Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được đánh giá bằng một số chỉ tiêu sau: - Sự tăng trưởng về sản xuất - Khả năng mở rộng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa, đặc biệt dưới tác động mạnh
mẽ của nhiều yếu tố trong nền kinh tế dẫn đến nhiều biến động đã và đang tạo ranhững cơ hội cũng như những thách thức, khó khăn cho các doanh nghiệp
Việt Nam ra nhập WTO đã tạo cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội vàthách thức mới Thách thức trước hết phải kể tới đó là các doanh nghiệp ViệtNam phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoàikhông những trên thị trường quốc tế mà còn ở ngay thị trường nội địa
Thực tế cho thấy, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếukém về khả năng cạnh tranh Hàng hóa được sản xuất ra có chất lượng chưatốt, giá thành cao nên khó cạnh tranh với các hàng hóa cùng loại trên thịtrường thế giới Chính vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh của các DN ViệtNam hiện nay đã trở thành nhu cầu tất yếu Vấn đề tài chính đóng vai trò quantrọng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, việc đánh giá và đưa ra cácgiải pháp tài chính đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được các mụctiêu chiến lược trong kinh doanh của mình Để nhận thức rõ thực trạng và cóthể kiến nghị về các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, em đã chọn đề tài: “Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập”.Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về sử dụng các biện pháp tài chính nhằm nâng
cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 2Do thời gian thực hiện, điều kiện nghiên cứu và trình độ kiến thức cònhạn chế nên chuyên đề của em sẽ không thể tránh khỏi những sai sót Emmong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để chuyên đề của emđược hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Sinh viên thực hiện
Đỗ Ngọc Bích
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Các Mác đãđưa ra khái niệm về cạnh tranh Tư bản như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua,đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuậnlợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch " Quan điểm S Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô chorằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua
và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào cóảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả
Tuy có nhiều cách hiểu về cạnh tranh nhưng đứng trên góc độ kinh tế, ta
có thể hiểu: Cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích giữa những người tham gia,người tham gia cạnh tranh coi những người tham gia khác là đối thủ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một
số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượngcác sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trườnghiện tại và làm nảy sinh thị trường mới Hiện nay năng lực cạnh tranh đượcchia theo các cấp khác nhau, ít nhất bao gồm 4 ấp độ là:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia xét trong quan hệ giữa các quốc
gia trên phạm vi toàn cầu
- Năng lực cạnh tranh quốc gia xét trong quan hệ giữa các quốc
gia trên phạm vi toàn cầu
- Năng lực cạnh tranh công ty (hay doanh nghiệp) xét trong quan
hệ giữa các tập đoàn công ty, giữa các ngành hàng
Trang 4- Năng lực cạnh tranh sản phẩm xét trong quan hệ với các sản
phẩm cùng loại hoặc có khả năng gây tranh chấp trên thị trường trong vàngoài nước
1.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được đánh giá bằng một
số chỉ tiêu sau:
- Sự tăng trưởng về sản xuất
- Khả năng mở rộng thị trường
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước
- Mức thu nhập bình quân của người lao động
Sự tăng trưởng về sản xuất và khả năng mở rộng thị trường phụ thuộc rấtlớn vào các yếu tố như chất lượng sản phẩm, giá thành và giá cả của doanhnghiệp, uy tín của Doanh nghiệp trên thị trường…
|Chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng nhất biểu hiện khả năng cạnhtranh hàng hoá của doanh nghiệp.Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyếtđịnh khả năng cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan
hệ cung cầu tức là thông qua sự thoả thuận giữa người mua và người bán để
đi tới mức giá mà cả hai bên đều thấy có lợi và chấp nhận được Giá cả làcông cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường.Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh,doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từngloại sản phẩm
Uy tín của doanh nghiệp được hình thành dựa trên chất lượng, giá trị sửdụng của sản phẩm, quy mô của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có uy tínvới khách hàng thì đồng nghĩa với việc có được lợi thế trong cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp chỉ được thực hiện lâu dài và
Trang 5bền vững khi cả 5 chỉ tiêu đều được thực hiện Các doanh nghiệp phải hoànthành cả chỉ tiêu theo chiều rộng và các chỉ tiêu chiều sâu
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố
Có thể chia các nhân tố thành hai nhóm:
a Các nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh.
Đây chính là những yếu tố chung nhất thuộc chủ trương, luật pháp, cơchế, chính sách của Nhà Nước, Những nhân tố này tuy có tác động giántiếp, nhưng lại có tác dụng rất quan trọng trong việc tạo môi trường cạnhtranh thuận lợi để giúp cho các DN nâng cao sức cạnh tranh Trong đó, cácchính sách tài chính vĩ mô đóng vai trò hết sức quan trọng như: chính sáchthuế, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, chính sách khuyến khích đầu tư Một yếu tố mà các doanh nghiệp đặc biệt chú ý đó là các đối thủ cạnh tranh,nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay
b Các nhân tố thuộc nội lực doanh nghiệp:
Đây là nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinhdoanh và tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đó là các nhân tố:trình độ học vấn và kỹ năng của con người, nguồn lực về vật chất kỹ thuật,nguồn lực về tài chính, trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp …
- Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong phát triển và tồn tại bềnvững của các doanh nghiệp, muốn phát triển nhanh và bền vững, chúng taphải tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và có chính sách phát huy tối đanguồn nhân lực đó
- Nguồn lực về vật chất kỹ thuật: Thông thường nguồn lực vật chất kỹthuật thể hiện ở:
+ Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng
có được các công nghệ tiên tiến
Trang 6+ Quy mô và năng lực sản xuất: Quy mô và năng lực sản xuất lớn giúpdoanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, nhờ đó hạ được giá thànhsản phẩm, từ đó có thể chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trường trên nhiều lĩnhvực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh.
