Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHNo & PTNT Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trước tình hình kinh tế xã hội đang có nhiều diễn biến phức tạp, đan xen giữa khó khăn và thuận lợi, nguy cơ và thời cơ Để tiến hành CNH - HĐH đất nước phải đẩy mạnh cách mạng công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực
mà quan trọng nhất là vốn
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, có nước đã sử dụng nguồn vốn bên ngoài làm chủ lực, nguồn vốn trong nước làm bổ trợ cho sự phát triển, tận dụng được lợi thế chuyển giao công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian bắt kịp với các nước phát triển Có nước lại lựa chọn nguồn vốn nội địa làm chủ đạo, bằng cách này tốc độ phát triển thường chậm, nhưng hạn chế được sự phụ thuộc vào bên ngoài, tạo thế chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược, đảm bảo sự phát triển vững chắc của nền kinh tế xã hội trong lâu dài
Nằm trên vòng cung kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới, Châu Á Thái Bình Dương, trong công cuộc đổi mới, Việt Nam còn vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, lạc hậu, trình
độ đội ngũ cán bộ, lao động còn nhiều hạn chế, nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh (vốn) còn thiếu rất nhiều Đứng trước xu thế mở cửa hợp tác của thế giới, để vững bước tiến lên CNXH theo định hướng của Đảng, chúng ta phải biết nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu, tận dụng khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước Với chủ trương đề ra ở Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ 8 và được khẳng định lại ở Đại hội Đại Biểu toàn quốc lần 9:
“Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả năng có thể tranh thủ
bên ngoài” Nhưng bằng cách nào để khơi thông, thu hút được nguồn lực
trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hiện nay Câu hỏi được giải đáp bằng
sự ra đời của các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại Với vai trò tập trung vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vào mục đích cho vay, đầu tư…đôi khi hoạt động ngân hàng còn làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn xã hội, cải biến dòng lưu chuyển và mục tiêu sử dụng vốn, góp phần giải quyết căn bản các mâu thuẫn về cung cầu tiền tệ
Là một doanh nghiệp nhà nước đặc biệt NHNo & PTNT Hà Nội, một chi nhánh của NHNo & PTNT Việt Nam, cơ sở quan trọng về huy động vốn,
Trang 2vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực hiện vai trò thành viên đóng góp một phần vốn điều hoà cho cả hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp, đã đạt được một số thành công trong công tác huy động vốn để phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế thủ đô nói riêng Tuy nhiên công tác này vẫn còn một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện Để thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình, việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để làm tốt hơn công tác huy động vốn tại ngân hàng trong thời gian tới là rất cần thiết.
Sau một thời gian thực tập tại NHNo & PTNT Hà Nội, rất quan tâm đến hoạt động huy động vốn, với phương châm “kinh doanh nguồn vốn huy động để nâng cao hoạt động kinh doanh” em xin chọn đề tài:
“Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHNo & PTNT Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay”.
Luận văn được xây dựng trên cơ sở những kiến thức cơ bản về kinh tế học và nghiệp vụ ngân hàng, kết hợp với việc tìm hiểu thực tế và tham khảo một số tài liệu khác Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong giai đoạn 2000 – 2005
Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHNo & Phát triển
Nông thôn Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHNo & PTNT
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Với thời lượng thực tập, kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm chưa có, nhìn nhận một vấn đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của mình được tốt hơn
Trang 3
Lời cảm ơn
Sau thời gian học tập và nghiên cứu dưới mái trường Kinh Tế Quốc Dân, và khoa Ngân hàng – Tài chính, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo, em đã có thêm nhiều hiểu biết về kinh tế xã hội Đặc biệt sau thời gian thực tập tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội, một chi nhánh hàng đầu của hệ thống Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển nông Thôn Việt Nam, được
sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nhất
là các chú, các anh, các chị phòng Kế hoạch và phòng Kinh doanh,
em đã có thêm những hiểu biết về thực tế hoạt động ngân hàng, nhất
là hoạt động huy động vốn Cùng với định hướng và sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo PGS – TS Nguyễn Văn Nam, người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo PGS – TS Nguyễn Văn Nam, cùng các cán bộ ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội, trong đó có các chú, các anh chị phòng Kế Hoạch, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Em xin gửi tất cả tình yêu thương nhất tới gia đình, bè bạn những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình học tập.
Sinh viên: Lương Thị Tâm, NH41A
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại.
Ngày nay khi nói đến ngân hàng là ta nghĩ ngay đến vai trò trung gian tài chính, một huyết mạch lưu thông dòng máu tiền tệ, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Vì thế bất kể khi nào đề cập tới NHTM ta không thể bỏ qua lịch sử ra đời và phát triển của nó
Tiền thân của nghiệp vụ ngân hàng hiện đại bắt đầu từ khi sản xuất hàng hoá phát triển, trao đổi và lưu thông hàng hoá được mở rộng, tiền tệ ra đời Trong giai đoạn đầu này do mỗi vùng có một đồng tiền riêng nên khi giao lưu hàng hoá phát triển nhu cầu đổi tiền trở nên bức xúc, một số thương nhân đã đứng ra thực hiện việc đổi tiền đúc cho các nhà buôn, họ thường được gọi là các nhà kinh doanh tiền tệ Việc sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển đã xuất hiện nhiều thương gia giàu có, họ có một lượng tiền dư thừa, muốn cất giữ ở một nơi an toàn, khi đó hoạt động nhận tiền gửi xuất hiện Cùng với hoạt động này hoạt động chi trả hộ cũng hình thành do sự khác biệt về thời gian mua bán và thanh toán tiền hàng Nắm trong tay một lượng tiền lớn, lợi dụng tính vô danh của tiền tệ các nhà kinh doanh tiền tệ đã sử dụng lượng tiền dư thừa này để cung cấp cho các nhà kinh doanh có nhu cầu
và sẵn sàng trả một lượng phí nhất định, thế là hoạt động cho vay ra đời Lúc này các nhà kinh doanh tiền tệ được gọi dưới tên nhà ngân hàng
Như vậy hoạt động ngân hàng sơ khai đầu tiên chỉ bao gồm những nghiệp vụ cơ bản: đổi tiền, nhận tiền gửi, giữ hộ tiền, thanh toán và cho vay Trong đó nghiệp vụ cho vay mang tính chất cho vay nặng lãi, vì thế thời kỳ này thường được gọi là ngân hàng cho vay nặng lãi
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá ngành ngân hàng cũng không ngừng hoàn thiện và phát triển Quá trình này có thể chia ra làm 4 giai đoạn:
Trang 5 Trước thế kỷ 15: Là thời kỳ của “các ngân hàng vụ bản” Trong thời
kỳ này các nhà kinh doanh vàng bạc đã phát triển một số hoạt động như: đổi tiền, thanh toán hộ, giữ tiền hộ và cho vay, điều này chỉ thực hiện được với những thợ vàng có uy tín lớn
Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18: Đây là giai đoạn của những ngân hàng
cổ điển Các ngân hàng thợ vàng phát triển cách mạng hoá thành các tổ chức kinh doanh tiền tệ Các ngân hàng tồn tại dưới dạng riêng lẻ, độc lập, cùng tiến hành một hoạt động giống nhau như: đổi tiền, giữ hộ tiền, thanh toán, cho vay và đặc biệt cùng phát hành ra một loại giấy bạc của ngân hàng để cho vay Trợ giúp thương nhân và hỗ trợ cho lưu thông
Từ cuối thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19: Nền sản xuất tại các quốc gia lớn đã đạt được những bước tiến vĩ đại, lưu thông hàng hoá được mở rộng đáng kể Trong điều kiện đó việc tồn tại một số lượng lớn các loại tiền giấy khác nhau đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế Do vậy chính phủ đã can thiệp thông qua đạo luật về hạn chế số lượng các ngân hàng phát hành Các ngân hàng đã tồn tại với tư cách là một hệ thống có sự phân công lao động rõ ràng Trong hệ thống đó đã tách ra một số ngân hàng phát hành, chuyên phát hành ra giấy bạc để cho vay Đây là các ngân hàng lớn và chủ yếu là các ngân hàng tư nhân Các ngân hàng còn lại nằm trong hệ thống các ngân hàng chuyên doanh, được phân công lao động xã hội sâu sắc vào các lĩnh vực cụ thể: các ngân hàng công nghiệp chuyên cho vay trung và dài hạn; các ngân hàng thương nghiệp cho vay vốn ngắn hạn; các ngân hàng địa ốc cho vay lĩnh vực bất động sản; ngân hàng để dành, chỉ huy động vốn của dân chúng sau đó cho vay hoặc mua chứng khoán; ngân hàng cầm cố cho vay bằng nghiệp vụ cầm cố (gần giống cửa hiệu cầm đồ)
Trong thời kỳ này ngân hàng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất vật chất, các ngân hàng phát triển rực rỡ và trở thành lực lượng có thế lực vạn năng
Từ cuối thế kỷ 19 đến nay: Cuộc khủng hoảng 1929- 1933 xảy ra do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chủ yếu là công tác quản
lý trong lĩnh vực tài chính tiền tệ của chính phủ chưa chặt chẽ, các ngân hàng
Trang 6phát hành đa phần là các ngân hàng tư nhân đã hạn chế sự quản lý của chính phủ Sau cuộc khủng hoảng này hầu hết các quốc gia đã tiến hành Quốc hữu hoá ngân hàng phát hành, NHTW ra đời thay thế cho ngân hàng phát hành giữ chức năng phát hành và quản lý lưu thông tiền tệ Hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật Hệ thống ngân hàng chuyển thành ngân hàng 2 cấp:
Năm 1951 chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 15 thành lập ngân hàng Quốc gia, sau đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1954 Thời
kỳ này Miền Bắc chỉ có Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa là NHTW vừa là NHTM, có chi nhánh tại các tỉnh và khu vực Miền nam có một số ngân hàng: ngân hàng Phát triển Nông nghiệp, ngân hàng Phát triển Kỹ nghệ và một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, các ngân hàng nước ngoài đã rút khỏi Việt Nam
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1988 hệ thống ngân hàng được chuyển từ 1 cấp thành 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước và Hệ thống các ngân hàng thương mại
Từ năm 1988-1990 chủ yếu chỉ có 4 NHTM quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực của mình
Đến nay trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền
sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể đan xen với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Theo hướng này nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra tiền đề cần thiết đòi hỏi sự ra đời nhiều loại
Trang 7hình ngân hàng và tổ chức tín dụng, tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng và gay gắt hơn.
