thứ tư, chúng ta nhận thức tốt hơn về những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, đồng thời bộc lộ cả điểm yếu của nền kinh tế, đó là những điều mà không qua thử thách chúng ta không thể biết được

Ngoài những tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam, việc Việt Nam gia nhập WTO đã có tác động tích cực đến nền kinh tế của các đối tác Trong giai đoạn đến năm 2015, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ làm kim ngạch xuất khẩu của thế giới tăng 0,026%, kim ngạch nhập khẩu thế giới tăng 0,027% Mặc dù quy mô nền kinh tế Việt Nam còn nhỏ, nhưng Việt Nam đã đóng góp vào xuất khẩu thế giới ở một số mặt hàng như may mặc, giày dép, một số sản phẩm nông nghiệp

1.2.2 Thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO

1 - Về ban hành chính sách

Qua quá trình dài 3 năm, việc ban hành chính sách của Việt Nam đã minh bạch hơn, nhưng vấn đề khó tiên liệu của chính sách thì vẫn còn Đây chính là điểm yếu của hoạch định chính sách, nhất là trong môi trường bị tác động rất lớn từ bên ngoài Việc tạo dựng lòng tin trên thị trường là rất quan trọng Nếu việc tiên liệu chính sách quá khó thì

Trang 22

sẽ làm xói mòn lòng tin Đây là điểm cần phải được cải thiện Lấy ví dụ trong lĩnh lực nông nghiệp, việc cắt giảm thuế đột ngột và thiếu hàng rào kỹ thuật đã khiến thị trường thịt nhập khẩu ồ ạt tràn vào Việt Nam trong năm 2009 làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước

2 – Phối hợp hạn chế giữa các cơ quan, bộ ngành

Một vấn đề liên quan tới ban hành chính sách là việc phối hợp giữa các cơ quan

bộ, ngành còn hạn chế, làm giảm hiệu quả đánh giá chính sách xác thực hơn Còn khoảng cách khá xa giữa thực tế và yêu cầu về tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng giải trình của bộ máy nhà nước, trong khi hệ thống động lực ( lương, thưởng, ) cho công thức còn nhiều méo mó Phối hợp giữa các bộ, ngành trong hoạt động đối ngoại còn chưa chặt chẽ, nhất quán Đây là một thực tế cho thấy Việt Nam vẫn chưa chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập

3- Năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam còn thấp

Năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm của Việt Nam còn thấp và chậm được cải thiện so với các nước trong khu vực Một số lĩnh vực cạnh tranh quốc gia còn yếu, như đào tạo nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, năng lực thể chế, trình độ công nghệ Đây chính là lực cản đối với cạnh tranh ở tất cả các cấp độ Sức cạnh tranh của hang hoá xuất khẩu còn thấp, chủ yếu dựa vào gia công và sử dụng tài nguyên

Trong quá trình đối đầu với thách thức vừa qua, hiện chỉ còn khoảng 20% DNVVN có khả năng thích nghi, tồn tại và đang phát triển, còn lại khoảng 60% đang gặp khó khăn nhiều mặt, đặc biệt là không cân đối được đầu vào đầu ra do giá nguyên liệu tăng cao và quan trọng hơn cả là thiếu vốn, không được ngân hàng tiếp tục cho vay như trước dù lãi suất tăng cao

4 - Bất cập trong thu hút FDI

Trang 23

Trong những năm qua, nhiều chính quyền địa phương đã có quan niệm cho rằng

cứ có nhiều vốn FDI, dù ở lĩnh vực nào cũng đều sẽ giúp phát triển kinh tế của địa phương Chính vì vậy nhiều tỉnh đã ồ ạt xây dựng khu công nghiệp và khu chế suất với mục tiêu thu hút FDI mà không tính đến những tác động về xã hội, môi trường mà các dự

