Tuy rằng phải đến khi Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 1988 được ban hành thì vị trí, vai trò củangười bào chữa mới chính thức được ghi nhận về mặt lập pháp, nhưng lịch sử tố tụnghình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ LỚP 16, QUẢN TRỊ LUẬT – K35
ĐỀ TÀI: NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 3
I. Khái quát chung về người bào chữa trong luật tố tụng hình sự .4 1 Khái niệm người bào chữa 4
2 Điều kiện để trở thành người bào chữa 5
II. Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 9
1 Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa 9
2 Quyền của người bào chữa 10
3 Nghĩa vụ của người bào chữa 13
III. Thực trạng bảo vệ pháp luật và công lý của người bào chữa và một số kiến nghị hoàn thiện 16
1 Những hạn chế cần khắc phục 17
2 Nguyên nhân của những hạn chế 18
3 Một số kiến nghị hoàn thiện 25
Kết luận 30
Tài liệu tham khảo 31
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Quyền bào chữa là một quyền dân chủ trọng yếu của công dân Để đảmbảo người bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền bào chữa của mìnhthì cần thiết phải cho phép họ được nhờ người khác bào chữa cho họ Chính vì vậy màngay sau khi thành lập chính quyền cách mạng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã kí sắc lệnh số 46/SL trong đó quy định tạm thời duy trì các tổ chức luật sư củachế độ cũ nhằm kịp thời bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội Và ngay cảtrong những giai đoạn đất nước phải trải qua cuộc kháng chiến khốc liệt, Nhà nước tavẫn luôn quan tâm tới việc duy trì các tổ chức luật sư, bào chữa viên nhân dân để làmnhiệm vụ bào chữa và bảo về quyền lợi cho người bị buộc tội Tuy rằng phải đến khi
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 được ban hành thì vị trí, vai trò củangười bào chữa mới chính thức được ghi nhận về mặt lập pháp, nhưng lịch sử tố tụnghình sự của nhà nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đã khẳng định vai trò tolớn của người bào chữa đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dâncũng như đối với việc bảo đảm dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự và quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự
Tuy nhiên, tầm quan trọng của chế định người bào chữa và vai trò củangười bào chữa chữa trong thực tiễn tố tụng bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còntồn tại những hạn chế về hình thức và kém hiệu quả của hoạt động bào chữa, vai tròcủa người bào chữa chưa được thể hiện đúng mực Và khi đó sự cho phép người bịbuộc tội được quyền nhờ người bào chữa sẽ trở thành vô nghĩa, có chăng thì chỉ là sựthể hiện dân chủ về hình thức Xuất phát từ sự nhìn nhận một cách đúng đắn về vai tròcủa người bào chữa và với chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng taị phiên tòacũng như nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước ta đã chủtrương tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa phát huy vai trò của mình Chủtrương đó đã được hiện thực hóa thông qua các quy định trong BLTTHS năm 2003 vàLuật Luật sư năm 2006
Để có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về giá trị thực tiễn các quy định trongBLTTHS năm 2003 về người bào chữa, từ đó đưa ra các ý kiến đóng góp vào quá trìnhcải cách, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự thì nhất thiết phải có sự nghiên cứunhững vấn đề lý luận, thực tiễn hoạt động của người bào chữa cũng như các quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chế định người bào chữa
Từ những lý do trên, nhóm chúng em đã chọn “Người bào chữa trong tố tụng hình
sự Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận.
Trang 4I Khái quát chung về người bào chữa trong luật tố tụng hình sự
1 Khái niện người bào chữa
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có những cách hiểu
khác nhau về người bào chữa Có một số quan điểm cho rằng: “Người bào chữa là
người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật” Một tác giả khác còn khẳng
định rõ hơn rằng: “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án” Ngoài ra, cũng có không ít người vẫn quan niệm người bào chữa là “thầy cãi”…
Những cách hiểu nói trên là không chính xác, chưa làm rõ được khái niệm,
vị trí, vai trò, chức năng của người bào chữa cũng như chưa phân biệt được người bàochữa với người tiến hành tố tụng, với người bảo vệ quyền lợi của đương sự Thật ra,người bào chữa là người tham gia tố tụng (NTGTT) không có quyền và lợi ích liênquan đến vụ án Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcho người bị buộc tội Người bào chữa không phải là người tiến hành tố tụng mà chỉ là
người tham gia tố tụng Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của người bào chữa.
“Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động
chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành Hơn nữa,người bào chữa không phải là người được nhân danh quyền lực nhà nước và khôngđược sử dụng quyền lực nhà nước như những tiến hành tố tụng Bên cạnh đó, cũngkhông thể đồng nhất khái niệm người bào chữa với người bảo vệ quyền lợi của đương
sự Và trong BLTTHS 2003 đã có sự phân biệt giữa người bào chữa với người bảo vệquyền lợi của đương sự Tiêu chí để phân biệt chính là chức năng của họ và đối tượng
mà họ bào chữa, bảo vệ Người bào chữa tham gia tố tụng chủ yếu để chứng minh sự
vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trong khi đó, ngườibảo vệ quyền lợi cho đương sự tham gia tố tụng chủ yếu là để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp về dân sự cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Như đã trình bày, người bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ ánhình sự Việc họ tham gia tố tụng bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội Cơ sở cho sự hiện diện của họtrong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa họ với người bị buộc tội(hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) và phải được sự chấp thuậncủa cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) Trong trường hợp đặc biệt do BLTTHS quyđịnh, nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bàochữa thì các CQTHTT yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và dĩ nhiênngay trong trường hợp này sự tham gia của người bào chữa cũng phải được sự đồng ýcủa người bị buộc tội
Trang 5Tuy BLTTHS không nếu khái niệm thế nào là người bào chữa, nhưng căn cứvào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 BLTTHS thì, người bào chữa là người đượcngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, những người khácđược người bị tạm giữ, bị can, bị cáo uỷ quyền mời hay được cơ quan tiến hành tố tụngyêu cầu Đoàn Luật sư phân công; Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự (TNHS) cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp
lý Vậy cơ bản có thể thấy rằng “Người bào chữa trong tố tụng hình sự là NTGTT để
chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
2 Điều kiện để trở thành người bào chữa
Điều kiện trở thành người bào chữa là tổng hợp những yêu cầu, đòi hỏi màkhi hội đủ những yêu cầu đòi hỏi đó một người có thể tham gia tố tụng với tư cáchngười bào chữa Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì để trở thành chủ thểtham gia tố tụng với tư cách người bào chữa phải hội đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, phải thuộc một trong ba đối tượng quy định tại khoản 1,
Điều 56 BLTTHS Như vậy, người bào chữa có thể là:
1 Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy địnhcủa Luật luật sư 2006, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.Theo quy định tại Điều 10 Luật luật sư 2006 thì tiêu chuẩn của luật sư là côngdân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cóphẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đãqua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sưthì có thể trở thành luật sư Điều kiện hành nghề Luật sư theo quy định tại Điều
11 Luật luật sư là “phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn
luật sư” Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp Pháp lệnh tổ chức luật sư
1987 đã quy định một trong những hình thức giúp đỡ pháp lý chủ yếu của luật
sư là tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa Thực tiễn hoạt động tốtụng hình sự ở nước ta cũng cho thấy sự hiện diện của luật sư với tư cách làngười bào chữa trong các vụ án hình sự ngày càng phổ biến
2 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tốtụng hình sự thường là những người ruột thịt, thân thích của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo như bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột vànhững người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưathành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần Người đại diện hợppháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ
Trang 6cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố tụngvới tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách làngười bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa Thựctiễn xét xử cho thấy, việc xác định người đại diện hợp pháp của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo không khó nhưng lại khó ở chỗ: người bị tạm giữ, bị can, bịcáo là người đã thành niên không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần màngười thân thích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tuy không phải là Luật sư,bào chữa viên nhân dân nhưng lại yêu cầu được bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo vì họ là người có trình độ pháp lý, đã từng hoạt động trong các cơquan pháp luật nay nghỉ hưu Vậy những người này có được bào chữa chongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay không? Về vấn đề này, tuy còn nhiều ý kiếnkhác nhau, nhưng thực tiễn xét xử Toà án đã công nhận và cấp giấy chứng nhậncho họ để họ thực hiện việc bào chữa cho bị cáo
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiếtphải là người đã có đủ năng lực hành vi dân sự, có quốc tịch Việt Nam và cư trútại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịchhoặc là người Việt Nam ở nước ngoài
3 Bào chữa viên nhân dân là người được đại diện cho cơ quan, tổ chức nơi
bị can cư trú, hoặc làm việc như đại diện đại diện Công đoàn, Đoàn thanh niên,Hội phụ nữ, v.v có khả năng bào chữa và được cơ quan tiến hành tố tụng côngnhận Hiện nay chưa có quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trongthực tế hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thànhmột hệ thống, điều kiện để trở thành bào chữa viên nhân dân cũng không đượcquy định, trong khi đó trong xã hội có nhiều người có trình độ pháp lý có hiểubiết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp vào đoàn Luật sư và họlại được bị can, bị cáo nhờ bào chữa Căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồngThẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày02-10-2004 về quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì mộtngười được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa chothành viên của tổ chức mình
Thứ hai, phải được mời hoặc được cử.
Những người thuộc ba đối tượng nêu trên để trở thành người bào chữa phảiđược người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời (có thể do thân nhân của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo mời nhưng phải được sự đồng ý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) Việcmời này phải là mời đích danh (có thể thông qua Đoàn luật sư) và phải thể hiện bằng
Trang 7văn bản Trong các trường hợp bào chữa bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 57BLTTHS 2003 thì điều kiện đối với luật sư là phải được Đoàn luật sư phân công vănphòng luật sư cử, đối với bào chữa viên nhân dân là do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, tổ chức thành viên của mặt trận cử Trường hợp này vẫn cần có sự đồng ý của bịcan, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ thông qua việc không yêu cầu thay đổihoặc từ chối bào chữa.
Thứ ba, phải được CQTHTT cấp giấy chứng nhận bào chữa.
Việc được mời hoặc được cử chỉ là điều kiện cần Điều kiện đủ để trở thànhngười bào chữa là phải được CQTHTT cấp giấy chứng nhận người bào chữa Tươngứng với từng giai đoạn tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa có thể do cơ quanđiều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS), tòa án cấp Tuy nhiên, BLTTHS 2003 lạikhông quy định cụ thể giấy chứng nhận bào chữa do CQĐT, VKS, tòa án cấp có giá trịtrong suốt quá trình từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩmhay chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng và khi chuyển sang giai đoạn tố tụngkhác phải cấp giấy chứng nhận bào chữa khác Trên thực tế, CQĐT xác định giấychứng nhận người bào chữa được cấp trong giai đoạn tố tụng nào chỉ có giá trị trongchính giai đoạn tố tụng ấy và khi chuyển sang giai đoạn tố tụng khác phải cấp giấychứng nhận bào chữa khác Điều này đã gây không ít khó khăn cho hoạt động củangười bào chữa Khắc phục tình trạng đó, Luật luật sư 2006 quy định cụ thể tại khoản
4 Điều 27 như sau: “Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luât sư có giá trị trong các
giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật”.
