1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”

96 363 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Huy Động Vốn Tại Chi Nhánh NHNo&PTNT Chi Nhánh Bách Khoa
Tác giả Phạm Lan Hương
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, NH có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế của một đất nước NH chính là nơi tích tụ tập trung vốn, khơi dậy và động viên các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế

Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống nguồn lực trong đó vốn là nguồn lực không thể thay thế Vốn bao gồm : tiền

tệ, vật tư, tri thức, khoa học Trong cơ chế thị trường với các quan hệ được tiền tệ hoá thì tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất Nền kinh tế của một nước chỉ phát triển với tốc độ cao và ổn định khi có chính sách tài chính tiền tệ đúng đắn và hệ thống NH hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả cao, có khả năng thu hút tập trung các nguồn vốn và phân bổ các nguồn vốn đó cho nền kinh tế Vì vậy, việc tìm kiếm những giải pháp huy động vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước có ý nghĩa rất quan trọng

Ở nước ta, cùng với quá trình đổi mới đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới, trước những đòi hỏi cấp bách của việc mở rộng các quan hệ kinh tế để phát triển kinh tế đất nước Trong nhiều năm qua hệ thống

NH nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt và không ngừng đổi mới hoàn thiện căn bản tất cả các nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ huy động vốn Trong chương trình hoạt động của ngành NH phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, ban lãnh đạo NH đã đề ra bốn định hướng lớn trong giai đoạn 2001-2010 Một trong những định hướng đó là việc đáp ứng vốn và huy động vốn trong nền kinh tế để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước.Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn lớn trong nền kinh tế lại là một thách thức lớn đòi hỏi các NHTM phải có các hình thức huy động vốn

Trang 2

phong phú và linh hoạt Làm thế nào để huy động được vốn đáp ứng cho sự nghiệp CNH-HĐH, phát triển kinh tế địa phương là một vấn đề đang được các NHTM quan tâm Xuất phát từ tầm quan trọng của vốn đối với nền kinh tế nói chung và đối với hoạt động kinh doanh của NH nói riêng Sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa, em đã hiểu hơn

về hoạt động kinh doanh của NH, với kiến thức đã được học và hiểu biết của

mình, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn bao gồm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về hoạt động huy động vốn của NHTM

- Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Chi nhánh

NHNo&PTNT Bách Khoa.

- Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh

NHNo&PTNT Bách Khoa.

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM

1.1 Vốn kinh doanh của NHTM

1.1.1 Các hoạt động cơ bản của NHTM

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì các hoạt động của NHTM cũng ngày một mở rộng và đa dạng hơn NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ,

vì thế khi xem xét các hoạt động của NHTM ta thường xem xét ba hoạt động

cơ bản: hoạt động huy động vốn, hoạt động tài trợ vốn và hoạt động dịch vụ

Ba hoạt động đó có quan hệ mật thiết, tác động, hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển tạo nên sự tồn tại và phát triển của NH

1.1.1.1 Hoạt động huy động vốn

Là hoạt động cơ bản nhất của NH, bất cứ một NH nào muốn thực hiện mục tiêu kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận thì trước hết phải thực hiện hoạt động huy động vốn Không một NH nào có thể tồn tại và phát triển nếu không

có hoạt động huy động vốn, bởi lẽ nhu cầu vốn trên thị trường rất lớn trong khi vốn chủ sở hữu của các NH thường chiếm tỉ trọng vô cùng nhỏ bé Vì vậy, để có nguồn vốn hoạt động và cung cấp cho nền kinh tế thì ngoài vốn chủ sở hữu NHTM phải huy động những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh

tế Có thể nói thực chất của hoạt động huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế Trên cơ sở vốn huy động được NH sẽ tiến hành cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh Với nghiệp vụ này, NHTM đóng vai trò là trung gian trong việc huy động sức mạnh của nguồn vốn nhàn rỗi vào phát triển kinh tế Thông qua quá trình này, NHTM đã tạo ra một kênh huy động vốn hiệu quả, chuyển tài

Trang 4

nguyên của đất nước từ nơi dư thừa chưa sử dụng đến nơi có tiềm năng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh Trong các hoạt động huy động vốn thì hoạt động nhận tiền gửi chiếm tỉ trọng lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn của NH.

Hoạt động huy động vốn càng mở rộng thì uy tín của NH ngày càng được khẳng định Hoạt động này được hình thành và thực hiện ngay khi thành lập NH và nó tiếp tục phát triển trong quá trình hoạt động của NH, bao gồm việc tạo lập vốn điều lệ, thành lập quỹ dự trữ, các nghiệp vụ đi vay và nhận kí thác…

Việc mở rộng kênh huy động vốn là một trong những mục tiêu quan trọng của NH song điều quan trọng là NH cần phải căn cứ vào mục tiêu, chiến lược kinh doanh, chiến lược kinh tế ngành…để có đủ vốn và cơ cấu phù hợp với chi phí huy động hợp lý

1.1.1.2 Hoạt động đầu tư vốn

Hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của NH Trong đó chủ yếu là dùng cho hoạt động tín dụng và đầu tư, đồng thời đây cũng là hoạt động trực tiếp đem lại lợi nhuận cho NH

Hoạt động tín dụng: là nghiệp vụ cung ứng vốn trực tiếp của NH cho

nền kinh tế Nghiệp vụ này sử dụng vốn lớn nhất và cũng tạo ra thu nhập lớn nhất cho NH Đây là hoạt động giữ vị trí quan trọng có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH Hoạt động này tạo ra thu nhập chính cho

NH, quyết định đến kết quả kinh doanh cũng như sự tồn tại và phát triển của

NH Thông qua hoạt động tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm vốn đầu tư được mở rộng, tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế, góp phần cải thiện đời sống nhân dân

Trang 5

Hoạt động đầu tư: NHTM có thể sử dụng vốn để đầu tư như: góp vốn

vào doanh nghiệp, thành lập công ty, góp vốn dưới dạng liên doanh liên kết,

…Trong hoạt động kinh doanh, có nhiều thời điểm phát sinh các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi, NH có thể gửi vào các tổ chức tín dụng hoặc đầu tư chứng khoán nhằm tăng thêm lợi nhuận Nghiệp vụ này còn góp phần nâng cao năng lực thanh toán của NH và bảo toàn được ngân quỹ

1.1.1.3 Hoạt động khác

Ngoài hoạt động huy động vốn và đầu tư, NH còn thực hiện một số chức năng trung gian thông qua việc cung cấp các loại hình dịch vụ NH: dịch vụ thanh toán, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh…Trong đó chủ yếu là các dịch vụ thanh toán Theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các dịch vụ của NH ngày càng phát triển và phong phú đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như yêu cầu của hoạt động kinh doanh Thông qua các dịch vụ trên, NH thu được một khoản phí hay hoa hồng

Thực hiện tốt các hoạt động này cũng giúp góp phần làm tăng thu nhập

ổn định cho NH Xu hướng nguồn thu về dịch vụ ngày càng tăng và chiếm một tỷ lệ lớn về tổng thu trong kinh doanh của NH

Các hoạt động dịch vụ phản ánh mức độ phát triển của NH Việc đa dạng hoá sản phẩm cung ứng không chỉ làm tăng thu nhập cho NH mà còn làm tăng uy tín cũng như khả năng cạnh tranh của NH Thực hiện tốt các hoạt động này cũng tạo điều kiện phát triển hoạt động huy động vốn và đầu tư của NH

Có thể nói, hoạt động huy động vốn và đầu tư vốn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, bởi lẽ để thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình thì vốn tự có của các NH không thể đáp ứng được nhu cầu buộc các NH phải không ngừng huy động vốn Hầu hết nguồn vốn mà NH sử dụng đều mất chi

Trang 6

phí mới có được, do đó NH phải thực hiện nghiệp vụ sử dụng vốn một cách

an toàn, hiệu quả, đảm bảo thu hồi vốn, đủ bù đắp chi phí và có lãi

1.1.2 Vốn kinh doanh của NHTM

Vốn kinh doanh của NHTM là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản có của NH và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Vốn của NH cũng có thể thuộc quyền sở hữu của NH hoặc vay từ bên ngoài Vì vậy, NH phải có trách nhiệm cả với cổ đông và người gửi tiền