án FDI có thể gây ra Vấn đề nổi cộm đang đặt ra hiện nay là bên cạnh những đóng góp quan trọng của FDI vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, tình hình thu hút và sử dụng vốn FDI gần đây đang dẫn đến một số hệ luỵ làm ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, đầu tư quá nhiều vào các khu vực BĐS, làm thâm hụt cán cân thương mại, môi trường sinh thái bị tác động xấu, sinh kế của người nông dân, nhất là những người bị mất đất nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề v.v…

Như vậy việc trở thành thành viên WTO giúp Việt Nam thu hút được nhiều nguồn vốn FDI hơn, song chắc chắn rằng việc chấp nhận mọi hình thức thu hút vốn FDI mà không có sự đánh giá về hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, các vấn đề xã hội và có các chính sách thu hút và điều tiết phù hợp hơn thì FDI sẽ không nhất thiết luôn là nguồn vốn ổn định và tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội một cách bền vững Đây là những thách thức rất lớn đối với việc xây dựng cạnh tranh thu hút vốn FDI của Việt Nam ngay cả khi Việt Nam là thành viên của WTO

5 - Nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn

Đối với Việt Nam, khả năng mở rộng thị trường được đánh giá là một trong các cơ hội với nông nghiệp khi gia nhập WTO Hiện nay, thị trường tiêu thụ nông sản được mở rộng bên cạnh các thị trường truyền thống, là các thì trường Mỹ, EU , Nhật , châu Phi Nền nông nghiệp đã bắt đầu được hưởng lợi từ chuyển giao khoa học công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi…sát với giá thị trường thế giới Nét nổi bật trong hoạt động xuất khẩu nông sản, thuỷ sản đó là việc tăng nhanh về số lượng, thì người sản xuất và DN xuất khẩu cũng đã chú ý đến chất lượng và độ an toàn thực phẩm

Tuy nhiên, trong thời gian qua, xuất khẩu hàng nông, lâm thuỷ sản của Việt Nam hầu như chưa có sự thay đổi đột biến Tuy kim ngạch xuất khẩu của nông sản có tăng hơn

Trang 24

so với năm 2006, nhưng tốc độ tăng đó lại chậm hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thị trường nói chung Từ đó có thể xác nhận rằng , việc thực hiện cam kết gia nhập WTO trong những năm đầu tiên này hầu như chưa có tác động lớn tới xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam

6 - Gia tăng bất bình đẳng xã hội

Tốc độ kinh tế tăng trưởng cao hơn tất yếu sẽ làm thay đổi nhiều về mặt xã hội, trong đó có thể làm tăng gia tăng bất bình đẳng xã hội bởi sự chênh lệch trong đầu tư FDI giữa các vùng, bởi cơ hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa nhiều nhóm xã hội, sự khác biệt về quyền lực, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn con người giữa các nhóm này, tạo

ra cơ hội sinh kế khác nhau giữa họ Hiện trạng bất bình đẳng xã hội gia tăng có một nguyên nhân quan trọng là do một sự tập trung nguồn lực kinh tế bao gồm cả vốn FDI, ODA, vốn ngân sách và cả khu vực tư nhân vào các vùng kinh tế trọng điểm Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách xã hội (tạo việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản…) để khắc phục tình trạng này, nhưng vẫn không đủ nguồn năng lực để hạn chế gia tăng hiện tượng bất bình đẳng xã hội

1.2.3 Bài học rút ra

Việc phân tích các tác động tích cực và tiêu cực, trực tiếp và gián tiếp của việc gia nhập WTO cho thấy cần lựa chọn một số ưu tiên trên con đường phát triển tiếp theo để nâng cao chất lượng tăng trưởng và đảm bảo sự phát triển bền vững của DN Để thâm nhập thành công và bền vững vào thị trường các nước với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng Cụ thể, về phía các DN, trong thời gian tới cần chú trọng một số vấn đề sau đây:

- Một, DN cần chủ động trong việc tìm hiểu các quy tắc của WTO; xem xét các cam kết theo WTO liên quan đến khu vực DN để có thể hiểu rõ hơn về những lợi ích và thách thức do những cam kết này đem lại;