Là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội, ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào Vì vậy mỗi nước đều xây dựng cho mình những khung pháp lý giới hạn hoạt động của ngân hàng Mỗi nước có một khái niệm khác nhau về ngân hàng :
Theo luật ngân hàng Ấn Độ năm 1959 bổ xung: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư ”
Theo pháp luật Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là ngân hàng”
Tựu chung lại tất cả đều có điểm chung là tổ chức nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, sử dụng cho vay chiết khấu và các nghiệp
vụ kinh doanh khác
Việt Nam, pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 quy định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay hay thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: “NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh có liên quan” Trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó
để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”
NHTM thực hiện 3 chức năng cơ bản:
-Thủ quỹ của các doanh nghiệp
-Tạo tiền
-Trung gian tài chính
Trang 81.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại từ khi bắt đầu hình thành mới chỉ thực hiện chức năng giữ tiền hộ khách hàng, nhưng đến nay do tình hình kinh tế chính trị thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, hoạt động ngân hàng không ngừng cải tiến và phát triển ở trình độ cao hơn song ngân hàng vẫn thực hiện
ba chức năng cơ bản: ngân hàng thương mại là thủ quỹ của các doanh nghiệp, chức năng tạo tiền và làm trung gian tài chính Trên cơ sở đó ngân hàng thực hiện 3 nghiệp vụ cơ bản sau:
1.1.2.1 Nghiệp vụ huy động vốn:
Đây là nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên và quan trọng nhất của một ngân hàng Để tạo nguồn vốn cho mình các ngân hàng thực hiện các hoạt động huy động vốn sau:
Vốn chủ sở hữu: Nguồn này được hình thành từ nguồn đóng góp của các cổ đông và các quỹ của ngân hàng hình thành trong quá trình kinh doanh thể hiện dưới hình thức lợi nhuận để lại
Nghiệp vụ huy động tiền gửi: Phản ánh các khoản tiền ngân hàng huy động từ các khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm mục đích thanh toán, hưởng lãi, khoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi
Nghiệp vụ đi vay: Phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách vay của các tổ chức tín dụng, vay trên thị trường tệ và vay Ngân hàng Trung Ương (NHTW) dưới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo đảm mục đích tạo sự cân đối trong điều hành vốn của NHTM khi họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ
Nghiệp vụ huy động bằng cách phát hành giấy tờ có giá: Ngân hàng sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính chất dài hạn đối với ngân hàng vào nền kinh tế Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp NHTM tăng cường tính ổn định của đồng vốn trong hoạt động kinh doanh của mình
Nghiệp vụ huy động vốn khác: NHTM có thể tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức cá nhân trong
và ngoài nước
Trang 91.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Ngân hàng là một tổ chức tài chính “đi vay để cho vay” Do vậy mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động được một lượng vốn là làm sao sử dụng nguồn vốn để đạt được hiệu quả cao nhất mà không bị rơi vào tình trạng kẹt vốn Vì thế ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược
sử dụng vốn của mình, bằng các hoạt động:
Dự trữ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng NHTM phải duy trì một lượng vốn bằng tiền mặt thực hiện nghĩa vụ dự trữ, mức dự trữ này tuỳ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc (do nhà nước quy định) và tỷ lệ dự trữ vượt quá mà ngân hàng giữ lại để đảm bảo khả năng chi trả cũng như thực hiện hoạt động khác của mình
Cho vay: Theo quy định “Cho vay là hình thức tín dụng mà trong
đó ngân hàng ký hợp đồng với người đi vay, cam kết cho người đó vay một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi tại thời điểm đáo hạn của khoản cho vay”
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng thương mại Theo thống
kê, nhìn chung khoảng 65 - 70% thu nhập của ngân hàng từ hoạt động cho vay Thành công hay thất bại phụ thuộc vào chính sách cho vay của ngân hàng Đây cũng là hoạt động mang nhiều rủi ro và phức tạp nhất
Nếu phân chia:
-Theo mục đích: có cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay
cá nhân, cho vay thuê mua và cho vay khác
-Theo kỳ hạn: có cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
-Theo hình thức bảo đảm:
+ Cho vay có bảo đảm (cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm
cố, có bảo lãnh của người thứ 3)
+ Cho vay không có bảo đảm: cho vay dựa trên uy tín của bản thân khách hàng
-Theo phương thức hoàn trả: cho vay trả góp, cho vay phi trả góp, hoàn trả theo thoả thuận, cho vay hoàn trả theo yêu cầu (khách hàng có thể hoàn trả bất kỳ lúc nào khi có thu nhập trong thời hạn)
Trang 10 Đầu tư: Ngoài nghiệp vụ cho vay ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu
tư Có 2 hình thức đầu tư chủ yếu:
Đầu tư chứng khoán: Ngân hàng mua chứng khoán vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoá hoạt động, nâng cao lợi tức và phục vụ như các vật ký quỹ cho các tài sản nợ khác Nghiệp vụ này mang lại lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng sau cho vay nhưng cũng hàm chứa rất nhiều rủi ro Tuỳ luật pháp mỗi quốc gia mà việc tham gia vào thị trường chứng khoán của các ngân hàng ở mức khác nhau, song ngân hàng phải luôn xem xét kỹ lưỡng trước khi lựa chọn danh mục và cơ cấu chứng khoán để đầu tư Thường ngân hàng hay chú ý vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty (chứng khoán có độ rủi
ro thấp)
Đầu tư khác: Bên cạnh đầu tư vào chứng khoán, nguồn vốn của ngân hàng còn được sử dụng để đầu tư vào các mục đích sinh lời khác như: góp vốn liên doanh, hùn vốn, ký thác…
1.1.2.3 Câc nghiệp vụ trung gian:
Nền kinh tế ngày càng phát triển, các dịch vụ của ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của công chúng, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ trung gian và nhận thu nhập từ nguồn phí hoặc hoa hồng
Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của ngân hàng Ở các nước phát triển ngân hàng thương mại thực hiện rất nhiều hoạt động trung gian, tức là luôn có dịch vụ cung cấp tiện nghi cho khách hàng Thu nhập từ các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30% đến 35% tổng thu nhập của ngân hàng Nghiệp vụ trung gian phát triển còn giúp ngân hàng tránh được rủi ro, ngân hàng sẽ được hoạt động ở vùng an toàn
Ở Việt Nam các nghiệp vụ trung gian còn nghèo nàn, chưa phong phú,
đa dạng, chưa tạo ra tiện ích cho khách hàng Vì thế cần phải phát triển các dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội đất nước
Ngân hàng thực hiện một số nghiệp vụ trung gian sau: Dịch vụ chuyển tiền, chuyển khoản, thanh toán hộ, phát hành séc, bảo lãnh cho khách hàng,
Trang 11thu chi hộ, quản lý tài sản hộ, mua bán hộ, các dịch vụ uỷ thác với các cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó NHTM còn có các hoạt động ngoại bảng chưa được coi là tài sản hay nguồn vốn như: bảo lãnh công nợ, hoạt động liên quan đến lãi suất (SWAP lãi suất), các giao dịch về hối đoái như SWAP, OPTION, FUTURE các chứng từ có giá Là một nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, nó có tác động mạnh mẽ tới độ an toàn của NHTM Vì vậy khi phân tích hoạt động của NHTM các nhà quản trị cần phải quan tâm tới hoạt động này