Vốn kinh doanh của NH bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động

1.1.2.1 Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu chính là điều kiện pháp lý cơ bản và cũng là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ với khách hàng Có thể nói quy mô vốn chủ sở hữu là yếu tố quyết định quy mô vốn và quy mô tài sản có của NH

Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động kinh doanh của NH, nhưng nó là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không chỉ cho ta thấy quy mô của NH mà nó còn là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác

Theo đà phát triển hiện nay thì nguồn vốn sẽ gia tăng về số lượng tương đối, song nó vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn.Vốn chủ sở hữu càng lớn thì khả năng đảm bảo của NH trong điều kiện kinh tế khó khăn càng tốt Tất nhiên, nếu vốn chủ sở hữu quá lớn cũng sẽ không có lợi đối với hoạt động kinh doanh của NH vì nó sẽ làm mức lợi nhuận cho cổ đông ít đi

Ở Việt Nam, đa số các NH đều có quy mô nhỏ, vốn tự có và vốn điều lệ đều thấp, tỷ lệ vốn tự có và tài sản có phần lớn đều nhỏ hơn 5% so với mức tối thiểu của quốc tế là 8%

Trang 7

Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu rất đa dạng, bao gồm:

Vốn điều lệ: là vốn được cấp hoặc được góp của chủ sở hữu khi NH bắt

đầu hoạt động Tuỳ theo tính chất của mỗi NH mà nguồn hình thành vốn ban đầu khác nhau Đối với NH tư nhân thì vốn điều lệ do tư nhân tự bỏ ra, vốn điều lệ của NH thuộc sở hữu Nhà nước là do ngân sách Nhà nước cấp, còn vốn lưu động của NH cổ phần là do các cổ đông đóng góp, đối với NH liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp vốn

Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Trong quá trình hoạt động, vốn lưu động của NH gia tăng theo nhiều phương thức khác nhau:

(1) Nguồn bổ sung từ lợi nhuận giữ lại không chia: khi NH làm ăn tốt, thu nhập ròng dương, NH có thể giữ lại một phần thu nhập bổ sung và làm tăng vốn lưu động Lợi nhuận giữ lại không phải là nguồn vốn cho không nhưng dù sao đây cũng là nguồn vốn có chi phí thấp hơn so với việc phát hành cổ phiếu mới

(2) Nguồn bổ sung khác: nguồn này từ phát hành thêm cổ phiếu, góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của chủ sở hữu do NHNN quy định Nguồn này không mang tính thường xuyên song có thể giải quyết nhu cầu vốn của NH lúc cần thiết

Các quỹ: ngoài vốn lưu động, NHTM còn có các quỹ dự trữ, các quỹ này

được coi là vốn tự có của NH và được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận ròng của NH

(1) Quỹ dự phòng tài chính: được trích lập hàng năm và được tích luỹ lại nhằm bù đắp những tổn thất, rủi ro xảy ra đối với hoạt động NH

Trang 8

(2) Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: trích lập theo tỉ lệ % nhất định trên tổng lợi nhuận ròng

NH cũng còn có thể có các quỹ như: quỹ phúc lợi, khen thưởng

1.1.2.2 Nguồn vốn huy động

Do vốn chủ sở hữu thường chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM nên để hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì NH cũng phải huy động vốn từ bên ngoài Đây chính là nguồn vốn đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của NHTM Nhờ có nguồn vốn này mà NH

có điều kiện cho vay, đầu tư và tham gia vào các hoạt động có khả năng sinh lời khác Nguồn vốn huy động được huy động chủ yếu từ 2 nguồn chính:

• Nguồn vốn huy động từ tiền gửi

Tiền gửi là nền tảng cho sự ổn định và phát triển của NH Đây cũng là khoản mục phân biệt NH với các loại hình doanh nghiệp khác Tiền gửi là cơ

sở chính của các khoản cho vay và đầu tư nên cũng là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận Tiền gửi có thể chia thành hai loại chủ yếu là tiền gửi nhằm mục đích hưởng các lợi ích từ các dịch vụ mà NH cung cấp cho khách hàng có tài khoản ở NH và loại thứ hai là nhằm hưởng lãi suất NH trả cho các món tiền gửi có kỳ hạn xác định

Các khoản tiền gửi nhằm mục đích hưởng các lợi ích từ các dịch vụ NH

là các khoản tiền gửi không kì hạn và các khoản tiền gửi thanh toán Đây là các khoản chủ yếu sẽ dùng để thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác được phát sinh một cách thường xuyên Với các khoản gửi thanh toán thì khách hàng có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào

Trang 9

Loại thứ hai là tiền gửi có kỳ hạn Đây là khoản tiền có sự thoả thuận về thời điểm rút tiền của khách hàng Các khoản tiền này được gửi vào nhằm mục đích thu lợi từ lãi của NH trả cho khách hàng Loại thứ hai do có thời hạn xác định và thường là dài hơn so với tiền gửi không kỳ hạn nên có lãi suất cao hơn Vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM Tuy nhiên, do nguồn vốn này chỉ tạm thời nằm trong két của

NH trong một khoảng thời gian nhất định nên việc sử dụng nguồn vốn này đòi hỏi NH phải có một lượng dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng khi đến thời điểm đáo hạn (hết kỳ hạn gửi) hay khi khách hàng có nhu cầu thanh toán (đối với khoản tiền gửi thanh toán) Nguồn vốn từ tiền gửi có kỳ hạn đem sử dụng sẽ an toàn hơn và ít gặp rủi ro khách hàng rút vốn trước hạn

• Nguồn vốn đi vay

Nguồn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất của NH, tuy nhiên, khi nguồn này không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán và cho vay của NHTM thì các NHTM có thể đi vay Nguồn đi vay thường chiếm tỉ trọng nhỏ, có chi phí huy động lớn nhưng nó đảm bảo cho hoạt động của NH liên tục và thông suốt

-Vay NHNN : vay NHNN thường mang tính chất là các khoản vay cấp

bách khi NHTM thiếu hụt dự trữ hoặc thiếu khả năng chi trả Đây là nguồn cho vay cuối cùng của các NHTM để tránh vấp phải khủng hoảng tài chính.NHNN thực hiện cấp tín dụng cho các NHTM qua 2 hình thức chính là tái chiết khấu (hay tái cấp vốn) và vay vốn ngắn hạn

Có thể nói, nguồn vốn vay NHNN là rất quan trọng vì nó giúp cho NH vượt qua các khó khăn về thanh khoản và đảm bảo hoạt động bình thường của các NHTM, giúp cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế

Trang 10

- Vay tổ chức tín dụng khác

Trong quá trình hoạt động, khi NHTM thiếu hụt dự trữ hoặc thiếu tiền mặt, buộc phải vay mượn các tổ chức tín dụng khác thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN Quan hệ vay mượn này diễn ra khá thường xuyên nhưng thường chỉ trong thời gian ngắn vì tính chất của khoản vay này là đáp ứng nhu cầu vốn trước mắt Hoạt động này đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các

NH, bổ sung kịp thời cho nhu cầu vốn thông qua việc điều hoà nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu

Vốn vay các tổ chức tín dụng và NHNN chiếm tỉ lệ không lớn nhưng nó góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng hoạt động kinh doanh và đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên cũng như nâng cao hiệu quả, hiệu suất sử dụng vốn của NHTM

- Vay trên thị trường

Đây là kênh huy động vốn được nhiều NH áp dụng Kênh huy động vốn này đã hỗ trợ tích cực cho các NHTM Kênh huy động này thường không có tài sản đảm bảo; các NH lớn, uy tín vay vốn dễ dàng hơn; các NH nhỏ thường vay gián tiếp qua NH đại lý hoặc nhờ sự bảo lãnh của các NH lớn

Các NHTM có thể vay vốn trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường vốn Các công cụ NHTM sử dụng để vay vốn trên thị trường tiền tệ gồm: kỳ phiếu

NH, chứng chỉ tiền gửi , trên thị trường vốn bao gồm: trái phiếu, tín phiếu,

kỳ phiếu

• Nguồn khác

Ngoài các nguồn vốn trên, nguồn vốn của NHTM còn bao gồm:

- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác: uỷ thác đầu tư,

uỷ thác giải ngân, uỷ thác cho vay, thu hộ Khi thực hiện các dịch vụ này,

Trang 11

mạng lưới NHTM như là kênh dẫn vốn tới các mục tiêu Do vậy, vốn hình thành từ nguồn này không mất chi phí.

