1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

146 328 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngân Hàng Ngoại Thương Lào Trong Điều Kiện Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế 1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới,

là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau Theo cách hiểu này, hội nhập kinh

tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lới giao thông, thúc đẩy lu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi

Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau Khái niệm này đợc Besla Balassa

đề xuất từ thập niên 1960 và đợc chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện hợp

đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trờng từng nớc với thị trờng khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu

Hội nhập kinh tế có thể là song phơng - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phơng - tức là có quy mô toàn thế giới giống nh những gì mà Tổ chức Thơng mại Thế giới đang hớng tới

Về cấp độ hội nhập thờng đợc phân chia thành sáu cấp độ: khu vực / hiệp định

Trang 2

-thơng mại u đãi, khu vực / hiệp định -thơng mại tự do, liên minh thuế quan, thị trờng chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện

Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn Trong đó:

Thỏa thuận thơng mại u đãi, là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế,

theo đó các quốc gia tham gia hiệp định dành các u đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định Một ví dụ về thỏa thuận thơng mại u đãi là Hiệp đinh

về Thỏa thuận Thơng mại Ưu đãi ASEAN đợc ký kết tại Manila năm 1977 và

đ-ợc sửa đổi năm 1995; hay Khu vực Thơng mại Ưu đãi Đông và Nam Phi tồn tại

từ năm 1981 đến năm 1994; hay nh các hiệp định dành u đãi thơng mại (hay tối huệ quốc) mà một số nớc phát triển có thể dành cho các nớc đang phát triển

Hiệp định thơng mại tự do, là hiệp định theo đó các nớc ký kết cam kết

bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần nh tất cả hàng hóa của nhau Có thể có những dòng thuế sẽ đợc bãi bỏ chậm hơn; và ngời ta th-ờng đa các dòng thuế này vào “danh sách nhạy cảm” Chỉ một số ít dòng thuế

sẽ không đợc bãi bỏ và đợc liệt kê trong “danh sách loại trừ” Quy tắc xuất sứ là một phần quan trọng của các hiệp định thơng mại tự do nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa đợc sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở một tỷ lệ nhất định tại các nớc thành viên hiệp định mới đợc buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nớc không tham gia hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chỉ lắp ráp tại một nớc tham gia hiệp định mà có thể xuất khẩu sang nớc còn lại của hiệp định không phải chịu thuế

Một hiệp định thơng mại tự do nổi tiếng đợc thành lập từ năm 1960, đó là Hiệp hội Thơng mại Tự do Châu Âu Sau những bế tác của đàm phán tự do hóa thơng mại đa phơng trong khuôn khổ GATT, các hiệp định thơng mại tự do

Trang 3

song phơng (giữa hai nớc) và khu vực xuất hiện ngày càng nhiều từ giữa thập niên 1990 Và trong số những quốc gia hăng hái nhất trong việc ký kết các hiệp

định thơng mại tự do song phơng phải kể đến Mexico, Singapore Những khu vực thơng mại tự do nổi tiếng mới thành lập từ thập niên 1990 điển hình là Hiệp

định Thơng mại Tự do Bắc Mỹ (thành lập năm 1994), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (hiệp định đợc ký kết vào năm 1992) Ngoài ra, còn có những hiệp định thơng mại tự do giữa một nớc với cả một khố, nh Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế ASEAN – Trung Quốc (ký kết vào năm 2002)

Do xóa bỏ gần nh hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lập một hiệp định thơng mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thơng thảo Những nớc hăng hái với tự do hóa thơng mại có thể thỏa thuận tiến hành chơng trình giảm thuế quan sớm (còn gọi là chơng trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuế trớc khi đàm phán kết thúc và hiệp

định đợc thành lập

Hiệp định đối tác kinh tế, là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp định

thơng mại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thơng mại hàng hóa thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan lại còn bao gồm cả tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu t, thúc đẩy thơng mại điện tử giữa các nớc ký kết hiệp định

Nhật Bản là quốc gia có xu hớng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trờng của nớc đối tác Hiện Nhật Bản đã ký kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phơng và một hiệp

định đối với ASEAN (AJCEP), đang đàm phán để đi tới ký kết 5 hiệp định khác (Hàn Quốc, ấn Độ, Việt Nam, úc, Thụy Sĩ), có 15 quốc gia, lãnh thổ và khu vực đang có nguyện vọng đàm phán và ký kết hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản

Thị trờng chung có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và

liên minh thuế quan, cộng thêm các yếu tố nh tự do di chuyển các yếu tố sản

Trang 4

xuất (vốn, lao động) giữa các nớc thành viên Một thị trờng chung nh vậy đã từng đợc thành lập ở châu Âu vào năm 1957 theo Hiệp ớc Rome và mất một thời gian dài mới hoàn thành mục tiêu Khối ASEAN cũng đã thỏa thuận sẽ thực hiện đợc mục tiêu một thị trờng chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toàn khối vào năm 2020 trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN.

Liên minh thuế quan, đây có thể hiểu là một khu vực thơng mại tự do

giữa các nớc thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nớc thành viên

đối với hàng hóa từ ngoài khu vực Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh đợc những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhng lại làm này sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nớc thành viên

Liên minh kinh tế và tiền tệ, hội nhập kinh tế đến cấp độ này tạo ra một

thị trờng chung giữa các nền kinh tế (không còn hàng rào kinh tế nào nữa) với

một đơn vị tiền tệ chung Ví dụ rõ nhất về cấp độ liên minh này là Khu vực

đồng Euro Các khu vực đợc thành lập với mục tiêu trở thành liên minh kinh tế nhng cha hoàn thành đợc mục tiêu này gồm: Cộng động Kinh tế Tây Phi, Cộng

đồng Caribe (tiền thân là Cộng đồng và Thị trờng Chung Caribe) Trong các liên minh từng tồn tại nhng nay không còn có Liên minh Bỉ – Luxembourg

Trong lịch sử đã từng có những khu vực dụng một đơn vị tiền tệ chung,

nh Liên minh Tiền tệ Latinh hồi thế kỷ 19, nhng họ cha xây dựng đợc một thị trờng chung nên không gọi đó là liên minh kinh tế và tiền tệ Lại có một số nớc hay khu vực khác làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình, nhng giữa họ không

có một thị trờng chung, nên không gọi là liên minh kinh tế – tiền tệ Hiện nay, tuy Anh đã tham gia Liên minh châu Âu, nhng vì Anh vẫn giữ đơn vị tiền tệ riêng là đồng Bảng Anh, nên Anh không tham gia liên minh kinh tế tiền tệ ở Châu Âu Với một đơn vị tiền tệ chung, các nớc thành viên sẽ phải từ bỏ quyền thực thi chính sách tiền tệ riêng của mình, mà thay vào đó là một chính sách tiền tệ chung của toàn khối do một ngân hàng trung ơng chung của khối đó thực

Trang 5

hiện, nh trờng hợp của ngân hàng trung ơng Châu Âu Khi mà ngay cả chính sách tài chính cũng đợc thực hiện chung, hội nhập kinh đạt đến độ hoàn toàn.

1.1.1.2 Xu hớng tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển Xu hớng này ngày càng hình thành rõ nét, đặc biệt là nền kinh tế thị trờng đang trở thành một sân chơi chung cho tất cả các nớc; thị trờng tài chính đang mở rộng phạm vi hoạt động gần nh không biên giới, vừa tạo điều kiện cho tăng cờng hợp tác, vừa làm sâu sắc và gay gắt thêm quá trình cạnh tranh

Đối với các quốc gia đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổi, yêu cầu hội nhập kinh tế càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa; nó đòi hỏi các quốc gia này không thể đứng ngoài tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trên tất cả các mặt nếu muốn thành công trong phát triển kinh tế Xu hớng hội nhập kinh

tế quốc tế đòi hòi các quốc gia trên thế giới phải tham gia trên thế giới phải tham gia ngày một sâu rộng hơn vào các giao lu kinh tế quốc tế, đặc biệt về th-

ơng mại, tài chính, đầu t và việc tham gia vào các cơ chế kinh tế - thơng mại quốc tế ở quy mô toàn cầu và khu vực

Hội nhập kinh tế sẽ mang lại những lợi ích căn bản, lâu dài nhất là đối với những quốc gia có khả năng điều chỉnh cơ cấu kinh tế và các chính sách thích hợp Nó cũng sẽ tạo ra cơ hội để các nớc có thể cùng hợp tác, thống nhất tạo sức mạnh đủ sức cạnh tranh và đàm phán với các quốc gia lớn, ngăn ngừa đ-