Thứ tư, không thuộc các trường hợp không được bào chữa theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 2 điều 56 BLTTHS thì những người sau đây không được bàochữa:
- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã
hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;
+ Đối với người đã tiến hành tố tụng trong vụ án: Quy định này nhằm đảmbảo sự vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa Một vụ án có thểtrải qua nhiều giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúcthẩm… và trong những trường hợp hủy án để điều tra lại hoặc xét xử lại, quytrình có thể lặp lại nhiều lần Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án là người
mà trong các giai đoạn tố tụng trước họ đã tham gia tố tụng với tư cách điều traviên (ĐTV), kiểm sát viên (KSV), thẩm phán (TP), hội thẩm (HT), thư ký tòa
án Những người này trong quá trình tiến hành tố tụng, tiếp xúc với hồ sơ vụ án
và với tư cách là người buộc tội hoặc người xét xử, ít nhiều họ cũng đã có
Trang 8những định kiến về tội lỗi của người bị buộc tội Trái lại, người bào chữa phải
là người nhìn nhận các tình tiết của vụ án trên quan điểm gỡ tội, cố gắng tìm tất
cả các tình tiết chứng cứ có thể bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ tội của ngườiđược họ bào chữa Do vậy, nếu quy định cho những người này tham gia tố tụngvới tư cách người bào chữa sẽ không đảm bảo chất lượng của hoạt động bàochữa Hơn nữa, về mặt logic, một người không thể vừa đồng thời khẳng địnhmột người là có tội lại vừa phải tìm cách chứng minh người đó vô tội
+ Người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án:Trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS không giải thích chi tiết thếnào là người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án.Nhưng căn cứ vào hướng dẫn về người thân thích của người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can,
bị cáo (điểm 4b Mục 1 Nghị quyết số 03/2004/NQ – HĐTP) có thể hiểu ngườithân thích của người đang tiến hành tố tụng trong vụ án là người có quan hệ sauđây với những người này:
• Là vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
• Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
• Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây: là bác ruột, chúruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột
Pháp luật cấm những người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tốtụng làm người bào chữa nhằm loại trừ khả năng họ lợi dụng mối quan hệ thânthích đó để tác động làm sai lệch hướng điều tra, sai lệch hồ sơ vụ án giúp bịcan, bị cáo thoát tội hoặc theo hướng ngược lại làm giảm hiệu quả của hoạtđộng bào chữa
Trên thực tế xảy ra trường hợp, một người đã tham gia tố tụng với tư cáchngười bào chữa trong các giai đoạn trước của vụ án, giai đoạn sau người thânthích của họ được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án đó Để đảm bảoquyền bào chữa, trong trường hợp này pháp luật cho phép người đó tiếp tụcthực hiện việc bào chữa và phân công người khác không có quan hệ thân thíchvới người được nhờ bào chữa thay thế tiến hành tố tụng Các trường hợp cònlại, nếu người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ có mối quan hệ thânthích với người đã hoặc đang tiến hành tố tụng thì cơ quan có thẩm quyền từchối cấp giấy chứng nhận người bào chữa (điểm 1 Mục 2 Nghị quyết03/2004/NQ – HĐTP)
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám
định hoặc người phiên dịch Họ là những chủ thể tham gia tố tụng với mục đích
góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án Do vậy để đảm bảo cho lời khai,
Trang 9kết quả giám định hay nội dung phiên dịch là xác thực họ phải không là bên buộctội cũng không là bên gỡ tội Từ lý do đó mà pháp luật quy định người tham giatrong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch vàngược lại, người tham gia với tư cách người bào chữa thì không được làm chứng,tiến hành giám định hay phiên dịch Nếu đã tham gia thì phải từ chối hoặc bị thayđổi Vấn đề quyết định ở đây là người đó tham gia với tư cách nào trước, tư cáchtham gia trước tiên sẽ được ưu tiên hơn các tư cách khác.
Như vậy, để trở thành chủ thể tham gia tố tụng với tư cách người bào chữaphải hội đủ tất cả 4 điều kiện trên và có các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.Tức là nếu thiếu 1 trong 4 các điều kiện này thì sẽ không thể trở thành người bào chữatheo quy định của luật tố tụng hình sự
II Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa, các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
BLTTHS 2003 đã quy định cụ thể và chi tiết về các quyền và nghĩa vụ củangười bào chữa đồng thời cũng quy định thời điểm tham gia tố tụng của người bàochữa sớm hơn so với BLTTHS 1988 Cụ thể như sau:
1 Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa
Khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003 quy định: “Người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”.