- Nguồn từ thanh toán: các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có

thể hình thành các nguồn trong thanh toán (sec trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ mở L/C )

- Nguồn khác: ngoài các nguồn nêu trên NH còn có một số nguồn khác như: lương chưa trả, thuế chưa nộp

1.1.3 Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động của NHTM

NHTM kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, đầu tư và cung cấp các dịch vụ, vì vậy công tác huy động vốn góp phần hết sức quan trọng tạo ra nguồn vốn cho NHTM Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để thực hiện mục đích kinh doanh của mình Nhìn chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và đóng vai trò quyết định đối với việc thực hiện chức năng của NHTM

(1) Vốn là cơ sở để các NH tổ chức hoạt động kinh doanh

NHTM cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh đều phải có vốn Bởi vì, vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Riêng với NH, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình Nói cách khác, NH không có vốn thì không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của NH Đối với NH, do tính chất đặc thù

là kinh doanh tiền tệ nên vốn không chỉ là điều kiện chính để kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của NH Những NH nhiều vốn là NH có nhiều thế mạnh trong kinh doanh và một NH chỉ có thể tiến hành hoạt động kinh doanh tốt khi biết kết hợp hài hoà giữa các nguồn vốn với nhau tạo ra cơ cấu vốn hợp lý

và ổn định

Trang 12

(2) Vốn của NH quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác

Hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH phụ thuộc vào vốn của NH Lượng vốn của NH có tính chất quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng, khả năng chi trả, thanh toán cũng như các hoạt động khác của NH Các NH có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn các NH có ít vốn do các khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, các dịch vụ cung ứng kém hơn, cũng như quy mô các khoản vay nhỏ hơn Mặt khác, sự tăng trưởng của quy mô tín dụng phải đảm bảo hệ số an toàn vốn tối thiểu theo quy định, do đó NH không thể mở rộng quy mô tín dụng khi vốn chủ sở hữu còn hạn chế Có nhiều vốn NH sẽ có điều kiện đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, phát triển quy mô tín dụng, từ đó có điều kiện hạ lãi suất nên thu hút được nhiều khách hàng hơn

Như vậy, các NHTM chỉ có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh khi NH có vốn huy động dồi dào, tăng trưởng

ổn định và có cơ cấu vốn hợp lý nhờ hoạt động huy động hiệu quả

(3) Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của NH trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển các NH cần không ngừng tạo lập và khẳng định uy tín của mình trên thị trường Uy tín đó thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng, sẵn sàng cung cấp các dịch vụ khách hàng yêu cầu Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của

NH luôn được đảm bảo, khách hàng sẽ luôn cảm thấy yên tâm khi giao dịch với NH Có thể nói khả năng thanh toán của NH tỉ lệ thuận với vốn của NH nói chung và vốn khả dụng nói riêng Không chỉ thế, uy tín của NH còn thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu Quy mô vốn chủ sở hữu sẽ tạo niềm tin cho

Trang 13

công chúng và đảm bảo sức mạnh tài chính của NH trong điều kiện nền kinh

tế biến động như hiện nay

Như vậy, với tiềm năng vốn lớn, NH có thể tiến hành kinh doanh hiệu quả, từ đó, nâng cao vị thế của NH trên thị trường

(4) Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của NH

Với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của ngành NH, năng lực cạnh tranh của NH trên thị trường là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của NH Điều này phụ thuộc vào quy mô vốn cũng như các phương tiện kỹ thuật hiện đại của NH Nguồn vốn dồi dào, ổn định sẽ giúp NH mở rộng quy mô hoạt động, thu hút thêm nhiều khách hàng vay vốn, giữ chân được khách hàng truyền thống Doanh số cho vay của NH tăng lên, đồng thời làm tăng nguồn vốn của NH, nguồn vốn tăng trưởng giúp cho NH có khả năng tài chính dồi dào cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch

vụ, tăng cường cơ sở vật chất cũng như quy mô hoạt động Các dịch vụ NH từ

đó cũng ngày càng được cải tiến và phát triển hơn

Ngoài ra, vốn lớn sẽ giúp cho các NH có khả năng kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, dịch vụ thuê mua và chính những hình thức kinh doanh đa năng này sẽ giúp tạo thêm nguồn vốn, tăng sức cạnh tranh của NH trên thương trường Có thể nói, nguồn vốn là yếu tố then chốt đối với hoạt động kinh doanh của NH,

vì thế đòi hỏi các NH phải cực kỳ nhanh nhạy trong việc điều hành vốn, hạn chế tối đa việc thừa hoặc thiếu vốn làm giảm hiệu quả kinh doanh của NH

Trang 14

1.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM

1.2.1 Khái niệm

Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của NH (còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn) nhằm thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của NH nhằm tìm kiếm lợi nhuận

1.2.2 Các hình thức huy động vốn

Bởi vốn huy động có ý nghĩa quyết định khả năng hoạt động của mỗi

NH nên hoạt động huy động vốn là hoạt động có vai trò rất quan trọng của NHTM Các hình thức huy động vốn ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng vốn huy động được, vì vậy, việc đưa ra các hình thức huy động vốn phù hợp, linh hoạt là hết sức cần thiết

Có rất nhiều cách phân loại các hình thức huy động vốn, sau đây là một

số tiêu thức phân loại chính được sử dụng phổ biến

1.2.2.1 Theo đối tượng huy động

Vốn huy động từ dân cư

Đây là nguồn vốn có tiềm năng lớn và nhìn chung là khá ổn định đối với

NH do đối tượng dân cư chiếm phần lớn trong các đối tượng hoạt động của

NH Nguồn vốn này rất đa dạng, vì thế, nó có thể huy động dưới nhiều hình thức để phục vụ mục tiêu phát triển của NH Với mục đích gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng sinh lời cho mình thì các đối tượng dân

cư đã đem lại một lượng vốn huy động đáng kể cho NH bằng số tiền nhàn rỗi của mình

Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế

Không chỉ khách hàng cá nhân mới đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của NH mà các tổ chức kinh tế cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong

Trang 15

hoạt động của NH Trong hoạt động huy động vốn của NH, lượng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ.

Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế là số tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất và kinh doanh được gửi tại NH với nhiều mục đích khác nhau Các NH cần phát triển và quản lý tốt các tài khoản này sẽ cho phép NH

có một nguồn vốn đáng kể với chi phí thấp

và thực hiện nhiều hình thức huy động phong phú

Tiền gửi không kỳ hạn

Đối với hình thức tiền gửi này, người gửi tiền có thể rút tiền bất cứ khi nào để đáp ứng nhu cầu sử dụng Mục đích của hình thức gửi tiền này thường

là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, thanh toán nên thường có lãi suất

thấp Tiền gửi không kỳ hạn gồm 2 loại: tiền gửi thanh toán và tiền gửi không

kỳ hạn thuần tuý

+ Tiền gửi thanh toán

Là khoản tiền gửi được sử dụng với mục đích thanh toán, chi trả trong kinh doanh một cách thường xuyên, thuận tiện thông qua việc sử dụng sec Khách hàng gửi tiền có thể rút ra, chuyển nhượng hoặc chi trả bất cứ khi nào

họ muốn

Trang 16

Về phía NH, đây là khoản nợ mà NH phải trả bất cứ khi nào nên dự trữ cho loại này thường cao hơn và lãi suất phải trả thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn

NH có thể sử dụng phần chênh lệch giữa các khoản xuất và nhập trên tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp để làm vốn kinh doanh với chi phí thấp Tuy nhiên, việc cho vay phải có mức độ và dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời, chính xác yêu cầu của khách hàng

+ Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý

Giống tiền gửi thanh toán, chi phí huy động của loại tiền gửi này rất thấp Tuy nhiên, mục đích của khách hàng không phải là để thanh toán mà để đáp ứng các nhu cầu chưa có kế hoạch xác định cụ thể, họ gửi tiền vào NH để đảm bảo an toàn và khi cần có thế sử dụng ngay Tiền gửi này không được phát hành séc