ợc khả năng bị chèn ép, bị cô lập trong đàm phán – thực hiện thơng mại và đầu

t quốc tế Qua đó, vị thế quốc gia sẽ ngày càng đợc nâng cao Đây cũng chính là

lý do căn bản mà phần lớn các nớc, các tổ chức kinh tế khu vực, thế giới cam kết thúc đẩy quá trình cải cách phát triển kinh tế gắn với hội nhập quốc tế Song song với những lợi ích và cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra, các quốc gia cũng sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ, thác thức đặc biệt trong vấn đề áp lực cạnh

Trang 6

tranh ngày càng cao ngay cả trển thị trờng trong từng nớc Đấy chính là động lực quan trọng để thức đẩy các doanh nghiệp trong nớc phải cơ cấu lại sản xuất, nâng cao trình đội quản lý và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Thực tế, đã có không ít quốc gia thành công sau quá trình hội nhập và đã trở thành những nớc công nghiệp mới (NICs–New Industry Countries) nhờ tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, họ cũng đã phải đối mặt và chịu nhiều thiệt thòi trớc những nguy cơ thách thức trong giai doạn đầu của quá trình hội nhập Việc áp dụng các nguyên tắc của Tổ chức th-

ơng mại thế giới (WTO) hay thực hiện các hiệp định thơng mại song phơng, đa phơng đòi hỏi các nớc, nhất là các nớc đang phát triển, phải điều chỉnh sâu sắc các chính sách kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và điều chỉnh cơ cấu kinh

tế cho phù hợp Thực tế cho thấy, càng tích cực và chủ động nhập nhập bao nhiêu thì các chi phí và thua thiệt trong giai đoạn đầu hội nhập càng thấp so với việc kéo dài quá trình hành động

Hội nhập kinh tế quốc tế luôn song hành với hai mặt: đợc và mất Tuy nhiên, không một quốc gia nào đợc tất cả và cũng không một quốc gia nào mất tất cả, chỉ có một tình huống chắc chắn mất hết đó là co mình lại, đóng cửa và

cự tuyệt, khớc từ với xu hớng hội nhập

1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mở cửa để đa

hệ thống ngân hàng trong nớc hòa nhập với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi một nớc, một khu vực mà mở rộng trên phạm vi toàn cầu

Hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thị trờng và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, hoạt động ngân hàng đợc thực hiện theo tín hiệu thị tr-

Trang 7

ờng mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính, lãi suất, tỷ giá, hoạt động tín dụng do thị trờng quyết định.

Quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng có thể hiểu là quá trình cải cách từng bớc hệ thống ngân hàng xuất phát từ yêu cầu thực tế của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế quốc gia, vì có nh vậy hệ thống ngân hàng mới có thể

đảm nhiệm và phát huy đợc vai trò trung gia tài chinh của mình trong bối cảnh nền kinh tế mới với nhiều biến động phức tạp của thị trờng quốc tế nói chung và thị trờng nội địa nói riêng

Thực hiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi chính phủ

và ngân hàng nhà nớc phải xóa bỏ những u đãi, tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng trong và ngoài nớc Do đó, mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ tự do hóa tài chinh - tiền tệ Việc thực hiện tự do hóa tài chính - tiền tệ càng sâu rộng có hiệu quả thì việc hội nhập ngân hàng càng thuận lợi

Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn phát triển của các nền kinh tế thế giới để khẳng định rằng: một quốc gia muốn tồn tại, phát triển ổn định và bền vững cần phải chủ động hội nhập quốc tế, đặc biệt là chủ động hội nhập thành công lĩnh vực tài chính ngân hàng – lĩnh vực nhạy cảm và trọng yếu của nền kinh tế quốc dân

1.1.2.2 Xu hớng của quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng của một nền kinh tế đợc thể hiện thông qua mức độ mở cửa về hoạt động ngân hàng giữa nền kinh tế đó với cộng

đồng tài chính, tiền tệ khu vực và quốc té Mức độ mở cửa hội nhập quốc tế về hoạt động ngân hàng là mức độ quan hệ giao lu về ngân hàng (gồm các quan hệ tín dụng, tiền tệ và dịch vụ ngân hàng) của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới, là quá trình tự do hóa khu vực tài chính tiền tệ, tín dụng ngân hàng, tháo dỡ các rào cản ngăn cách khu vực này với phần còn lại của thế giới

Trang 8

Từ những năm 1970, nền kinh tế thế giới chuyển sang một mô hình phát triển mới Điều đó là do sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thị trờng toàn cầu mở rộng và chủ nghĩa t bản quốc tế phát triển Tốc độ giao dịch tiền tệ hiện nay đã lớn hơn nhiều so với hoạt động thơng mại hàng hóa Năm 1995, trao đổi ngoại tế đã gấp hơn 70 lần so với thơng mại quốc tế về hàng hóa Những hạn chế về công nghệ đã giảm, giao dịch vốn và dịch vụ tài chính

đợc tiến hành thuận lợi hơn nhờ những tiến bộ nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ thông tin Trong khi đó, các giao dịch về hàng hóa vẫn bị hạn chế do chậm thay đổi hơn về phơng pháp chế tạo, phân phối và lu chuyển Thêm vào đó, sự thay đổi trong tổ chức tài chính trong nớc và quốc tế đã làm tăng mức biến động

về tài chính quốc tế và khả năng hàng hóa tài chính Cùng với việc phá vỡ chế

độ tỷ giá hối đoái cố định của hệ thống Bretton Woods vào đầu những năm

1970, mục tiêu căn bản của hoạt động trao đổi ngoại tệ đợc chuyển từ các giao dịch tiền tệ phục vụ thơng mại hàng hóa sang trao đổi tiền tệ với t cách là hàng hóa Số lợng các nớc bắt đầu mở cửa thị trờng, nới lỏng cơ chế kiểm soát vốn và trong lĩnh vực tài chinh ngày càng tăng

Tính lu động ngày một cao hơn của vốn quốc tế, việc toàn cầu hóa các thị trờng tài chính và sự phát triển của các công cụ tài chính mới khiến một chính sách tài chính đóng trở nên rất tốn kém và ít hiệu quả Thực tế đã bắt các nớc

đang phát triển tiến tới thị trờng tài chính mở và hội nhập hơn với những mức

độ khác nhau Hội nhập hoạt động tài chính trong nớc ra quốc tế có những u thế nhất định đối với tất cả mọi nớc Cạnh tranh nớc ngoài buộc các tổ chức tín dụng trong nớc phải hoạt động hiệu quả hơn và mở rộng phạm vi cung cấp dịch

vụ Nó cũng đẩy nhanh sự chuyển giao công nghệ tài chính, điều đặc biệt quan trọng đối với các nớc đang phát triển Những nớc thành công trong việc hội nhập hệ thống ngân hàng vào thị trờng thế giới có thể tiếp cận nhiều hơn với vốn và các dịch vụ tài chính nh hoán đổi và cho phép đa dạng hóa rủi ro

Trang 9

Có thể cho thấy rằng, hội nhập quố tế và hợp tác quốc tế đã trở thành trào

lu và xu hớng tất yếu lan rộng đến tất cả các nớc trên thế giới với tốc độ và quy mô ngày một tăng nhanh Với việc xác lập một đồng tiền chung, một siêu ngân hàng trung ơng và xóa bỏ hoàn toàn những hạn chế về tài chính giữa các nớc trong khu vực, có thể nói, Châu Âu đã trở thành ngời đi tiên phong trong quá trình hội nhập ngân hàng, tài chính ở cấp khu vực Trên phạm vi toàn cầu, các ngân hàng của các nớc EU đã có mặt trên hầu khắp các thị trờng tài chính ở các quốc gia trên thế giới

Các nớc đang phát triển cũng đã nhận thức rõ lợi ích của xu thế hội nhập toàn cầu, dần dỡ bỏ những hạn chế về xâm nhập thị trờng đối với các tổ chức tài chính, qua đó thúc đẩy quá trình tự đổi mới của các ngân hàng trong nớc Một

số nớc cho phép ngay các tổ chức tài chính nớc ngoài mở chi nhánh cung cấp dịch vụ, số khác lại cho phép mở văn phòng đại diện Trong một số trờng hợp khác nh Hồng Kông, Panama và Singapore lại xem xuất khẩu dịch vụ tài chính

nh một nguồn giải quyết việc làm và ngoại hối Thực hiện các cam kết hội nhập

đồng nghĩa với việc quốc gia đó cho phép các tổ chức ngân hàng nớc ngoài hoạt

động trong cùng một môi trờng pháp lý nh ngân hàng trong nớc và áp dụng các quy định lỏng hơn cho các tổ chức tài chính nớc ngoài

Để tăng tính hiệu quả trong việc phân bổ các nguồn lực cũng nh phá bỏ

sự kìm hãm đối với khu vực tài chính, vào đầu những năm 80, Hàn Quốc đã áp dụng một số chính sách cạnh tranh trong thị trờng tài chính bằng việc giảm điều tiết đối với các tổ chức phi ngân hàng, nới lỏng đáng kể hàng rào ngăn cản việc xâm nhập thị trờng Các tổ chức tài chính nớc ngoài bao gồm các ngân hàng và công ty bảo hiểm nhân thọ đợc phép mở chi nhanh Các ngân hàng thơng mại thuộc sở hữu của Chính phủ đợc phép t nhân hóa Chính phủ cũng đã xóa bỏ lãi suất cho vay u đãi và không thực hiện thêm bất kỳ một chơng trình tín dụng chỉ

định nào, đồng thời cũng thúc đẩy cạnh tranh mạnh hơn giữa các tổ chức tài chính bằng cách cho phép họ mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ

Trang 10

Sự hội nhập của thị trờng tài chính trong nớc và trên thế giới không chỉ thể hiện trong tự do hóa thơng mại đối với các dịch vụ tài chính mà còn thể hiện

ở các tài sản tài chính Các hạn chế đối với các dòng vốn đã đợc nới lỏng ở nhiều nớc phát triển thờng nằm trong một chơng trình cải cách mở rộng lớn Các dòng vốn đã hoàn toàn đợc thả nổi ở Argentina, Chile, Malaysia, Mexico, Philipines, Thailand, Urguay Ngày càng có nhiều nớc đang phát triển khuyến khích sự tham gia của nớc ngoài vào các thị trờng chứng khoán trong nớc

Tuy nhiên, trong một thế giới ngày càng đợc quốc tế hóa và toàn cầu hóa,

tự do hóa trên quy mô toàn cầu thì việc xóa bỏ các quy chế đối với các thị trờng

đã làm tăng thêm bất ổn tài chính Trớc khi tiến hành tự do hóa, các ngân hàng thơng mại đợc quản lý rất chặt chẽ Các trung gian tài chính này hoạt động theo hớng trực tiếp nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay tới các doanh nghiệp th-

ơng mại và công nghiệp lớn, thờng là thuộc sở hữu hay có mối quan hệ mật thiết với nhà nớc Do vậy, họ tránh đợc cạnh tranh mạnh mẽ và vẫn thu đợc lợi nhuận, tuy hiệu quả còn thấp Khi gặp khủng hoảng gây phá sản hàng loạt thì kết quả hoạt động của trung gian tài chính vẫn có thể dự đoán trớc đợc cũng nh

có sự hỗ trợ từ phía nhà nớc

Khi xem xét toàn bộ quá trình phát triển hàng năm của hệ thống ngân hàng cho thấy các ngân hàng lớn ở các nớc đang phát triển hiếm khi gặp thất bại Tuy nhiên, ngày nay do xóa bỏ các quy chế kiểm soát đã làm gia tăng thêm

ảnh hởng của các tác động tiêu cực từ bên ngoài Hoạt động các ngân hàng đã chuyển từ thị trờng trong nớc bảo hộ sang một môi trờng mới và không ổ định – thị trờng đợc tự do hóa, tỷ gia thả nổi và áp lực phải thu đợc lợi nhuận cao hơn trong một thế giới tăng trởng kinh tế thấp hơn và mức độ cạnh tranh gay gắt hơn Thị trờng toàn cầu mới hình thành phải đối phó với rủi ro trong hoạt động kinh doanh về dịch vụ ngân hàng vốn dĩ đã nhạy cảm Trong môi trờng mới, các ngân hàng buộc phải chấp nhận rủi ro cao hơn để giữ khách hàng, vốn và giá trị

cổ phần của họ Việc tham gia của các tổ chức nớc ngoài có thể không mang lại

Trang 11

lợi ích nh mong muốn đối với thị trờng cạnh tranh trong nớc trong khi làm giảm

đi quyền tự chủ của chính sách tài chính và tiền tệ trong nớc

1.1.3 Tác động cơ bản của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Trong thập kỷ qua, nhiều quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi trên thế giới

đã nhanh chóng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng thông qua việc tháo

bỏ các rào cản hạn chế sự đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào hệ thống tài chính của họ Theo đó, số lợng các định chế tài chính trong nớc có vốn chủ sở hữu của nớc ngoài đã tăng lên một cách nhanh chóng Nghiên cứu tác động của các quá hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính cho thấy các tác động có ở cả hai mặt: tích cực và tiêu cực, cụ thể nh sau:

1.1.3.1 Tác động tích cực

a Tạo ra nguồn vốn mới và đa đến các thông lệ quốc tế trong hoạt động giám sát ngân hàng

Một vấn đề khá đặc trng ở các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh

tế chuyển đổi là các thành viên sáng lập, cổ đông, các cơ quan chủ quản và khách hàng lớn của các ngân hàng thơng mại thờng có mối quan hệ rất gần gũi Các ngân hàng nớc ngoài khi tham gia hoạt động tại các thị trờng của các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển thờng không dính dáng hoặc liên quan

và rất cần trọng trong việc cho vay các hoạt động có tính liên hệ mật thiết này Một thực tế là, sự tham gia thị trờng của các ngân hàng nớc ngoài đã mang lại các nguồn vốn mới cho nhiều quốc gia đang phát triển đã từng trải qua các cuộc khủng hoảng và họ cũng mang đến những thông lệ quốc tế trong hoạt động giám sát ngân hàng

b Nguồn vốn đợc phân bổ hiệu quả hơn

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng tài chính sẽ khiến cho nguồn vốn trở nên sẵn có hơn trên thị trờng do tiết kiệm t nhân sẽ gia tăng Lãi suất đ-

Trang 12

ợc tự do hóa và trở nên thực dơng tạo ra sự hấp dẫn đối với ngời gửi tiền tiết kiệm Sự giao động của lãi suất cũng nh tỷ suất lợi tức sẽ khiến cho vốn đợc phân bổ vào những nơi thực sự có nhu cầu về vốn và những nơi vốn đợc sử dụng một cách có hiệu quả Điều này có nghĩa là, vốn sẽ đợc lu chuyển một cách hiệu quả từ d thừa tới nơi khan hiếm thông qua cơ chế thị trờng tự do.

c Cải thiện sự hiệu quả của hệ thống ngân hàng trong nớc

Việc cho phép các ngân hàng nớc ngoài tham gia vào thị trờng trong nớc

có thể góp phần cải thiện sự hiệu quả và ổn định của hệ thống ngân hàng trong nớc Điều này có đợc là do các ngân hàng nớc ngoài tham gia vào việc cải thiện chất lợng, giá cả và cung ứng các công cụ tài chính mới cho thị trờng trong nớc, nâng cao các kỹ năng và trình độ quản lý cũng nh tăng cờng tính cạnh tranh ở thị trờng trong nớc

Thêm vào đó, do các ngân hàng nớc ngoài có khả năng tiếp cận tốt hơn tới các nguồn vốn ở bên ngoài, vì vậy họ có nhiều hình thức tài trợ và cho vay phù hợp hơn so với ngân hàng trong nớc Các ngân hàng nớc ngoài dờng nh cũng nắm đợc danh mục đầu t tín dụng đa dạng hóa hơn và đó sẽ không bị ảnh hởng bởi những cơn sốc hoặc thời kỳ khủng hoảng ở các quốc gia họ đến đầu t

Sự hiện diện của các định chế tài chính nớc ngoài sẽ giúp cho các định chế tài chính trong nớc có cơ hội tiếp cận đợc với các thị trờng vốn quốc tế; áp dụng các công cụ và kỹ thuật tài chính mới; cải tiến khuôn khổ giám sát và điều tiết Qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong nớc

d Nâng cao trình độ quản lý của các ngân hàng trong nớc

Sự có mặt của các ngân hàng nớc ngoài sẽ là điều kiện để hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra và đợc thực hiện Các ngân hàng nớc ngoài sẽ thuê ngời bản địa có trình độ cao Sau khi làm việc tại các ngân hàng nớc ngoài,

số lao động đợc các ngân hàng nớc ngoài tuyển dụng sẽ thu nạp đợc kỹ năng và công nghệ ngân hàng quốc tế và có khả năng chuyển giao cho các ngân hàng