- Nguồn lực về tài chính: Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sứccạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Nếu một doanh nghiệp có tìnhtrạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp cónhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy mócthiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết
- Trình độ tổ chức quản lý: Trình độ tổ chức quản lý được thể hiệnthông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầukhông khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên vàbiến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận dụngđược những lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình Không thể nói doanh nghiệp cóđược một cấu trúc tốt nếu không có một sự nhất quán trong cách nhìn nhận về
cơ cấu doanh nghiệp
Những nhân tố này có tính quyết định đến năng suất, chất lượng sảnphẩm và do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
1.2 Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Giải pháp tài chính là các giải pháp giúp cho doanh nghiệp trong việc tổchức, sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp nâng caochất lượng sản phẩm, hạ giá thành… nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Khi nói tới giải pháp tài chính, ta có thể nhìn nhận trên hai góc độ là cácgiải pháp tài chính vĩ mô và các giải pháp tài chính của doanh nghiệp
Trang 7Giải pháp tài chính vĩ mô là các giải pháp về Tài chính- tiền tệ Nhànước đưa ra nhằm hỗ trợ nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp phát triểnsản xuất kinh doanh
Giải pháp tài chính doanh nghiệp và các giải pháp về vốn đầu tư củadoanh nghiệp để đổi mới công nghệ sản xuất, thực hiện các chiến lượcMarketing hay đầu tư cho yếu tố nhân sự nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp
1.2.2 Vai trò của các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.1 Các giải pháp tài chính vĩ mô
a Các giải pháp về Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc, được thể chế hóa bằng luật, do cácpháp nhân và thể nhân đóng góp cho Nhà nước Thuế không có tính chất hoàntrả trực tiếp Thuế được thiết lập trên nguyên tắc luật định, nguyên tắc này bắtbuộc mọi sự thiết lập các sắc thuế hay sửa đổi thuế suất, thuế biểu đều phải doLuật quy định
Một chính sách thuế hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng caosức cạnh tranh của các DN Cụ thể:
- Chính sách thuế thống nhất, không phân biệt thành phần kinh tế sẽ tạođiều kiện cho các DN phát triển sản xuất kinh doanh trên cơ sở cạnh tranhlành mạnh, bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế, thúc đẩy các DN vươn lên làm ăn
có hiệu quả
- Chính sách thuế với tỷ lệ động viên hợp lý tạo điều kiện cho các DNtích tụ vốn để đầu tư phát triển, giúp các DN trong việc đầu tư chiều sâu, đổimới kỹ thuật, công nghệ, mở rộng lưu thông hàng hóa, khuyến khích sản xuất
và xuất khẩu
- Việc bảo hộ hợp lý và có chọn lọc bằng các biện pháp thuế một mặt
Trang 8tránh được sự trì trệ, mặt khác lại giúp các DN có điều kiện nâng cao khảnăng cạnh tranh, sẵn sàng tham gia hội nhập khu vực và quốc tế.
- Chính sách thuế đảm bảo tính thống nhất, tương đồng với hệ thống thuếquốc tế sẽ tạo điều kiện cho các DN trong nước phát triển sản xuất kinh doanhtrên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài
b Các giải pháp điều hành giá
Chính sách lãi suất: Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả chongười cho vay để dược quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định Lãisuất vừa tạo điều kiện, vừa gây sức ép buộc các DN phải tìm mọi biện phápnâng cao hiệu quả kinh doanh để có thể trả được lãi mà vẫn đảm bảo có lợinhuận Như vậy chỉ có những DN làm ăn có hiệu quả mới dám sử dụng vốnvay để đầu tư đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, mở rộng quy mô hoạtđộng kinh doanh
Một chính sách lãi suất bình đẳng với tất cả các loại hình DN, các thànhphần kinh tế sẽ tạo tiền đề cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh cảu các DN
Cơ chế lãi suất thị trường còn khuyến khích các tổ chức tín dụng cạnh tranhvới nhau và kết quả là lãi suất cho vay giảm, tạo điều kiện cho các DN có thểgiảm chi phí sử dụng vốn, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận
Chính sách tỷ giá: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về mặt giá cả giữahai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giácủa một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác Qua tỷ giá hốiđoái mà có thể so sánh được giá cả ở thị trường trong nước với thị trường thếgiới Bằng cơ chế điều hành tỷ giá sẽ xuất hiện hiệu ứng có lợi hoặc có hại đốivới cạnh tranh ở những phương diện nhất định
Khi tỷ giá giảm (giá của đồng nội tệ tăng) thì giá hàng hóa của nước đó tại thịtrường nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng nhập nội trở nên rẻ hơn và kết quả là
Trang 9kích thích nhập khẩu Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệptrong việc nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến của thế giới, đồngthời có thể hạ được giá thành sản phẩm do giảm giá nguyên liệu nhập khẩu
Khi tỷ giá tăng( đồng nội tệ giảm giá) thì hàng hóa của nước đó tại thịtrường nước ngoài trở nên rẻ hơn dẫn đến khuyến khích xuất khẩu Tức là gópphần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế
c Các giải pháp hỗ trợ và tạo điều kiện về vốn đầu tư cho đổi mới thiết bị
và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Trong thời đại của cách mạng kỹ thuật và công nghệ thì vấn đề tiếp thu và đổimới kỹ thuật, công nghệ là hết sức cần thiết đối với tất cả mọi doanh nghiệp trẻtrên hế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển thì vấn đề này càng trở nênbức xúc hơn Nhờ có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đã giúp cho doanh nghiệpkhông ngừng tăng năng suất lao động, hạ giá thành và nâng cao chất lượng củasản phẩm Song việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ lại đòi hỏi nhu cầu về vốn đầu
tư rất lớn Bởi vậy trong điều kiện các doanh nghiệp eo hẹp về vốn thì sự hỗ trợ vàtạo điều kiện về vốn của Nhà nước có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệpkịp thời đổi mới kỹ thuật và nắm bắt các cơ hội kinh doanh
1.2.2.2 Các giải pháp tài chính doanh nghiệp
a Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
Đổi mới công nghệ sẽ giúp DN, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sảnphẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hóa mẫu mã sảnphẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức
độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường Đặcbiệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm đượcnâng lên đồng nghĩa với việc DN sẽ tạo được ưu thế vững vàng trên thị trường cạnhtranh Kỹ thuật và công nghệ hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể sản xuất ra
Trang 10những sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ Đây chính là những điều kiệnhết sức cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
b.Đầu tư cho yếu tố con người
Trong điều kiện xã hội phát triển như ngày nay, nhu cầu của con ngườingày càng đòi hỏi cao hơn theo tiêu chí là giá cả không ngừng giảm xuống,chất lượng sản phẩm không ngừng được cải tiến Vì vậy các doanh nghiệpmuốn tồn tại phải chú trọng đến việc đổi mới công nghệ sản xuất, nâng caohàm lượng chất xám có trong một sản phẩm, tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng Làm được điều này đòi hỏiphải có đội ngũ với nhân viên năng động, luôn bám sát nhu cầu thị hiếu củakhách hàng, kịp thời đáp ứng nhanh nhất theo sự thay đổi đó
Mặt khác ngày nay khoa học kỹ thuật thay đổi rất nhanh chóng, vòngđời công nghệ cũng như các sản phẩm có xu hướng ngày càng bị rút ngắn.Bởi vậy doanh nghiệp luôn phải đảm bảo cóđội ngũ nhân viên đáp ứng kịpthời với sự thay đổi đó Chính vì vậy, việc đầu tư cho con người đóng một vaitrò rất quan trọng Cần nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động
c Đầu tư cho hoạt động Marketting của doanh nghiệp.