Tiền gửi có kỳ hạn

Là loại tiền gửi mà khi gửi tiền thì giữa khách hàng và NH có sự thoả thuận về thời hạn rút tiền Khách hàng gửi tiền nhàn rỗi vào NH với mục đích hưởng lãi suất, và lãi suất được trả tương ứng với mỗi kỳ hạn gửi tiền Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao, ngoài ra còn có nhiều điều khoản hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng

Đối với NH, tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định, vì thế,

NH có thể sử dụng loại tiền gửi này làm nguồn vốn kinh doanh ổn định và lâu dài Do đó, để khuyến khích khách hàng thì NH thường đưa ra các kỳ hạn gửi tiền khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng Thông thường, khách hàng thường không được rút trước thời hạn đã thoả thuận Tuy nhiên, trên thực tế, do áp lực cạnh tranh hiện nay, các NH thường cho khách hàng rút trước hạn nhưng khi đó, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất thấp

Trang 17

hơn hoặc không được hưởng lãi suất tuỳ thuộc chính sách huy động vốn của

NH và loại kỳ hạn của khoản tiền gửi

Tiền gửi tiết kiệm

Là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng Trong hình thức huy động này, người gửi tiền được giao cầm một cuốn sổ tiết kiệm Sổ tiết kiệm được coi như là một chứng từ đảm bảo tiền gửi, là giấy chứng nhận có tiền gửi vào ngân hàng và người có sổ tiết kiệm có thể mang sổ này đến ngân hàng cầm cố để vay vốn

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư cũng có 2 loại đó là: Tiết kiệm có kỳ hạn

và tiết kiệm không có kỳ hạn

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là khoản tiền tiết kiệm mà khách hàng có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước Tuy rằng không được sử dụng các công cụ thanh toán như tiền gửi thanh toán nhưng người gửi tiền lại được hưởng lãi suất cao hơn Và nguồn vốn này mang lại cho ngân hàng nguồn vốn ổn định hơn so với tiền gửi giao dịch

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là nguồn vốn mang tính ổn định cao cho nên ngân hàng rất chú trọng huy động nguồn vốn theo hình thức này Các ngân hàng thương mại thường đưa ra nhiều loại sản phẩm với các loại kỳ hạn khác nhau như loại 1, 2, 3 tháng đến 1, 2, 3 năm … nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn nguồn vốn đầy tiềm năng này

Tuy nhiên, mỗi lần gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngân hàng phải phát hành một sổ tiết kiệm có kỳ hạn giao dịch cho khách hàng lưu giữ, điều này đối với ngân hàng sẽ phát sinh chi phí cao hơn, khó khăn trong việc hạch toán và theo dõi, đối với khách hàng thì việc bảo quản cũng không thuận lợi, lại không được mua bán chuyển nhượng trên thị trường đồng thời không được hưởng các dịch vụ của ngân hàng từ tài khoản tiết kiệm này

Trang 18

- Kỳ phiếu NH: là hình thức huy động có ưu thế hơn so với phát hành trái phiếu vì nó có kỳ hạn ngắn hơn trái phiếu và người sở hữu được hưởng mức lãi suất cao hơn tiền gửi cùng kỳ hạn Đây là công cụ có tính lỏng cao, dễ dàng chuyển thành tiền mặt và được sử dụng tuỳ vào tình hình vốn cụ thể của NH.

- Chứng chỉ tiền gửi: thực chất chứng chỉ tiền gửi là một giấy biên nhận

có hưởng lãi, chứng nhận số tiền khách hàng gửi tại NH Nói cách khác, chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ hay phiếu vay tiền do NHTM phát hành, chủ yếu hướng tới đối tượng dân cư Trước đây, chứng chỉ tiền gửi có lãi suất cố định nhưng hiện nay lãi suất có thể được thoả thuận theo thị trường Đây cũng được coi như một loại tiền gửi của khách hàng nhưng khác ở chỗ, nó chỉ có thể chuyển đổi thành tiền khi đến hạn Chính vì vậy, nó tạo cho NH một nguồn vốn khá ổn định, giúp NH chủ động hơn trong kinh doanh Chứng chỉ tiền gửi là loại đầu tư NH hấp dẫn vì được sử dụng như sec và tiền mặt nhưng lại được hưởng lãi suất

1.2.2.3 Theo thời gian huy động

Việc phân loại vốn theo thời gian huy động giúp NH có thể cân đối được nguồn vốn giúp NH chủ động được hoạt động tín dụng

Trang 19

Vốn huy động ngắn hạn: là các khoản huy động có thời gian dưới 12 tháng mà NH áp dụng để huy động vốn trên thị trường Hiện nay, để thu hút khách hàng, NH có rất nhiều các kỳ hạn đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng với mức lãi suất phù hợp Kỳ hạn càng ngắn thì mức lãi suất càng thấp do NH phải chịu chi phí huy động cao hơn Các khoản tiền gửi này thường được khách hàng ưa thích (đặc biệt là đối tượng dân cư) nên thường chiếm tỷ trọng lớn trên tổng nguồn vốn huy động của NHTM.

Vốn huy động trung và dài hạn: để hạn chế sự biến động của nguồn vốn huy động và cũng để phục vụ cho nhu cầu vốn đầu tư vào các dự án lớn, các

NH đã cung cấp các sản phẩm với mức kỳ hạn từ 1-5 năm (vốn huy động trung hạn) và lớn hơn 5 năm (vốn huy động dài hạn) Tuy nhiên, do thời gian huy động dài nên nguồn này không được nhiều sự ưa chuộng của khách hàng

vì có độ rủi ro cao hơn

Đây là nguồn vốn ổn định mà NH huy động được, nhưng các NH cũng phải trả mức lãi suất cao hơn cho loại nguồn vốn này, vì vậy, NH cần tính toán để huy động và giải ngân sao cho có hiệu quả cao và an toàn

1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá quy mô, chất lượng vốn huy động và phương

pháp xác định lãi suất huy động

Như chúng ta đã biết, vốn là tài nguyên chính của NH, nhất là vốn nợ Chính vì vậy, chất lượng và số lượng của vốn huy động cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng và chất lượng các khoản cho vay và đầu tư Do đó, các NH luôn phải quản lý các nguồn vốn này nhằm mục tiêu an toàn và sinh lời Cụ thể, chúng ta có thể đánh giá số lượng và chất lượng của hoạt động huy động vốn thông qua một số chỉ tiêu sau:

Trang 20

• Một số chỉ tiêu đánh giá quy mô và chất lượng vốn huy động

- Vốn huy động/ Vốn chủ sở hữu

Chỉ số này phản ánh khả năng huy động vốn trên 1 đồng vốn chủ sở hữu

Có những yêu cầu nhất định về tỉ lệ này để đảm bảo khả năng thanh toán, chống rủi ro cho NH Trong giới hạn cho phép thì tỉ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng huy động vốn của NH tốt

Tỷ trọng từng loại vốn/ Tổng NVHĐ =

Số dư từng loại TG *100 Tổng số VHĐ

Chỉ tiêu này có nhiều ý nghĩa trong việc cân đối nguồn vốn, phát hiện tiềm năng và sự thiếu hụt để kịp thời đẩy mạnh việc huy động vốn theo từng tiêu chí và cũng để hợp lý hơn trong việc xác định cơ cấu cho vay của NH Nếu NH nào có tỷ trọng tiền gửi cao, NH đó sẽ có nhiều thuận lợi để tạo ra lợi nhuận

- Hệ số đo lường an toàn vốn ( hệ số Cooke)

H = Tổng VTC*100/ Tổng giá trị quy đổi của tài sản có rủi ro

Trong đó

Tổng giá trị quy đổi

của TS rủi ro =

Tổng (TS rủi ro nộibảng * hệ số rủi ro) +

Tổng ( TS rủi ro ngoại bảng

hệ số rủi ro)*hệ số chuyển đổiHiện nay, Việt Nam và một số nước đang sử dụng hệ số VTC/ Tổng TS

có rủi ro để đo lường độ an toàn vốn của NH Hệ số này có ưu điểm là dễ tính

và phù hợp với các yêu cầu về vốn tối thiểu ở các nước có hệ thống tài chính tiền tệ tương đối đơn giản Theo nghiên cứu của NH Thế giới, NH đạt mức an toàn khi duy trì hệ số này > 8%