1.1.3 Vai trò của NHTM.
Khi nói về vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị thị trường nhiều nhà kinh tế học đã ví NHTM là trái tim của nền kinh tế Từ hoạt động của mình ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi rồi cung cấp nguồn vốn đó cho nền kinh tế, làm cho huyết mạch lưu thông tiền tệ được thông suốt, đồng thời thực hiện tốt
3 chức năng của mình
1.1.3.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Trong nền kinh tế vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và nhà nước Để có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá Song khi đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần phải có vốn Ngân hàng từ hoạt động của mình huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ đặc biệt là tín dụng, ngân hàng chuyển vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế, giải quyết sự thiếu vốn và thừa vốn trong nền kinh tế giúp các doanh nghiệp có điều kiện sản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế:
Như chúng ta đã biết, trong quá trình vận động nền kinh tế thị trường chịu sự tác động của nhiều quy luật kinh tế khách quan như: quy luật cung,
Trang 12cầu, cạnh tranh Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế này cũng không nằm ngoài sự tác động của các quy luật đó Họ luôn phải đối mặt với những khó khăn, không những phải đáp ứng nhu cầu thị trường về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại mà còn đòi hỏi phải thoả mãn trên cả phương diện thời gian và địa điểm Do vậy nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý cải tiến máy móc, trang thiết bị, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp chính là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của thị trường Để làm được điều đó đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, mà khả năng vốn của doanh nghiệp thì có hạn Song khi đến với ngân hàng, các khó khăn này sẽ được giải tỏa Bên cạnh đó việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn đầu tư sẽ giúp cho các doanh nghiệp có sự lựa chọn đúng đắn, tận dụng được thời cơ và khai thác hết khả năng của mình trong kinh doanh, đồng thời họ phải ý thức được việc làm
ăn của mình để đảm bảo có lãi hoàn trả ngân hàng cả vốn lẫn lời Bởi thế các nhà kinh doanh phải tiết kiệm tối đa và có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng khả năng sinh lợi Một bộ phận của nền kinh tế khoẻ mạnh sẽ giúp cho cả nền kinh tế phát triển
Mặt khác ngân hàng còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ và phát triển kinh tế vùng, xoá dần sự cách biệt về kinh tế giữa các vùng lãnh thổ
1.1.3.3 Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô:
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường Hoạt động của NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông, thực hiện tốt chính sách tiền tệ góp phần vào việc ổn định tiền tệ và kinh tế đất nước, trợ giúp chính phủ thực hiện tốt chính sách tài khoá cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác
Trang 13Hơn nữa, bằng việc cấp khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng theo phương châm “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
1.1.3.4 Ngân hàng là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế:
Trong điều kiện hiện nay, kinh tế “đóng” đã phải nhường bước cho kinh tế “mở”, bởi phát triển kinh tế luôn gắn liền với giao lưu trên thị trường thế giới NHTM với các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, nghiệp
vụ hối đoái và các hoạt động khác đã góp phần thúc đẩy ngoại thương, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện tốt vai trũ điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động và phát triển của nền tài chính quốc tế
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về vốn của NHTM.
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau trung gian tài chính được phân chia khác nhau Tuy nhiên luôn tồn tại một diểm chung là vai trũ chủ đạo của các NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà NHTM phải có trước tiên là vốn
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác
Về thực chất vốn của ngõn hàng là một bộ phận thu nhập quốc dõn tạm thời nhàn rỗi trong quỏ trỡnh phõn phối và tiờu dựng mà người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng
1.2.2 Nguồn vốn của NHTM.
Khi bàn về vốn của NHTM chỳng ta cú nhiều cách phân chia nguồn vốn NHTM khác nhau Có thể phân chia nguồn vốn theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), theo loại tiền (nội tệ, ngoại tệ) hoặc theo đặc điểm của nguồn vốn
Trang 14(tiền nợ hoặc tiền vay) Tiếp cận theo bảng tổng kết tài sản nguồn vốn của NHTM bao gồm:
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu của ngõn hàng cú vai trũ quan trọng rong quỏ trỡnh hoạt động kinh doanh, nó thuộc sở hữu của ngân hàng và chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, song giữ vai trũ rất quan trọng, nú cú 3 chức năng: chức năng bảo vệ, chức năng điều chỉnh và chức năng hoạt động Vốn chủ sở hữu gồm:
Vốn tự có ban đầu: Nguồn vốn hỡnh thành từ ban đầu khi mới thành lập Tuỳ theo luật pháp các nước và loại hỡnh ngõn hàng nguồn vốn này cú thể được hỡnh thành từ vốn gúp của cỏc cổ đông (vốn cổ phần) hay vốn ngân sách cấp
Nguồn vốn tự cú bổ sung trong quỏ trỡnh hoạt động: Trong quá trỡnh hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể nguồn vốn có thể hỡnh thành từ:
+ Nguồn lợi nhuận: phần lợi nhuận để lại
+ Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để
mở rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ do ngân hàng Nhà nước quy định Đây là nguồn không thường xuyên, song nó giúp ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc cần thiết
+ Nguồn bổ xung từ các quỹ: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ dự phũng rủi ro, quỹ thặng dư vốn (phần chênh lệch đánh giá tài sản mang lại)
Nó phụ thuộc vào khả năng đầu cơ của mỗi hoạt động ngân hàng
Nguồn vay nợ chuyển đổi thành cổ phần:
Nguồn vốn này được hỡnh thành từ những khoản vay trung và dài hạn của NHTM cú khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần Nó có đặc điểm là sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn
Trang 15Thông thường tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng nguồn vốn = 1/20 Theo tiêu chuẩn quốc tế hệ số Cook: Vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản rủi ro
= 8% là hệ số an toàn
Ở Việt Nam vốn điều lệ (vốn chủ sở hữu) của ngân hàng Công Thương, ngân hàng Ngoại Thương, ngân hàng Đầu Tư Phát Triển là 1100 tỷ VND, ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn là 2200 tỷ VND, NHTM cổ phần Quân đội là 100 tỷ
1.1.2.2 Vốn huy động:
Nếu vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM thỡ vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mở rộng hay thu hẹp quy mô Trong tổng nguồn vốn của NHTM, đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất, có vai trũ quan trọng nhất
Nguồn vốn trong thanh toán: Nguồn vốn được hỡnh thành từ việc ngõn hàng thực hiện cỏc hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (séc trong quỏ trỡnh chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…) Những ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư tiền của ngân hàng thành viên chuyển về
để thực hiện cho vay
Trang 16 Nguồn khác: Các khoản nợ khác như: nợ ngân sách nhà nước (nợ thuế), nợ lương
1.2.3 Sự cần thiết phải tăng cường hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế:
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, vốn cũng là yếu tố hàng không thể thiếu Như cây cần chất dinh dưỡng, các cơ sở sản xuất kinh doanh muốn hoạt động phải có vốn để mua máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai, văn phũng, vận hành sản xuất Bởi vậy nú là yếu tố luôn được các nhà đầu tư sản xuất và nhiều đối tượng khác có liên quan quan tâm Trong phạm
vi quốc gia, vốn không chỉ đóng vai trũ như một yếu tố tham gia vào quá trỡnh sản xuất kinh doanh của mỗi chủ thể kinh tế đơn lẻ mà cũn ảnh hưởng đến mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp giữa các chủ thể, do vậy ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Đặc biệt là khi nước ta đang bước vào thời kỳ CNH-HĐH đất nước thỡ vốn là cơ sở tiền đề, là điều kiện cần thiết không thể thiếu Theo dự báo của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, trong giai đoạn 5 năm 2001-2005,
để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế bỡnh quõn 7,2% / năm đũi hỏi một lượng vốn đầu tư toàn xó hội khoảng 50 đến 60 tỷ USD Hơn nữa, để trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020 với thu nhập bỡnh quõn đầu người 5000- 6000 USD thỡ nhu cầu đầu tư đũi hỏi ngày càng lớn Đặc biệt trong giai đoạn tới, khi Việt Nam gia nhập AFTA điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp với nước ngoài, thỡ lượng vốn để đảm bảo sản xuất kinh doanh ngày càng cần nhiều Đặc biệt là ngân hàng làm sao để hoạt động hiệu quả nhất, chiến thắng trong canh tranh khi tự
do hoá tài chính được thực hiện, vốn sẽ là yếu tố quan trọng mang tính chất quyết định Để thu hút được lượng vốn nói trên, chúng ta cần phải thu hút đầu
tư nước ngoài và phát triển nguồn vốn trong nước Đồng thời để đảm bảo tính tự chủ và khai thác hết tiềm năng trong nước thỡ huy đồng vốn trong nước là chủ yếu Điều này được ghi rừ trong nghị quyết ĐH 8 của Đảng:
“Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước
Trang 17để đầu tư phát triển Trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bờn trong với khả năng có thể tranh thủ bên ngoài”.