Ngày nay Marketing là một hoạt động không thể thiếu cho sự tồn tại vàphát triển của mỗi doanh nghiệp Ở đây nhiệm vụ chính là phân tích các nhucầu thị hiếu, nhu cầu thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sảnphẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệpđang vươn tới từ đó xây dựng mạng lưới phân phối với số lượng, phạm vi vàmức độ kiểm soát phù hợp đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh nhất.Các DN đưa ra nhiều biện pháp Marketing như: Internet Marketing Nhờ đó,doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với hầu hết khách hàng tiềm năng của mình.Internet Marketing giúp cho Doanh nghiệp và khách hàng đến gần nhau hơn
Và internet là công cụ giúp cho khách hàng tìm đến sản phẩm và dịch vụ của
Trang 11Thực hiện chính sách miễn, giảm thuế và khuyến khích đầu tư
Ở Trung Quốc, mức thuế tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp là 33%, nhưng đốivới xí nghiệp nước ngoài đầu tư sản xuất thì mức thuế chỉ vào khoảng từ 15đến 27% Ngoài ra Trung quốc còn có chính sách miễn giảm thuế giá trị giatăng, thuế nhập khẩu cho thiết bị mà nhà đầu tư nước ngoài cần nhập khẩutrong phạm vi đầu tư sản xuất nhưng chỉ áp dụng cho những xí nghiệp nướcngoài thuộc ngành nghề được khuyến khích
Ở Malaysia lại có hệ thống thuế mềm dẻo, áp dụng chế độ 'tư cách tiênphong' cho doanh nghiệp Theo đó, doanh nghiệp sẽ được hưởng 5 năm miễn70% thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc chế độ trợ cấp thuế đầu tư bằng 60%chi phí vốn hợp lệ Tăng cường kết nối kinh doanh, xây dựng năng lực và hỗtrợ vốn nhà nước cho SME cũng là một trong những chiến lược cơ bản củaMalaysia
Thực hiện tín dụng ưu đãi
Ngoài các biện pháp ưu đãi về thuế, Chính phủ các nước còn hết sứcchú trọng đến các biện pháo ưu đãi về tín dụng cho các doanh nghiệp TrungQuốc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy, công xưởng khi
hỗ trợ vay vốn lãi suất chỉ từ 1-2% Những điều kiện đó nhằm giúp doanhnghiệp Trung Quốc có thể sản xuất ra những sản phẩm số lượng lớn với chi
phí rẻ nhất Hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy đổi mới thiết bị và công nghệ
Trang 12Chính phủ Hàn Quốc cho phép các DNNN giảm trừ khỏi thu nhập chịuthuế các chi phí đầu tư vào phát triển công nghệ và con người, các chi phí đàotạo nghề nghiệp, chi phí áp dụng công nghệ mới Các khoản thu nhập từchuyển giao công nghệ mới không phải tính vào thu nhập chịu thuế Chínhphủ cũng thành lập Công ty phát triển công nghiệp nhằm điều phối việc trợgiúp về tài chính và kỹ thuật cho các DNNN: lập và thực hiện chương trìnhhiện đại hóa, chương trình cho thuê trang thiết bị, hỗ trợ thành lập các DN.
- Hỗ trợ tài chính đẩy mạnh xuất khẩu
Ở các nước khác như: Nhật Bản, Ấn Độ, việc thực hiện hỗ trợ tín dụngcho xuất khẩu được thực hiện qua nhiều tổ chức của Nhà Nước như: Ngân HàngXuất nhập khẩu, quỹ bảo lãnh tín dụng, công ty bảo hiểm xuất khẩu
Như vậy mỗi quốc gia đều thực hiện một giải pháp tài chính riêng phùhợp với từng điều kiện kinh tế của mình nhằm hỗ trợ, ưu đãi về tài chính chocác DN từ đó giúp các DN nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong sảnxuất kinh doanh trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường quốc tế
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về việc sử dụng các biện pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Từ việc nghiên cứu các biện pháp tài chính được sử dụng ở một số nướctrên thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, có thểrút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:
- Để các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNN có thể phát triển mạnh mẽcần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước Trong đó, hỗ trợ tài chính đóng vai tròhết sức quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệpnâng cao khả năng cạnh tranh Hầu hết các nước phát triển cũng như đangphát triển, Nhà nước đóng vai trò to lớn trong việc hỗ trợ các doanh nghiệpphát triển, đồng thời có tác dụng gián tiếp tới việc thúc đẩy nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 13- Cần đa dạng hóa các biện pháp tài chính trong việc khuyến khích pháttriển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhằm giúp các doanhnghiệp vượt qua được những khó khăn, có khả năng tự phát triển và tăngcường khả năng cạnh tranh Ngoài hai biện pháp chủ yếu là ưu đãi thuế và tíndụng, cần sử dụng nhiều biện pháp tài chính khác để hỗ trợ Song điều quantrọng là phải xem xát mức độ tác động và hiệu quả của từng biện pháp.