Một số phương pháp xác định lãi suất huy động

Trang 21

Trong chi phí huy động thì chủ yếu là trả lãi cho nguồn huy động, đó là khoản chi lớn nhất Tiền gửi thường chiếm tỷ trọng cao hơn nên lãi trả tiền gửi là bộ phận chủ yếu trong chi trả lãi Do lãi suất các khoản vay cao hơn nên lãi suất tiền gửi với cùng kỳ hạn, nếu NH gia tăng vay, chi phí trả lãi sẽ tăng Chi trả lãi phụ thuộc vào quy mô huy động, cấu trúc huy động, lãi suất huy động và hình thức trả lãi trong kì, nhưng đặc biệt là phụ thuộc vào lãi suất

vì NH huy động chủ yếu là lượng tiền gửi trong dân cư, mà người dân gửi tiền lại phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất

Chi phí HĐ = Trả lãi nguồn HĐ + Chi phí HĐ khác

Tổng chi trả lãi = tổng chi trả lãi chocác khoản TG + tổng chi trả lãi chocác khoản đi vay

Có rất nhiều cách để tính lãi suất huy động

(1) Phương pháp chi phí trung bình theo nguyên giá

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, có thể xác định chi phí vốn của NH trong quá khứ

Chi phí trả lãi TB = tổng lãi phải trả/ tổng vốn HĐ

Tuy nhiên, để huy động vốn, NH còn phải trả thêm các khoản như: chi phí lương, chi phí quản lý…

Chi phí lãi suất HĐ = Tổng (chi phí ls + chi phí hđ khác)/ tổng TS sinh lời

(2) Phương pháp xác định chi phí huy động vốn biên

Cơ sở của phương pháp này là NH căn cứ vào chi phí huy động vốn biên của mình (chi phí bỏ ra để có thêm 1 đơn vị vốn sử dụng được) để xác định mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ các khoản tài sản có thêm nhờ nguồn

Trang 22

vốn này Đồng thời, NH cũng cố gắng tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp nhất.

Thu nhập biên từ

1 nguồn riêng lẻ =

Chi phí trả lãi + Chi phí khác 1- % dùng vào TS không sinh lờiChi phí huy động biên tập hợp

Chi phí biên = Tổng chi phí

Tổng số tiền(3) Phương pháp chi phí bình quân gia quyền

NH phải tính toán mức chi phí của từng nguồn vốn kinh doanh (sau khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc ) có tính đến cơ cấu tổng nguồn vốn

Ta tính được chi phí vốn trước thuế

i = tổng (Rt*it)/A*rt

Trong đó Rt: nguồn vốn huy động loại t

it: lãi suất huy động của nguồn vốn

A: tổng nguồn vốn huy động

rt: tỷ trọng vốn khả dụng của nguồn vốn loại t

Như vậy, huy động vốn đạt hiệu quả khi chi phí huy động rẻ, chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất sử dụng nguồn huy động bù đắp được các khoản chi phí và đạt lợi nhuận mong muốn Tuy nhiên, chi phí rẻ gắn liền với các nguồn vốn không ổn định và rủi ro thanh khoản Do đó, NH cần cân nhắc giữa chi phí và rủi ro để đạt được lợi nhuận cao nhất với chi phí hợp lý

Trang 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn

Toàn bộ nền kinh tế là một tổng thể bao gồm rất nhiều mối quan hệ, những ràng buộc liên kết giữa các chủ thể Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải hiểu rõ quy luật vận động của nền kinh tế và hơn cả, phải xác định, tính toán được những ảnh hưởng dù là nhỏ nhất đến hoạt động kinh doanh của đơn vị mình Điều này còn quan trọng hơn đối với NHTM-một loại hình doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay trên thị trường Chính vì vậy, muốn thành công trên thương trường, NH cần xem xét các nhân

tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NH để từ đó có thể hạn chế tối

đa các tác động xấu đến hoạt động huy động vốn, làm tăng hiệu quả công tác huy động vốn

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM được chia thành hai nhóm chính: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

1.3.1.1 Mức độ ổn định của nền kinh tế

Một là, môi trường kinh tế thế giới

Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở ra nhiều

cơ hội hội nhập cho nền kinh tế nước nhà nói chung và cả ngành NH nói riêng Những biến động rất nhỏ của nền kinh tế thế giới vì thế cũng sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của các NHTM Do xu hướng toàn cầu hoá làm các nghiệp vụ NH phát triển hơn, nguồn vốn có thể dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác…Cùng với những lợi ích đó thì xu hướng này cũng có những tác động bất lợi đến hoạt động của các NHTM như: tăng rủi ro do những thay đổi về chính sách tiền tệ, sự thay đổi về lãi suất của các đồng tiền,

Trang 24

tình hình kinh tế thế giới và sự ra đời của rất nhiều các NH nước ngoài cũng

sẽ làm tăng tính cạnh tranh và làm giảm thị phần của các NH trong nước

Hai là, môi trường kinh tế trong nước

- Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của NHTM, và nó giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được hiệu quả, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như lạm phát, khủng hoảng… Nền kinh tế càng phát triển, chính trị xã hội ổn định thì thu nhập của dân cư sẽ tăng lên làm tăng nhu cầu tích luỹ của cá nhân và tổ chức Khoản tiền này sẽ có xu hướng được gửi vào NH cất giữ, nhờ vậy, NH sẽ có thể tăng nguồn vốn kinh doanh của mình

Nhưng nếu nền kinh tế phát triển không ổn định, lạm phát cao thì người dân sẽ ít gửi tiền vào NH mà sẽ đầu tư vào các hình thức an toàn hơn như là giữ vàng hay kinh doanh bất động sản

Ba là, các chính sách của Nhà nước

Là một chủ thể trong nền kinh tế quốc gia, các NH chịu sự giám sát và điều tiết chặt chẽ của pháp luật và chính sách quốc gia Có thể nói, hoạt động của NH đã và đang chịu sự kiểm soát chặt chẽ nhất về mặt pháp lý cũng như chính sách quốc gia , do NH là tổ chức kinh doanh tiền tệ, kinh doanh rủi ro

có ảnh hưởng sâu rộng, mạnh mẽ đến hoạt động chung của nền kinh tế, một

NH sụp đổ có thể dẫn tới sự sụp đổ của cả một hệ thống, gây khủng hoảng nền kinh tế Những thay đổi trong cơ chế, chính sách sẽ mở rộng hay giới hạn hoạt động huy động của NH Khi NHNN nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích đầu tư, lãi suất tái chiết khấu thấp tạo điều kiện cho NHTM bổ sung nguồn vốn, mở rộng cho vay Và ngựơc lại, khi NHNN thực hiện thắt chặt tiền tệ, nguốn vốn của các NH thu hẹp, các NH sẽ hạn chế cho vay

Trang 25

Bên cạnh đó, hoạt động của các NH còn chịu tác động trực tiếp của rất nhiều các bộ luật: Luật các tổ chức tín dụng, Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật thuế, Luật đất đai…

1.3.1.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng

Trong nền kinh tế thì khách hàng là yếu tố quyết định sống còn đối với hoạt động của NH nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Khách hàng vừa là nguồn cung về vốn, đồng thời cũng là nguồn cầu về vốn vay Bởi

vì, ngày càng có nhiều hình thức đầu tư, đảm bảo an toàn tài sản, bên cạnh đó,

sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đã làm giảm thị phần huy động vốn của các NH Do vậy, việc nắm bắt và biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu của khách hàng sẽ trợ giúp đắc lực cho việc thu hút khách hàng của các NH Thông thường, mọi khách hàng đều muốn tiền của mình vừa đựơc đảm bảo an toàn mà lại có mức sinh lợi cao nên các NH phải linh hoạt nắm bắt tâm lý, thói quen và xu hướng tiêu dùng của khách hàng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn được thuận lợi, hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn

1.3.1.3 Đối thủ cạnh tranh

Cùng với sự xuất hiện và xâm nhập của các tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi tín dụng trong và ngoài nước, thì các NHTM ngày càng phải đối mặt với nhiều thử thách trong quá trình cạnh tranh thu hút vốn Bởi khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ Nếu như trước đây, việc tung ra mức lãi suất hấp dẫn là vấn đề hàng đầu, thì nay các NHTM đều phải xem xét lại Bởi lãi suất cao gây khó khăn cho NH trong việc mở rộng doanh số cho vay, còn về phía khách hàng, họ lựa chọn NH trên cơ sở còn nhiều yếu tố khác nữa: thái độ phục vụ, sự tiện lợi của các dịch vụ mà NH cung cấp…Do vậy, để cạnh tranh được với các đối thủ, các NH phải biết phân tích đặc điểm của từng nhóm đối

Trang 26

tượng khách hàng, tiến hành phân đoạn và lựa chọn các đoạn thị trường chính, áp dụng chính sách khách hàng linh hoạt, phù hợp, liên tục hoàn thiện

và đổi mới sản phẩm dịch vụ, tính toán lãi suất huy động, cho vay…nhằm tăng sức cạnh tranh, khẳng định vị thế của mình

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Đây là những nhân tố thuộc về nội lực tạo nên những nét đặc trưng cho hoạt động của từng NH

1.3.2.1 Chiến lược kinh doanh của NH

Nhìn chung, NH nào cũng có mục tiêu phát triển tổng nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn, nhưng trong mỗi giai đoạn, NH lại có những định hướng nhất định trong hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, cũng cần có những chiến lược kinh doanh khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn Chẳng hạn, khi NH tập trung vào các khoản đầu tư dài hạn thì nhu cầu nguồn vốn trung và dài hạn rất lớn NH buộc phải tìm mọi cách để thu hút nguồn vốn này Trong khi đó, nếu nó tập trung vào cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa với các kế hoạch đổi mới sản phẩm, nâng cấp cơ sở hạ tầng hoặc đáp ứng vốn lưu động thì nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn lại là nguồn vốn được NH tập trung huy động Hoạt động huy động và sử dụng vốn muốn đạt mục tiêu hiệu quả và an toàn thì phải dựa trên cung, cầu về vốn và các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội khác Mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn và tín dụng phải được tiến hành song song với nhau tránh, tình trạng thiếu vốn, mất cân đối nguồn vốn

1.3.2.2 Các hình thức huy động và các dịch vụ mà NH cung cấp

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng huy động vốn là các hình thức huy động vốn và các dịch vụ cung cấp có liên quan Các hình thức huy động vốn mới kèm theo các dịch vụ chăm sóc khách hàng, ưu đãi, khuyến mãi, tăng hàm lượng công nghệ hiện đại trong các sản phẩm dịch

Trang 27

vụ sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của NH, thu hút đông đảo khách hàng đến với NH.

Hiện nay, các NH ngày càng đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, phong phú cả về chủng loại (dịch vụ Home Banking, thẻ ATM, thẻ tín dụng…) và cả về các lợi ích quốc gia tăng trên mỗi sản phẩm Đồng thời cũng chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

1.3.2.3 Lãi suất huy động

Lãi suất chi trả càng cao càng có thể huy động được nguồn vốn lớn, song lại làm gia tăng chi phí cho NH Một số chính sách lãi suất thấp sẽ hạn chế lượng khách hàng gửi tiền gây khó khăn cho hoạt động tín dụng và đầu tư của

NH Vì vậy, NH cần hoạch định được cả chính sách lãi suất linh hoạt và hợp

lý để vừa đem lại lợi nhuận cho NH, vừa thu hút được khách hàng là vấn đề luôn được đặt ra với các NH Do đó, để gia tăng nguồn vốn huy động các NH thường áp dụng chính sách đa dạng hoá lãi suất nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Một chính sách lãi suất phù hợp đi kèm với các dịch vụ khuyến mãi, tặng quà…sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với NH

1.3.2.4 Uy tín của NH

Tạo được sự tin tưởng của khách hàng là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH Uy tín và chiến lược kinh doanh thích hợp sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch Những NH có uy tín cao thường có tiềm lực tài chính mạnh, hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả Những NH này sẽ tạo cho khách hàng sự tin tưởng, an tâm khi gửi tiền hay giao dịch Uy tín của NH được thể hiện bởi rất nhiều yếu tố: hiệu quả kinh doanh, tiềm lực tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán, thanh khoản…Nâng cao uy tín đồng thời với việc tăng cường quan hệ khách hàng thông qua

Trang 28

phương tiện thông tin đại chúng không chỉ tiếp cận thị trường trong nước mà phải nâng cao uy tín trên cả trường quốc tế.

1.3.2.5 Đội ngũ cán bộ NH

Con người là yếu tố quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, trình độ công nghệ NH là nhân tố quyết định ưu thế, sức cạnh tranh của NH không chỉ trong hoạt động huy động vốn mà trong toàn bộ các hoạt động khác Cán bộ NH không những thực thi nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác mà còn cần có kiến thức sâu rộng để có thể tư vấn cho khách hàng về các hoạt động: mua bán ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán…Các NH không những cần phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CBNV mà còn cần xây dựng mối quan hệ giữa các phòng ban, tạo nên động lực lao động, tăng tính sáng tạo và tự chủ để phát huy tốt nhất nội lực của NH

1.3.2.6 Chính sách Marketing

Hoạt động Marketing góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tạo uy tín, hình ảnh và tăng sức cạnh tranh của NH trên thị trường Phải nghiên cứu thị trường để đưa ra chính sách Marketing phù hợp với tuỳ từng giai đoạn phát triển của NH Chính sách đó cần phải tạo được tính khác biệt, độc đáo của sản phẩm dịch vụ, đồng thời khách hàng dễ nhận biết được lợi ích của sự khác biệt đó Các biện pháp hỗn hợp như: quảng cáo, tiếp thị, phát tờ rơi, băng rôn, áp phích sẽ làm khách hàng biết đến và hiểu rõ

về các sản phẩm của NH, thuyết phục họ sử dụng sản phẩm dịch vụ và duy trì mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và NH

Trang 29

1.3.2.7 Mạng lưới và địa điểm hoạt động

NH là một trong những loại hình kinh doanh mà địa điểm có vai trò quan trọng Đây là nơi đưa sản phẩm dịch vụ của NH đến với khách hàng Một NH

có trụ sở, chi nhánh ở nơi đông dân cư, trung tâm kinh tế phát triển sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch Kênh phân phối rộng khắp sẽ tăng cường khả năng giao dịch, tiếp xúc khách hàng NH sẽ có cơ hôi huy động được mọi nguồn vốn kể cả nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán trong dân cư

Trong điều kiện hiện nay, NH cần kết hợp các kênh phân phối truyền thống gồm: chi nhánh, đại lý, quầy…với các dịch vụ hiện đại như : Phone Banking, Home banking, Internet Banking, ATM…để mở rộng giao dịch, gia tăng mạng lưới hoạt động để thu hút nhiều khách hàng

1.3.2.8 Trình độ công nghệ NH

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, các NH ngày càng ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại khiến hoạt động NH ngày càng trở nên nhanh chóng, thuận tiện và chính xác hơn Việc ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh làm xuất hiện nhiều sản phẩm NH mới như: máy ATM, NH 24h, NH tự động, dịch vụ Home Banking, …Việc phát triển các sản phẩm mới không chỉ giúp khách hàng giao dịch thuận tiện mà còn trợ giúp NH mở rộng không gian và thời gian, tối ưu hoá hoạt động NH

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI

CHI NHÁNH NHNo&PTNT BÁCH KHOA

2.1 Khái quát về chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NHNo&PTNT Bách

Khoa

Thực hiện chủ trương phát triển mạng lưới bằng đề án“ Cơ cấu lại NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2001- 2010” và chiến lược kinh doanh tại địa bàn các khu đô thị loại I giai đoạn 2001- 2005 của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam, NH Láng Hạ đã cho triển khai thành lập PGD Bách Khoa với phương châm mở rộng mạng lưới, từng bước thu hút khách hàng, tiền gửi dân cư, đầu tư tín dụng đối với loại hình cho vay đời sống và vay cầm

cố chứng chỉ có giá, mở rộng các dịch vụ ngân hàng trên địa bàn thành phố trong giai đoạn phát triển kinh tế theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng bộ thành phố Hà Nội và định hướng chiến lược giai đoạn 2001- 2005 của NHNo&PTNT Việt Nam Là PGD đầu tiên được mở ra của NHNo&PTNT Láng Hạ-một trong 5 NHNo&PTNT cấp I trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam có trên địa bàn thành phố Hà Nội Những ngày đầu thành lập PGD Bách Khoa được chi nhánh Láng Hạ bố trí cho 7 cán bộ nhân viên Phòng có 4 cán

bộ làm công tác chuyên môn là 2 cán bộ kế toán, 1 cán bộ tín dụng và 1 cán

bộ ngân quỹ, 1 hợp đồng bảo vệ Về tổ chức Đảng, có 2 đồng chí lãnh đạo đều là Đảng viên Ngày 01/08/2001 PGD chính thức được thành lập tại 51 Tạ Quang Bửu-phường Bách Khoa-Hà Nội với diện tích chỉ vỏn vẹn 30m2

Với những điều kiện khách quan cũng như kịp thời đáp ứng yêu cầu của NHNo&PTNT Việt Nam trong giai đoạn mới, NHNo&PTNT Việt Nam đã ra

Trang 31

quyết định số 123/QĐ/HĐQT-TCCB về việc“ Mở Chi nhánh Bách Khoa - Chi nhánh cấp II loại 5 thuộc chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ” Chi nhánh Bách Khoa được thành lập đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của PGD Bách Khoa trong năm đầu hoạt động Chi nhánh Bách Khoa cũng là Chi nhánh cấp II đầu tiên được phép kinh doanh ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế và chuyển tiền điện tử trong nước.