- Hai, DN cần xây dựng chiến lược dài hạn và cải thiện năng lực cạnh tranh Chiến lược cạnh tranh của DN cần kết hợp với việc tiếp tục hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Trang 25

các sản phẩm truyền thống với việc đa dạng hóa sản phẩm và cải thiện toàn diện năng lực cạnh tranh;

- Ba, xây dựng chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của các DN để phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu với khối lượng lớn vào một thị trường vì điều này có thể tạo ra cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá;

- Bốn, tăng cường áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi giá để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu thay vì cạnh tranh bằng giá thấp;

- Cuối cùng, các DN cần xây dựng hệ thống thông tin, sổ sách kế toán minh bạch và phù hợp với chuẩn quốc tế

Như vậy, sau ba năm gia nhập WTO, muốn tiếp tục phát huy được những thời cơ

và thuận lợi, hạn chế; những khó khăn thách thức về kinh tế, xã hội, đến thời điểm này, Việt Nam cần phải tăng tốc cải cách, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành cũng như các DN Có thể thấy rằng gia nhập WTO là sự đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của Việt Nam Dù đó là nhiệm vụ đầy khó khăn, trở ngại, nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể hoàn thành khi giải quyết thành công những thách thức trên con đường phát triển

Trang 26

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH NGÓI THẠCH BÀN TBSC

2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triền công ty TBSC

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về TBSC

2.1.1.1 Các thông tin cơ bản:

- Thông tin chung về Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn

Tên công ty: Công ty Cổ phần gạch ngói Thạch Bàn

Tên viết tắt: TBSC

Trụ sở chính: Tổ 3 – Phường Thạch Bàn – Quận Long Biên – Hà Nội

Các ngành nghề kinh doanh chính:

Sản xuất và kinh doanh gạch, ngói đất sét nung;

Xây lắp lò nung Tuynel & chuyển giao công nghệ lò nung Tuynel;

Kinh doanh vận tải

Vốn điều lệ : 8.910.450.000 đồng

2.1.1.2 Lĩnh vực hoạt động và chủ yếu:

Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn có bề dày kinh nghiệm sản xuất kinh doanh gạch ngói đất sét nung, sản phẩm của công ty đã có thương hiệu trên thị trường Việt Nam Sản phẩm của công ty được sử dụng trong một số công trình lớn và một số khu di tích lịch sử như Văn miếu Quốc Tử Giám, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô…

Với đội ngũ cán bộ công nhân viên có bề dày kinh nghiệm gần 50 năm, công ty đã sản xuất và tiêu thụ hàng năm hơn 60tr viên sản phẩm gạch ngói các loại ra thị trường,

Trang 27

doanh thu đạt từ 22 đến 36 tỷ đồng Ngoài ra công ty còn chuyển giao công nghệ cho hơn

130 nhà máy sản xuất gạch ngói đất sét nung trên cả nước…

Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo:

- Luật Doanh nghiệp đã được Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005

- Điều lệ công ty đã được Đại Hội Cổ đông điều chỉnh, sửa đổi và nhất trí thông qua ngày 26/5/2008

Hình 2: Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần

Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn

Nhà máy sản xuất

Trang 28

2.1.2 Giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường:

Cổ phần hóa – Bước ngoặt lớn

Năm 2004 khởi đầu bằng việc chỉ số giá nhiều mặt hàng tăng đột biến đặc biệt là giá của một số VLXD cơ bản như sắt thép… Nhu cầu và tốc độ xây dựng chững lại đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tiêu thụ của công ty Trong lĩnh vực sản xuất gạch ốp lát, cung đang vượt cầu Nhiều nhà sản xuất mới ra đời, để vào được thị trường đã giảm giá bán xuống dưới giá thành, tạo ra sự rối loạn về giá, về cơ chế khuyến mãi thị trường trở nên phức tạp, sức tiêu thụ giảm sút