Trang 13

trong nớc khi họ quay trở lại làm việc cho các ngân hàng trong nớc Sự có mặt của các ngân hàng nớc ngoài cũng sẽ góp phần cải thiện trình độ quản lý tín dụng và qua đó sẽ cải thiện sự phân bổ các nguồn tín dụng cho nền kinh tế Có nhiều quan điểm cho rằng, các ngân hàng nớc ngoài có khả năng tốt hơn trong việc định giá, đánh giá rủi ro đối với các công cụ tài chính phái sinh vì họ có kinh nghiệm hơn trên thơng trờng quốc tế.

e Cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng trong nớc

Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, sự tham gia của các ngân hàng nớc ngoài có thể đáp ứng nguồn vốn tín dụng cho nên kinh tế và góp phần làm cho hệ thống ngân hàng lành mạnh hơn cũng nh góp phần giảm các cú sốc

từ bên ngoài (nh khủng hoảng) Thị trờng tài chính trong nớc sẽ có sự ổn định hơn bởi vì các chi nhanh ngân hàng nớc ngoài hoặc các ngân hàng con của họ

có thể có đợc sự trợ giúp vốn khi cần thiết từ ngân hàng mẹ trong trờng hợp bất ổn

Sự tham gia của các ngân hàng có uy tín, có quy mô hoạt động toàn cầu vào thị trờng trong nớc có thể đợc coi là sự nhập khẩu cơ chế quản lý cho hệ thống tài chính của quốc gia đó Điều này hoàn toàn đúng trong tờng hợp một chi nhánh ngân hàng nớc ngoài hoạt động dới sự kiểm soát thống nhất theo các

điều kiện của Hiệp ớc Basel Giả định, có một ngân hàng con của một ngân hàng nớc ngoài (là một pháp nhân độc lập với tài sản có riêng) có hoạt động tại một quốc gia nào đó, do hiệu ứng danh tiếng nên buộc các ngân hàng mẹ sẽ phải giám sát chặt chẽ các hoạt động của ngân hàng con Khi ngân hàng nớc ngoài tham gia cung cấp một sản phẩm dịch vụ mới cho thị trờng, nó buộc đội ngũ thanh tra giám sát ngân hàng ở quốc gia đó phải đợc nâng cấp, cải thiện để

có khả năng đáp ứng đợc yêu cầu thanh tra theo chuẩn mực quốc tế đối với hoạt

động của hệ thống ngân hàng thơng mại

Trang 14

Ngoài ra cũng cho thấy rằng, sự có mặt của các ngân hàng nớc ngoài cũng góp phần làm tăng tính ổn định của hệ thống ngân hàng trong nớc bằng cách cho phép những khách hàng gửi tiền trong nớc có thể mở tài khoản và chuyển sang gửi tại ngân hàng nớc ngoài tại nớc đó nếu những ngời gửi tiền không tin tởng vào sự ổn định của các ngân hàng trong nớc khi có khủng hoảng xảy ra, điều này sẽ giúp ổn định tổng số tiền gửi của hệ thống.

Theo kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, các ngân hàng nớc ngoài quy mô lớn có chi nhánh hoặc ngân hàng con thờng không “tháo chạy” trong trờng hợp có khủng hoảng xảy ra tại quốc gia mà họ có chi nhánh hoặc ngân hàng con hoạt động Rất có thể nguyên nhân chính dẫn đến việc không tháo chạy của các ngân hàng nớc ngoài là vì họ đã bỏ ra một khoản vốn lớn đầu t vào các tài sản cố định để thiết lập mạng lới chi nhánh và để có đợc thị phần Thực tế, các ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn thờng bền vững và ổn định hơn trong việc cung cấp tín dụng cho khách hàng sau thời kỳ khủng hoảng Theo kết quả nghiên cứu của nhà kinh tế học Clark Et Al (2000) cho thấy, huy động vốn của các ngân hàng nớc ngoài tại Arengtina trong thời kỳ khủng hoảng tài chính vào giữa thập kỷ 90 tăng trởng đáng kể và theo một nghiên cứu khác của Kraft (2002) thì các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài đã đóng vai trò là những nơi đầu

t an toàn cho những ngời gửi tiền trong thời kỳ khủng hoảng ngân hàng ở Croatia vào năm 1998

f Chất lợng dịch vụ tài chính tốt hơn với chi phí thấp hơn

Hầu hết các ngân hàng nớc ngoài đều thực hiện cơ chế công bố thông tin minh bạch, thực hiện chế độ kế toán theo chuẩn mực quốc tế Sự cạnh tranh cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng cũng nh trong việc nhận đợc nguồn tài trợ hay các dịch vụ tài chính sẽ buộc các ngân hàng trong nớc phải từng bớc áp dụng các thông lệ quốc tế nh các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, nhờ đó thông tin tổng thể về tình trạng hệ thống ngân hàng sẽ đợc cải thiện, thị

Trang 15

trờng tài chính trong nớc sẽ hoạt động có kỷ luật hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn do giảm thiểu đợc sự bất cân xứng về mặt thông tin và qua đó giảm các hiệu ứng bất lợi nh sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Kết quả là các khách hàng của ngân hàng sẽ có đợc các dịch vụ tài chính với chất lợng cao và chi phí thấp hơn.

1.1.3.2 Tác động tiêu cực

a Tác động tiêu cực tới hệ thống tài chinh và nên kinh tế trong nớc

Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, việc tham gia ngày càng nhiều và càng sâu của các ngân hàng nớc ngoài vào thị trờng trong nớc cũng nảy sinh những tác động tiêu cực đối với hệ thống tài chính và nền kinh tế tại các quốc gia đang phát triển Do có khả năng năm bắt thông tin trên toàn cầu và có nhiều lựa chọn về địa điểm đầu t, vì vậy, các ngân hàng nớc ngoài thờng có xu hớng

“bỏ chạy” khi mà sự đầu t của họ không đạt nh mong đợi Ngợc lại, các nhà đầu

t trong nớc thờng có lợi ích bất di bất dịch nên không thể bỏ ngay đợc sự đầu t của họ và do đó thờng chịu các chi phí giao dịch cao hơn

Quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng càng mạnh mẽ thì

sự tác động và ảnh hởng lẫn nhau giữa các thị trờng tài chính có thể xẩy ra Là một trong các tập đoàn tài chính ngân hàng có quy mô hoạt động trên toàn cầu, vì vậy các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài hoặc ngân hàng con của họ có thể không bị ảnh hởng tiêu cực trong những thời điểm mà hệ thống ngân hàng, tài chính của quốc gia nơi họ đầu t bị rơi vào tình trang khó khăn Tuy nhiên, do các tập đoàn ngân hàng quốc tế luôn áp dụng thống nhất một chính sách chung cho các ngân hàng con, chi nhánh của mình trên toàn cầu, chính vì vậy trong tr-ờng hơp có một sự kiện xảy ra tại một quốc gia nào đó hoặc để đối phó với những cú sốc từ chính quốc gia của ngân hàng mẹ, các ngân hàng nớc ngoài th-ờng áp dụng những chính sách hoặc những cơ chế có thể gây tác động tiêu cực

đến hệ thông ngân hàng, tài chính nớc sở tại

Trang 16

Nghiên cứu thực nghiệm của Peek và Rosengren (1997, 2000) đã chỉ ra rằng những vấn đề của hệ thống tài chính, ngân hàng của Nhật Bản xảy ra vào cuối những 80 và đầu những năm 90 đã lan truyền sang nớc Mỹ thông qua hoạt

động các ngân hàng Nhật Bản tại thị trờng Mỹ Thêm vào đó, một nghiên cứu khác của Golderg (2001) đã chỉ ra rằng ảnh hởng của các ngân hàng Mỹ đối với các quốc gia đang phát triển thờng phản ánh tình trạng và những biến động về

điều kiện nền kinh tế của nớc Mỹ hơn là sự tăng trởng và lãi suất của các nớc

đang phát triển nơi mà họ có các chi nhánh hoặc ngân hàng con hoạt động

Đặc biệt khi chi nhánh ngân hàng nớc ngoài hoặc ngân hàng con chiếm lĩnh phần lớn trong quy mô hoạt động và vốn chủ sở hữu ngân hàng con chiếm lĩnh phần lớn trong quy mô hoạt động và vốn sở hữu trong tổng số các ngân hàng nớc ngoài có mặt tại nớc sở tại (quốc gia nơi mà các ngân hàng nớc ngoài

có chi nhánh hoặc ngân hàng con) thì tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với nền kinh tế của quốc gia sở tại trong trờng hợp có một cú sốc xảy ra tại quốc gia của ngân hàng mẹ Theo một nghiên cứu của Hull (2002), trong số 5 ngân hàng nớc ngoài lớn nhất tại New Zealand chiếm trên 90% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng có 4 ngân hàng Australia Hull kết luận rằng, chính sự tập trung sở hữu của các nhà đầu t Australia và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế New Zealand và Australia có thể dẫn đến việc nếu nền kinh tế Australia bị mất

ổn định thì nó có khả năng ảnh hởng tiêu cực đến New Zealand ở nhiều quốc gia Châu Mỹ La Tinh, các ngân hàng của Tây Ban Nha đã chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng của các gia này (Bảng 1 dới đây cho thấy sự tham gia của các ngân hàng nớc ngoài vào các hệ thống ngân hàng ở Mỹ La Tinh và Đông Âu)

Bảng 1.1: Sự tham gia của các ngân hàng sở hữu t nhân và nhà nớc trong các hệ thống ngân hàng của khu vực Châu Mỹ La Tinh và Đông Âu

Đơn vị tính: %

Trang 17

Czech Republic 4,3 25,7 70 58,1 6,3 5,6 Austria (41%)

Hungari 44,6 3,2 52,2 39,2 8,6 4,4 Austria (18%) Slovenia 14,3 19,6 66,2 66,2 - - Belgium (45%)

Nguồn: [57]

b Tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trong nớc

Các nghiên cứu gân đây cho thấy có sự khác biệt trong việc tham gia thị trờng của các ngân hàng nớc ngoài vào các quốc gia đang phát triển và các quốc gia công nghiệp phát triển ở các quốc gia đang phát triển, các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài tại đây thờng có chênh lệch lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào cao hơn, có khả năng sinh lợi cao hơn so với các ngân hàng trong nớc; trong khi

đó ở quốc gia công nghiệp phát triển thì tình hình lại ngợc lại

Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng, với sự tham gia ngày càng nhiều của các ngân hàng nớc ngoài sẽ làm cho chênh lệch lãi suất cho vay, khả năng sinh lợi và chi phí chung của các ngân hàng trong nớc giảm đi Thêm vào đó, các tác

động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nớc ngoài đối với hệ thống

Trang 18

ngân hàng trong nớc thờng xảy ra ngay sau khi có sự gia nhập của các ngân hàng này vào thị trờng trong nớc và không phụ thuộc vào thị phần mà họ chiếm lĩnh sau khi gia nhập.

c Tác động đến danh mục tín dụng của các ngân hàng trong nớc

Thực tế cho thấy, trong một số trờng hợp, sự tham gia của các ngân hàng nớc ngoài không đóng vai trò tích cực trong việc phân bổ hiệu quả các nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế Trong nhiều trờng hợp, các ngân hàng nớc ngoài chỉ “chọn miếng ngon” và tình trạng này rất phổ biến ở các quốc gia kém phát triển Các ngân hàng nớc ngoài chỉ chọn những khách hàng làm ăn có lãi, rủi ro thấp nhất và đẩy các doanh nghiệp còn lại đợc coi là có mức độ rủi ro cao hơn cho ngân hàng trong nớc làm cho danh mục tín dụng của các ngân hàng trong nớc trở nên rủi ro hơn Khi các ngân hàng nớc ngoài thực hiện chiến dịch “chọn miếng ngon” thì họ chỉ chọn những khách hàng khỏe mạnh, có độ tín nhiệm cao và thông thờng họ đánh giá mức độ rủi ro tốt hơn các ngân hàng trong nớc, hoặc họ tìm cách khác để chuyển rủi ro cho phía ngân hàng trong nớc nh chỉ cho vay bán buôn, cho vay thông qua các ngân hàng trong nớc

d Tác động đến nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, khi các tập đoàn ngân hàng nớc ngoài tham gia mở chi nhánh hoặc thành lập ngân hàng con ở các thị trờng của các quốc gia đang phát triển mong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, chi nhánh các ngân hàng nớc ngoài hoặc ngân hàng con thờng nhanh chóng thu hút một lực lợng lao động có trình độ cao vào làm việc do có chế độ tiền lơng hấp dẫn Thông thờng, mức lơng bình quân mà các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài hoặc ngân hàng con của họ trả cho lao động có trình độ cao gấp khoảng 4 đến 6 lần so với các ngân hàng trong nớc trả Chính vì vậy, các ngân hàng nớc ngoài sẽ nhanh chóng thu hút đợc nguồn nhân lực có chất lợng tốt nhất từ các ngân hàng trong nớc sang làm việc Hiện tợng “chảy máu chất xám”

Trang 19

này rất phổ biến và trở thành một xu hớng tất yếu ở các quốc gia đang phát triển khi quá trình hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc.

Nếu không có chính sách thu hút, tuyển dụng, đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực đúng đắn và phù hợp, chắc chắn các ngân hàng trong nớc sẽ bị mất đi một lực lợng cán bộ tốt nhất của họ Rõ ràng là, yếu tố con ngời đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức, định chế nào Nó quyết định

sự thành công của tổ chức đó đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và khắc nghiệt và trong bối cảnh hội nhập quốc tế Có đợc lực lợng cán bộ

có trình độ cao, đợc đào tạo căn bản sẽ góp phần chủ chốt trong việc tiếp cận và nắm bắt những yêu cầu mới, công nghệ tiên tiến và đòi hỏi của một tổ chức trong quá trình hội nhập quốc tế

e Tác động đến hoạt động quản lý, giám sát trong hoạt động ngân hàng

Sự tham gia của các ngân hàng nớc ngoài vào thị trờng trong nớc cũng

đồng nghĩa với việc nhập khẩu công nghệ quản lý cho ít nhất một bộ phận của

hệ thống ngân hàng và có thể sẽ góp phần cải thiện chất lợng cán bộ và chuẩn mực thanh tra giám sát ngân hàng Tuy nhiên, một số nhà quan sát lại cho rằng khi hoạt động ngân hàng vợt ra khỏi phạm vi một quốc gia thì vấn đề giám sát, quản lý lại trở nên phức tạp Trong quá trình hội nhập quốc tế, các hệ thống ngân hàng ở mỗi quốc gia đều gắn kết chặt chẽ và phụ thuộc, chế ớc lẫn nhau trong hoạt động của mình, vì vậy cần phải có những giải pháp mang tính chuẩn mực về mọi khía cạnh trong hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng

1.2 năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2.1 Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh

1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh.

Trang 20

Trong Thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời nh lý thuyết của Michal Porter, J.B.Barney, P.Krugman Trong đó, phải kể đến lý thuyết

“Lợi thế cạnh tranh” của Micheal Porteer, ông giải thích hiện tợng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thơng mại quốc tế cần phải có “Lợi thế cạnh tranh”

và “Lợi thế so sánh” Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, môi trờng tạo cho doanh nghiệp, quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng nh trong thơng mại Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh

Cạnh tranh là tất yếu của thơng trờng Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản của các doanh nghiệp Những đe doạ, thách thức hay cơ hội của doanh nghiệp chủ yếu có đợc từ quá trình đối kháng của sức mạnh này

Cạnh tranh là một hiện tợng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh Các Mác đã đa

ra khái niệm về cạnh tranh t bản nh sau: “Cạnh tranh t bản là sự ganh đua, sự

đấu tranh gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để đạt lợi nhuận siêu ngạch”

Theo quan điểm của nhà kinh tế học P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trờng”

Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh trong kinh doanh

là hoạt động ganh đua giữa những ngời sản xuất hàng hoá, giữa các thơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trờng có lợi nhất”

Trong nền kinh tế thị trờng, ngân hàng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, nhằm “mua” và “bán” một lợi ích có liên quan tới tài chính song không tồn tại dới dạng vật chất Đã là doanh nghiệp thì khái niệm cạnh tranh của doanh

Trang 21

nghiệp cũng đúng cho các ngân hàng thơng mại Trên quan điểm này, cạnh tranh đợc hiểu là một quá trình mà trong đó các doanh nghiệp đấu tranh, ganh

đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để thoả mãn nhu cầu của khách hàng tối đa, thông qua đó đạt đợc các mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình nh lợi nhuận, thị phần và vị thế kinh doanh Nh vậy, cạnh tranh đợc chủ thể thực hiện nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi ích, đối với doanh nghiệp đó là lợi nhuận, đối với ngời tiêu dùng đó là sự thoả mãn nhu cầu do tiêu dùng sản phẩm mang lại

Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song tựu trung lại, có thể tiếp cận khái niệm cạnh tranh nh sau:

Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy

phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự

Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tợng cụ thể nào đó

mà các bên đều muốn giành giật (sản phẩm, dự án), các điều kiện có lợi (thị ờng, khách hàng) với mục đích cuối cùng là thu đợc lợi nhuận cao

tr-Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trờng cụ thể, có các ràng buộc

chung mà các bên tham gia phải tuân thủ nh: đặc điểm sản phẩm, thị trờng, các

điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh

Thứ t, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể

sử dụng nhiều công cụ khác nhau nh: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lợng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp, chính sách

định giá cao, chính sách ổn định giá, chính sách phân biệt giá), cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng, hậu mãi, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán

Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh

Trang 22

tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh góp phần cho

sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có đợc, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nớc Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trớc mắt

và trong tơng lai, để từ đó có những hớng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh

Vậy Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng nh nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình

Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt đợc tất cả những gì mình mong muốn Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngợc

1.2.1.2 Phân loại cạnh tranh.

Có nhiều hình thức đợc dùng để phân loại hình cạnh tranh bao gồm: căn

cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh

a Căn cứ chủ thể tham gia

• Cạnh tranh giữa ngời mua và ngời bán: do sự đối lập nhau của hai chủ thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sự cạnh tranh này diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóa đợc hình thành

Trang 23

• Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau: sự cạnh tranh này hình thành trên quan hệ cung-cầu Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong điều kiện cung của một hàng hóa dịch vụ có chất lợng ít hơn nhu cầu của thị trờng.

• Cạnh tranh giữa ngời bán với nhau: Đây có lẽ là hình thức tồn tại nhiều nhất trên thị trờng với tính chất gây go và khốc liệt Cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng

b Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế

• Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các đối thủ tìm cách thôn tín lẫn nhau, giành dựt khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trờng Biện pháp cạnh tranh chủ yếu của hình thức này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa đợc xác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệp thành công và một

số khác phá sản, hoặc sáp nhập

• Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển của các ngành với nhau

c Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trờng thì cạnh tranh gồm

có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.

• Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có ngời sản xuất hay ngời tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trờng, làm ảnh hởng đến giá cả Cạnh tranh hoàn hảo đợc mô tả: Tất cả các hàng hóa trao đổi đợc coi là giống nhau; tất cả những ngời bán và ngời mua đều có hiểu

Trang 24

biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi; không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trờng của ngời mua hay ngời bán Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác.

• Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trờng khi các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không đợc thỏa mãn Các loại cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh tranh độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua Trong thị trờng cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những ngời bán hoặc ngời mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa đợc trao đổi

1.2.1.3 Năng lực cạnh tranh

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh đợc hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trờng cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỉ lệ lợi nhuận ít nhất bằng

tỉ lệ đòi hỏi tài trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt đợc những mục tiêu doanh nghiệp đặt ra Năng lực cạnh tranh có thể đợc chia thành

3 cấp:

+ Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt

đ-ợc tăng trởng bền vững, thu hút đđ-ợc đầu t, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của ngời dân

+ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng duy trì và mở

rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trờng cạnh tranh trong

và ngoài nớc Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó đạt đợc

Trang 25

+ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: Đợc đo bằng thị phần

của sản phẩm dịch vụ trên thị trờng Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó, dựa vào chất lợng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó

Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế

có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao vì mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lại dựa trên năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Nền kinh tế có sức cạnh tranh cao sẽ tạo

điều kiện và môi trờng cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả

Theo Michael Porter: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp khả năng nắm giữ và chiếm lĩnh thị trờng của chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt đợc hiệu quả tối u trong một môi trờng kinh doanh

cụ thể

Cũng theo tác giả, năng lực cạnh tranh đợc đánh giá dựa trên năng suất, giá trị của hàng hoá dịch vụ làm ra tính trên một đơn vị nhân lực, vốn và tài nguyên của một quốc gia Năng suất cao tạo ra mức lơng cao (cho ngời lao

động), đồng tiền mạnh (cho một quốc gia), lợi nhuận hấp dẫn trên một đồng vốn (cho doanh nghiệp) và cuối cùng là mức sống cao (cho ngời dân)

Theo Warner, Trung tâm kinh tế quốc tế Australia, thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đợc hiểu là năng lực tồn tại và phát triển mà không cần

sự hỗ trợ của Nhà nớc

Theo Van Duren thì năng lực cạnh tranh đợc hiểu là năng lực tìm kiếm lợi nhuận và duy trì thị phần trên các thị trờng trong và ngoài nớc

Trang 26

Nh vậy, trên thực tế đang tồn tại rất nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh, song tựu trung lại, có 4 vấn đề cơ bản sau:

Một là, trong điều kiện kinh tế thị trờng, phải lấy yêu cầu của khách

hàng là chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi lẽ yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sản xuất, kinh doanh Cùng một loại sản phẩm, các nhóm khách hàng khác nhau sẽ có những nhu cầu rất khác nhau

Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng

phải là thực lực của doanh nghiệp Thực lực này chủ yếu đợc tạo thành từ những yếu tố nội tại của doanh nghiệp và đợc thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp

Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so

sánh với doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trờng Muốn tạo nên sức mạnh thực thụ, doanh nghiệp phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh Nhờ có lợi thế này, doanh nghiệp có thể giữ đ-

ợc khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh

Bốn là, các biểu hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng

buộc lẫn nhau Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh khi có khả năng thoả mãn đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng Song khó có doanh nghiệp nào đạt đợc điều này vì thờng có lợi thế về mặt này lại yếu thế về mặt khác Bởi vậy, việc đánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm giải pháp tăng năng lực cạnh tranh

Tóm lại: Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra đợc lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, tạo ra lợi nhuận cao và phát triển bền vững.

Trang 27

1.2.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

1.2.2.1 Cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

a Khái niệm

Ngân hàng thơng mại cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp

đặc biệt, vì thế ngân hàng thơng mại cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận Vì thế, các ngân hàng thơng mại cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lợng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt đợc lơi nhuận cao nhất cho ngân hàng Do vậy, cạnh tranh trong ngân hàng thơng mại cũng là sự tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có đợc để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lợng cao, có đặc trng riêng của mình so với các ngân hàng thơng mại khác trên thị trờng, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo đợc uy tín, thơng hiệu và vị thế trên thơng trờng.

b Những đặc trng trong cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

Nh các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, các ngân hàng thơng mại luôn phải đối mặt với cạnh tranh từ các đối thủ Tuy nhiên, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những đặc thù riêng Cụ thể:

+ Hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống rất cao, nếu năng lực cạnh tranh của một ngân hàng yếu kém, dẫn đến khó khăn sẽ ảnh hởng trực tiếp đến thị trờng tiền tệ và có thể ảnh hởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế

+ Hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và các cá nhân, đồng thời giữa các ngân hàng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu một ngân hàng sụp đổ sẽ ảnh hởng đến các ngân hàng khác Vì

Trang 28

thế, trong hoạt động ngân hàng, đi liền với cạnh tranh lẫn nhau là sự hợp tác với nhau nhằm hớng đến mục tiêu phát triển bền vững, cùng có lợi.

+ Hoạt động ngân hàng không chỉ giới hạn phạm vi trong nớc mà liên quan đến các nớc khác trong hoạt động kinh tế đối ngoại Do vậy, hoạt động của ngân hàng còn chịu sự chi phối của các yếu tố nớc ngoài Vì thế, sự cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại đòi hỏi những chuẩn mực rất cao và cần phải tuân thủ nghiêm

c Nội dung cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

Thứ nhất: Cạnh tranh bằng chất lợng dịch vụ

Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển nh

vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của ngời tiêu dùng và đặt các doanh nghiệp trớc áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt Vì thế, việc nâng cao chất lợng chất lợng sản phẩm hàm ý phải thoả mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi từ phía khách hàng

Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lợng phải đáp ứng đợc tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại cho khách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm ngân hàng có chất lợng, khách hàng thờng dựa vào các tiêu chí sau: Mức

độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ít và đơn giản, tốc độ xử lý giao dịch nhanh, mức độ chính xác cao, hiệu quả mang lại cho khách hàng lớn, thái độ phục vụ tốt, trình độ công nghệ hiện đại

Thứ 2: Cạnh tranh bằng giá cả

Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm Giá cả có vai trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các ngân hàng thơng mại, giá cả chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng

Trang 29

Trong quá trình xác định lãi suất và mức phí, các ngân hàng thơng mại luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn, đó là: Nếu ngân hàng thơng mại quan tâm đến khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần thì cần phải đa ra lãi suất và mức phí hấp dẫn, u đãi cho khách hàng Tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng thơng mại, thậm chí có thể khiến ngân hàng thơng mại bị thua lỗ Song cũng nh mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế, các ngân hàng thơng mại luôn quan tâm đến mục tiêu tối thợng là tối đa hoá lợi nhuận, do đó các ngân hàng thơng mại cũng muốn đa ra lãi suất và mức phí cao mà điều này có thể làm cho ngân hàng bị mất khách hàng, giảm thị phần trong kinh doanh

Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp ít đợc lựa chọn nhất

Thứ 3: Cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp

Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của các khách hàng, các ngân hàng thơng mại phải cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng đa dạng, độc

đáo, tạo ra nét riêng biệt, tích cực nghiên cứu để tung ra thị trờng những sản phẩm dịch vụ mới với tính năng và tiện ích u việt hơn nhằm thay thế những sản phẩm hiện có Nhờ đó, các ngân hàng thơng mại có thể tạo ra và duy trì lợi thế của mình trong cạnh tranh, đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng, giữ khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới

Trang 30

dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.

Trớc đây, các ngân hàng thơng mại thờng phát triển mạnh mẽ mạng lới chi nhánh để mở rộng thị phần và gây sức ép lên đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, thời gian gần đây, các kênh phân phối hiện đại với u thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hớng chung đợc lựa chọn Bao gồm:

+ Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn: Đặc điểm của kênh phân phối này là hoàn toàn do máy móc thực hiện dới sự điều khiển của các thiết bị điện tử

+ Chi nhánh ít nhân viên: Kiểu chi nhánh này có vị trí quan trọng trong

hệ thống ngân hàng, nhất là đối với các chi nhánh lu động Ưu điểm của nó là chi phí thấp, hoạt động linh hoạt

+ ngân hàng điện tử (E_Banking): Hình thức phân phối này đợc thực hiện thông qua đờng điện thoại hoặc máy vi tính Nó cung cấp cho khách hàng rất nhiều tiện ích, tiết kiệm chi phí và thời gian, hoạt động đợc ở mọi lúc, mọi nơi Các giao dịch đợc thực hiện thông qua các giao dịch điện tử bao gồm: Máy thanh toán tại điểm bán hàng, máy rút tiền tự động (ATM), ngân hàng qua điện thoại (Tel_Banking)

+ ngân hàng qua mạng: Đợc chia làm 02 loại: ngân hàng qua mạng nội

bộ và ngân hàng qua mạng Internet

1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

a Khái niệm

Năng lực cạnh tranh đợc hiểu là khả năng, năng lực mà ngân hàng có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trờng cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những

Trang 31

mục tiêu của ngân hàng, đồng thời đạt đợc những mục tiêu của ngân hàng đặt ra.

Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:

Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt

đ-ợc tăng trởng bền vững, thu hút đđ-ợc đầu t, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp: là khả năng duy trì và mở

rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh ngiệp trong môi trờng cạnh tranh trong

và ngoài nớc Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có đợc

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: đợc đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trờng Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ thể hiện trên thị trờng Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó Nó dựa vào chất lợng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó

Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại là khả năng tự duy trì một cách lâu dài, có ý thức các lợi thế của mình trên thị trờng để đạt đợc mức lợi nhuận và thị phần nhất định hoặc khả năng chống lại một cách thành công sức

ép của các đối thủ cạnh tranh

b Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh trang của ngân hàng thơng mại trong điều kiện hội nhập

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan, xuất phát từ các lý do sau:

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại và diễn

ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Theo đó, song song với việc vơn ra thị trờng thế

Trang 32

giới, Lào cũng phải mở cửa thị trờng trong nớc, trong đó có lĩnh vực tài chính – ngân hàng Trong bối cảnh chung đó, các ngân hàng thơng mại Lào phải chủ

động nhận thức và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập và cạnh tranh vì khi đó thị trờng trong nớc không còn mức bảo hộ cao nh trớc, các ngân hàng sẽ phải cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu và cạnh tranh ngay tại sân nhà

Thứ hai, sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều,

số lợng ngời cung cấp càng đông Muốn tồn tại và phát triển thì buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau Kết quả là một số doanh nghiệp bị thua cuộc

và bị gạt ra khỏi thị trờng, trong khi một số khác vẫn tồn tại và phát triển hơn nữa Cạnh tranh diễn ra mọi lúc, mọi nơi không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của riêng ai nên cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọi doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, đều phải tự mình vận động để đứng đợc trong cơ chế này Doanh nghiệp nào không thích nghi đ-

ợc sẽ cầm chắc sự phá sản và bị đào thải sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề sống còn đối với mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay, doanh nghiệp chỉ có thể phát triển đợc khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đợc nâng cao

Thứ ba, thực tế cho thấy, không một ngân hàng nào có khả năng thỏa

mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thờng thì một ngân hàng có lợi thế về mặt này và hạn chế về mặt khác Các ngân hàng phải nhận biết đợc

điều này để tăng cờng khả năng cạnh tranh thông qua việc phát huy tốt những

điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Có nh vậy các ngân hàng mới có thể giữ vững và phát triển đợc thị phần, lợi nhuận trong điều kiện mở cửa thị trờng, có sự tham gia ngày càng nhiều của các ngân hàng trong nớc và nớc ngoài

Trang 33

Thứ t, một thực trạng phổ biến hiện nay là năng lực cạnh tranh của các

ngân hàng thơng mại Lào còn nhiều hạn chế và yếu kém nên khả năng tồn tại

và khẳng định vị thế trên thị trờng (đặc biệt là thị trờng quốc tế) cha cao

Từ những phân tích trên, cùng với tầm quan trọng và đặc điểm của ngành ngân hàng trong tiến trình phát triển kinh tế quốc dân, để có thể tận dụng tối đa các cơ hội, hạn chế thách thức, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại hiện nay là vấn đề tất yếu khách quan

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá, nhân tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại.

1.2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại.

Từ khai niệm về cạnh tranh, đặc thủ của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và khái niệm về năng lực cạnh tranh, chúng ta có thể cho rằng: Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại là khả năng tự duy trì một cách lâu dài,

có ý thức các lợi thế của mình trên thị trờng để đạt đợc mức lợi nhuận và thị phần nhất định hoặc khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các

đối thủ cạnh tranh.

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại bao gồm:

a Năng lực tài chính.

Năng lực tài chính là thớc đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời

điểm nhất định Năng lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu:

Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Năng lực về vốn

thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể nh: quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn Tiềm lực về vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó Cách thức mà một ngân hàng có khả năng cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh

Trang 34

tiềm lực về vốn của một ngân hàng Đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất định quyết định khả năng cạnh tranh của một ngân hàng.

Chất lợng tài sản có: Đây là tiêu chí phản ánh “sức khỏe” của một

ngân hàng Chất lợng tài sản có đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu nh: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hóa các danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn

Khả năng sinh lợi: là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân

hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng Chỉ tiêu mức sinh lợi có thể đợc phân tích thông qua các chỉ tiêu cụ thể nh: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận đợc hình thành từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thờng hay từ các khoản thu nhập bất thờng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tơng quan với chi phí

Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro: đợc thể hiện thông qua

các chỉ tiêu nh khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản của các ngân hàng thơng mại,

đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thơng mại

b Nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành

Đánh giá năng lực quản trị, điều hành của ngân hàng thơng mại qua các tiêu chí sau:

- Mô hình một ngân hàng hiện đại;

- Cơ cấu, trình độ, thực hiện của bộ máy lãnh đạo, của lực lợng lao

động chủ yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao;

- Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành với diễn biến của thị trờng;

Trang 35

Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại (quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân sự)

c Năng lực về công nghệ thông tin

Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò nh là một trong các nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng Năng lực công nghệ của ngân hàng thơng mại đợc đánh giá thông qua các tiêu chí:

- Khả năng trang bị công nghệ mới bao gồm thiết bị và nhân lực;

- Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của thị trờng

d Năng lực cung cấp dịch vụ và hệ thống phân phối

Năng lực cung cấp dịch vụ và hệ thống phân phối của ngân hàng thơng mại bao gồm:

Trang 36

 Các nhu cầu vay vốn khác nhau về kỳ hạn vay, trả, về loại tiền (nội tệ, ngoại tệ) về cách giải ngân, các trả lãi, cách sử dụng vốn vay;

 Cách thanh toán chi phí tiêu dùng, thanh toán hàng hóa, dịch

vụ trong nớc, nớc ngoài

Quản lý ngân quỹ, tài sản, t vấn, môi giới, bảo hiểm, đầu t chứng khoán, mua bán ngoại tệ

1.2.3.2 Nhân tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại

a Các nhân tố khách quan.