- Khi sử dụng các biện pháp tài chính cần có sự phối hợp đồng bộ vàxem xét đến các tác động khác để đạt hiệu quả tổng thể Bên cạnh các biệnpháp vĩ mô của Nhà nước, các biện pháp vi mô của doanh nghiệp cũng đóngvai trò hết sức quan trọng Đây chính là các yếu tố thuộc về nội lực và có tácđộng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp Song phải tùy thuộc vào điều kiện và khả năng cụ thể của mỗi doanhnghiệp để có thể áp dụng các biện pháp sao cho phù hợp và có hiệu quả
- Để thực hiện có hiệu quả việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp cần thực hiện hỗ trợ tài chính theo những chương trình và mục tiêu cụthể thông qua các tổ chức hỗ trợ như: hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới, hỗtrợ cho việc phát triển công nghệ… nhằm tránh tình trạng phân tán, tùy tiện
Như vậy, cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều phải chấp nhận cạnhtranh và nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện quyết định sự tồn tại và pháttriển của mỗi doanh nghiệp Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp, trong đó tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng
Trang 14CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về các doanh nghiệp Việt Nam
2.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cótên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theoquy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:
- Hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội: sảnxuất, thương mại, dịch vụ…
- Các loại hình doanh nghiệp gồm có:
+ Doanh nghiệp Nhà nước
+ Công ty cổ phần
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty hợp danh
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Mỗi loại hình kinh doanh có những ưu, nhược điểm riêng, phù hợpvới quy mô và trình độ phát triển nhất định Trong đó, DNNN đóng vai tròchủ đạo, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển và có tầm quantrọng đặc biệt trong việc thực hiện các mục tiêu Kinh tế- xã hội của đất nước
Theo kết quả thống kê trên có gần 450.000 doanh nghiệp (tại thời điểm31/12/2010) trong đó doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm khoảng 96,5%, cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,5% còn lại là doanh nghiệp Nhà
Trang 15vừa và nhỏ, công nghệ đang sử dụng phần lớn là lạc hậu và không đồng bộ, trình
độ quản lý kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường
Trong những năm gần đây, hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
đã diễn ra tương đối phổ biến ở các doanh nghiệp, nhưng hầu hết vẫn mangtính chất manh mún, chồng chéo, thiếu sự hướng dẫn của Nhà nước và thườngtập trung ở các thành phố, khu công nghiệp lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
Với mục tiêu mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả của kinh tế đốingoại, củng cố thị trường đã có và mở rộng thêm thị trường mới Tạo mọiđiều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn công nghệ từ bênngoài Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thực hiện cam kết songphương và đa phương
Các doanh nghiệp đều nhận thấy rõ cơ hội và thách thức do hội nhập kinh tếmang lại Việc hàng hoá Việt Nam đững vững trên thị trường trong nước cũngnhư mở rộng thị trường xuất khẩu cũng sẽ rất khó khăn, vì vậy nâng cao chấtlượng và hiệu quả phát triển kinh tế, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, pháthuy các thế mạnh và các lợi thế của các sản phẩm trong nước phục vụ xuấtkhẩu, gắn với nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước trong lĩnh vựcsản xuất các loại sản phẩm hàng hoá
Dưới sự điều hành và chỉ đạo của Chính Phủ, đội ngũ doanh nghiệpViệt Nam tham gia thương trường thế giới ngày càng đông Sản phẩm của
Trang 16doanh nghiệp nào đó muốn có mặt trên thị trường quốc tế phải có sức mạnhthị trường, sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá Tính cạnh tranh của hàng hóathể hiện ở chất lượng, hình thức mẫu mã, bao bì đẹp, giá cả hợp lý phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng ưa chuộng và chấp nhận
2.2 Thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, đã có một số doanh nghiệp nước
ta nhờ có những định hướng phát triển đúng nên đã vươn lên nâng cao đượcnăng lực cạnh tranh, tạo ra những sản phẩm đẩy lùi hàng nhập ngoại và từngbước mở rộng xuất khẩu Bên cạnh đó còn hạn chế nhất định mà các doanhnghiệp Việt Nam đang đứng trước các thách thức lớn về năng lực cạnh tranh
- Về công nghệ: Trong những năm qua, có nhiều doanh nghiệp đã đánh
giá đúng vai trò của việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất nên đã cónhững quyết định đúng trong việc đầu tư công nghệ và thiết bị phù hợp, đạttrình độ công nghệ tiên tiến Từ đó, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt,giá thành hạ, không những đẩy lùi hàng ngoại trên thị trường trong nước màcòn có khả năng vươn ra thị trường khu vực và trên thế giới
Ngành cơ khí được coi là lạc hậu trước đây, nhờ quá trình đổi mới côngnghệ năng lực sản xuất đã tăng lên, đáp ứng được 60% nhu cầu máy nôngnghiệp trong nước, 25% máy loại nhẹ phục vụ nông nghiệp, 30% máy xâydựng và khai thác mỏ, 20% phương tiện vận tải Trong ngành sản xuất giàydép phần lớn tiến bộ công nghệ dựa vào việc sử dụng thành quả khoa họctrong chế tạo máy Máy thay thế bàn tay, sức lực của con người để thực hiệncác thao tác tinh xảo, sản xuất ra được nhanh những đôi giày sát với mẫu thiết
kế thời trang làm cho năng suất lao động tăng lên đột biến
Trang 17Thành công nhất trong quá trình đổi mới công nghệ phải kể đến nhữngngành, những doanh nghiệp phát triển công nghệ cao như: điện tử tin học,viễn thông, dầu khí, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…Tuy nhiênviệc đầu tư cho đổi mới công nghệ ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP,trong khi các nước công nghiệp phát triển khoảng 2% Khả năng tiếp thu côngnghệ của các doanh nghiệp của Việt Nam còn thấp so với các nước… Việcứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp Việt Nam chưa hiệuquả, các website của doanh nghiệp chưa đáp ứng được tham gia vào chuỗikinh doanh toàn cầu ,điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh vàđổi mới chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