Vốn có thể huy động qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên có 3 kênh chủ yếu là: Kênh ngân sách nhà nước, qua thị trường chứng khoán và qua các
tổ chức trung gian tài chính
Ở nước ta hiện nay việc huy động vốn qua kênh ngân sách Nhà nước là rất hạn chế, do mức động viên tài chính vào ngân sách nhà nước chỉ ở mức 20% - 21%GDP cũn lại gần 80% GDP được phân phối trong các thành phần kinh tế và khu vực Hơn nữa gánh nặng trả nợ của ngân sách nhà nước là rất lớn, do từ năm 1991 trở về trước để đáp ứng nhu cầu chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, nhà nước đó phải vay rất nhiều, đến nay các khoản nợ đó đến hạn thanh toán, nếu không trả được sẽ dẫn đến nợ ngân sách nhà nước ngày càng chồng chất, tất yếu sẽ kỡm hóm sự phỏt triển kinh tế xó hội Do vậy, trong những năm tới khả năng vốn ngân sách nhà nước không thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kinh tế đặt ra
Mặt khác thị trường chứng khoán ở nước ta mới đi vào hoạt động, hàng hoá cũn nghốo nàn Hơn nữa sự hiểu biết của dân chúng về thị trường chứng khoán cũn rất hạn chế “thậm chớ cũn nhiều người chưa biết đến khái niệm thị trường chứng khoán là gỡ), hệ thống luật phỏp cũn chưa đầy đủ Vỡ thế mà việc phát huy tối đa hoạt động huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán là rất khó khăn Bởi vậy chỉ cũn một kờnh duy nhất là huy động vốn qua NHTM
1.2.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM:
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh:Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, vỡ khỏc với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bỡnh thường, hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng có những đặc trưng riêng Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà cũn là đối tượng kinh doanh chủ yếu Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền
tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài
Trang 18hạn) Quá trỡnh kinh doanh tiền tệ được mó hoỏ bằng cụng thức T-T’, trong
đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trỡnh đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh T’ >T Từ đó có thể thấy rằng ngân hàng nào trường vốn ngân hàng đó có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh Vỡ vậy ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định thỡ ngõn hàng luụn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quỏ trỡnh hoạt động của mỡnh
Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng:
Trong điều kiện bỡnh thường, đầu vào luôn ảnh hưởng trực tiếp tới đầu
ra Đối với ngân hàng vốn là yếu tố đầu vào, tín dụng, đầu tư là yếu tố đầu
ra Vì vậy, so với cỏc ngõn hàng lớn cỏc ngõn hàng nhỏ có khoản mục đầu tư
và cho vay kém đa dạng hơn Trong khi các ngân hàng lớn có nhiều vốn cho vay được cả thị trường trong nước và quốc tế thỡ cỏc ngõn hàng nhỏ thường không có đủ vốn nên việc cho vay bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn, chủ yếu trong cộng đồng Hơn nữa, vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ thường không phản ứng nhanh nhạy với những đợt biến động về lói suất, ảnh hưởng trực tiếp khả năng thu hút vốn đầu tư từ tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế, đồng thời sẽ khó có điều kiện mở rộng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ để
tăng sức cạnh tranh, cũng như việc đầu tư vào các danh mục đầu tư dài hạn, tham gia vào thị trường chứng khoán trong điều kiện như hiện nay Khó có thể đầu tư vào các dự án lớn do những quy định về pháp luật trong việc cho vay như ngân hàng không được phép cho vay vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng đối với 1 khách hàng hay tổng số cho vay không được vượt quá 20 lần vốn tự có
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường:
Ngân hàng vừa là chủ nợ vừa là con nợ do đặc điểm đi vay để cho vay của mỡnh Để đáp ứng nhu cầu chi trả của ngân hàng cho các khoản vay đến hạn, ngoài dự trữ bắt buộc, ngân hàng cũn phải đảm bảo khả năng thanh toán
Trang 19dưới dạng tiền mặt, tín phiếu kho bạc, các giấy tờ có giá khác hoặc tài sản có tính lỏng hơn.
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng phải giữ được chữ tín Uy tín thể hiện ở khả năng chi trả của ngân hàng khi đáo hạn Vốn khả dụng càng cao thỡ khả năng thanh toán lớn Nguồn vốn lớn sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín và vì thế trên thị trường Tiềm năng vốn lớn là điều kiện đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế xét về cả quy mô lẫn khối lượng tín dụng, chủ động về tiền, thời hạn cho vay, lói suất cho vay cú thể thấp hơn các ngân hàng khác, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng, doanh số kinh doanh tăng, đây là điều kiện tiền đề làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, tăng vốn tự có, tăng khả năng cạnh tranh giữ được chữ tín và nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị trường
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng:
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp tự hoàn thiện mỡnh hơn Với ngân hàng vốn chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh Thực tế đó chứng minh: quy mụ vốn, trỡnh độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế Giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trường, phân tán rủi ro, tạo thêm vốn cho ngân hàng Khi đó trên thương trường tất yếu sức mạnh cạnh tranh sẽ tăng lên
1.2.4 Các hình thức huy động vốn.
1.2.4.1 Hình thức huy động tiền gửi không kỳ hạn:
Tiền gửi của khỏch hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng
Trang 20Để tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đó đưa ra và thực hiện nhiều hỡnh thức huy động khác nhau:
Tiền gửi khụng kỳ hạn:
Đây là tiền gửi với thời gian không xác định, người gửi tiền có thể rút
ra bất cứ lúc nào Là tiền gửi của các cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp gửi vào ngân hàng chủ yếu để hưởng những tiện ích mà ngân hàng cung cấp chứ không phải nhằm mục đích hưởng lói Ngõn hàng thường chỉ trả lói suất rất thấp hay khụng trả lói suất cho số dư tài khoản tiền gửi này, vỡ vậy chi phớ huy động rất thấp Đây là một ưu điểm của nguồn vốn này Để thu hút nguồn vốn này ngân hàng không ngừng cải tiến, đổi mới các hỡnh thức dịch vụ phục
vụ cho hoạt động này
Trong tiền gửi khụng kỳ hạn chia làm 2 loại:
Tiền gửi thanh toỏn:
Đây là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ Do khách hàng gửi vào đây nhằm mục đích thanh toán là chính chứ không phải vỡ mục đích hưởng lói nờn họ cú thể rỳt ra để chi trả, thanh toán bất cứ lúc nào mà ngân hàng không được phép từ chối Vỡ thế tớnh ổn định của nó là thấp nhất
Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngân hàng thường mở 2 loại tài khoản:
Tài khoản thanh toán (tài khoản séc): Là loại tài khoản mà chủ nhân của tài khoản có thể sử dụng số tiền trong phạm vi số dư tiền gửi Tài khoản này có số dư bên có
Tài khoản vóng lai: Tài khoản này thường được sử dụng cho các tổ chức kinh tế Nó có thể có số dư bên nợ hoặc bên có Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng, cũn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng Lói suất đối với mỗi bên dư nợ hoặc dư có cũng như hạn mức đối với số dư nợ do 2 bên thoả thuận
Trang 21Trên thực tế các ngân hàng đó dần xoỏ bỏ sự khỏc biệt giữa 2 loại tài khoản này.
Do tiền gửi không kỳ hạn có chi phí thấp, nếu thu hút được số lượng khách hàng lớn, đảm bảo luôn có một số dư ổn định, ngân hàng có thể dễ dàng đa dạng hoá nghiệp vụ của mỡnh Song sử dụng nguồn tiền này ngõn hàng phải luụn thận trọng nếu khụng rủi ro chi trả xảy ra cú thể làm giảm uy tớn của ngõn hàng hoặc phải tốn nhiều chi phớ để đi vay, thậm chí có thể dẫn đến phá sản Đồng thời nó luôn phải chịu dự trữ bắt buộc, điều này tạo nên một chi phí thực cao hơn danh nghĩa
Đối với Việt Nam loại tiền gửi này tồn tại thông qua các hỡnh thức sau:Tài khoản tiền gửi của cỏc tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi của cỏc
cỏ nhõn Việt Nam là nước cú tỷ trọng thanh toỏn khụng dựng tiền mặt thấp,
để khuyến khích việc thanh toán qua ngân hàng các NHTM Việt Nam đó từng
ỏp dụng việc trả lói cho loại tiền gửi này là 0,5 %/tháng
Tiền gửi khụng kỳ hạn thuần tuý:
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng, họ gửi vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mục đích an toàn tài sản, khi cần khách hàng có thể rút để chi tiêu
1.2.4.2 Hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp:
Đây là loại tiền gửi vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Khách hàng chỉ được phép rút tiền khi đến hạn thoả thuận
Mục đích của khách hàng gửi loại tiền này là hưởng lói chứ không phải
là hưởng các tiện ích trong thanh toán
Đặc điểm của loại tiền này là không dùng để thanh toán Ngân hàng có toàn quyền sử dụng lượng vốn này trong thời hạn Khi khách hàng cần rút tiền phải báo trước cho ngân hàng và phải được sự đồng ý của ngõn hàng Do vậy
nú mang lại tớnh chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng, nên hiệu quả sử dụng nguồn vốn này là rất cao Chi phí để huy động đối với ngân hàng
Trang 22là khá đắt vỡ lói suất huy động thường cao (thường lói suất huy động tỷ lệ thuận theo thời gian), nhưng bù lại tính ổn định của nguồn cao.