Do phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, các chỉ tiêu chính của năm kế hoạch không đạt, nhưng về cơ bản Công ty vẫn duy trì sản xuất ổn định, đảm bảo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, làm nghĩa vụ với nhà nước… Đặc biệt là Công ty đã được Bộ xây dựng quyết định cho phép tiến hành Cổ phần hóa trong năm 2004 Không như một số DNNN, do dự và thậm chí e ngại CPH sẽ mất địa vị, mất quyền lợi, khó trụ vững trong cơn lốc kinh tế thị trường, lãnh đạo Công ty đã xác định đây là hướng đi đúng đắn trong quá trình hội nhập nên rất phấn khởi đón nhận quyết định của Bộ, chỉ đảo các

tổ nghiệp vụ làm việc ngày đêm để hoàn thành hồ sơ CPH Trong tiến trình CPH, không

Trang 29

ít khó khăn nẩy sinh, song với quyết tâm cao, Giám đốc công ty cùng các bộ phận đã tháo

gỡ từng bước để hoàn thiện hồ sơ Đến ngày 6/12/2004, Bộ Xây Dựng đã có quyết định

số 190/QĐ – BXD phê duyệt phương án CPH công ty Thạch Bàn

Năm 2005, năm đầu tiên sau cổ phần hóa, được tự chủ hoàn toàn trong hoạt động SXKD cũng có nghĩa là phải tự lo: vốn, NVL đầu vào sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa có giá hợp lý, tăng sản lượng tiêu thụ, giảm hàng tồn từ nhiều năm trước đọng lại Nặng nhất vẫn là lo vốn vì đã là doanh nghiệp cổ phần, các ngân hàng không cho áp dụng nhiều ưu đãi nữa Trong khi đó, giá NVL đầu vào vẫn tăng chóng mặt

Nhưng với truyền thống của một đơn vị luôn đi đầu đổi mới, mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, lãnh đạo công ty đã tìm một hướng đi mới: xuất khẩu kỹ thuật Sau khi tìm hiểu đối tác, thị trường, Thạch bàn đã bắt tay với một tập đoàn tầm cỡ lớn của Angiêri : CCI Group Giờ đây, Thạch Bàn lại tự hào đại diện cho ngành VLXD VN đem công nghệ kĩ thật đi chuyển giao ở nước ngoài

Để phù hợp với mô hình tổ chức công ty cổ phần, Công ty đã chuyển đổi hệ thống quản lý mới với cơ cấu gọn nhẹ, năng động, hiệu quả Mạnh dạn giao trách nhiệm cho lớp cán bộ trẻ có tri thức, sức bật tốt, tâm huyết với sự nghiệp của Công ty, phát huy tối

đa khả năng cống hiến của mỗi người, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Công ty đã giải quyết thành công chế độ 41 cho một số lượng lớn người lao động và mở hướng xuất khẩu kỹ thuật ra nước ngoài là những nỗ lực đáng ghi nhận của năm 2005

Năm 2006 bắt đầu đẩy mạnh tổ chức hoạt động mô hình công ty Mẹ - Con trong

đó công ty Thạch bàn là công ty mẹ, các công ty thành viên là 8 công ty con Toàn mô hình có mối liên kết chặt chẽ thông qua chỉ đạo của Công ty mẹ để triền khai mô hình này, Hội đồng giám đốc đã được thành lập

2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của TBSC trong điều kiện hội nhập

2.2.1 Phân tích môi trường bên ngoài

2.2.1.1 Tình hình thị trường chung

a Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 02/09/2014, 09:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2009 - năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n
Bảng 1 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2009 (Trang 17)
Hình 3 : Tăng trưởng GDP theo năm của cả nước - năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n
Hình 3 Tăng trưởng GDP theo năm của cả nước (Trang 30)
Hình 4: Cầu thị trường năm 2020 - năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n
Hình 4 Cầu thị trường năm 2020 (Trang 34)
Bảng 4 :  Năng lực sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn - năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n
Bảng 4 Năng lực sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Gạch ngói Thạch Bàn (Trang 39)
Hình 5: Cơ cấu lao động theo trình độ của công ty - năng lực cạnh tranh của CTCP Gạch ngói Thạch Bàn trong điều kiện hội nhậpGiải pháp tài chính nhằm nâng cao n
Hình 5 Cơ cấu lao động theo trình độ của công ty (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w