Với sự tăng trưởng không ngừng của Chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa, ngày 20/02/2003 theo quyết định số 22/QĐ/HĐQT-TCCB của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNT Việt Nam quyết định nâng cấp Chi nhánh Bách Khoa

từ cấp II loại 5 lên cấp II loại 4

Ngày 29/05/2003 NH Láng Hạ chuyển giao quỹ tiết kiệm số 4 có trụ sở tại số 170 Lò Đúc sang trực thuộc Chi nhánh Bách Khoa với nguồn vốn năm

2002 là 23,7 tỷ đồng Được sự nhất trí của NHNo&PTNT Láng Hạ ngày 20/09/2005 trụ sở Chi nhánh Bách Khoa đã chuyển về Toà nhà điều hành Tổng công ty chè Việt Nam (92 Võ Thị Sáu- Hà Nội) Đây là một tuyến phố đẹp và chưa có NH đặt trụ sở-một vị trí lý tưởng cho NH Bách Khoa trong quá trình phát triển kinh doanh

Ngày 07/09/2005 GĐ NHNo&PTNT Láng Hạ ký quyết định 683/QĐ/NHLH-TCCB thành lập phòng hành chính nhân sự thuộc Chi nhánh Bách Khoa và hoàn chỉnh tổ chức lãnh đạo của các phòng trong chi nhánh, từng bước ổn định về mọi mặt đáp ứng nhiệm vụ kinh doanh, tạo uy tín, vị thế trên địa bàn Thủ đô

Ngày 10/11/2005 Chi nhánh Bách Khoa nhận được quyết định về việc

“Mở phòng giao dịch số 9” tại 54 Lê Thanh Nghị-Hà Nội

Năm 2006-2007, Chi nhánh Bách Khoa đã phát huy và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, hoàn thành kế hoạch được giao

Trang 32

Qua 6 năm hoạt động và trưởng thành Chi nhánh Bách Khoa dưới sự lãnh đạo của NHNo&PTNT Láng Hạ đã đứng vững trên thị trường Hà Nội và chiếm lĩnh được lòng tin của khách hàng cũng như sự tin tưởng của NH cấp trên trên bứơc đường hội nhập, xứng đáng là một chi nhánh cấp II thuộc NH Láng Hạ, đã từng là lá cờ đầu của Toàn quốc, là đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới

- Phòng kế toán ngân quỹ

- Phòng tín dụng và thanh toán quốc tế

- Phòng giao dịch trực thuộc

2.1.3 Các dịch vụ chính của Chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa

(1) Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, kỳ phiếu, trái phiếu NH

(2) Đầu tư tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ mạnh với các thành phần kinh tế Các hình thức cho vay đa dạng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, tài trợ xuất khẩu, cho vay cầm cố, cho vay tiêu dùng…

(3) Dịch vụ thẻ: thẻ thanh toán nội địa, thẻ tín dụng nội địa

(4) Bảo lãnh NH: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm

Trang 33

(5) Hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền quốc tế.

(6) Dịch vụ chuyển tiền nhanh Weston Union, chuyển tiền du học sinh, kiều hối

(7) Thực hiện dịch vụ khác về tài chính NH

2.1.4 Thực trạng hoạt động kinh doanh

Trong những năm qua nền kinh tế cả nước đã gặp nhiều biến động phức tạp ảnh hưởng đến hoat động của các NH, Chi nhánh NHNo&PTNT Bách khoa cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó Nhận thức được sâu sắc những diễn biến thực tế, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, ban giám đốc, tập thể CBNV Chi nhánh đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, đoàn kết nhất trí cao vì mục tiêu ổn định và phát triển Do vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đã đạt được kết quả khả quan góp phần hoàn thành kế hoạch kinh doanh của NHNo Việt Nam và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

- Hoạt động huy động vốn

Năm 2004, nguồn vốn huy động đạt 219,2 tỷ, tăng 84% so với năm

2003 Năm 2005, nguồn vốn huy động của Chi nhánh lại giảm xuống, chỉ đạt 171,9 tỷ ( giảm 21,5%) Từ năm 2005 trở lại đây, nguồn vốn huy động của Chi nhánh liên tục tăng trưởng Nguồn vốn huy động năm 2006 đạt 338,9 tỷ đạt 97% so với kế hoạch; tăng 97,1% so với 2005 Đến năm 2007; nguồn vốn huy động tăng 169,3 tỷ; tương đương với 49,9% so với năm 2006 Tổng nguồn vốn thực hiện tính đến 31/12/2007 là 508 tỷ đạt 101,6% so với kế hoạch, nguồn vốn huy động tăng 169,3 tỷ; tương đương với 49,9% so với năm2006, trong đó nguồn vốn nội tệ là 430 tỷ chiếm 84,6%, ngoại tệ đạt 78 tỷ chiếm 15,4%

Trang 34

Công tác huy động vốn đã đạt được những kết quả khả quan, nguồn tiền gửi huy động tăng liên tục qua các năm Trong đó, chủ yếu là tiền gửi bằng đồng Việt Nam chiếm từ 75%-85%.

- Hoạt động sử dụng vốn

Đối với bất kỳ NH nào thì hoạt động sử dụng vốn cũng là hoạt động trọng tâm, đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho NH Hoạt động sử dụng vốn của NH bao gồm rất nhiều nghiệp vụ nhưng nghiệp vụ tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển của 1 NHTM

Dư nợ tín dụng của Chi nhánh liên tục tăng qua các năm, tốc độ tăng trưởng năm sau đều phát triển mạnh so với năm trước

Tương ứng với mức tăng trưởng của nguồn vốn huy động, dư nợ tín dụng tại chi nhánh cũng liên tục tăng và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2007 (tăng 104,5% so với 2006; và gần 2 lần về giá trị tuyệt đối) Năm 2005, tổng mức dư nợ đạt 86,7 tỷ; tăng 20,9% so với năm 2004 Năm 2006, tổng mức dư

nợ tăng 41 tỷ; tương đương 47,3% Đến năm 2007, mức dư nợ tăng vọt đạt 261,2 tỷ; tăng 104,5% so với năm 2006 Chi nhánh đã cho vay mới 60 đơn vị với tổng số tiền lên đến 27 tỷ trong năm 2007

Bên cạnh việc cho vay ngắn hạn là chủ yếu (khoảng 75% - 80%) thì các khoản vay trung hạn cũng được Chi nhánh tập trung phát triển Năm 2006 cho vay trung hạn đạt 21,1%; tăng 41,6% so với 2005 Năm 2007 cho vay trung hạn tăng lên 48,6% đạt 32,8%

Tốc độ tăng trưởng cho vay trung hạn giữ ở mức khá ổn định và đa số tập trung vào các DNNQD để trang bị máy móc thiết bị, các hộ gia đình mua sắm phương tiện vận tải như: công ty TMCP Hợp Hoà Phát, Tổng công ty Chè Việt Nam và công ty xuất nhập khẩu Bao Bì …( chiếm 60% tổng dư nợ) Tuy nhiên, do nằm trên địa bàn chủ yếu là dân cư, doanh nghiệp nhỏ, ít các

Trang 35

DNNN và các công ty lớn nên dư nợ của chi nhánh chỉ tập trung vào các khoản vay ngắn hạn và trung hạn Chi nhánh chưa có bạn hàng là các doanh nghiệp lớn có nhu cầu về các khoản vay dài hạn tạo nguồn thu ổn định cho Chi nhánh.