Tiền gửi cú kỳ hạn ở Mỹ chiếm khoảng 40% tiền gửi ngân hàng, đặc điểm là các chứng chỉ tiền gửi được ghi rừ hạn định và giá trị thanh toán, việc rút trước hạn sẽ bị phạt, đôi khi mức phạt vượt quá tiền lói được hưởngđến ngày rút tiền Ở Đức họ đó khắc phục việc rỳt tiền trước hạn gây bất lợi cho khách hàng bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng và coi khoản tiền gửi có
kỳ hạn là đảm bảo cho khoản tín dụng đó Lói suất cho cỏc khoản tiền gửi cú
kỳ hạn cú thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng Với loại tiền gửi có lói suất linh hoạt, khỏch hàng cú thể gửi thêm tiền trước hạn định
Ở Việt Nam hiện nay thời hạn của tiền gửi có kỳ hạn đó được đa dạng hoá từ kỳ hạn 1 tháng đến 1 năm, đó phỏt huy được vai trũ trong việc huy động vốn cho các ngân hàng
1.2.4.3 Hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư:
Tiền gửi tiết kiệm do dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lợi Đây là công cụ huy động vốn lưu truyền từ lâu Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tiền gửi của các ngân hàng Người gửi tiền nhằm mục đích thu lợi, vỡ vậy lói suất là yếu tố rất được người gửi tiền quan tâm Lói suất huy động tỷ lệ với thời gian gửi tiền
sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời gian dài hơn
Ngân hàng thường phân chia loại tiền này thành:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: chủ tài khoản có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không phải báo trước, số dư tài khoản này thường không lớn Ưu điểm hơn tài khoản tiền gửi giao dịch là số dư này ít biến động hơn nhưng ngân hàngphải trả lói suất cao hơn tiền gửi thanh toán
Tiền gửi tiết kiệm cú kỳ hạn: Nguyờn tắc của loại tiền này là một khi khỏch hàng đã gửi tiền vào họ sẽ khụng rỳt tiền ra (cả gốc và lói) trừ khi đó hết hạn gửi tiền Tuy nhiờn, do yếu tố cạnh tranh thu hỳt tiền gửi, một số ngõn hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn, đồng thời để hạn chế
Trang 23việc khách hàng rút tiền trước hạn, ngân hàng thực hiện việc khấu trừ một phần lói mà khỏch hàng được hưởng (có thể ngân hàng không chấp nhận trả lói cho một số thỏng nào đó hoặc có thể khách hàng chỉ được hưởng mức lói suất tiền gửi tiết kiệm khụng kỳ hạn cho khoảng thời gian gửi tiền) Đây là loại hỡnh tiết kiệm mà ngõn hàng cần tận dụng để tạo các nguồn có tính ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn.
Để huy động nguồn này ngõn hàng cần phải chỳ ý cỏc yếu tố thuộc về khỏch hàng: nhu cầu tiết kiệm, thu nhập và xu hướng tiết kiệm, các đặc tính
về dân số, xó hội, tỡnh hỡnh kinh tế
1.2.4.4 Huy động bằng hình thức vay nợ của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác:
Tiền gửi là nguồn tiền do khách hàng chủ động mang đến cho ngân hàng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để kinh doanh tiền tệ như cho vay, đầu tư Nếu khi hoạt động mà nguồn tiền gửi không đáp ứng đủ yêu cầu của ngân hàng thỡ NHTM cú thể đi vay từ các nguồn sau:
Vay từ NHTW:
NHTW với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, luôn luôn đóng vai trũ là chủ nợ và là “người cho vay cuối cùng” đối với các ngân hàng thương mại
NHTM và một số tổ chức tín dụng được hưởng quyền vay từ NHTW trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (vay bắt buộc), bù đắp phần thiếu hụt trong thanh toán bù trừ tại NHTW, đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong quá trỡnh hoạt động kinh doanh (vay nóng trong trường hợp khó khăn trong thanh toán khẩn cấp), NHTW cho NHTM vay với thời gian trung và dài hạn nhằm thực hiện chính sách của nhà nước
Lói suất mà NHTM phải trả cho NHTW hoàn toàn phụ thuộc vào ý trớ chủ quan của NHTW:
- Lói suất thấp khi NHTW đang thực hiện chính sách lới lỏng tiền tệ kích thích cho vay, đầu tư
- Lói suất cao khi NHTW đang thắt chặt cung tiền tệ để chống lạm phát, hay thực hiện lói suất phạt trong trường hợp thiếu DTBB
Trang 24Lói suất cao buộc cỏc NHTM phải tỡm cỏch trả nợ rất nhanh và khoản cho vay chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động.
NHTW thực hiện việc cho các NHTM vay trên cơ sở chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, trong đó chủ yếu là thương phiếu và trái phiếu chính phủ Tạo được nguồn tiền giúp ngân hàng trong những lúc khó khăn nhất Song ngân hàng nên hạn chế hỡnh thức huy động này vỡ lói suất quỏ cao và khụng phải lỳc nào cũng diễn ra suụn sẻ
Vay cỏc NHTM và tổ chức tớn dụng khỏc:
Đây là hỡnh thức huy động vốn quan trọng đối với các NHTM Việc vay vốn giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng khác nhằm giải quyết tỡnh trạng thừa vốn và thiếu vốn so với nhu cầu của một ngõn hàng
Ở Việt Nam theo chỉ thị số 07/CT–NH1 của thống đốc NHNN thỡ vốn vay giữa cỏc ngõn hàng và tổ chức tớn dụng được tiến hành theo thoả thuận bằng hợp đồng tín dụng Vốn cho vay được bảo đảm bằng hỡnh thức thế chấp hay cầm cố tài sản của ngõn hàng đi vay bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW, tiền gửi tại ngân hàng khác, các chứng từ có giá Ngân hàng có thể xin ngân hàng khác bảo lónh để vay vốn của ngân hàng khác
NHTM có thể vay thông qua thị trường tiền tệ Nghiệp vụ này sẽ tạo ra thị trường liên ngân hàng trong nước và quốc tế Lói suất đi vay thường cao hơn vay từ NHTW Quy mô các món vay phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng tức là khả năng cho vay của các liên ngân hàng Về kỳ hạn có thể co gión, cú thể rất ngắn, cú thể tới 3-5 năm
Nguồn tiền vay không phải chịu DTBB, không cần bảo hiểm tiền gửi, nhưng lói suất lại cao Song quy mụ và thời gian xỏc định trước, và có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngân hàng
Ngoài ra, các ngân hàng có chi nhánh nằm chung trong một hệ thống như Ngân hàng Nụng Nghiệp và phỏt triển Nụng thụn Việt Nam cũn cú vốn điều chuyển trong hệ thống Vốn này khá quan trọng đối với các chi nhánh nhằm đảm bảo kinh doanh mở rộng thị trường, đa dạng hoá sản phẩm
Trang 251.2.4.5 Vay bằng cách phát hành công cụ nợ:
Đây là nguồn vốn chủ động thu gom của ngân hàng trên thị trường tài chính bao gồm: thị trường tiền tệ và thị trường vốn Trong quá trỡnh hoạt động, khi thiếu vốn đầu tư ngân hàng có thể phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn trên thị trường tài chính Giấy tờ này là giấy tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.Tuỳ theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng mà các chứng chỉ này có thể được chuyển đổi từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác Đây là hỡnh thức huy động vốn chủ động với những ưu điểm riêng biệt
mà những hỡnh thức huy động trên không có được
Ngõn hàng cú thể phỏt hành cỏc loại giấy tờ cú giỏ sau: trỏi phiếu ngõn hàng và kỳ phiếu ngõn hàng
Trái phiếu ngân hàng: là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của ngân hàng đối với người chủ sở hữu trái phiếu, với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định trước Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau người ta có thể chia trái phiếu ngân hàng ra:
Theo khả năng chuyển đổi: trái phiếu vô danh, trái phiếu kớ danh
Theo thời hạn: trỏi phiếu ngắn hạn và dài hạn
Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng chủ yếu là
để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho các kế hoạch kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn Lói suất trỏi phiếu ngõn hàng cũng rất hấp dẫn, thường lớn hơn các công cụ nợ khác và tỷ lệ thuận với kỳ hạn của khoản nợ
Kỳ phiếu: Kỳ phiếu ngõn hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do ngõn hàng phỏt hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu để thực hiện cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trỡnh kinh tế Kỳ phiếu ngõn hàng được phát hành theo từng đợt và cũn gọi là kỳ phiếu cú mục đích Việc phát hành được thực hiện trên cơ sở tỡnh hỡnh nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ trước mắt của ngõn hàng
Kỳ phiếu là một hỡnh thức huy động vốn khá linh hoạt, có tính lỏng cao,
dễ chuyển đổi sang tiền hoặc hỡnh thức khỏc Mệnh giỏ, loại tiền sử dụng và
Trang 26cỏc phương thức trả lói đa dạng đáp ứng nhu cầu của người mua Do tính chủ động, lói suất của kỳ phiếu thường ổn định ở một mức hấp dẫn tuỳ theo mức
độ cần thiết về vốn của ngân hàng
Nhỡn chung hỡnh thức huy động này có thể đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng như: thu hút được một lượng tiền theo mong muốn, chỉ phải trả vào ngày đến hạn của các công cụ nợ này, nên nguồn này là ổn định Song đây là nguồn huy động đũi hỏi một lượng chi phí lớn, do lói suất huy động cao và cũn mất thờm chi phớ khỏc như chi phí phát hành, quảng cáo
1.2.4.6 Các hình thức huy động khác:
Ngoài các hình thức huy động trên, ngân hàng còn thực hiện một số hình thức huy động khác như:
Nhận tiền gửi uỷ thác của các tổ chức kinh tế, và cá nhân
Làm đại lý giải ngân cho các ngân hàng khác và cho Chính phủ đối với các dự án lớn…
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.2.5.1 Các nhân tố khách quan:
Phỏp luật và chính sách của nhà nước:
Mọi hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp Với hoạt động ngân hàng, đó là Luật các Tổ chức tín dụng và hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lói suất,
dự trữ, hạn mức Trong sự ràng buộc về luật phỏp, cỏc yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi, làm ảnh hưởng tới quy mô, hiệu quả và chính sách huy động vốn của ngân hàng
Tỡnh trạng nền kinh tế:
Tỡnh trạng nền kinh tế cũng như luật pháp là những nhân tố vĩ mô nên
nó ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tế phát triển hưng thịnh, thu nhập dân cư cao và ổn định thỡ nguồn tiền vào ra cỏc ngõn hàng cũng ổn định, số vốn huy động được dồi dào, cơ hội đầu tư cũng được mở rộng Nếu nền kinh tế đang suy thoái thỡ khả năng khai thác vốn đưa vào nền kinh tế bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh lại công tác huy động vốn
Điều kiện thị trường cạnh tranh:
Trang 27Hoạt động của ngân hàng rừ ràng phải tớnh đến điều kiện môi trường kinh doanh, như có bao nhiêu cơ hội đầu tư tiềm tàng ở những khu vực thuộc địa bàn của ngân hàng, có bao nhiêu ngân hàng và tổ chức tín dụng cũng tham gia trên địa bàn đó? Để tiến hành cạnh tranh với các đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến chất lượng dịch vụ, ấn định một lói suất phự hợp với thị trường, nghiên cứu kỹ hơn các điều kiện thị trường Như vậy, cạnh tranh vừa là một thách thức với sự phát triển, vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển hiệu quả các dịch vụ ngân hàng trong đó có huy động vốn.