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namhiện nay, nhiệm vụ và mục đích của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự làlàm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹTNHS của người bị tạm giữ bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vềmặt pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Như vậy, việc mở rộngthời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa như trên là hợp lý và phù hợp với việcghi nhận quyền bào chữa thuộc về một đối tượng là người bị tạm giữ
Đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, do tính chất phức tạp và liênquan đến nhiều vấn đề “nhạy cảm” của những vụ án này, luật quy định cho người bàochữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Việc hạn chế sự tham gia của người bàochữa trong trường hợp này rõ ràng không đảm bảo nguyên tắc đảm bảo quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như nguyên tắc mọi công dân đều bìnhđẳng trước pháp luật
Trang 10Tóm lại, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng phụ thuộc vào ý chí củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc phụ thuộc vào quyết định của CQTHTT (trongnhững trường hợp cần giữ bí mật quốc gia, v.v và những trường hợp bào chữa chỉđịnh) Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm có quyết định tạm giữ, người bịtạm giữ đã có quyền nhờ người bào chữa, kể từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can
là bị can đả có quyền nhờ người bào chữa Trong trường hợp cần giữ bí mật điều trađối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng VKS quyết định để người bàochữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra
2 Quyền của người bào chữa
Theo quy định tại khoản 2, Điều 58 BLTTHS 2003 người bào chữa cónhững quyền sau đây:
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giam tạm giữ, khi hỏi cung bị can và
nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
Để tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập chứng cứ, BLTTHS 2003 quyđịnh cho người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu được ĐTVđồng ý thì người bào chữa có quyền đặt câu hỏi đối với người bị tạm giữ, bị can đểtạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can khai báo về hành vi của mình Thôngthường nếu được ĐTV đồng ý thì người bào chữa thường đặt các câu hỏi về nhữngtình tiết chứng minh người bị tạm giữ, bị can vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹTNHS cho họ mà vì lý do nào đó ĐTV không hỏi đến Ngoài ra người bào chữacũng có quyền có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản vềhoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đếnngười mà mình bào chữa để thu thập chứng cứ, chuẩn bị cho luận cứ bào chữa củamình
Sự có mặt của người bào chữa khi hỏi cung bị can tạo nên sự an tâm về mặttâm lý cho bị can Bị can an tâm vì biết mình có sự trợ giúp pháp lý từ phía ngườibào chữa Đồng thời sự có mặt của người bào chữa tạo đối trọng pháp lý đối vớicán bộ điều tra và sẽ làm cho cán bộ điều tra có trách nhiệm hơn trong công việccủa mình cũng như giúp họ tránh được những vi phạm pháp luật không cần thiếttrong khi tiến hành hỏi cung như bức cung, mớm cung.v.v… Sự có mặt của ngườibào chữa trong các hoạt động của người điều tra khác cũng có những ý nghĩa và tácdụng tương tự
- Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để
có mặt khi hỏi cung bị can;
Trang 11Đây là quyền rất quan trọng để người bào chữa thực hiện tốt nhiệm vụ củamình CQĐT cần phải thông báo kịp thời cho người bào chữa về thời gian, địađiểm hỏi cung bị can để người bào chữa sắp xếp công việc, tham gia vào cuộc hỏicung.
Đồng thời, đây là trách nhiệm của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án.Thực tế cho thấy, ĐTV cùng một lúc phải thụ lý nhiều vụ án, trong đó có vụ án có
bị can, người bào chữa cũng đảm nhận bào chữa cho nhiều vụ án, khi sắp xếp đượclịch làm việc của ĐTV thì người bào chữa bận, và ngược lại Hơn nữa, không phảimọi cuộc hỏi cung bị can người bào chữa đều phài có mặt và việc có mặt haykhông còn phục thuộc vào ý chí của họ Do đó, việc người bào chữa có mặt khi hỏicung đòi hỏi phải có sự chủ động từ hai phía, khi có đề nghị của người bào chữa thìCQĐT mới bố trí sắp xếp để họ tham gia Đây là quy định mới trong BLTTHS
2003, BLTTHS 1988 người bào chữa không có quy định quyền này
- Đề nghị thay đổi Người tiến hành tố tụng, Người giám định, người phiên dịch
theo quy định của Bộ luật này;
Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (NTHTT), người giám định, ngườiphiên dịch nếu có căn cứ rõ rằng, những người này không vô tư, khách quan trongviệc xác định sự thật vụ án theo các căn cứ quy định tại Điều 42, 44, 45, 46, 47,khoản 4 Điều 60, khoản 3 Điều 61 BLTTHS 2003 Ví dụ: khi có căn cứ rõ rằng,ĐTV có mối quan hệ mật thiết với gia đình người bị hại, chịu ơn gia đình người bịhại, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi ĐTV để bảo đảm tính khách quancủa hoạt động điều tra
- Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ việc người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tam giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật của nhà nước, bí mật công tác;
Người bào chữa có quyền độc lập thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quanđến vụ án để chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình Đây không phải là hoạtđộng tố tụng mà đơn thuần là một biện pháp để người bào chữa thực hiện nhiệm vụcủa mình
Đây là những quyền giúp cho người bào chữa thực hiên hoạt động chứngminh của mình có hiệu quả và đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật tố tụng hình
sự về thực hiện chức năng gỡ tội Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạtđộng bào chữa, bởi chính trong quá trình thu thập chứng cứ, người bào chữa mới
có khả năng phát hiện ra những tình tiết vụ án, từ đó mới có phương án bào chữanhằm bảo vệ cho thân chủ của mình Mặt khác, với quy định này người bão chữa sẽ
Trang 12góp phần khách quan, chính xác và đúng pháp luật trong hoạt động giải quyết vụán.
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Quy định này được sửa đổi từ quy định về nguyên tắc đưa ra chứng cứ,những yêu cầu trong BLTTHS 2003 Xét về mặt thuật ngữ, quy định này là chínhxác hơn bởi vì quyền thu thập chứng cứ thuộc về các CQTHTT, chỉ có CQTHTTmới có quyền thu thập chứng cứ, người bào chữa là người tham gia tố tụng nên họchỉ được thu thập tài liệu, đồ vật mà thôi
- Gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
Gặp người bị tạm giữ; bị can, bị cáo đang bị tạm giam để thu thập, trao đổithông tin giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý Quyền được gặp
gỡ bị can, bị cáo sẽ giúp chi người bào chữa hiểu biết về nhân thân của bị can, bịcáo, hiểu thêm được nguyên nhân, điều kiện của những hành vi mà bị can, bị cao bịtình nghi thực hiện…v.v Người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, họ bị hạn chế
về quyền tự do thân thể nên thường ở trong trạng thái hoang mang, lo sợ Do đó,BLTTHS cho người bào chữa có quyền gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với thân chủ để
có thể nắm được thêm các tình tiết nhằm có lợi cho hướng cho thân chủ Nhữnghiểu biết này cần thiết cho người bào chữa và giúp cho họ chuẩn bị kĩ càng, chuđáo cho công việc bào chữa của mình
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc
bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
Sau khi kết thúc điều tra, CQĐT có những thông tin tương đối đầy đủ về vụ
án Kết quả điều tra được thể hiện trong các biên bản hoạt động điều tra, bản kếtluận điều tra Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và nếu cần thiết thì sao chụpnhững tài liệu có trong hồ sơ liên quan đến việc bào chữa Quy định về việc đượcđọc hồ sơ, ghi chép và sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ sau khi kết thúcđiều tra là nhằm tạo điều kiên cho người bào chữa thực hiện tốt hoạt động bào chữacủa mình
- Tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
Theo quy định của BLTTHS 2003, sau khi các thành viên Hội đồng xét xử(HĐXX) và KSV đặt câu hỏi (với bị cáo hoặc người bị hại…), người bào chữađược đặt câu hỏi đối với người bị xét hỏi để làm rõ các tình tiết theo họ là cần thiết.Trong thủ tục tranh luận tại phiên tòa, sau khi KSV trình bày lời luận tội, người bàochữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và tham gia tranh luận với KSV và nhữngNTGTT khác Đây là quyền quan trọng nhất của người bào chữa, tất cả các hoạtđộng của người bào chữa khi thu thập tài liệu vật chứng, gặp gỡ bị can, bị cáo…đều nhằm phục vụ cho việc tranh luận tại phiên tòa
Trang 13Tại phiên tòa, quyền xét hỏi thuộc về những người THTT (TP, HT, KSV) vàngười bào chữa Người bào chữa tham gia xét hỏi là nhằm kiểm tra và đánh giánhững chứng cứ mà họ sử dụng cho việc bào chữa Người bào chữa tham gia tranhluận và đối đáp với bên buộc tội tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.
- Khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan, người có thẩm
quyền THTT;
Người bào chữa khi thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay nhữngbiện pháp cưỡng chế tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khôngđúng theo quy định của pháp luật (không đúng thẩm quyền, không đúng thủ tục…)thì được quyền khiếu nại về những quyết định của cơ quan có thẩm quyên tiếnhành tố tụng Người bào chữa có quyền khiếu nại về các hành vi tố tụng sai trái củangười có thẩm quyền Việc khiếu nại được thực hiện theo quy định của Chương 35BLTTHS
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp bị cáo là người
chưa thành niên, hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần;
Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhượcđiểm về thể chất hoặc tâm thần thì người bào chữa có quyền kháng cáo bản án,quyết định của Tòa án vì bị cáo trong những trường hợp này bị hạn chế về khảnăng nhận thức hoặc bị hạn chế về mặt thể chất làm cho họ không thực hiện đượchoặc thực hiên không tốt quyền kháng cáo của mình Nếu bị cáo là người đã thànhniên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì tự bị cáo thực hiện quyềnkháng cáo, người bào chữa không có quyền kháng cáo thay
3 Nghĩa vụ của người bào chữa
Bên cạnh việc quy định quyền của người bào chữa trong các giai đoạn thìluật tố tụng hình sự cũng đã quy định rất cụ thể về nghĩa vụ của người bào chữa Cụthể tại khoản 3, Điều 58 BLTTHS:
- Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do luật định để làm sáng tỏ
những tình tiết xác định sự vô tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quantới vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho CQĐT, VKS, Tòa án Việcgiao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và CQTHTT phải được lập biênbản theo quy định tại điều 95 của bộ luật này
Khi tham gia tố tụng, người bào chữa được xem như một trợ thủ đắc lực vềmặt pháp lý cho người bị tạm giữ, bị can Người bào chữa phải dành toàn bộ thờigian, trí tuệ của mình, sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để hoàn thànhtrách nhiệm bào chữa của mình Việc bào chữa qua loa, hình thức, vô trách nhiệm
Trang 14với số phận pháp lý của người bị buộc tội là không thể chấp nhận được và đáng bịlên án cả về đạo đức lần pháp luật Pháp luật chỉ ghi nhận người bào chữa có quyềnthu thập các tài liệu, các đồ vật liên quan đến việc bào chữa nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho người bào chữa hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên, khi thu thập đượccác tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, người bào chữa phải giao lại cho các CQĐT
để đảm bảo tính hợp pháp của các tài liệu, đồ vật này cũng như cung cấp thêm cácchứng cứ giúp đỡ các cơ quan điều tra giải quyết vụ án
- Giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ;
Giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của họ như tư vấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ thực hiện tốt nhấtcác quyền của mình trong tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Vídụ: khi ĐTV có những hành vi xâm hại một cách trái pháp luật tới quyền và lợi íchhợp pháp của bị can, người bào chữa có thể giúp bị can khiếu nại hành vi trái phápluật đó của ĐTV Giúp bị can, bị cáo phản bác những đòi hỏi vô căn cứ của người
bị hại, kiến nghị việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác thay thế cho biện pháptạm giam…
- Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã nhận bào chữa
nếu không có lý do chính đáng;
Khi nhận bào chữa người bào chữa phải thực hiện nghĩa vụ đó với tinh thầntrách nhiệm cao Việc từ chối bào chữa không có lý do chính đáng được xem làhành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp và phải bị xử lý thíchđáng
Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bịcáo và ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa đối với thân chủ của mình Nhưvậy, người bào chữa không được tùy tiện từ chối bào chữa nếu không nêu ra được
lý do chính đáng Lý do chính đáng có thể là: không đồng quan điểm với bị can, bịcáo và khi đã giải thích cho bị can, bị cáo về quan điểm của mình nhưng họ vẫnkhông nhất trí mà người bào chữa không bào chữa theo quan điểm của bị can, bịcáo
Người bị buộc tội là người cần được sự hỗ trợ rất lớn về mặt pháp lý từngười bào chữa Khi đã xác định tham gia vào vụ án cụ thể người bào chữa phảithực hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao Người bào chữa không được từchối bào chữa ảnh hưởng đến việc bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bịtạm giữ, bị cáo, bị can
- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng bức hoặc xúi
giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
Trang 15Đây là một nghĩa vụ mới của người bào chữa Việc quy định nghĩa vụ nàytrong BLTTHS 2003 xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn phải xử lý đối với hành vilàm đảo lộn sự thật, sai lệch hướng điều tra, sai lệch hồ sơ vụ án của người bàochữa, đồng thời khẳng định mục đích tham gia tố tụng của người bào chữa là bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa bên cạnh mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị buộc tội
Người bào chữa tham gia tố tụng mục đích lớn nhất nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người bị buộc tội nhưng bên cạnh đó họ cũng có nghĩa vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong quá trinh tìm hiểu vụ án, người bào chữa phảitiếp xúc với nhiều người tham gia tố tụng khác nhau nên người bào chữa có thể lợidụng việc gặp gỡ này để mua chuộc, cưỡng ép, hoặc xúi giục người khác khai báogian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật Điều này rất dễ dẫn tới việc xét xử khôngđúng người, đúng tội, làm sai lệch mục đích đê người bào chữa tham gia tố tụngcủa Nhà nước
- Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
Thông thường người bào chữa tham gia phiên tòa sơ thẩm để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị cáo Nếu vụ án được xét xử ờ cấp sơ thẩm mà có liênquan đến bị cáo mà họ nhận bào chữa, Tòa án xét xử phúc thẩm sẽ triệu tập ngườibào chữa tham gia phiên tòa đó Đối với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, chỉtrong những trường hợp cần thiết thì Tòa án mới triệu tập người bào chữa Khiđược triệu tập ở bất cứ cấp xét xử nào, người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theogiấy triệu tập Việc có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án vừa là nghĩa
vụ, vừa là quyền của người bào chữa Họ phải có mặt theo giấy triệu tập và họđược có mặt tại phiên tòa để thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào
chữa; không được sử dụng tải liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Người bào chữa trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do tiếp xúc với hồ sơ vụ
án, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên biết những thông tin liên quan đến hoạtđộng tố tụng Những thông tin này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết
vụ án, nếu để lộ ra ngoài có thể gây khó khăn cho hoạt động tố tụng, cho việcchứng minh tội phạm và người phạm tội nói riêng, cũng như cho việc đấu tranhphòng chống tội phạm nói chung Bên cạnh đó pháp luật cũng nghiêm cấm ngườibào chữa sử dụng các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác của cơquan, tổ chức, bí mật đời tư của cá nhân nhằm mục đích xâm phạm lợi ích của nhà