Trong tổng dư nợ, dư nợ bộ phận DNNQD chiếm tỷ trọng khá lớn (chiếm 52,5% năm 2006 và 55,5% năm 2007) và có xu hướng ngày càng tăng lên, thể hiện nỗ lực của chi nhánh nhằm thực hiện chủ trương chú trọng vào cho vay DNNVV, DNNQD

Cho vay cá thể, hộ gia đình chiếm tỷ lệ nhỏ cả về giá trị và tỷ trọng Đây

là điểm yếu mà Chi nhánh cần khắc phục do chi nhánh nằm trên địa bàn có dân cư tập trung đông đúc, nhu cầu vay tiêu dùng của dân cư ngày càng gia tăng Dư nợ nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với dư nợ ngoại tệ Việc cho vay ngoại tệ chỉ tập trung vào các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu và bán ngoại tệ cho chi nhánh

Trang 36

Bảng 2.1: Cơ cấu dư nợ của Chi nhánh qua các năm từ 2005-2007

Đơn vị: tỷ đồng, %

Năm

Chỉ tiêu

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Số tiền (± %) Số tiền (±%) Số tiền (±%)

105,622,1

48,541,02

228,432,8

116,348,6

105,322,4

38,2113,3

222,938,5

111,771,9

(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNo Bách khoa)

Chi nhánh luôn tích cực cố gắng bám sát việc thu hồi các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi và xử lý các khoản nợ xấu Do vậy, công tác thu hồi xử lý các khoản nợ xấu đã đạt những kết quả đáng kể

Trang 37

(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNo Bách khoa)

Năm 2007, tuy tỷ lệ dư nợ đạt mức cao nhất trong các năm nhưng chất lượng tín dụng của NH luôn được đảm bảo Nợ xấu luôn duy trì ở mức vừa phải Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng dư nợ của chi nhánh đã giảm từ 3,2% năm 2006 xuống 2,5% năm 2007 Nợ xấu tập trung chủ yếu ở DNNQD: công ty TNHH Phú Quyền Thế, công ty CP TM Khánh An, công ty TM Tân Hợp

Từ năm 2005, nhờ vào sự đổi mới hoạt động theo chuẩn quốc tế, ổn định trụ sở và mở rộng mạng lưới dịch vụ, NH đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn ở mức cao, thường xuyên đạt và vượt kế hoạch được giao

- Hoạt động khác

Bên cạnh việc tập trung cho hoạt động tín dụng, Chi nhánh cũng đẩy mạnh thực hiện các dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho NH mình

 Hoạt động mua bán ngoại tệ và thanh toán quốc tế

Những biến động chính trị và kinh tế thế giới đã tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của Chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa Với những nỗ lực làm tốt chính sách khách hàng nên hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của Chi nhánh đã đạt kết quả tốt, thể hiện qua bảng số liệu sau

Trang 38

Bảng 2.3: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế

212,9225,5

155,2180,6

(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNo Bách khoa)

(1) Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

Năm 2006, doanh số kinh doanh ngoại tệ đều tăng trưởng mạnh so với năm 2005, tương ứng là 212,9 tỷ và 225,5 tỷ Nhưng đến năm 2007, do tình hình kinh tế có nhiều biến động doanh số mua vào chỉ đạt 155,2 tỷ cao hơn năm 2005 là 28,9 tỷ; doanh số bán ra chỉ đạt 180,6 tỷ; giảm gần 20% so với 2006

Trang 39

(2) Hoạt động thanh toán quốc tế

- Năm 2006 doanh số từ hoạt động này đạt 0,62 tỷ nhưng đến năm 2007

đã đạt 2,11 tỷ tăng 340%

- Hoạt động mở L/C giảm mạnh từ 10 món với số tiền là 95,3 tỷ đồng xuống 4 món với số tiền là 0,142 tỷ do năm 2006 Chi nhánh đã thực hiện mở L/C cho công ty vận tải biển, công ty CP SONA với số tiền rất lớn 82,9 tỷ

- Phí dịch vụ Chi nhánh thu được trong các năm liên tục tăng Năm 2006 thu dịch vụ đạt 3,6% tổng thu nhập ròng nhưng đến năm 2007 đã chiếm 6,8% tổng thu nhập ròng; tăng 191% so với năm 2006

- Về hoạt động bảo lãnh, doanh số thực hiện bảo lãnh trong năm đầu được phép hoạt động rất cao (99, 758 tỷ ) nhưng con số này chỉ mang tính thời điểm, sang năm 2007 lại giảm mạnh chỉ đạt 4,806 tỷ do hoạt động bảo lãnh mở L/C giảm mạnh từ 95,763 tỷ xuống 2,272 tỷ

(3) Hoạt động khác

Trong năm 2007, Chi nhánh đã phát hành được 2447 thẻ ATM đạt 204%

kế hoạch được giao, tổng số giao dịch thực hiện của 3 máy ATM trực thuộc Chi nhánh là 54912 lượt giao dịch với số tiền là 73565 tỷ

Tổng doanh số thanh toán năm 2007 là 2053 triệu, tăng 217% so với năm 2006 là 935 triệu Trong đó

Tỷ trọng tiền mặt/ Tổng doanh số thanh toán: 17%

Doanh số chuyển tiền điện tử: 83%

Doanh số thanh toán bù trừ: 0%

Nhìn chung qua các năm, kết quả các hoạt động tăng trưởng tốt

Trang 40

Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh năm 2006-2007

Đơn vị: trđ

(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNo Bách khoa)

Năm 2007, tổng thu là 107,039 tỷ, bằng 132% so với năm 2006 Trong

đó, thu dịch vụ là 1,437 tỷ và bằng 191% năm 2006, chiếm 6,8 % thu nhập ròng

Để đạt được những kết quả trên, chi nhánh Bách Khoa đã phát huy được sức mạnh từ nội lực, đề ra những chiến lược, phương pháp đúng đắn và kịp thời, hoàn thành được mục tiêu và quyết tâm đưa hoạt động kinh doanh đến thắng lợi Đặc biệt là sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng bộ, Ban giám đốc, các phòng, tổ, công đoàn, các đoàn thể NH Láng Hạ tới Chi nhánh Bách Khoa tạo nên động lực thúc đẩy sức mạnh truyền thống, phát huy đựơc tinh thần đoàn kết nhất trí của tập thể CBNV chi nhánh Bách Khoa

2.2 Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa

Khi xét về hoạt động huy động vốn, chúng ta phải xem xét 3 vấn đề chính đó là quy mô, cơ cấu huy động vốn và chi phí huy động vốn

2.2.1 Về quy mô, cơ cấu huy động vốn

2.2.1.1 Về quy mô huy động vốn

Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở

Chênh lệch thu nhập 7945 12439

Ngày đăng: 23/03/2013, 08:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu dư nợ của Chi nhánh qua các năm từ 2005-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.1 Cơ cấu dư nợ của Chi nhánh qua các năm từ 2005-2007 (Trang 36)
Bảng 2.2  Bảng nợ xấu năm 2005-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.2 Bảng nợ xấu năm 2005-2007 (Trang 37)
Bảng 2.3: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế  của Chi nhánh từ 2005-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của Chi nhánh từ 2005-2007 (Trang 38)
Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh năm 2006-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh năm 2006-2007 (Trang 40)
Bảng 2.5: Biến động nguồn vốn từ năm 2002-2005 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.5 Biến động nguồn vốn từ năm 2002-2005 (Trang 41)
Bảng  2.6: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn của chi nhánh từ 2005-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
ng 2.6: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn của chi nhánh từ 2005-2007 (Trang 43)
Bảng 2.7 Huy động vốn theo phương thức huy động - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.7 Huy động vốn theo phương thức huy động (Trang 47)
Bảng 2.8:  Bảng cơ cấu tiền gửi theo đối tượng - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.8 Bảng cơ cấu tiền gửi theo đối tượng (Trang 53)
Bảng 2.9: Huy động vốn theo loại tiền từ 2005-2007 - Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Bách Khoa”
Bảng 2.9 Huy động vốn theo loại tiền từ 2005-2007 (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w