Tác nhân từ phía ngân hàng thơng mại mới tham gia thị trờng.

Các ngân hàng thơng mại mới tham gia thị trờng với những lợi thế quan trong nh:

o Mở ra những tiềm năng mới;

o Có động cơ và ớc vọng giành đợc thị phần;

o Đã tham khảo kinh nghiệm từ những ngân hàng thơng mại đang hoạt động;

o Có đợc những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trờng

Nh vậy, bất kể thực lực của ngân hàng thơng mại mới là thế nào, thì các ngân hàng thơng mại hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các ngân hàng thơng mại mới có những kế sách và sức mạnh

mà các ngân hàng thơng mại hiện tại cha thể có thông tin và chiến lợng ứng phó

Tác nhân là các ngân hàng thơng mại hiện tại:

Trang 37

Đây là những mối lo thờng trực của các ngân hàng thơng mại trong kinh doanh Đối thủ cạnh tranh ảnh hởng đến chiến lợc hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại trong tơng lai Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thuc đẩy ngân hàng phải thờng xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.

Tác nhân là sức ép từ phía khách hàng:

Một trong những đặc điểm quản trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là ngời mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là ngời bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng Những ngời bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn

là nhận đợc lãi suất cao hơn; trong khi đó những ngời mua sản phẩm (vay vốn) lại muốn chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Nh vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân đợc khách hàng cũng nh có đợc nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể

Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới:

Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các ngân hàng thơng mại khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng nh các dịch

vụ truyền thống vốn vẫn do các ngân hàng thơng mại đảm nhiệm Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho ngời mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trờng ngân hàng

mở rộng hơn Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các ngân hàng thơng mại, suy giảm thị phần

Ngày nay, ngời ta cho rằng, khi các ngân hàng thơng mại mạnh lên nhờ

sự rèn luyện trong cạnh tranh, thì hệ thống ngân hàng thơng mại sẽ mạnh hơn

và có sức đàn hồi tốt hơn sau các cú sốc của nền kinh tế

Trang 38

b Các nhân tố chủ quan.

Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống ngân hàng thơng mại cũng ảnh hởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:

o Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng;

o Quy mô vốn và tình hình tài chính của ngân hàng thơng mại;

o Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng;

o Chất lợng nhân viên;

o Cấu trúc tổ chức;

o Danh tiếng và uy tín của ngân hàng thơng mại

Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của ngân hàng thơng mại cũng là nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh daonh của ngân hàng thơng mại Cụ thể:

− Tác nhân về đặc điểm sản phẩm cạnh tranh trong kinh doanh của ngân hàng thơng mại bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt động kinh doanh của nó Sản phẩm chính sử dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại

là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tính nhạy cảm cao, chỉ một biến

động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hởng to lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thơng mại nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nói chung

Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các ngân hàng thơng mại ngày càng trở nên quyết liệt Có nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng th-

ơng mại

Trang 39

− Tác nhân về đặc điểm khách hàng của ngân hàng thơng mại không phải là khách hàng luôn “trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch Mức độ trung thành của khách hàng phụ thuộc vào sự đối xử của ngân hàng thơng mại với họ, mà cao nhất là lợi ích trực tiếp thu đợc từ quan hệ giao dịch với ngân hàng Khách hàng có thể ngay lập tức thay đổi quan hệ với ngân hàng để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà họ nhận đợc cao (nếu là sản phẩm bán) và mức lãi suất thấp (nếu là sản phẩm mua) so với ngân hàng họ quan hệ Nh vậy, sự cạnh tranh của ngân hàng cũng đợc nhân lên do

đặc điểm khách hàng rất dễ thay đổi quan hệ với ngân hàng Các đặc điểm nêu trên đợc coi là các nhân tố về phía ngân hàng thơng mại tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh NH

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thơng mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số ngân hàng trong khu vực và thế giới trong hội nhập.

Từ năm 1989, cùng với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trờng, nhiều nớc xã hội chủ nghĩa cũng tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng Ngay từ thời điểm đó, các nớc có các điều kiện ban

đầu không giống nhau đã có cách tiếp cận khác nhau về bớc đi và cách thức tiến hành cải cách Các nớc Liên Xô cũ và Đông Âu đã lựa chọn giải pháp mở cửa, hội nhập nhanh với cộng đồng tài chính khu vực và quốc tế, qua đó để thị trờng

điều chỉnh hệ thống dần theo hớng phù hợp hơn Trong khi đó, các nớc có nền kinh tế chuyển đổi ở Châu á lại chọn cách thức cải cách theo giai đoạn, từ thực

tế đúc kết ra bài học làm cơ sở cho quá trình cải cách tiếp theo Cho đến nay, khó có thể nói đợc mô hình nào là tỏ ra u việt hơn trong việc thiết khế chính

Trang 40

sách thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, kinh nghiệm cải cách để hội nhập quốc tế của các nớc này rất để chúng ta xem xét và học hỏi.

1.3.1.1 Kinh nghiệm của ngân hàng thơng mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế

Nhận thức đợc sớm tính tất yếu của xu thế hội nhập quốc tế, từ năm

1986, Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng Công Sản Việt NAM đã mở đờng cho côn cuộc đổi mới một cách toàn diện theo hớng chuyển đổi kinh tế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa Theo đó, Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995, tham gia vào khu vực mậu dịch

tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký Hiệp định

Th-ơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết nhiều hiệp định thTh-ơng mại,

đầu t khác Đáng chú ý là từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO), là mốc son quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc, bắt đầu từ quá trình hội nhập sâu rộng với thị trờng quốc tế nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng Thực tế cho thấy, ngành ngân hàng đã có nhiều nỗ lực cải cách đáng

kể theo hớng thị trờng và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trớc yêu cầu phát triển kinh tế trong nớc và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Tháng 10/1993, đánh dấu bớc ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế về tài chính, tiền tệ là Việt Nam đã nối lại quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế nh IMF, WB, ADB Việt Nam đã ký Hiệp định tài chính song phơng với ngân hàng Đầu t Châu Âu, ngân hàng đầu t Bắc Âu, Quỹ OPEC, Quỹ Kuwait ngân hàng Nhà nớc Việt Nam là thành viên của diễn đàn ngân hàng trung ơng ASEAN, diễn đàn ngân hàng trung ơng khối các nớc sử dùng tiếng Pháp, Hiệp hội ngân hàng Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các ngân hàng ASEAN, Ngoài ra, ngân hàng nhà nớc VN đã ký nhiều thỏa thuận hợp tác ngân hàng với nhiều ngân hàng trung ơng lớn trên thế giới nh: ngân

Ngày đăng: 04/12/2013, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Ngoại thơng Lào - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Ngoại thơng Lào (Trang 69)
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại th- - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại th- (Trang 71)
Bảng 2.4: Số lợng hợp đồng L/C, L/G XNK và tổng giá trị hợp đồng giai - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.4 Số lợng hợp đồng L/C, L/G XNK và tổng giá trị hợp đồng giai (Trang 78)
Bảng 2.9: Tình hình tài chính của Ngân hàng Ngoại thơng Lào giai đoạn  n¨m 2008-2012 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.9 Tình hình tài chính của Ngân hàng Ngoại thơng Lào giai đoạn n¨m 2008-2012 (Trang 90)
Bảng 2.10: Cơ cấu TS của Ngân hàng Ngoại thơng Lào giai đoạn  n¨m 2008-2012 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.10 Cơ cấu TS của Ngân hàng Ngoại thơng Lào giai đoạn n¨m 2008-2012 (Trang 91)
Bảng 2.12: Tỷ lệ ROE của một số ngân hàng khác trong năm 2012 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.12 Tỷ lệ ROE của một số ngân hàng khác trong năm 2012 (Trang 94)
Bảng 2.13: Tỷ lên ROA của một số ngân hàng trong năm 2012. - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng ngoại thương lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.13 Tỷ lên ROA của một số ngân hàng trong năm 2012 (Trang 96)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w