Các yếu tố thuộc về dân cư: Như thói quen của người dân trong việc
sử dụng tiền mặt, với tâm lý lo ngại trước sự sụt giá của đồng tiền, cũng như
sự hiểu biết của người dân về các ngân hàng và hoạt động của ngân hàng có tác động rất lớn tới hoạt động huy động vốn của ngõn hàng
Nếu như dân cư có sự hiểu biết về ngân hàng cũng như các hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng, và thấy được những tiện ích, lợi ích mà ngân hàng mang lại thỡ họ sẽ gửi nhiều tiền vào ngõn hàng hơn và như vậy công tác huy động vốn cũng thuận lợi hơn và ngược lại
Bên cạnh đó lũng tin của dõn chỳng vào ngõn hàng cũng hạn chế, do họ thấy được sự đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng, gây tâm lý lo sợ rủi ro và mất lũng tin với ngõn hàng, nờn việc thu hỳt nguồn tiền gửi của dõn cư cũng trở nên khó khăn hơn
Ở các nước phát triển, dân chúng có thói quen gửi tiền vào ngân hàng và thực hiện thanh toán qua ngân hàng, ngân hàng là một cái gỡ đó không thể thiếu trong cuộc sống Tuy nhiên với đại bộ phận các nước đang phát triển như nước ta, dân chúng chưa có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng dịch vụ ngân hàng, họ có thói quen cất trữ tiền mặt, vàng bạc và ngoại tệ Nên
nó là nhân tố ảnh hưởng mạnh tới công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.5.2 Nhóm nhân tố chủ quan:
Chiến lược kinh doanh của ngõn hàng:
Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mỡnh một chiến lược kinh doanh cụ thể Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên việc ngân hàng xác định
Trang 28vị trí hiện tại của mỡnh trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai Thông qua chiến lược kinh doanh ngân hàng sẽ có thể quyết định thu hẹp hay mở rộng việc huy động vốn, có thể thay đổi tỷ lệ các loại nguồn, tăng hay giảm chi phí huy động Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác một cách tối đa thỡ hoạt động huy động vốn sẽ phát huy được hiệu quả.
Trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, chiến lược khách hàng đóng vai trũ rất quan trọng Nú tỏc động trực tiếp tới sự thành công trong công tác huy động vốn của ngân hàng Để có được thành công, trước tiên ngân hàng phải tỡm hiểu động cơ, thói quen, mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng thông qua phân tích lợi ích của khách hàng Trên cơ sở thông tin về khỏch hàng đưa ra chớnh sỏch về giỏ cả (thụng qua lói suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng, chi phớ dịch vụ) hợp lý Xõy dựng chớnh sỏch trong phục vụ và giao tiếp tốt sẽ tạo ra sự thoải mỏi cho khỏch hàng giao dịch Từ đó sẽ tạo thuận lợi cho công tác huy động vốn của ngõn hàng
Trỡnh độ công nghệ của ngân hàng:
Trỡnh độ công nghệ của ngân hàng được thể hiện qua các yếu tố sau:Thứ nhất: Cỏc loại hỡnh dịch vụ mà ngõn hàng cung ứng
Thứ hai: Trỡnh độ nghiệp vụ của cán bộ nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang bị phục vụ hoạt động ngân hàng
Trỡnh độ công nghệ càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lũng về dịch vụ được cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại ngân hàng
Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng thực hiện cạnh tranh phi lói suất, do khách hàng quan tâm không chỉ đến lói suất mà cả hiệu quả dịch vụ mà họ được hưởng Với cùng một lói suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng sẽ dành ưu thế
Trỡnh độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các mảng nghiệp vụ Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn vững mới có thể
Trang 29quản lý tụt nguồn vốn, gúp phần nõng cao hiệu quả và khả năng huy động vốn của ngân hàng.
Tổ chức mạng lưới phục vụ:
Ngoài việc quan tâm đến lói suất, dịch vụ tiện ớch của ngõn hàng, người gửi tiền cũn quan tõm tới vấn đề thuận lợi trong việc gửi tiền Nhất là các khoản tiền tiết kiệm của dân cư, thường là những khoản không lớn nên người dân rất ngại đi một quóng đường xa đến vài cây số để gửi tiền chẳng thà để cất giữ ở nhà thỡ hơn Vỡ vậy, để huy động tiền gửi của dân chúng thỡ ngõn hàng nhất thiết phải mở rộng mạng lưới chi nhánh và thực hiện tốt công tác tổ chức mạng lưới phục vụ Việc mở thêm chi nhánh ở đâu là hợp lý để huy động được nhiều khoản tiền gửi là đũi hỏi phải cú nghiờn cứu hết sức nghiờm tỳc Thường các chi nhánh được mở ở mặt đường quốc lộ hay nơi đông dân cư để thuận tiện cho người dân gửi tiền Cũn đối với khách hàng lớn thỡ nờn mở chi nhỏnh ngay tại trụ sở để phục vụ khách hàng tốt hơn và tạo mối quan hệ mật thiết với khách hàng Ngoài ra, công tác tổ chức quản lý cũn phải quan tõm đến việc nâng cấp các chi nhánh, trang bị các phương tiện dịch
vụ, nâng cao chất lượng cán bộ ở các chi nhánh để có thể phục vụ được khách
tốt hơn và thu được nhiều tiền gửi hơn.
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NHNO & PTNT HÀ NỘI
2.1 SƠ LƯỢC VỀ NHN O & PTNT HÀ NỘI
2.1.1 Sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT Hà Nội.
2.1.1.1 Sự hình thành và phát triển:
NHNo & PTNT Hà Nội là một trong hơn 2.500 chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Có vai trò trong việc tạo lập nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng của các thành phần kinh tế trên địa bàn Thủ đô, cung cấp các hình thức dịch vụ ngân hàng góp phần thực hiện các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hà Nội
Tên giao dịch: NHNo & PTNT Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Bank For Agriculture and Rural Development Hanoi Branch
Trụ sở chính tại số 77 Lạc Trung - Hai Bà Trưng - Hà Nội
NHNo & PTNT Hà Nội thành lập theo Quyết định 51 ngày 27 tháng 6 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thành lập các ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội
Khi mới hình thành, NHNo & PTNT Hà Nội tại trụ sở chính có các phòng: Tín dụng, Kế hoạch, Tiền tệ-Kho quỹ, Tổ chức cán bộ, Văn phòng, Tiết kiệm và nguồn vốn Đồng thời NHNo & PTNT Hà Nội lúc đó có 12 chi nhánh trực thuộc tại các huyện: Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Mê Linh, Sóc Sơn, Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì
Đến năm 1991, Nghị quyết Quốc hội Khoá 8 bàn giao 6 huyện: Hoài Đức, Thạch Thất, Đan Phượng, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì về tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh về tỉnh Vĩnh Phú
Trang 31Năm 1995, Quyết định của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam bàn giao 5 huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì về Trung tâm quản lý.