-Về chất lượng sản phẩm: Đã có nhiều doanh nghiệp, nhờ tăng cường
đầu tư cải tiến kỹ thuật, nghiên cứu phát triển sản phẩm, thực hiện hệ thốngquản lý chất lượng quốc tế ISO 9000, 9002… làm cho chất lượng sản phẩmngày càng tăng, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và nhiều giải thưởng chất lượngquốc tế như: Tổng công ty Dệt may Việt Nam( Vinatex), Công ty cao su SaoVàng, Bóng đèn Điện Quang…
Tuy nhiên các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam có hàm lượng trithức và công nghệ thấp, chủ yếu dựa vào lợi thế lao động (như gạo, thuỷ sản)hoặc điều kiện tự nhiên Thực tế là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa cóchiến lược kinh doanh, chưa chú ý đến công tác nghiên cứu và phát triển nênchỉ dành 0,2% đến 0,3% doanh thu cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.phần lớn các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam chưa có tính độc đáo,luôn đi sau các nước khác về kiểu dáng, tính năng, giá trị gia tăng sản phẩmtrong tổng giá trị của sản phẩm thấp, năng suất lao động thấp, chất lượng sảnphẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
- Về vốn của doanh nghiệp: Đa phần các doanh nghiệp đang hoạt động
trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
Trang 18đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường trongnước và quốc tế Theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm
2012 cho thấy, vốn bình quân của một doanh nghiệp ở nước ta khoảng 26,69
tỷ đồng/doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước có vốn bình quân cao nhấtvới 550,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước (baogồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ) có mức vốn 9,8 tỷ đồng/doanh nghiệp,công ty cổ phần (không có vốn nhà nước) là 24,4 tỷ đồng/doanh nghiệp Mức vốn thấp của doanh nghiệp cản trở đến khả năng đổi mới công nghệ vànâng cao trình độ quản trị các yếu tố sản xuất, hạn chế mở rộng nghiên cứuphát triển sản phẩm mới và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuậtcao của doanh nghiệp Mặt khác, trong môi trường toàn cầu hoá kinh tế, việckhông ngừng nâng cao tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng như mức độ chế tác củahàng xuất khẩu cũng phản ánh khả năng cạnh tranh kinh doanh và cạnh tranhnhân lực của doanh nghiệp Theo số liệu của VCCI ( Phòng thương mại vàcông nghiệp Việt Nam) về năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp, hiện naymới chỉ có khoảng 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanhnghiệp có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khảnăng tham gia xuất khẩu Xét về cơ cấu xuất khẩu có tới 60% hàng xuất khẩu
là nông sản, thuỷ sản và chỉ có 40% là hàng công nghiệp, chủ yếu vẫn là xuấtkhẩu nguyên liệu thô, hoặc mới qua sơ chế, sử dụng công nghệ có giá trị thấp.Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp đã quan tâm đến đa dạng hoá mẫu mãkiểu dáng sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu hàng hoá, dịch vụ, nângcao chất lượng nguồn nhân lực, nhưng chất lượng hàng hoá, dịch vụ của ViệtNam vẫn thấp, chưa thâm nhập hàng loạt được vào các thị trường có yêu cầuchất lượng cao Đồng thời, do hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có hàm lượngkhoa học, tri thức thấp nên chưa có tác động lớn đến mở rộng nhân lựcchuyên môn kỹ thuật cao trong các doanh nghiệp, đặc biệt là nhân lực của các
Trang 19doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Về nhân lực trong các doanh nghiệp: Lao động là một lợi thế cạnh
tranh của Việt Nam bởi chi phí lao động rẻ, tuy nhiên, năng suất lao động chỉ
ở mức thấp, chủ yếu là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệpcòn kém Do đó chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp Trong đó, đặc biệt là ở doanh nghiệp các ngành côngnghiệp chế biến, thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch, nông nghiệp
có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo rất cao, có thể thấy một số tình hình trênqua biểu dưới đây (điều tra thực trạng doanh nghiệp năm 2012, TCTK):
Bảng 2.1 : Cơ cấu lao động của doanh nghiệp theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật trong từng ngành (%)
Ngành
Tiến sỹ Thạc sỹ Cử
nhân, kỹ sư
Cao đẳng
Trung học chuyên nghiệp
Công nhân kỹ thuật
Chưa qua đào tạo
Trang 20sản và tư vấn
Giáo dục và đào
tạo
0,50 1,31 20,00 24,09 40,09 3,69 10,32
Nhìn chung, trong các doanh nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyênmôn kỹ thuật còn thấp, thiếu nhân lực chuyên môn kỹ thuật trình độ cao
- Về năng lực quản lý và điều hành của doanh nghiệp: Đối với các doanh
nghiệp Nhà nước, việc tổ chức quản lý còn quá cồng kềnh so với doanhnghiệp ngoài Nhà nước, nhiều ban, bệ, nhiều thủ tục hành chính rườm rà chưađược sửa đổi đã làm cho doanh nghiệp không thể năng động, linh hoạt, đápứng kịp thời yêu cầu của thị trường Trình độ cán bộ quản lý thấp, hạn chếtrong tiếp cận với những kiến thức, phong cách quản lý hiện đại, đặc biệt kinhnghiệm giao dịch xuất nhập khẩu, nghiên cứu tiếp cận với thị trường thế giớicủa cán bộ còn thấp Thiếu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao
Hiện nay các mảng lớn của quản trị doanh nghiệp là quản trị marketing,quản trị hoạt động (operation), quản trị tài chính (finance) và quản trị nhânlực (human resource) còn có nhiều bất cập Trong đó, đặc biệt là hạn chế củacác doanh nghiệp về khả năng phân tích, đánh giá thực trạng tài chính, nguồnnhân lực, thị trường, hạch toán đầu vào, đầu ra và xây dựng các quyết địnhkinh doanh ngắn hạn, dài hạn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì trình
độ, năng lực tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị doanh nghiệp có hạnchế rất lớn, nhiều doanh nghiệp chưa có chiến lược nâng cao quản trị doanhnghiệp Bên cạnh đó, hiện nay trình độ của giám đốc điều hành doanh nghiệptrong nền kinh tế còn có nhiều bất cập, có thể thấy ở bảng sau đây:
Trang 21Bảng 2.2: Trình độ giám đốc theo loại hình doanh nghiệp, đơn vị %
so tổng số của từng loại hình doanh nghiệp
Tiến sỹ Thạc sỹ Cử
nhân, kỹ sư
Cao đẳng
Trung học chuyên nghiệp
Công nhân kỹ thuật
Chưa qua đào tạo
Nguồn: Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Đáng lưu ý là trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, tỷ lệ giám đốc cótrình độ đại học trở lên còn thấp (31,8%), tỷ lệ giám đốc chưa qua đào tạochuyên môn kỹ thuật rất cao (43,4%) Ngoài ra, trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ một bộ phận lớn giám đốc điều hành doanh nghiệp có hạn chế lớn vềcác mặt: kiến thức quản trị doanh nghiệp hiện đại, phát triển kinh doanh theomạng (network marketing), trình độ tin học và ngoại ngữ, khả năng làm việcvới áp lực lớn về không gian và thời gian… ảnh hưởng lớn đến tính năngđộng, hiệu quả kinh doanh và cải cách, cơ cấu lại doanh nghiệp
2.2.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua
2.2.2.1 Các biện pháp tài chính vĩ mô của Nhà nước
a Giải pháp về thuế đối với doanh nghiệp
Nước ta đã hoàn thành việc cải cách thuế bước 1 năm 1990 Hệ thốngthuế cải cách với cơ chế linh hoạt được ban hành kịp thời, phù hợp đặc điểmtình hình kinh tế- xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đầu chuyển sang nềnkinh tế thị trường Tuy nhiên, sau 9 năm thực hiện các luật thuế, hệ thống thuếcải cách bước 1 còn bộc lộ những hạn chế nhất định Để khắc phục những tồntại của hệ thống thuế và từng bước phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong
Trang 22giai đoạn mới, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định cải cáchthuế bước 2 Cải cách thuế bước 2 đã được thực hiện bằng việc thay thế LuậtThuế doanh thu bằng Thuế GTGT, Thuế Lợi tức bằng Thuế TNDoanhnghiệp Các luật thuế này được chính thức áp dụng từ ngày 1/1/1999 và có ýnghĩa rất lớn trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp nângcao năng lực cạnh tranh
- Thuế đã góp phần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp: Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã gópphần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuấtphát triển và đẩy mạnh xuất khẩu.Luật Thuế GTGT đã tạo điều kiện cho giáthành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trướcđây do toàn bộ Thuế GTGT của công trình xây dựng cơ bản được hạch toánriêng chứ không tính vào giá thành công trình như Thuế doanh thu trước đây,
từ đó đã làm giảm chi phí khấu hao tài sản cố định và hạ giá thành sản phẩm
- Thuế góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trongnước: theo quy định của Luật thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vậntải quốc tế được hưởng thuế suất 0%, tức là được hoàn toàn bộ số ThuếGTGT đã nộp ở đầu vào, thực chất đây là việc trợ giá của Nhà nước cho hànghóa xuất khẩu, bởi vậy đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng hóaxuất khẩu Do các đối tác đều áp dụng Thuế GTGT nên việc thay Luật thuếdoanh thu bằng Luật thuế GTGT đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ViệtNam có cùng mặt bằng cạnh tranh với các đối tác nước ngoài Do vậy ThuếGTGT chính là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnhtranh và khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng tạo điều kiện rất lớn cho cácdoanh nghiệp Việt Nam: Các doanh nghiệp sẽ được miễn thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu, miễn thuế lần đầu đối với hàng hóa là trang thiết bị nhập khẩu theo
Trang 23danh mục quy định của Chính phủ Những chính sách này đã tạo điều kiện giúpcác doanh nghiệp giảm chi phí, hạ giá thành và tăng năng lực cạnh tranh củahàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc thường xuyên điều chỉnh thuế suất Thuế nhập khẩu theo hướngnhững sản phẩm trong nước sản xuất được thì có mức thuế suất cao còn đối vớinhững vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị mà trong nước chưa sản xuất đượcthì có mức thuế suất thấp hơn đã có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước, khuyếnkhích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệptrong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa
- Thuế đã tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp và từng bước phù hợpvới thông lệ quốc tế
Với việc điều chỉnh sắp xếp lại từ 11 mức thuế suất Thuế doanh thuxuống còn 3 mức Thuế GTGT và từ 3 mức thuế suất Thuế lợi tức xuống còn 1mức thuế suất Thuế TNDN Từ đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu sắpxếp lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiệnđược mức thuế suất đã quy định Đặc biệt đã tạo ra được sự bình đẳng, thúc đẩy
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau Đồng thời việc áp dụng Luật thuếGTGT và Thuế TNDN đã góp phần làm cho chính sách thuế của Việt Nam từngbước tương đồng và phù hợp với thông lệ quốc tế, giúp cho việc mở rộng quan
hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc áp dụng hệ thống thuế hiện hànhvẫn còn những tồn tại cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
- Trong từng sắc thuế còn chứa đựng tính thiếu ổn định, không côngbằng và chưa thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
+ Luật thuế GTGT được ban hành năm 2007 và có hiệu lực thi hành từngày 1/1/2009 Tuy có 2 năm chuẩn bị nhưng khi thực hiện vẫn còn nhiều
Trang 24vướng mắc phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, làm cho các doanh nghiệp khónắm bắt kịp thời Đặc biệt, hiện nay vẫn còn tồn tại hai phương pháp tính thuếkhác nhau( phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp), dẫn đến sựkhông công bằng giữa các Doanh nghiệp khi tính thuế phải nộp theo cácphương pháp khác nhau.
+ Sự thường xuyên thay đổi thuế suất của biểu Thuế nhập khẩu phảnánh chính sách Thuế nhập khẩu của Việt Nam mang tính đối phó ngắn hạn,gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc xác định chủ trương và chiếnlược kinh doanh lâu dài
- Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làmmất tính tập trung của thuế do một số chính sách xã hội được đưa vào chínhsách miễn giảm thuế như: doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụngnhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêmcho lao động nữ Một số hàng hóa phục vụ an ninh, quốc phòng, giáo dục đàotạo được miễn thuế nhập khẩu… Những quy định miễn giảm như vậy dễ dẫnđến hiện tượng lợi dụng để trốn thuế, lậu thuế, ảnh hưởng đến trật tự côngbằng xã hội
- Hệ thống chính sách còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế do biểu Thuế nhập khẩu của nước ta so với các nước là tương đối phức tạp
và không phù hợp với quy định của WTO
- Việc quy định đối tượng, phạm vi áp dụng và các mức thuế suất ThuếGTGT còn nhiều bất cập Luật thuế GTGT hiện hành quy định 28 nhóm hànghoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, sẽ không còn phù hợp trong quá trìnhphát triển kinh tế xã hội do không đảm bảo tính liên hoàn trong việc khấu trừthuế đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp
Về thuế suất thuế GTGT thì năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT,ngoài thuế suất 0%, còn có 3 mức thuế suất: 5%, 10 % và 20% Từ ngày 1
Trang 25tháng 4 năm 2004; áp dụng Luật sửa đổi bổ sung : bỏ thuế suất 20%, chỉ còn
2 thuế 5% và 10% Trong đó 5 % là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đốivới hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhucầu thiết yếu của người dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trướcnhững khó khăn của nền kinh tế, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được
mở rộng và chưa theo đúng nguyên tắc nêu trên Từ đó dẫn đến doanh nghiệpsản xuất, kinh doanh một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất này khôngnhững không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước,
do đó, cần thiết rà soát lại diện áp dụng mức thuế suất 5% để phù hợp vớithực tiễn Mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất 5%
và 10% chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất,nảy sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện
Luật thuế GTGT hiện hành quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGTđầu vào là hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ Thực tiễn quản lý thuế thờigian qua cho thấy quy định nêu trên chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, dễ bị lợidụng khấu trừ khống hoặc hoàn thuế khống thông qua việc sử dụng hoá đơnghi chép không trung thực
b.Các giải pháp về điều hành giá.
Thứ nhất: Chính sách lãi suất
Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tậptrung, tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linhhoạt, từng bước tự do hóa, hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu Thời gianqua, cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản, nhất là từ khi hệthống ngân hàng hai cấp được thiết lập
Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăngcao ngay từ đầu năm 2008, NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sửdụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở làm cho chi
Trang 26phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hànhsản xuất, kinh doanh trong năm 2008, do đó làm tăng chi phí sử dụng vốn dẫnđến tăng giá thành sản phẩm, giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa nước tatrên thị trường quốc tế.
Tháng 12 năm 2009, lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh cao nhất12%, nhưng do vẫn còn hỗ trợ lãi suất nên phần thực trả của doanh nghiệp chỉkhoảng 8% một năm
Cơ chế điều chỉnh lãi suất một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý củangười làm chính sách, cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu – phân tíchvào đầu năm 2010 NHNN, ngày 26-2-2010, đã ra quyết định cho phép cácngân hàng thỏa thuận lãi suất cho vay trung và dài hạn (có kỳ hạn trên 365ngày) với doanh nghiệp
Bước sang năm 2011, kinh tế khó khăn, Chính phủ thực hiện thắt chặttín dụng Khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh kéo dài Đối vớinhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, dù lãi suất cao hay thấp họ cũng không thểtiếp cận được vì đa số các điều kiện về sổ sách, tài sản, thị trường của cácdoanh nghiệp này khó đáp ứng được mức tín nhiệm của ngân Chỉ có doanhnghiệp lớn mới tiếp cận được
Năm 2012 Chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, Ngân hàng Nhà nướcliên tiếp hạ trần lãi suất huy động VND, từ 14%/năm xuống còn 9%/năm Cơchế áp trần cũng thay đổi, mở tự do hóa lãi suất từ kỳ hạn 12 tháng trở lên
Bảng 2.3: Mức độ biến động lãi suất hàng năm
Trang 27cá nhân tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Thứ hai: Chính sách tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia Diễn biến của tỷ giá giữa USD với Euro, giữa USD/JPYcũng như sự biến động tỷ giá giữa USD/VND trong thời gian qua cho thấy,
tỷ giá luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm Đối với các Doanh nghiệp thì Sựbiến động tỷ giá có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất, nhập khẩu và từ đóảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như năng lựccạnh tranh của các Doanh nghiệp Việt Nam Trong thời gian qua động tỷ giá
đã có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
và từ đó ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Việt Nam đã lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết Trong quá trìnhhội nhập vào nền kinh tế thế giới, trên nền tảng cơ chế tỷ giá đã lựa chọn, việcđiều hành chính sách tỷ giá phải theo hướng ngày càng linh hoạt hơn NHNNđang thực thi lộ trình linh hoạt hóa tỷ giá qua nhiều bước NHNN đã 2 lầnđiều chỉnh nhẹ biên độ vào năm 2007, 3 lần điều chỉnh vào năm 2008 và 2 lầnvào năm 2009 Theo đó, tỷ giá ngày càng được nới lỏng, điều chỉnh theo địnhhướng thị trường
Năm 2010, NHNN đã 2 lần tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng, mứctăng lần lượt là 3,3% (ngày 10/02/2010) và 2,09% (ngày 18/08/2010) Lầnđiều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng này là mức tăng cao nhất trong lịch sử, gần
Trang 28với mức tăng của cả một năm so với những năm trước đó
Hai lần điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng năm 2010 dẫn đến
sự biện động mạnh mẽ của tỷ giá vào cuối năm 2010 Sự biến động này đượcchuyển tiếp sang năm 2011
Năm 2011: Ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng tỷ giá mạnh với9,3% đi cùng với việc siết biên độ từ +/-3% xuống còn +/-1% Đợt điều chỉnhnày gây ra một chuỗi tăng dồn dập 14 lần liên tiếp của tỷ giá bình quân liênngân hàng Ngân hàng Nhà nước cam kết điều chỉnh tỷ giá USD/VND đếncuối năm không quá 1%
Bằng việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, nhập siêu đãgiảm rất mạnh tính đến hết năm 2011 Nhập siêu cả năm 2011 là 9,844 tỷUSD, giảm khoảng 22% so với năm 2010 và bằng 10,15% kim ngạch xuấtkhẩu cùng thời kỳ
Dự đoán NHNN sẽ hạ giá đồng Việt Nam 2-3% trong năm 2013 và tỷgiá USD/VND sẽ đạt mức 21,000 đồng trong quý 4/2013
Biểu đồ 2.1:: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại
4 tháng giai đoạn 2008-2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan
c Các giải pháp hỗ trợ và tạo điều kiện về vốn đầu tư cho đổi mới thiết bị và
Trang 29công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
Trong những năm qua, Chính phủ đã thực hiện việc hỗ trợ vốn và tạođiều kiện cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn đầu tư thông qua cácbiện pháp cụ thể:
Một là: Nhà nước đã áp dụng chính sách cho phép doanh nghiệp trích10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư vào các hoạt động đổi mới công nghệ.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp KH&CN cũng được hưởng mức thuế suất ưuđãi nếu đáp ứng được những tiêu chí về mức doanh thu và tỷ trọng hàm lượngsản phẩm KH&CN
Hai là: Thành lập Công ty tài chính trong các Tổng công ty để huyđộng các nguồn vốn từ các đơn vị thành viên trong Tổng công ty và từ bênngoài để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh cũng như vốn đầu tư cho cácthành viên của Tổng công ty Đồng thời cũng cho phép thành lập và phát triểncác Công ty cho thuê tài chính để tạo nguồn tín dung đầu tư và tăng tiềm lựctài chính cho các Doanh nghiệp
Ba là: Bộ tài chính đã công bố các nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệptrong đó có nhóm giải pháp tài chính vĩ mô Nhóm giải pháp điều hành vĩ môtập trung ở việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt;tùy theo tình hình thanhkhoản của hệ thống ngân hàng và chỉ số giá tiêu dùng để hạ nhanh lãi suấthuy động và lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn;
cơ cấu lại tín dụng ưu tiên vốn tín dụng phục vụ các lĩnh vực nông nghiệp,nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ…
Thứ tư: Chính phủ đã ban hành những nghị định quan trọng nhằmkhuyến khích việc đầu tư phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ trong cácdoanh nghiệp.Bên cạnh đó,còn có các văn bản dưới luật do Bộ Khoa học vàCông nghệ và các Bộ ngành liên quan ban hành và các hoạt động khác nhằmthúc đẩy phát triển KH&CN nói chung, đổi mới công nghệ trong doanh
Trang 30nghiệp nói riêng như xây dựng cơ sở dữ liệu về KH&CN, tổ chức các chợcông nghệ và thiết bị…
Nhìn chung, trình độ công nghệ các DN còn thấp, hoạt động đổi mới côngnghệ chưa trở thành yếu tố cạnh tranh, quyết định sự phát triển của doanhnghiệp và các ngành, các lĩnh vực Phần lớn doanh nghiệp nước ta vẫn đang
sử dụng công nghệ lạc hậu từ hai đến ba thế hệ so với mức trung bình của thếgiới Không chỉ có các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nhà nước
có quy mô hoạt động lớn cũng chưa thật sự quan tâm, đầu tư thỏa đáng đổimới công nghệ Với thực trạng về trình độ và quá trình đổi mới công nghệnhư vậy, các doanh nghiệp nước ta chưa đủ năng lực để sản xuất tạo sảnphẩm có giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh cao
2.2.2.2 Các biện pháp tài chính của doanh nghiệp
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường Đặc biệttrong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới thì hầu hết các doanh nghiệp đềuxác định: muốn tồn tại thì không có cách nào khác là phải không ngừng vươnlên bằng chính sức mình để có thể tự đứng vững và từng bước phát triển Bởivậy trong những năm qua, các doanh nghiệp đã thực hiện nhiều biện pháp,đặc biệt là các biện pháp về tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củamình trên thị trường trong nước và quốc tế
a.Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị
và công nghệ hiện đại, phù hợp nên đã phát huy được lợi thế so sánh và nângcao hiệu quả đầu tư Một số Doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đầu tư chiềusâu để hiện đại hóa công nghệ, thiết bị nâng cao chất lượng, hạ giá thành sảnphẩm, đáp ứng được yêu cầu của ngành, từng bước thay thế hàng nhập khẩu
và mở rộng xuất khẩu như: Công ty cổ phần Thép Hương Thịnh, xã Hoàng