Năm 1994 thành lập chi nhánh Chợ Hôm
Năm 1995 thành lập 2 chi nhánh Đồng Xuân và Thanh Xuân
Năm 1996 thành lập 2 chi nhánh: Tây Hồ và Giảng Võ
Năm 1997 thành lập chi nhánh quận Cầu Giấy
Năm 1999 thành lập 2 chi nhánh Đống Đa và Khu vực Tam Trinh
Năm 2002 thành lập 2 chi nhánh Tràng Tiền và Chương Dương
Những năm vừa qua, NHNo & PTNT Hà Nội đó cú những hoạt động tích cực trong việc cơ cấu lại bộ máy quản lý cũng như các phũng ban Hiện nay, với một mụ hỡnh tổ chức hợp lớ, tập trung phỏt huy vai trũ và năng lực của từng bộ phận cũng như từng cá nhân trong việc thúc đẩy hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển Đội ngũ cán bộ được trẻ hoá và có trỡnh độ chuyên môn cao, nghiệp vụ vững vàng; 100% cán bộ của ngân hàng có trỡnh
độ Đại học và trên Đại học
Mạng lưới hoạt động của NHNNo & PTNT Hà Nội hiện nay gồm: 01 Trụ sở chính, 10 chi nhánh Ngân hàng Quận - Khu vực trực thuộc và 33 phòng giao dịch dàn trải trên các Quận nội thành Các chi nhánh Ngân hàng trực thuộc là: NHNo Hai Bà Trưng, NHNo Hoàn Kiếm, NHNo Tây Hồ, NHNo Ba Đình, NHNo Chương Dương, NHNo Thanh Xuân, NHNo Cầu Giấy, NHNo Đống Đa, NHKV Tam Trinh, NHNo Tràng Tiền
Hiện tại, tại trụ sở chính, NHNo & PTNT Hà Nội có một giỏm đốc, hai phó giám đốc và 9 phũng ban là: Kế toán, Kế Hoạch, Ngân quỹ, Kinh doanh, Kiểm soát, Tổ chức cán bộ đào tạo, Thanh toán quốc tế, Vi tính, Hành chính; hoạt động theo Quyết định 169 ngày 7 tháng 9 năm 2000 của Chủ tịch HĐQT NHNo & PTNT Việt Nam ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh NHNo & PTNT Việt Nam Về nhân sự, NHNo & PTNT Hà Nội có
396 cán bộ, nhân viên; trong đó 165 người tại trụ sở chính và 231 người tại các chi nhánh Ngân hàng Quận-Khu vực trực thuộc
Trang 322.1.1.2 Cơ cấu tổ chức:
Giám đốc: Phụ trách tình hình hoạt động kinh doanh của toàn bộ
NHNo& PTNT Hà Nội
Phó giám đốc: Có hai phó giám đốc giúp việc cho giám đốc.
Và 9 phòng ban có các nhiệm vụ sau:
+Hành chính, văn thư, tiếp tân
+ Quản trị, quản lý kho tàng, vật tư, ấn chỉ
+ Tổ chức hội họp, lưu trữ hồ sơ pháp lý
+ Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị theo chỉ đạo của Ban lãnh đạo chi nhánh
Phòng thanh toán quốc tế:
Phòng thanh toán quốc tế thực hiện các nghĩa vụ sau:
+ Thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT;
+ Thanh toán nhờ thu (đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu);
+ Chuyển tiền với nước ngoài (bao gồm chuyển tiền đi và chuyển tiền đến);
Trang 33+ Thanh toán biên mậu.
+ Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của NHNo&PTNT trên địa bàn
+ Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định
+ Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong nước, bao gồm các bộ phận thanh toán qua ngân hàng bằng nội tệ, thanh toán bù trừ, thanh toán liên ngân hàng
+ Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của NHNo&PTNT
Phòng ngân quỹ:
+ Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của NHNo Việt Nam
+ Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo luật định
+ Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ theo quy định
Phòng kiểm soát: Có chức năng thanh tra viên trong ngân hàng, giúp ban
giám đốc nắm bắt kịp thời thiếu sót trong hoạt động kinh doanh nhằm chỉnh sửa và kịp thời hạn chế sai sót
Phòng vi tính:
+ Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh
Trang 34+ Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ và tín dụng cùng các hoạt động khác phục
vụ cho hoạt động kinh doanh
+ Chấp hành chế độ báo cáo thống kê và cung cấp số liệu, thông tin theo quy định
+ Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc, thiết bị tin học
+ Làm dịch vụ tin học
Phòng tổ chức cán bộ đào tạo:
Tổ chức quản lý, sắp xếp, chức đào tạo cán bộ cho phù hợp với công việc hiện tại
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trong thời gian qua cùng với sự cố gắng nố lực của cán bộ nhân viên ngân hàng và chiến lược kinh doanh hợp lý ngân hàng đã đạt được kết quả khá khả quan Tổng thu từ hoạt động kinh doanh năm 2002 đạt 369 tỷ Trong
đó cho vay là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHNo & PTNT Hà Nội Nguồn vốn huy động được tập trung chủ yếu cho các thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội Phần vốn không sử dụng hết được ngân hàng chuyển về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
để điều hoà cho các ngân hàng thiếu vốn Lợi nhuận mang lại từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng cao gần 90%, ngoài ra lợi nhuận còn thu được
từ các hoạt động khác như kinh doanh ngoại tệ, hoạt động thanh toán thừa vốn Tổng dư nợ cho vay không ngừng tăng lên qua các năm Cụ thể tổng dư
nợ 31/12/2001 đạt 1574 tỷ tăng 21,8% so với năm 2000, bình quân đầu người đạt 5,6 tỷ So với 12 tỷ dư nợ khi mới thành lập thì sau hơn 10 năm, dư nợ cho vay đối với nền kinh tế trên địa bàn Hà Nội đã tăng 131 lần Sang năm
2002, tổng dư nợ đạt 2003 tỷ tăng 27,4% so với 2001, đạt chỉ tiêu tín dụng mà Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giao Chủ yếu là
nợ ngắn hạn và khách hàng chính vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ nhỏ Song đó không phải là sự phân biệt các thành phần kinh tế mà nó khẳng định vị trí vai trò chủ đạo của
Trang 35thành phần kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thành phố Bên cạnh đó thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng khẳng định được
vị trí của mình, không ngừng phát triển góp phần vào sự tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội của Hà Nội Hoạt động cho vay hộ nghèo đã thu được kết quả cao, góp phần vào công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội Năm 2002, được sự giúp đỡ của các Quận, Phường NHNNo & PTNT Hà Nội đã giải ngân cho gần 700 hộ nghèo vay 2100 triệu đồng một số đã tạo thêm được công ăn việc làm, thu nhập tăng, đời sống được cải thiện, trả nợ ngân hàng sòng phẳng Tuy số lượng hộ vay và dư nợ cho vay hộ nghèo của NHNNo & PTNT Hà Nội không lớn nhưng NHNNo &PTNT Hà Nội đã góp phần cùng các cấp các ngành của Hà Nội thực hiện chương trình 03 của Thành Uỷ Hà Nội về xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.1: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế và theo thời gian
của NHNo & PTNT Hà Nội giai đoạn 2000-2002
1267307
1423580
3 Dư nợ theo thời gian
+ Dư nợ ngắn hạn
+ Dư nợ trung và dài hạn
1122135
1117457
1259744
(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh 2000 – 2002)
Năm 2002, nợ quá hạn đã hạch toán 57 tỷ chiếm 2,82% tăng 0,3% so với
2001 Một số chi nhánh ngân hàng như Ngân hàng Hai Bà Trưng, Ngân hàng Tam Trinh và 2 chi nhánh ngân hàng mới thành lập là Chương Dương và Tràng Tiền không có nợ quá hạn Một số chi nhánh có nợ quá hạn giảm như Đống Đa, Ba Đình, Thanh Xuân, Hoàn Kiếm, trong khi đó nợ quá hạn của Trung tâm, Tây Hồ lại tăng
Bảng 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn tại NHNo & PTNT Hà Nội từ 2000 – 2002
Trang 36(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh 2000 – 2002)
Song ngân hàng đã tích cực khắc phục tình trạng này Trong năm 2002, NHNo & PTNT Hà Nội đã thu hồi và trích rủi ro xử lý được nợ tồn đọng lớn (tới 143 tỷ đồng) làm nợ quá hạn của các ngân hàng giảm xuống
Hoạt động huy động vốn cũng đạt được kết quả cao, cung cấp đủ vốn cho ngân hàng trong quá trình hoạt động và điều chuyển một phần lên NHNo
& PTNT Việt Nam Đến năm 2002 tổng nguồn vốn huy động đạt 6.152 tỷ tăng 44,5% so với năm 2001
Đồng thời ngân hàng cũng chú ý đến các hoạt động khác nên kết quả đạt được khá cao:
Hoạt động kinh doanh đối ngoại:
Song song với việc đáp ứng nhu cầu vốn nội tệ, NHNNo & PTNT Hà Nội cũng luôn quan tâm tới việc đảm bảo nguồn ngoại tệ để kịp thời cung cấp cho khách hàng Chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam dần dần hoà nhập vào mạch phát triển chung của nền kinh tế thế giới Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế trong nước đã thực hiện giao dịch ngoại thương với các đối tác nước ngoài trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh Tình hình đầu tư nước ngoài vào Hà Nội trong thời gian qua đang có dấu hiệu cải thiện và phục hồi Trong những năm qua, NHNNo & PTNT Hà Nội luôn là người đồng hành đáng tin cậy của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong hoạt động ngoại thương Cho vay bằng ngoại tệ tại NHNNo & PTNT Hà Nội áp dụng với các đối tượng sau:
- Cho vay để thanh toán cho nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hoá dịch vụ;
Trang 37- Các dự án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu có thị trường xuất khẩu;
- Để trả nợ nước ngoài trước hạn;
- Cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;
- Cho vay dưới hình thức chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu
Hiện nay, chi nhánh cho vay các ngoại tệ chuyển đổi mạnh như Đô la
Mỹ (USD), Ơ RÔ (EUR), Yên Nhật (JPY) và các loại ngoại tệ khu vực biên giới như Nhân Dân tệ Trung Quốc, đồng Kip Lào, đồng Riên Campuchia Lãi suất cho vay ngoại tệ được thực hiện theo quy định hiện hành của Tổng giám đốc NHNNo & PTNT Việt Nam Năm 2002 NHNNo & PTNT Hà Nội tiếp tục mở rộng nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đến nay NHNNo & PTNT Hà Nội
đã có quan hệ đại lý và thanh toán với 600 Ngân hàng và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, phát triển nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ kể cả Nhân dân tệ và tổ chức thanh toán biên mậu nhằm đảm bảo thuận lợi cho khách hàng có quan hệ mua bán với Trung quốc Do vậy doanh số hoạt động tăng trưởng khá:
Về xuất khẩu:
- Đã gửi chứng từ đòi tiền 74 món, trị giá 1,8 triệu USD
- Đã thu tiền 65 món trị giá 1,5 triệu USD
Về nhập khẩu: Mở 877 LC trị giá 100,9 triệu USD, thanh toán LC 992 món trị giá 92,4 triệu USD, nhờ thu 311 món trị giá 4,5 triệu USD, thanh toán nhờ thu 1.202 món trị giá 36,7 triệu USD.Thu phí dịch vụ 191 triệu USD
Năm 2002, tỷ giá giữa đồng USD và đồng Việt Nam không ngừng tăng trong khi giá xuất khẩu nhiều mặt hàng giảm mạnh như cà phê, gạo và các hàng nông sản khác làm cho xuất khẩu chậm, đồng thời gây tâm lý cho nhiều doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng làm cho ngoại tệ vốn
đã khan hiếm từ năm 2000 thì sang năm 2002 càng khan hiếm hơn Thấu hiểu khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của ngân hàng nhất là trong quan hệ quốc tế, nên NHNNo&PTNT Hà Nội đã tìm nhiều giải pháp kể cả phải chấp nhận mua kỳ hạn và cung ứng cho nhiều doanh nghiệp với giá giao ngay và chấp nhận lỗ về tỷ giá để đảm bảo cung ứng đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ tích cực của NHNN Việt Nam và
Trang 38của NHNNo & PTNT Việt Nam đã bán cho NHNNo & PTNT Hà Nội 46,2 triệu USD để thanh toán nhập khẩu phân bón nên phần lớn các nhu cầu về ngoại tệ trong năm đều được đáp ứng tương đối kịp thời và đầy đủ, không để xảy ra tình trạng thanh toán chậm mà ngược lại NHNNo & PTNT Hà Nội còn được nhiều ngân hàng nước ngoài tín nhiệm vì đã làm tốt công tác thanh toán quốc tế và nhờ vậy một số doanh nghiệp kể cả một số Tổng Công ty 90 - 91
đã thực hiện thanh toán qua NHNNo & PTNT Hà Nội Kết quả đã mua được
109 triệu USD, 692 triệu Yên Nhật, 16 triệu EUR và bán cho khách hàng để thanh toán 100,4 triệu USD, 692 triệu Yên Nhật và 15,7 triệu EUR
Hoạt động tài chính, thanh toán và ngân quỹ:
Về công tác thanh toán, với khối lượng nguồn vốn lớn của các doanh nghiệp có quan hệ rộng trên phạm vi cả nước nên công tác thanh toán của NHNNo & PTNT Hà Nội năm 2002 càng trở nên phức tạp và khẩn trương hơn các năm trước Tuy vậy NHNNo & PTNT Hà Nội đã tổ chức tốt công tác thanh toán vốn cho các doanh nghiệp không để chậm chễ hoặc sai xót
Trong năm 2002 đã chuyển tiền điện tử 24.476 món với 12.137 tỷ đồng, tăng 2,3 lần số món thanh toán so với năm 2001 mà không để xảy ra nhầm lẫn cho khách hàng
Về kết quả tài chính, Năm 2002, chênh lệch thu chi tăng 120%, trích rủi
ro tăng 25% so với năm 2001, đạt kế hoạch NHNNo & PTNT Việt nam giao
cả năm, đảm bảo đủ tiền lương cho người lao động theo quy định chung của NHNNo & PTNT Việt Nam
Về ngân quỹ: với màng lưới 33 điểm giao dịch rải rác trong nội thành lại hay bị ách tắc giao thông, nhưng NHNNo & PTNT Hà Nội đã tổ chức tốt công tác Ngân quỹ nên vừa đảm bảo đầy đủ và kịp thời tiền mặt giao dịch với khách hàng nhất là dân cư, vừa mở rộng diện thu tiền mặt tại chỗ cho một số doanh nghiệp như Công ty bia Hà Nội, Nhà máy thuốc lá Thăng long, Công
ty bia Việt Hà, vừa cung ứng kịp thời chính xác các nhu cầu thu chi của khách hàng nhất là chi xã hội cho các Chi nhánh kho bạc, các trường Đại học
Năm 2002, tổng thu 8.457, tăng 83% so với năm 2001 tổng chi 4.579
tỷ, tăng 85% so với năm 2001
Trang 39Quá trình thu chi tiền mặt được chấp hành nghiêm túc các quy trình ra vào kho, điều chuyển tiền, kiểm tra, kiểm kê tiền mặt và giấy tờ có giá theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước và của NHNNo & PTNT Việt Nam nên luôn đảm bảo an toàn tiền trong kho cũng như trong quá trình điều chuyển, không xảy ra tình trạng tham ô lợi dụng quỹ công.
Trong năm, cán bộ bộ phân kho quỹ đã nêu nhiều tấm gương liêm khiết
đã trả 615 món tiền thừa cho khách hàng với số tiền 792 triệu đồng, có món tới 200 triệu và 3 món, mỗi món 100 triệu được khách hàng khen ngợi, đồng thời với đức tính cần cù tỷ mỷ và thận trọng trong thu chi đã phát hiện 14 triệu đồng tiền giả
Hiện đại hoá Ngân hàng - đổi mới công nghệ:
Để từng bước hiện đại hoá hoạt động công nghệ thông tin, hoàn chỉnh nối mạng thông tin nội bộ giữa NHNNo & PTNT Hà Nội với các chi nhánh NHNNo &PTNT Quận và khu vực nên việc tổng hợp tình hình cũng như điều hành kinh doanh được thực hiện kịp thời NHNNo & PTNT Hà Nội là đơn vị đầu tiên được Tổng giám đốc NHNNo &PTNT Việt Nam cho mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ làm công tác kế toán các chương trình ứng dụng Năm 2001 NHNNo & PTNT Hà Nội đã tổ chức 7 lớp bồi dưỡng nghiệp
vụ vi tính như: Chế độ chuyển tiền điện tử, thanh toán bù trừ, chương trình dự thu dự chi, mua bán ngoại tệ Đến nay 100% cán bộ kế toán đã thực hiện thành thạo các quy trình nghiệp vụ hiện có của NHNNo &PTNT Việt Nam như giao dịch thanh toán, chuyển tiền điện tử, thông tin báo cáo, thanh toán liên hàng qua mạng máy tính, đối chiếu liên hàng, thông tin tín dụng, quản lý nhân sự, thanh toán quốc tế, mọi giao dịch trực tiếp với khách hàng đều được thực hiện trên máy tính
Do yêu cầu hội nhập trong khu vực, nhằm nhanh chóng hiện đại công nghệ ngân hàng, tháng 12 năm 2001 NHNNo & PTNT Hà Nội đã thành lập phòng Vi tính, đây là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay phù hợp với xu thế hiện đại hoá ngày càng nhanh chóng về công nghệ thông tin tạo điều kiện cho NHNNo&PTNT Hà Nội sớm hoà nhập vào hệ thống Ngân hàng trong khu vực và thế giới
Trang 40Công tác kiểm soát: được nâng cao cả về chất lượng, kết hợp cả hai hình thức; kiểm soát từ xa và tại chỗ, đã có tác dụng ngăn ngừa được sớm những sai sót vi phạm.
Công tác đào tạo: Năm 2002, NHNNo &PTNT Hà Nội đã tổ chức đào tạo tại chỗ các nghiệp vụ tín dụng, kế toán, vi tính và ngân quỹ cho đội ngũ cán bộ vào những ngày nghỉ cuối tuần đạt kết quả tốt
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHN O & PTNT
HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Vốn của một ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn tự có ban đầu, vốn vay, vốn huy động, vốn tài trợ Song cơ bản và quan trọng nhất vẫn là nguồn vốn huy động, nó minh chứng cho khả năng tồn tại và chức năng trung gian tài chính của một ngân hàng Làm thế nào để tạo
ra một chính sách thu hút vốn, tạo tiền đề cho quá trình đầu tư ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đạt được hiệu quả cao luôn là mục tiêu được đặt lên hàng đầu của NHNo&PTNT Hà Nội Trong nhiều năm qua, sự vận hành của nền kinh tế thị trường đã tạo ra một hệ quả tất yếu là sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hầu khắp các ngành nghề kinh doanh cũng như giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế Hoạt động ngân hàng cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của quy luật này - đặc biệt khi nó kinh doanh một đối tượng khác với mọi ngành kinh tế là tiền tệ
Trong chiến lược hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hà Nội hiện nay, hoạt động huy động vốn được quan tâm nhiều nhất do: