Kể từ lần đầu tiên chúng ta pháp điển hóa các quy phạm về người bào chữa trong BLTTHS năm 1988, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, và cho đến nay là BLTTHS năm 2003, tầm quan trọng của chế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
Trang 2
CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCVND Bào chữa viên nhân dân BLHS Bộ luật tố tụng hình sự BLDS Bộ luật dân sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng
GCN Giấy chứng nhận bào chữa
NTHTT Người tiến hành tố tụng TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………1
Chương 1 Lý luận chung về người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự……….7
1.1 Khái quát về quyền bào chữa và người bào chữa ……… 7
1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa……… 7
1.1.2 Khái niệm người bào chữa……… 12
1.2 Đặc điểm chế định người bào chữa………15
1.3 Phân loại người bào chữa……… 19
1.4 Vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự………… 22
1.5 Lược sử hình thành và phát triển của chế định người bào chữa trước năm 2003……… 29
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988………29
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003……… 36
1.6 Người bào chữa trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới……….39
1.6.1 Người bào chữa trong pháp luật Hoa Kỳ………39
1.6.2 Người bào chữa trong pháp luật Australia……… 42
1.6.3 Người bào chữa trong pháp luật Trung Quốc……….44
1.6.4 Người bào chữa trong pháp luật Cộng hòa Pháp………46
Chương 2 Người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam……… 49
2.1 Pháp luật thực định về người bào chữa……… 49
2.1.1.Quyền tố tụng của người bào chữa……… 49
2.1.2 Nghĩa vụ luật định của người bào chữa……… …60
2.1.3 Một số vấn đề khác về người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam……… 65
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về người bào chữa theo pháp luật Việt Nam.68 2.2.1 Những thành tựu đã đạt được……….68
Trang 42.2.2 Những bất cập, vướng mắc còn tồn tại và nguyên nhân……… 72
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam……….88
3.1 Cải cách tư pháp và vấn đề hoàn thiện chế định người bào chữa…….………88
3.2 Định hướng hoàn thiện chế định người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam……… ……….……….90
3.3 Giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chế định người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam……….……… 92
3.3.1 Về công tác lập pháp……….…………92
3.3.2 Về mặt tổ chức đội ngũ người bào chữa……….… 100
3 3.3 Nâng cao nhận thức về vai trò của người bào chữa… ……… 102
KẾT LUẬN………106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….108
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật TTHS có vai trò định hướng các quan hệ tố tụng hình sự vận động theo khuynh hướng mà Nhà nước mong muốn nhằm góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm
Để có thể thực hiện được các nhiệm vụ ấy, ngoài những NTHTT đại diện cho quyền lực Nhà nước tham gia một cách chủ động vào TTHS, còn có những chủ thể khác góp phần không nhỏ vào việc giải quyết vụ án hình sự, một trong các chủ thể tham gia tố tụng có lợi ích tương đối đối lập với NTHTT, nhưng lại cùng với NTHTT tìm ra công
lý, sự thật khách quan của vụ án, đó chính là người bào chữa
Kể từ lần đầu tiên chúng ta pháp điển hóa các quy phạm về người bào chữa trong BLTTHS năm 1988, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, và cho đến nay là BLTTHS năm
2003, tầm quan trọng của chế định người bào chữa dần dần được khẳng định không kém gì so với các chủ thể khác, đặc biệt là người bào chữa ngày càng được pháp luật trao thêm cho nhiều phương tiện tạo điều kiện cho người bào chữa có thể tham gia tố tụng linh hoạt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, hiện nay trong khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng tố tụng hình sự, khái niệm người bào chữa vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau, đồng thời có nhiều quy phạm của BLTTHS năm 2003 liên quan đến người bào chữa đã thể hiện nhiều bất cập, vướng mắc, điều này đã gây cản trở lớn đến sự tham gia tố tụng của người bào chữa, hạn chế khả năng thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS, ở nhiều nơi sự tham gia của người bào chữa còn rất hình thức Bên cạnh đó, Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính
trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị “về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” đề cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, nhưng thực tế là chưa
trang bị cho người bào chữa những công cụ hữu hiệu để có thể tranh tụng một cách
Trang 6bình đẳng, ngang bằng với các chủ thể buộc tội trong TTHS, vì thế mà chất lượng tranh tụng chưa cao
Có thể khẳng định rằng trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động của người bào chữa với sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội được coi là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của hoạt động tư pháp Xuất phát từ nhu cầu
đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra đối với khoa học pháp lý là cần minh định các vấn đề về địa vị pháp lý của người bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, cũng như hoàn thiện chế định người bào chữa để đáp ứng kịp thời với nhu cầu tất yếu của công cuộc cải cách tư pháp hình sự Chính vì thế mà sau thời
gian cân nhắc thận trọng, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Người bào chữa trong tố
tụng hình sự Việt Nam” để tiến hành nghiên cứu, tuy nhiên, vì kiến thức còn hạn chế,
khả năng ngoại ngữ không cao, nên việc tiếp cận các nguồn tài liệu nước ngoài là khó khăn, cũng như có thể có sai sót về nội dung, nhưng với tinh thần cầu tiến, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía các thầy, cô và bạn đọc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định về người bào chữa trong TTHS là vấn đề rộng và phức tạp, lại có lịch
sử hình thành và phát triển khá phong phú, đồng thời để phục vụ cho chiến lược cải cách tư pháp, đề cao vai trò của người bào chữa trong chiến lực cải cách tư pháp mà từ rất sớm chế định người bào chữa đã được nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nổi bậc phải kể đến là:
Một số công trình nghiên cứu khá quy mô có liên quan đến người bào chữa cung cấp nguồn lý luận cũng như những giải pháp quý báu được thực hiện trong thời gian gần đây như:
- Đào Thị Thu Hương Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm
Trang 7- Đỗ Lê Quỳnh Thư Sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa – Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2011
- Lương Thị Mỹ Quỳnh Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – So sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ, Luận án tiến sĩ - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2011
- Lương Thị Mỹ Quỳnh Thực tiễn bảo đảm quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam và những đề xuất hoàn thiện, Đề tài nghiên cứu khoa học - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2011
- Lê Anh Tuấn Vai trò của người bào chữa trong việc nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa, Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm
Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến người bào chữa trong thời gian
vừa qua, đặc biệt là từ khi có các Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 là tương đối nhiều,
đã cung cấp nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về người bào
Trang 8chữa trên nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu toàn diện về người bào chữa như công trình của tác giả thì còn ít, chưa đủ đáp ứng để cung cấp nguồn lý luận
và đóng góp cho công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng, đề cao vai trò của người bào chữa mà Đảng và Nhà nước ta mong muốn, chính vì thế mà đề tài của tác giả mang nhiều tính thời sự và cần thiết trong giai đoạn này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục đích: Phân tích cơ sở lý luận về chế định người bào chữa và đánh giá
thực trạng áp dụng pháp luật thực định ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chế định người bào chữa ở nước ta hiện nay
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu nêu trên, khóa luận có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về người bào chữa ở Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, lịch sử hình thành và phát triển của người bào chữa Đồng thời có tìm hiểu người bào chữa của pháp luật một số nước trên thế giới
- Phân tích pháp luật thực định liên quan đến người bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam, đồng thời nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn áp dụng các quy phạm
đó Qua đó, đánh giá, nhận xét, tìm hiểu nguyên nhân của những thành tựu cũng như những bất cập và vướng mắc dưới góc độ pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật
- Nêu sự cần thiết khách quan, định hướng và quan trọng nhất là những giải pháp
cụ thể có tính khả thi nhằm hoàn thiện chế định người bào chữa phù hợp với giai đoạn cải cách tư pháp
* Phạm vi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm về người bào chữa ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử lập pháp Nhưng đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm trong BLTTHS năm 2003 và các văn bản có liên quan đến chế định người bào chữa Tuy nhiên, để khóa luận có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định tương ứng trong pháp luật một số nước Từ sự nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về người bào chữa, tác giả cũng sẽ tiến hành nghiên cứu trên thực tiễn việc áp dụng các quy định ấy
Trang 9được thực hiện như thế nào, để từ đó chỉ ra những điểm bất cập, cùng với vướng mắc còn tồn tại
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, những phương pháp khoa học khác như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra
5 Những đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở phân tích tổng hợp các quan điểm, tác giả đưa ra quan điểm của cá nhân về khái niệm quyền bào chữa, người bào chữa, cũng như vai trò, đặc điểm người bào chữa nhằm minh chứng tính đặc thù chế định người bào chữa ở Việt Nam, từ đó góp phần hoàn thiện hơn khoa học pháp lý về người bào chữa trong TTHS Việt Nam Nghiên cứu một số quy định của người bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam, để phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá các quy phạm và thực trạng của người bào chữa ở Việt Nam, qua đó khóa luận chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn bất cập của những quy định pháp luật về người bào chữa trong BLTTHS năm
2003, từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về người bào chữa phù hợp với giai đoạn cải cách tư pháp, nâng cao tranh tụng và vai trò của người bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được tác giả chia làm 3 chương lớn, gồm:
Chương 1 Lý luận chung về người bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam Chương 2 Pháp luật thực định về người bào chữa và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái quát về quyền bào chữa và người bào chữa
1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định chính con người là động lực của các cuộc các mạng xã hội, là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người Để được làm chủ chính bản thân mình, lấy lại những quyền cơ bản vốn của con người đang bị các thế lực áp bức, độc tài, phản dân chủ nắm giữ, quần chúng nhân dân đã đứng dậy đấu tranh và lịch sử xã hội loài người chính là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành các quyền dân chủ và tiến bộ Một trong những quyền dân chủ tiến bộ mà nhân loại phấn đấu không mệt mỏi đã giành được, đó là quyền bào chữa Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng và phức tạp, vừa mang tính lí luận, vừa mang tính thực tiễn cao Từ rất sớm Đảng và Nhà nước ta nhận thức được tầm quan trọng của quyền bào chữa, nên ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên và các bản Hiến pháp trở về sau, điều dành những điều khoản long trọng để ghi nhận quyền này, và nó được cụ thể hóa trong các BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tuy nhiên, kể từ lần đầu tiên chúng ta ghi nhận quyền bào chữa trong Hiến pháp năm 1946 đến ngày nay, trong khoa học pháp lý nước nhà vẫn chưa có được một khái niệm cụ thể và thống nhất về quyền bào chữa, xunh quanh khái niệm này, nhiều luật gia trong và ngoài nước còn có các quan điểm khác nhau Để có được sự hiểu biết toàn diện và đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng của NBC thì vấn đề nội hàm của quyền bào chữa cần được đặt lên trên hết để tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc và rút ra được sự đánh giá chính xác nhất, từ đó có cơ sở vững chắc nghiên cứu về chế định NBC Trong phần này, tác giả sẽ nêu ra một số khái niệm quyền bào chữa được sử dụng phổ biến trong lịch sử khoa học TTHS, từ đó chỉ ra những điểm chưa phù hợp của các khái niệm ấy, đồng thời nêu lên quan điểm cá nhân về quyền bào chữa
Trang 11Dưới góc độ ngôn ngữ học, xét về mặt từ loại thì “bào chữa” là một động từ, hiểu một cách đơn giản đó là hành động “cãi để bênh vực” [39-tr.91] hay việc mà một người “dùng nhiều lí lẽ, chứng cớ để bênh vực cho hành vi của ai đó đang bị xem là
phạm pháp hoặc đang bị lên án”, trong khi đó, từ điển Black’s Law thì cho rằng bào
chữa (defend) là việc “chống lại, tranh luận, phản đối ( một lý lẽ được viện dẫn hay
một yêu sách), sự phối hợp bào chữa một cách mãnh mẽ để chống lại người cáo buộc, hay để thay mặt cho một ai như là người được ủy quyền đại diện trước tòa (người bị cáo thuê luật sư để bào chữa cho họ) [52-tr.510] Tuy được diễn đạt khác nhau, nhưng
về cơ bản các khái niệm trên đều thể hiện được những nét chung của bào chữa, đó là hành động dùng những lý lẽ và cơ sở hợp lý để chống lại sự áp đặt của các chủ thể khác khi họ cho rằng hành vi của một người là vi phạm pháp luật Tuy nhiên, những cách hiểu đó còn rất nhiều điểm thiếu sót, chưa xác định được phạm vi và chủ thể của quyền bào chữa, sẽ sai lầm khi cho rằng mọi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội đều có quyền bào chữa, như vậy là quá rộng và không đúng với bản chất của hoạt động bào chữa Để tiện cho việc nghiên cứu, phần dưới đây tác giả xin được trình bày các nhóm quan điểm pháp lý phổ biến mà tác giả cho rằng chưa hoàn toàn chính xác
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can và bị cáo Tác giả Hoàng Thị Sơn viết: “Quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo chứ
không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo”[25]
Đồng thời tác giả này cho rằng “Người bị tạm giữ không thể coi là đối tượng bị buộc
tội mà họ chỉ có thể trở thành đối tượng bị buộc tội nếu có đủ căn cứ để khởi tố họ với
tư cách là bị can”[25] Vấn đề này tác giả cho rằng cách giải thích như trên là không
đúng Một trong các biện pháp ngăn chặn mà CQTHTT sẽ áp dụng là biện pháp tạm giữ đối với một cá nhân cụ thể về hành vi mà họ đã thực hiện mà CQTHTT cho rằng
có khả năng là tội phạm và cũng để phục vụ cho quá trình điều tra Tại thời điểm bị tạm giữ họ chưa nhận được bất kì lời buộc tội chính thức nào từ phía các cơ quan có thẩm quyền nhưng các trường hợp tạm giữ và các căn cứ tạm giữ chính là những lời buộc tội gián tiếp đối với họ Trong quyết định tạm giữ có ghi lý do tạm giữ và người
bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ Khi hết thời hạn tạm giữ thì người bị tạm giữ có thể bị khởi tố bị can, hoặc được trả lại tự do [51] Dù rằng sau quá
Trang 12trình điều tra có thể người bị tạm giữ sẽ không bị khởi tố, nhưng trong thời gian bị tạm giữ quyền tự do về thân thể của họ đã bị hạn chế bởi các cơ quan chức năng, đồng thời tại nơi tạm giữ họ bị áp dụng các biện pháp điều tra như lấy lời khai, thu thập chứng
cứ, vì vậy quy định cho người bị tạm giữ có quyền bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là hoàn toàn hợp lý khi mà họ đã và đang bị áp dụng biện pháp cưỡng chế TTHS
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can
Trong một tác phẩm của mình, nhà lý luận TTHS Xô Viết Stragovich đã viết
“Bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác
định bị can không có lỗi hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
can”[45-tr.196] Quan điểm của chúng tôi cho rằng cách hiểu như vậy không bao quát hết được những đối tượng nào có quyền bào chữa Bị can là người đã bị khởi tố về mặt hình sự, sau quá trình điều tra, truy tố, hồ sơ vụ án được chuyển đến Tòa án, Tòa án sẽ dựa vào các căn cứ luật định để có đưa vụ án hình sự ra xét xử hay không, nếu có căn cứ để đình chỉ vụ án thì lúc này Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án, khi đó tư cách bị can
sẽ chấm dứt, hoạt động buộc tội không còn và kéo theo là quyền bào chữa cũng kết thúc, còn nếu phải đưa vụ án ra xét xử thì lúc này tư cách bị can cũng sẽ chấm dứt, hình thành tư cách bị cáo, khi đó mức độ buộc tội từ phía các CQTHTT sẽ cao hơn so với các giai đoạn TTHS trước đó, quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị cáo khác với bị can, hoạt động bào chữa cũng sẽ khác đi, quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử biểu hiện rõ nét nhất Bên cạnh đó, ngoài bị can, bị cáo thì người bị tạm giữ cũng có quyền bào chữa, vì thế khi chỉ nêu bị can hay bị cáo có quyền bào chữa là chưa bao quát được toàn bộ chủ thể có quyền này
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng ngoài người bị tạm giữ, bị can và bị cáo còn
có các đối tượng khác cũng có quyền bào chữa Theo TS Phạm Hồng Hải thì
“Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”[41] Hay
quan điểm khác nói rằng “quyền bào chữa không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc
tội và giảm nhẹ TNHS của bị can, mà nó còn được thể hiện trong cả việc người bị hại
Trang 13cũng cần đến việc bào chữa” “Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác
cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại” [22-tr.89] Thứ nhất, theo tác giả thì người
bị kết án không thể là đối tượng bị buộc tội Không nền đồng nhất hai khái niệm buộc tội và kết án Buộc tội chỉ có thể tồn tại trước khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tức là trước khi kết tội Sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội rõ ràng đã là người có tội, họ không còn là đối tượng được xem xét
là có tội hay không nữa, nên đương nhiên quyền bào chữa của họ cũng không còn tồn tại, bên cạnh đó nếu cho rằng người bị kết án cũng có quyền bào chữa sẽ làm cho
TTHS sẽ không có điểm dừng Thứ hai, chúng tôi cho rằng quan điểm ghi nhận quyền
bào chữa cũng thuộc về những người không hề bị CQTHTT buộc tội là không đúng, vì các chủ thể này hoàn toàn không chịu sự buộc tội từ phía Nhà nước, xuất phát từ quan điểm bào chữa và buộc tội phải song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, ở đó có bào chữa cho nên trong các trường hợp trên rõ ràng những chủ thể này không thể có quyền bào chữa
Nhóm thứ tư cho rằng phạm vi của quyền bào chữa bao hàm cả việc bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp khác không liên quan đến sự bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS Ủng hộ quan điểm này, tác giả Nguyễn Ngọc Khánh cho rằng:
“quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS được hiểu là tất cả các quyền và biện pháp tố tụng mà người bị buộc tội được phép thực hiện nhằm hướng tới việc bác
bỏ sự buộc tội, chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình”[40] Tác giả cho rằng hiểu như vậy là quá rộng Bàn về
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội theo quy định của BLTTHS năm 2003
có hai nhóm quyền chủ yếu, đó là quyền bào chữa (quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa) và nhóm những quyền khác (quyền khiếu nại, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, quyền đề nghị mức bồi thường, kháng cáo bản án…) Trong số hai nhóm quyền trên, thì chỉ có người bị buộc tội mới có được quyền tự bào chữa và nhờ nhờ người khác bào chữa, còn đối với các quyền khác thì hầu hết những người tham gia tố tụng đều có được Nếu đồng nhất quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa - quyền đặc thù mà pháp luật dành cho người bị buộc tội, với các quyền khác vào khái niệm quyền bào chữa, thì sẽ dẫn đến hệ quả là rằng những người tham gia tố tụng khác (không phải người bị buộc tội) cũng có trong tay những quyền liên quan đến
Trang 14quyền bào chữa, điều này là hết sức vô lý, bởi những chủ thể này không bị buộc tội mà lại có quyền chống lại sự buộc tội Vì thế mà tác giả không thể đồng ý với quan điểm trên của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh, hiểu như vậy là quá rộng và không phù hợp với bản chất của quyền bào chữa
Như chúng ta đã biết, “mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và
của tất cả mọi sức sống, chỉ trong chừng mực một vật chất chứa đựng trong bản thân
nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động”[50-tr.147]
Qúa trình giải quyết vụ án hình sự là sự đan xen, giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập là buộc tội và gỡ tội, giữa tăng nặng TNHS và giảm nhẹ TNHS, chính những mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Cụ thể hơn thì mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn biện chứng trong tư duy, đó là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển nhận thức, của tư duy trên con đường xác định sự thật khách quan của vụ án Phán quyết của Tòa án – kết quả của hoạt động xét xử, chính là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, là sản phẩm của tư duy, là kết quả của việc đánh giá biện chứng những quan điểm, luận đề và phản luận đề, những ý kiến công nhận và phản đối, cũng như phủ định và khẳng định Từ đó cho thấy, nếu trong TTHS có hoạt động buộc tội thì song song với nó phải có hoạt động bào chữa Cùng với chức năng buộc tội, sự hiện hữu của chức năng bào chữa là một trong những điều kiện cần thiết giúp cho phán quyết của Tòa án được công bằng, khách quan, thể hiện tính dân chủ cao độ Xuất phát
từ quan niệm quyền bào chữa như là một mặt đối lập của quyền buộc tội, tác giả cho
rằng “quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tổng hợp tất cả các
quyền mà pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ”
1.1.2 Khái niệm người bào chữa
Quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện dưới hai hình thức, đó là
“tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa” Khi người bị buộc tội nhờ người bào
chữa thì không làm mất quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hai cách thức đảm bảo quyền bào chữa như trên được tiến hành song song và có thể sử dụng trong tất cả các giai đoạn TTHS cho đến khi có được một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, đa phần người bị buộc tội thường hạn chế về trình độ
Trang 15văn hóa, đặt biệt là thiếu sự hiểu biết pháp luật hay rơi vào trạng thái tâm lí bất an, trong khi đó những NTHTT không những dồi dào về kinh nghiệm, mà kiến thức pháp luật khá vững chắc, chuyên môn nghiệp vụ cao, ngoài ra trong khi bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng, người bị buộc tội khó có thể tự mình thực hiện quyền bào chữa một cách đầy đủ và toàn diện, những người bị buộc tội bị hạn chế về quyền tự
do, họ không thể tự do đi lại để tìm kiếm tài liệu, đồ vật để thực hiện tốt quyền bào chữa, vì thế mà chất lượng bào chữa do người tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện còn rất thấp Chính vì vậy, nhu cầu quyền bào chữa được thực hiện bởi người khác, những người có vị trí tương đối lập với Tòa án, Viện kiểm sát, hơn hết là sự am hiểu kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn… nhận được sự quan tâm đặc biệt của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trong TTHS, NBC và quyền bào chữa là hai chế định có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, tư cách NBC không mặc nhiên hình thành, mà nó xuất phát từ quyền bào chữa của người bị buộc tội, đồng thời chính NBC lại là cơ sở đảm bảo thực hiện tốt nhất quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tầm quan trọng của chế định NBC là điều không thể phủ nhận, tuy nhiên, hiện nay vì khái niệm NBC còn chưa được luật hóa, cho nên trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có những cách hiểu khác nhau về người bào chữa Dưới đây là một số quan điểm khá phổ biến
Có một số quan điểm cho rằng: “Người bào chữa là người giúp đỡ Tòa án trong
việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra một bản án
có căn cứ và đúng pháp luật” [37] Một tác giả khác còn khẳng định rõ hơn rằng
“người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án”[23] Trước hết cần
phải khẳng định rằng NBC không phải là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong TTHS,
họ không có trách nhiệm buộc tội hay phán xét một ai là có tội hay không NBC tham gia vào quá trình giải quyết vụ án không có quyền và lợi ích liên qan đến vụ án, sự có mặt của họ là nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị buộc tội, và góp phần bảo
vệ công lý Tuy NBC góp phần không nhỏ, giúp các CQTHTT rất nhiều, đặt biệt là Tòa án trong việc giải quyết vụ án hình sự, tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nhưng không thể cho NBC là người giúp đỡ Tòa án được, nếu nói như thế thì chẳng khác nào quy NBC vào nhóm những người THTT, làm mất đi bản chất của hoạt động bào chữa
Trang 16là chống lại sự buộc tội Nhiệm vụ của NBC là sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, hoặc đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo Trong khi đó Tòa án, với nhiệm vụ thực hiện chức năng xét xử, phải phán xét ai đúng, ai sai, có tội hay không có tội, phải tăng nặng hay giảm nhẹ TNHS, để làm được điều đó Tòa án phải dựa trên các chứng cứ do các bên đưa ra tại phiên tòa và lời tranh luận giữa bên
gỡ tội và bên buộc tội Nhiệm vụ, vai trò và địa vị pháp lý của HĐXX và NBC không giống nhau, lợi ích mà hai chủ thể này hướng đến để bảo vệ cũng có phần khác nhau,
vì thế không thể xem NBC là người trợ giúp cho Tòa án giải quyết vụ án hình sự được Khác với quan điểm trên, trong những năm mà BLTTHS năm 1988 có hiệu lực,
nhiều người quan nệm rằng “người bào chữa là người tham gia tố tụng với trách
nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, họ được phép sử dụng mọi phương tiện do luật định để bào chữa cho bị can, bị cáo, đồng thời giúp đỡ cho bị can, bị cáo
về mặt pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ”[24-tr.64] Cách định
nghĩa như vậy xuất phát từ quan niệm cho rằng sự buộc tội xuất hiện từ khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và kết thức bằng bản án buộc tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, dẫn đến là quyền bào chữa chỉ có thể thuộc về bị can, bị cáo Vì tiếp cận quyền bào chữa chỉ dành cho bị can và bị cáo mà định nghĩ này là đã bỏ mất một chủ thể khác vẫn có quyền có NBC đó là người bị tạm giữ Lý giải vì sao người bị tạm giữ cũng chính là một đối tượng chịu sự buộc tội từ phía CQTHTT, mặc dù đó chỉ
là sự buộc tội gián tiếp, tác giả đã trình bày ở nhóm quan điểm thứ nhất trong phần
1.1.1 về khái niệm quyền bào chữa, nên trong phần này tác giả sẽ không lập lại nữa
Ngoài ra, khái niệm này cũng chưa làm rõ bản chất của hoạt động bào chữa và chưa chỉ ra mối liên hệ với quyền bào chữa, cụ thể là chưa làm rõ nhiệm vụ của NBC là đưa
ra những tình tiết làm sáng tỏ sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội
Dưới góc độ thực tiễn, có người cho rằng “NBC là thuật ngữ chỉ về những người
có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt thân chủ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình tiết vụ
Trang 17án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ án hình sự”[33] Có thể nói rằng đây là cách hiểu phổ thông trong cộng đồng dân cư, cái mà
người ta hình dung về NBC, tuy nhiên cách hiểu như vậy còn nhiều điểm chưa chính
xác với các quy định hiện hành của BLTTHS Thứ nhất, tại Điều 56 BLTTHS năm
2003 liệt kê những đối tượng có thể và không thể trở thành NBC, đối với hai chủ thể là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân, luật không yêu cầu bắt buộc họ phải có kiến thức pháp luật, yêu cầu này chỉ dành cho luật sư (thông qua điều kiện trở thành luật sư theo pháp luật luật sư), hơn nữa luật cũng không yêu cầu NBC phải có kinh nghiệm hoạt động tố tụng, chỉ cần một cá nhân đáp ứng các điều kiện về chủ thể được nêu tại Khoản 1, 2 và 3 Điều luật này và được các CQTHTT chấp nhận tham gia tố tụng với tư cách NBC thì họ trở thành NBC trong
vụ án hình sự, tuy nhiên, trên thực tế để bảo đảm tốt việc bào chữa thì NBC đòi hỏi phải đạt được những điều kiện ấy, sự thiếu hiểu biết pháp luật, cũng như kinh nghiệm bào chữa thì sẽ không thể nào có thể bảo vệ cho thân chủ của mình một cách hiệu quả,
vì thế mà thực tế đa phần người bị buộc tội thường thuê những Luật sư nổi tiếng, nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nhưng dưới góc độ pháp lý thì không bắt buộc phải
nhất thiết đạt được hai yêu cầu đó Thứ hai, khái niệm trên khẳng định NBC “có
quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ án”, vậy “chủ thể khác” ở đây là những ai, phải chăng NBC cũng có quyền tranh luận với Thẩm phán?
Định nghĩa này còn khá mơ hồ, không rõ ràng, dễ dấn đến sự hiểu lầm rằng NBC có quyền tranh luận với tất cả những chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án, thậm chí là Chủ tọa phiên tòa, mặc dù pháp luật không cho phép điều này, chính vì vậy mà cách hiểu trên không được chấp nhận trong khoa học pháp lý TTHS
Sau quá trình nghiên cứu và đánh giá các khái niệm NBC đã có, cùng với đó là
sự học hỏi có chọn lọc dưới góc độ thực tiễn, cũng như lý luận, tác giả mạnh dạn xin nêu lên quan điểm cá nhân về một thuật ngữ NBC hoàn chỉnh phù hợp với bản chất
của quyền bào chữa như sau: “NBC là người tham gia tố tụng để làm sáng tỏ những
tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN.”
Trang 181.2 Đặc điểm chế định người bào chữa
Thông qua kết quả của quá trình nghiên cứu về khái niệm quyền bào chữa và khái niệm người bào chữa, tác giả nhận thấy NBC trong TTHS Việt Nam có một số đặc điểm nổi bậc như sau:
Thứ nhất, chế định NBC hình thành từ quyền bào chữa của người bị buộc tội
Như đã trình bày ở trên, người bị buộc tội có thể thực hiện quyền bào chữa bằng hai cách khác nhau, tự họ thực hiện việc bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Chính sự thừa nhận của pháp luật TTHS về quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và cách thức thực hiện quyền này thông qua một người khác, đã trở thành
cơ sở pháp lý, tiền đề cho sự hình thành tư cách NBC Cơ sở cho sự hiện diện của họ trong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa họ với người bị buộc tội (hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) và phải được sự chấp thuận của CQTHTT Trong trường hợp đặc biệt do BLTTHS quy định, nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các CQTHTT yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và dĩ nhiên ngay trong trường hợp này sự tham gia của người bào chữa cũng phải được sự đồng ý của người bị buộc tội [20] Lý giải cho nguyên nhân phải có sự đồng ý của NBC là vì quyền bào chữa là một quyền đặc thù mà pháp luật TTHS trao cho họ, việc người bị buộc tội (hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) thực hiện quyền này như thế nào, thông qua ai phải dựa trên mong muốn phù hợp với pháp luật của họ, xét cho cùng thì đó là quyền chứ không phải nghĩa vụ mà người bị buộc tội phải thực hiện
Thứ hai, NBC tham gia TTHS vì lợi ích của người bị buộc tội
Người bào chữa là người tham gia tố tụng được đặt bên cạnh những người bị buộc tội như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa luôn gắn liền với quyền của họ Khi tham gia tố tụng, NBC có nhiệm vụ làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ để gỡ tội cho thân chủ của mình, cùng thân chủ hợp thành một bên tranh tụng NBC không có lợi ích trong vụ án hình sự Việc họ tham gia tố tụng bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội [20] Cho dù kết quả quá trình bào chữa có thế nào đi nữa, thì đối với bản án, quyết định của các CQTHTT dành cho người bị buộc tội, cũng sẽ không ảnh hưởng đến quyền lợi của NBC Tuy nhiên, việc
Trang 19NBC thực hiện không tốt quyền bào chữa của thân chủ mình, làm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp, sẽ dẫn đến không chỉ là mất lòng tin từ nơi người đã nhờ họ tham gia bào chữa mà uy tín xã hội đối với cá nhân NBC bị giảm sút
Thứ ba, NBC là người tham gia tố tụng nhưng không phải là người tham gia
tố tụng độc lập
Xung quanh vấn đề này, còn nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng NBC là một chủ thể tham gia tố tụng độc lập và đối trọng với các CQTHTT Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cho rằng NBC không phải là người tham gia tố tụng hoàn toàn độc lập, tính độc lập ở đây chỉ là tương đối Mặc dù khi tham gia tố tụng, họ được pháp luật TTHS trao cho nhiều quyền để thực hiện việc bào chữa, giúp đỡ thân chủ của mình về mặt pháp lý Tuy nhiên, mối quan hệ giữa NBC và người được bào chữa chỉ xuất hiện trong hai trường hợp: (i) người bị buộc tội mời NBC cho họ và được CQTHTT chấp nhận (ii) CQTHTT cử NBC cho người bị buộc tội và được người này đồng ý Trong cả hai trường hợp nêu trên thì ý chí của người bị buộc tội luôn là yếu tố quyết định có hay không có sự tham gia của NBC trong TTHS Đồng thời người bị buộc tội có thể từ chối NBC ở bất kì giai đoạn nào của TTHS mà không có nghĩa vụ phải trình báo lý do hay phải được sự cho phép của các CQTHTT, ngoại trừ trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có nhược điểm về thể chất hoặc là người chưa thành niên Khi tư cách NBC được hình thành, một số hoạt động tác nghiệp của NBC còn phù thuộc nhiều vào ý chí của NTHTT, ví dụ như khi hỏi cung bị can, phải được sự đồng ý của ĐTV thì NBC mới được hỏi bị can hay trong các hoạt động điều tra khác cũng vậy Bên cạnh đó, một trong các nhiệm vụ của NBC là góp phần bảo vệ công lý, tìm ra sự thật khách quan của vụ án, họ không hoàn toàn đối trọng với các cơ quan THTT, có khi còn phối hợp với NTHTT để giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan, quyền lợi của người bị buộc tội được bảo vệ tốt nhất
Thứ tư, lợi ích mà NBC hướng đến để bảo vệ là toàn bộ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội
Pháp luật TTHS trao cho người bị buộc tội hai nhóm quyền lớn, đó là quyền bào chữa và các quyền khác Trong đó, quyền bào chữa chính là cơ sở pháp lý để dẫn đến
sự có mặt của NBC, NBC có trách nhiệm dùng mọi phương tiện mà pháp luật cho
Trang 20phép để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo Tuy nhiên, kể từ khi tham gia tố tụng với tư cách NBC, thì họ không chỉ có quyền bào chữa, mà lại có luôn nhệm vụ giúp đỡ người bị buộc tội thực hiện các quyền khác nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Như vậy có thể khẳng định rằng, NBC có nghĩa vụ bảo vệ toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, không chỉ thực hiện quyền bào chữa mà còn giúp
đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý
Thứ năm, thời điểm tham gia tố tụng của NBC là rất sớm
Xác định chính xác thời điểm bắt đầu từ khi nào thì NBC có thể tham gia tham gia tố tụng sẽ bảo đảm tốt nhất quyền bào chữa của người bị buộc tội, góp phần hạn chế tình trạng những NTHTT có những hành vi xâm phạm các quyền cơ bản của người
bị buộc tội, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các CQTHTT trong hoạt động buộc tội
của mình Khoản 1 Điều 58 BLTTHS hiện hành quy định: Người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can; trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Nghĩa là NBC được quyền tham gia tố tụng ngay từ thời điểm thực tế bắt giữ
người bị tình nghi hoặc từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can Hay nói cách khác, là quyền có NBC của công dân phát sinh kể từ thời điểm chịu
sự buộc tội từ phía CQTHTT
Thứ sáu, NBC có vai trò quan trọng trong TTHS
Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến quyền con người, quyền tự do của công dân với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Khi một công dân trở thành đối tượng bị Nhà nước nghi là thực hiện tội phạm và buộc phải tham gia vào quan hệ TTHS với các cơ quan Nhà nước, đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử người đó có thể bị Nhà nước truy cứu TNHS, bị chịu biện pháp nghiêm khắc nhất là hình phạt, có thể bị tước bỏ nhiều quyền cơ bản của công dân như quyền tự do về thân thể…và thậm chí tước bỏ cả quyền sống Vì vậy pháp luật quy định những người này có quyền biện minh cho bản thân mình nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của Nhà nước, quyền đó là quyền bào chữa Tuy nhiên khi tham gia vào TTHS, chủ thể của quyền bào chữa thường có trạng thái căng thẳng,
tự mình không nhận thức được hết những tình tiết có lợi để bào chữa cho mình Phần
Trang 21đông người bị buộc tội không có kinh nghiệm khi va chạm, tiếp xúc với NTHTT và hơn nữa pháp luật ngày càng phát triển, càng phức tạp nên không phải ai cũng hiểu hết các quy định của pháp luật mà tự bào chữa cho mình, điều này dẫn tới một nhu cầu khách quan trong xã hội là phải có những người hiểu biết chuyên sâu, có chuyên môn
về pháp luật để giúp người bị buộc tội có thể bào chữa cho mình – đó chính là những người bào chữa Vì thế tầm quan trọng của NBC trong các giai đoạn TTHS là điều không thể phủ nhận
Thứ bảy, NBC phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bảo vệ quyền lợi của thân chủ với việc bảo vệ pháp luật, tôn trọng sự thật
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, với sự tham gia của mình, NBC phải thực hiện song song hai nhiệm vụ, đó là bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN Hai nhiệm vụ này của NBC có mối liên hệ chặt chẽ, khăn khít với nhau, mỗi hành vi của NBC đều phải cân nhắc vì lợi ích của thân chủ mình, nhưng đồng thời những việc làm ấy phải hợp pháp Không chỉ riêng gì NBC, tất cả công dân đều có nghĩa tuân thủ pháp luật triệt để, nghiêm minh, ở đâu pháp luật thiếu sự tôn trọng thì ở đó pháp chế XHCN bị xâm phạm Nếu NBC chỉ chăm chú tập trung vào bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình, mà thực hiện những hành
vi trái chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật thì dẫn đến hệ qủa là quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội sẽ không được bảo đảm, có thể chính NBC lại trở thành đối tượng phải chịu trách nhiệm pháp lý cho những hành vi của mình Vì thế, dù rất muốn giúp đỡ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thoát khỏi sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS, nhưng NBC cũng phải có tinh thần thượng tôn pháp luật
1.3 Phân loại người bào chữa
Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS năm 2003 thì NBC có thể là Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân
Đa phần thì NBC trong các vụ án hình sự đều là Luật sư, bởi như đã trình bày ở trên, Luật sư là người không những am hiểu pháp luật, mà còn có dồi dào các kĩ năng
để thực hiện việc bào chữa tốt nhất, và tâm lý của người bị buộc tội cũng tin tưởng vào Luật sư nhiều hơn so với các đối tượng khác Theo quy định tại Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 thì người được hành nghề luật sư là người có đủ những tiêu chuẩn, điều
kiện: “công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật,
Trang 22có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư; đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập một đoàn luật sư” Luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa trong các trường hợp: theo hợp
đồng dịch vụ pháp lý, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư do Trung
tâm trợ giúp pháp lý cử Thứ nhất, đối với luật sư tham gia bào chữa theo hợp đồng
dịch vụ pháp lý thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể trực tiếp làm giấy yêu cầu luật sư và ký hợp đồng với luật sư mà mình lựa chọn Đối với người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo không thể gặp trực tiếp với Luật sư thì người thân thích của họ có thể làm giấy yêu cầu luật sư và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư Sự lựa chọn có thể biểu hiện là đã có sự đồng ý hoặc ủy quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cho người
thân thích của mình hoặc người khác nhờ luật sư Thứ hai, để bảo đảm quyền bào
chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, Khoản 2 Điều 57 BLTTHS quy định trong những trường hợp cụ thể sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời bào chữa thì CQĐT, VKS, TA phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào
chữa cho thành viên của tổ chức mình: “bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có
mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS; bị can, bị cáo là người chưa thành viên, người có nhược điểm vầ tâm thần hoặc thể chất” Khi nhận được yêu cầu của
CQTHTT, Đoàn Luật sư có nhiệm vụ thực hiện yêu cầu này, đây là nhiệm vụ luật định (Điều 61 Luật Luật sư năm 2006) Khi nhận được sự phân công của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có nghĩa vụ cử Luật sư của mình tham gia tố tụng (Điều 40 Luật Luật sư năm 2006) Tuy nhiên, tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là các quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của bị can, bị cáo Do vậy, CQTHTT phải tôn trọng quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa của bị can, bị cáo Nếu họ có yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì CQTHTT xem xét, quyết định có thay đổi người bào chữa hay không Nếu thay đổi thì sẽ phân công một Luật sư khác tham gia tố tụng cho
bị can, bị cáo Trường hợp bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đều từ chối NBC đã được cử và không yêu cầu NBC khác, CQTHTT phải đáp ứng yêu cầu
này của họ Thứ ba, Luật sư tham gia bào chữa do Trung tâm trợ giúp pháp lý cử (các
Trang 23Điều 8, 21, 31 Luật Luật sư năm 2006) Đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo thuộc đối tượng là người nghèo, người có công với cách mạng, người cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặt biệt khó khăn, khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước sẽ cử người thực hiện việc trợ pháp lý tham gia tố tụng
đề bào chữa cho họ Theo Điều 22 và 29 Luật Trợ giúp pháp lý, Luật sư là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý thì có thể được cử để tham gia bào chữa cho người bị buộc tội Trong những trường hợp này, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn được lựa chọn người bào chữa
Về người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Hiện nay trong BLTTHS không hề có một quy phạm nào quy định cụ thể để làm rõ phạm vi những người nào được xếp vào diện là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, bên cạnh đó Điều 3 BLTTHS quy định mọi hoạt động tố tụng hình sự của CQTHTT, NTHTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của BLTTHS, không có sự dẫn chiếu đến việc áp dụng các quy định về người đại diện theo BLDS Dựa trên lý luận khoa học TTHS và thực tiễn tố tụng, đa phần các quan điểm đều cho rằng chỉ có người chưa thành niên, người suy nhược về thể chất và tinh thần thì mới có người đại diện hợp pháp đương nhiên [39], những người có thể trở thành người đại diện như bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị, em ruột, người giám hộ [25-tr.180] Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa [40] Khác với Luật sư, ở khía cạnh thủ tục bào chữa, người đại diện hợp pháp chủ động thực hiện chức năng bào chữa mà không cần phải có sự lựa chọn của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đồng thời họ cũng có thể chủ động lựa chọn người bào chữa cho bị can, bị cáo (Khoản 1 Điều 57 BLTTHS) Như vậy, bản thân những đối tượng này cùng một lúc phải đảm nhận nhiều vai trò
Đối với bào chữa viên nhân dân, chế định này xuất hiện lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 69 ngày 18/6/1949 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành, nhằm bảo đảm quyền bào chữa cho người bị đưa ra xét xử trong vụ án hình sự trong bối cảnh nước
Trang 24nhà còn loạn lạc, chiến tranh, nghề Luật sư chưa phát triển được Theo quy định pháp luật hiện hành tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận NBC đối với bào chữa viên nhân dân yêu cầu bào chữa viên nhân dân phải có giấy tờ chứng minh là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên cử tới; đến giấy giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là thành viên Như vậy, bào chữa viên nhân là người do tổ chức, đoàn thể
xã hội cử ra tham gia làm NBC cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức đó Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về bào chữa viên nhân dân và trong thực
tế hoạt động bào chữa của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một
hệ thống, đều kiện trở thành bào chữa viên không được quy định
1.4 Vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự
Nhìn chung thì NBC tham gia vào TTHS nhằm tạo nên sự an tâm về mặt tâm lý cho người bị buộc tội Thân chủ của họ sẽ an tâm vì biết rằng có sự trợ giúp pháp lý từ phía NBC Đồng thời, với sự có mặt của NBC tạo đối trọng pháp lý đối với NTHTT và
sẽ làm cho họ có trách nhiệm hơn trong công việc của mình cũng như giúp họ tránh được những vi phạm pháp luật trong khi tiến hành các hành vi tố tụng Ứng với mỗi giai đoạn khác nhau, vai trò của NBC cũng sẽ được thể hiện những nét đặc trưng riêng
- Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Giai đoạn này bắt đầu là từ khi NTHTT nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó NBC sẽ tham gia khi có quyết định khởi tố bị can Đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì NBC tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
Trong giai đoạn này, vai trò của NBC thể hiện ra bên ngoài là chưa rõ nét vì thời gian xác định dấu hiệu ban đầu tội phạm tương đối ngắn và thường thì không đặt ra yêu cầu bắt buộc phải xác định bị can Tham gia vào giai đoạn này chủ yếu có hai chủ thể bị buộc tội là người bị tạm giữ, bị can Đối với người bị tạm giữ, NBC sẽ trao đổi
để bết được lý do bị bắt, ai tiến hành bắt, hành vi đã thực hiện, những ai biết sự việc… NBC hướng dẫn người bị tạm giữ về định hướng khai báo với các cơ quan có thẩm
Trang 25quyền để làm rõ sự không liên quan đến tội phạm, xuất trình các chứng cứ, tài liệu có lợi cho họ Nếu xét thấy cần thiết NBC đề nghị không xử lý về hình sự và hủy ngay biện pháp ngăn chặn đối với họ Đối với bị can, khi gặp gỡ và tiếp xúc với bị can, NBC phải giải sẽ giải thích pháp luật cho bị can để họ hiểu và nắm được quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích cho họ thấy rõ hành vi của họ có cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì đó là tội gì, có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào trong hành vi của họ hay không NBC phải phân tích cho họ thấy rõ hậu quả do hành vi của họ gây
ra và các chế tài mà họ có thể bị CQTHTT áp dụng khi giải quyết vụ án Sau đó, NBC
sẽ giúp bị can làm một việc như hướng dẫn họ xuất trình các chứng cứ, tài liệu có lợi cho họ, đề nghị các cơ quan và người có thâm quyền tố tụng thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với họ…
Trong giai đoạn này, chủ yếu NBC sẽ tiến hành trao đổi và tư vấn pháp luật cho người bị tạm giữ, bị can, giúp cho họ an tâm, giảm bớt sự căng thẳng khi bị các cơ quan công quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS Đồng thời dựa trên các quy định pháp luật và các chứng cứ đã có, NBC sẽ đề xuất các vấn cần thiết với CQĐT, VKS để bảo đảm quyền lợi cho người bị buộc tội, những đề xuất đó có thể là kiến nghị CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu cho rằng dấu hiệu ban đầu mà CQĐT tiếp nhận không phải là dấu hiệu của tội phạm, hay đề xuất CQĐT khởi tố về tội danh phù hợp với hành vi mà thân chủ của mình đã thực hiện, góp phần giúp cho quá trình tố tụng ở các giai đoạn sau được tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời
- Giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi CQTHTT có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của CQĐT về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ
án hình sự
Trong quá trình tham gia tố tụng, NBC vừa có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình, vừa có thể giám sát các hoạt động điều tra của ĐTV, kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai lầm của ĐTV và qua đó có những ý kiến, kiến nghị kịp thời để yêu cầu CQĐT sữa chữa, khắc phục nó, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình
sự được khách quan, đúng pháp luật
Trang 26Việc NBC có mặt để tham gia lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự bởi nó không những làm cho người bị tạm giữ, bị can yên tâm về mặt tinh thần và luôn có niềm tin rằng mình sẽ không bao giờ phải chịu mức án nặng hơn so với mức độ và hành vi phạm tôi của mình mà sự có mặt của NBC trong giai đoạn này còn làm cho ĐTV phải khách quan, chính xác hơn trong khi thực hiện công việc của mình
Khi đã nắm bắt được thời gian hỏi cung của người bị tạm giữ, bị can của ĐTV, NBC tiến hành lập một số kế hoạch cụ thể để tham gia vào buổi hỏi cung đó như kiến nghị với ĐTV cần phải làm rõ những vấn đề gì, chuẩn bị các câu hỏi để hỏi người bị tạm giữ, bị can Tùy từng vụ án khác nhau mà NBC chuẩn bị những câu hỏi khác nhau Trong những trường hợp ĐTV đặt câu hỏi có tính mớm cung hoặc bức cung gay gắt với người bị tạm giữ, bị can thì NBC sẽ khéo léo, tế nhị đề nghị ĐTV không nên hỏi những câu hỏi đó hoặc NBC xin phép đặt những câu hỏi cho thân chủ của mình để phản bác lại câu hỏi của ĐTV
Khi tham gia vào các hoạt động điều tra khác, NBC vừa thu nhận được những thông tin cần thiết về vụ án vừa giám sát hoạt động của những NTHTT và tham gia tố tụng Không những làm cho CQĐT, ĐTV phải thực hiện công việc đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS mà còn kịp thời phát hiện ra những sai sót của CQĐT để có những kiến nghị kịp thời đề nghị CQĐT, ĐTV khắc phục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng mình nói riêng và pháp chế XHCN nói chung Nếu thấy cần thiết thì NBC đề nghị được trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc đối chất, khai quật tử thi…và yêu cầu CQĐT cung cấp cho mình kết quả giám định theo quy định của BLTTHS
Đồng thời chính NBC thông qua hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án một cách độc lập của mình, những tài liệu, đồ vật này sẽ được coi là chứng
cứ trong vụ án nếu nó phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 64 BLTTHS Khi ấy NBC sẽ đóng góp quan trọng tích cực vào việc giúp cho CQĐT thu thập chứng của vụ
án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, đặc biệt là làm rõ những chững cứ chứng minh sự vô tội, hay giảm nhẹ TNHS cho bị can, hạn chế oan sai và vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra
Trang 27Khi gặp gỡ và trao đổi với bị can trong giai đoạn điều tra, NBC sẽ giải thích cho
họ biết mình có nghĩa vụ bảo vệ pháp chế XHCN, NBC đề nghị bị can trình bày một cách trung thực về toàn bộ những gì họ biết về vụ án Trong trường hợp bị can bị khởi
tố về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình mà thái độ của họ bất cần thì thời gian
để thiết lập quan hệ giao tiếp nhiều hơn Cần tập trung làm rõ những điểm mấy chốt của vụ án, những tình tiết còn mâu thuẫn, chưa rõ, sau đó hỏi về nhân thân của bị can Nếu bị can không biết cách trình bày, hoặc trình bày không lô gic thì NBC đặt câu hỏi gợi mở để họ có thể trình bày được bản chất của vụ án Nếu vụ án mà bị can là người gây ra thiệt hại và họ đã thừa nhận thiệt hại đó thì NBC khuyên họ về thời điểm khắc phục hậu quả để được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 và 47 BLHS
Khi NBC thấy có những căn cứ là điều kiện để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thay đổi tội danh đối với thân chủ của mình thì NBC kịp thời kiến nghị gửi đến CQĐT
đề nghị họ thực hiện NBC nhận thấy khách hàng của mình có những điều kiện để có thể được CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn khác không phải là biện pháp tạm giam thì NBC viết đơn đề nghị CQĐT, VKS áp dụng các quy định của pháp luật để cho khách hàng của mình được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trả tự do cho thân chủ hoặc hướng dẫn người nhà của bị can viết đơn bảo lãnh cho họ
Nhìn chung thì đây là giai đoạn đặc thù có nhiều điểm riêng biệt so với các giai đoạn TTHS trước đó, đó là hoạt động điều tra của ĐTV tương đối bí mật, hoạt động thu thập thông tin liên quan đến vụ án, các chứng cứ để buộc tội hầu như NBC và người bị buộc tội không thể biết được, cho mãi đến khi có biên bản hay kết luận điều tra của CQĐT.Trong khi đây là giai đoạn có ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi để NBC có thể tiến hành tranh tụng tốt nhất tại phiên tòa hình sự, nhưng những thông tin, tài liệu làm cơ sở cho việc giúp đỡ bị can chống lại sự buộc tội còn rất ít, NBC rất ít có khả năng được tham gia sâu vào hoạt động điều tra của CQĐT, vì thế chính bản thân NBC phải chủ động liên hệ với ĐTV để được tham gia một số hoạt động điều tra Từ đó NBC sẽ đầu tư công sức và trí tuệ để nghiên cứu đánh giá tính hợp pháp và tính có căn
cứ của những quyết định, những biên bản về hoạt động điều tra trong giai đoạn này để kịp thời đưa ra các yêu cầu đề xuất phù hợp một cách kịp thời nhằm bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho người bị buộc tội
Trang 28- Giai đoạn truy tố
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại
hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự
Tuy ở giai đoạn này, hoạt động điều tra của CQĐT có thể coi như đã chấm dứt, nhưng đối với NBC thì hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, đồ vật vẫn còn tiếp diễn Không những thế mà NBC còn phải tăng cường tiến hành nghiên cứu hồ sơ, tổng hợp chứng cứ hơn bất cứ giai đoạn nào khác Thông qua kết quả của quá trình đánh giá, xem xét hồ sơ vụ án một cách toàn diện đầy đủ, NBC sẽ tiến hành kiểm tra các quyết định, hành vi tố tụng có bảo đảm đúng các thủ tục tố tụng của BLTTHS quy định hay không; có việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không; có cần đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, nhập hoặc tách vụ án hay không Từ đó có thể chủ động tiến hành trao đổi và đề xuất với Viện kiểm sát để Viện kiểm sát ra cân nhắc ra quyết định phù hợp
Trong giai đoạn này, với sự nhiệt huyết và chủ động của NBC thì họ có thể giúp
đỡ thân chủ của mình một số quyền lợi như sau: Thứ nhất, xét thấy việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn của CQĐT là không đúng pháp luật, hoặc không còn phù hợp, thì NBC có thể yêu cầu Viện kiểm sát thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đã được
áp dụng Thứ hai, nếu phát hiện việc điều tra của CQĐT còn phiến diện, một chiều,
chưa có đầy đủ chứng cứ để buộc tội bị can, hay có vi phạm nghiêm phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, NBC có quyền đề nghị Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ
sung Thứ ba, trong giai đoạn này, nếu thân chủ của NBC rơi vào các trường hợp phải
đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án, mà Viện kiểm sát lại chưa có điều kiện nắm bắt được các thông tin đó, thì NBC cũng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát về việc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Tòa án bằng cáo trạng, NBC sẽ biết được thân chủ của mình bị truy tố với tội danh nào và điều khoản nào của BLHS được áp dụng, từ đó NBC sẽ chuẩn bị tốt nhất các “hành trang” đề tham dự phiên tòa tiến hành tranh tụng bảo vệ cho thân chủ mình,
để gỡ tội hoặc làm giảm TNHS của họ
Trang 29có căn cứ, hợp pháp,thấu tình đạt lý, tạo nên sức thuyết phục cao
Vai trò của NBC trong giai đoạn này được biểu hiện đậm nét nhất tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự Toàn bộ những chứng cứ có lợi cho bị cáo cùng những lập luận sắc bén, cơ sở pháp lý chắc chắn được NBC sử dụng một cách triệt để nhằm chống lại
sự buộc tội, hay làm giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, vị thế của NBC lúc này sẽ giống như
là một bên đối trọng với Kiểm sát viên - thực hiện chức năng buộc tội
Để có thể chủ động bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho bị cáo, chính NBC sẽ phải quan sát tỉ mỉ toàn bộ diễn biến tại phiên tòa, từ lúc khai mạc phiên tòa cho đến khi HĐXX tuyên án hoặc ra một quyết định, và bằng các quyền mà pháp luật TTHS trao cho mình, NBC có thể đưa ra các yêu cầu, kiến nghị với HĐXX nếu xét thấy điều
đó là cần thiết cho lợi ích của bị cáo, đồng thời tích cực tham gia xét hỏi và tranh luận với Kiểm sát viên Một số điểm chính như:
Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu NBC phát hiện ra có NTHTT, người giám định, người phiên dịch thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi, thì NBC
có quyền đề nghị với HĐXX thay đổi người đó Đồng thời, nếu trong giai đoạn xét xử NBC tìm được vật chứng, hoặc người biết được những thông tin liên quan đến việc giải quyết vụ án mà có lợi cho bị cáo thì NBC yêu cầu HĐXX triệu tập người đó với tư cách là người làm chứng và công nhận những vật chứng do NBC tìm được là chứng
cứ Bên cạnh đó, nếu có người làm chứng vắng mặt, mà sự vắng mặt của họ gây ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, đặc biệt là gây bất lợi cho bị cáo thì NBC đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa hoặc dẫn giải họ đến phiên tòa
Đến phần xét hỏi, NBC tập trung lắng nghe các câu hỏi của thành viên HĐXX, KSV, nếu cho rằng những câu hỏi đó có dấu hiệu mớm cung, bức cung thì ngay lập tức NBC có quyền đề nghị HĐXX chấm dứt ngay việc xét hỏi như thế Kế đến NBC tiếp tục nghe những câu trả lời của những người được xét hỏi, đặt biệt là người bị hại, người giám định và người làm chứng vì lời khai của họ có ý nghĩa to lớn đối với việc
Trang 30buộc tội bị cáo, thông qua đó tìm ra những điểm mấu chốt có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Đến lượt mình, NBC tiến hành đặt những câu hỏi đã chuẩn bị từ trước và những câu hỏi mới để làm rõ những tình tiết có lợi cho bị cáo, cũng như chỉ ra
sự mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại, người làm chứng Từ đó HĐXX có thêm chứng cứ để xác định tội danh, cũng như hình phạt đối với bị cáo
Vai trò của NBC được thể hiện rõ nhất trong phần tranh luận Sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, NBC được trình bày lời bào chữa để bảo vệ bị cáo, và hai bên (Kiểm sát viên và Người bào chữa) tiến hành đối đáp để bảo vệ quan điểm của mình Lập luận của NBC là một hệ thống các luận điểm hợp lý, sắc bén, vừa thấu tình lại đạt lý, với sức thuyết phục không thể nào phủ nhận được Để có thể làm được điều
đó, thông thường trước mỗi phiên tòa NBC phải đầu tư nghiên cứu kĩ lưỡng, thận trọng khi phân tích và đánh giá chứng cứ để chứng minh oan hoặc gỡ tội cho bị cáo Các chứng cứ đưa ra phải bảo vệ bị cáo chính xác và có sức thuyết phục cao, thể hiện bản chất của việc tập trung vào những vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ bị cáo Khi trình bày lời bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm, NBC tập trung vào những hành vi theo tội danh
mà VKS đã truy tố đối với bị cáo có đúng không; có thể chuyển sang tội danh nhẹ hơn hay không hay khung hình phạt nhẹ hơn không; có đủ chứng cứ buộc tội bị cáo tại phiên tòa hay chưa, nếu chưa đủ thì NBC đề nghị làm rõ và nếu không thể làm rõ được thì NBC phản bác Từ đó giúp HĐXX đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan hơn, đầy đủ hơn, đồng thời giúp bị cáo không bị xử oan sai và nhận thức đúng đắn hơn nữa về pháp luật
1.5 Lược sử hình thành và phát triển của chế định người bào chữa trước năm 2003
1.5.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Trong lịch sử lập pháp nước nhà, tư tưởng dân chủ tiến bộ nổi bậc phải kể đến là quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù trong điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị vô vàng khó khăn, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, trên bình diện quốc tế chúng ta lại chưa được bất kì quốc gia nào công nhận là một nước độc lập, nhưng không vì những khó khăn đó mà Hồ Chủ Tịch lại thiếu đi sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó
Trang 31có quyền bào chữa Vào ngày 13/9/1945 Người đã kí sắc lệnh số 33 thành lập Tòa án
Quân sự, trong đó quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh
vực cho họ” Trong bối cảnh nền khoa học pháp lý TTHS bấy giờ ở nước ta còn rất
hạn chế, chưa có nhiều những tư tưởng lập pháp tiến bộ, nhưng bằng việc ghi nhận quyền nhờ người khác bào chữa, cho thấy Hồ Chí Minh và Đảng dành sự quan tâm đến quyền bào chữa cho người bị buộc tội, tạo thêm phương tiện để công dân có thể bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình
Đến ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp lại quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa Để bảo vệ và tăng cường quyền bào chữa vừa giành được trong đấu tranh cách mạng, ngày 10 tháng 10 năm 1945 Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 46/SL
về Tổ chức đoàn thể luật sư, vẫn duy trì tổ chức luật sư cũ nhưng đã sửa đổi, bổ sung
một điểm cho phù hợp với tình hình mới: “Luật sư có quyền bào chữa ở tất cả Tòa án
từ cấp tỉnh trở lên và ở tất cả Tòa án quân sự các cấp” Đến ngày 24 tháng 01 năm
1946 tiếp tục ban hành sắc lệnh 13/SL về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán,
trong đó tại Điều 46 tiếp tục khẳng định: “Các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả
các Tòa án, trừ Tòa án sơ cấp”
Nếu so với trước thời điểm năm 1945 thì ở nước ta chưa có sự phân định rõ ràng giữa hai ngành luật hình sự và tố tụng hình sự, do vậy TTHS không được coi trọng và thường được áp dụng tùy tiện theo ý chí của vua hoặc quan lại được ủy quyền thực hiện TTHS trong thời kì này là vũ kí mà giai cấp thống trị sử dụng để đàn áp phong trào dân chủ, hạn chế mức tối đa quyền tự do của nhân dân lao động [43-tr.55,56] Sự
ra đời của các sắc lệnh nêu trên chính là cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định và bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội trong các vụ án hình sự Mặc dù còn nhiều hạn chế như chỉ ghi nhận quyền bào chữa giành cho bị cáo, không cho phép NBC tham gia tố tụng ở phiên tòa hình sự sơ cấp, các giai đoạn khác của quá trình giải quyết vụ án như điều tra, truy tố cũng chưa được đề cập về vai trò của NBC, nhưng trong bối cảnh điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thời kì đó thì về cơ bản nội dung, tinh thần của các sắc lệnh đã thể hiện sự quan tâm đến vai trò của Luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự của Đảng và Nhà nước ta, việc tham của NBC không mang tính hình thức như trước đây mà đã thực sự bảo vệ đươc quyền lợi của bị cáo tại
Trang 32phiên tòa hình sự, mặc dù thời kì này bảo đảm quyền có NBC vẫn chưa được xem là một nguyên tắc tố tụng như hiện nay
Tuy nhiên, thực tế là tại thời điểm năm 1945 và 1946 đội ngũ Luật sư của chúng
ta còn rất thiếu và yếu, không đủ để bảo đảm tham gia các phiên tòa hình sự, để làm rõ vấn đề này, và cũng để khắc phục được nhược điểm đấy, Nhà nước ta đã ban hành Sắc
lệnh số 21/SL về Tổ chức Tòa án Quân sự, Điều 5 ghi nhận: “ Bị cáo có quyền tự bênh
vực lấy hay nhờ luật sư hoặc một người khác bên vực cho” So với Sắc lệnh số 33 nêu
trên, thì Sắc lệnh số 21 đã thể hiện một điểm mới tiến bộ vượt bậc đáng khen ngợi của Nhà nước ta, đó là việc khẳng định hoạt động tự bào chữa của bị cáo hay nhờ người
khác bào chữa là quyền của bị cáo, nó không còn tồn tại dưới dạng “có thể” so với
trước đây Tiếp đến, để tăng cường trách nhiệm của Cơ quan xét xử, ngày 25/02/1946
Bộ trưởng bộ tư pháp đã ban hành Nghị định số 82/NĐ về tổ chức lại Tòa án quân sự,
chiếu theo sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 quy định: « sau khi chuyển hồ sơ sang Tòa
án quân sự, ông Chánh án đòi các bị cáo đến để hỏi họ xem có ai bênh vực hay không hoặc có xin cử ai bênh vực hay không hoặc có xin cử ai bênh vực hay không; nếu bị cáo xin cử người bênh vực thì Chánh án sẽ ra mệnh lệnh cử; Sau khi được phép của Chánh án, người bào chữa có quyền được xem hồ sơ tại phòng lục sư, yêu cầu Chánh
an cho điều tra thêm, gọi thêm người làm chứng hoặc tiến hành những việc có ích cho việc phát hiện sự thật và có thể giao thiệp trực tiếp với bị cáo bằng thư từ hoặc tới thăm mà không bị kiểm soát »
Đến tháng 11/1946, Quốc hội khóa II, tại kì họp thứ hai, Quốc hội đã thông qua
bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta Tại Điều 67 quy định: “Người bị cáo được quyền
tự bào chữa lấy hoặc mời luật sư” Kể từ đây, quyền bào chữa nói chung và quyền có
người bào chữa đã chính thức được hiến định, tầm quan trọng của sự có mặt NBC trong phiên tòa hình sự được nâng cao hơn so với trước đây Đồng thời đó cũng là cơ
sở pháp lý cho nhiều văn bản khác ra đời để quy định chi tiết hơn về quyền nhờ người khác bào chữa cho bị cáo Sắc lệnh số 69 ngày 18/6/1949 và sắc lệnh số 144 ngày 22/12/1949 mở rộng diện những người có quyền tham gia bảo vệ quyền lợi cho người
bị buộc tội, theo Điều 1 và 2 của Sắc lệnh 69 thì: “bị can có thể nhờ một công dân
không phải là luật sư bênh vực cho mình, công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận”, và “nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo
Trang 33yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can” và cũng chính Sắc lệnh 69
đã đánh dấu cho sự hình thành chế định bào chữa viên nhân dân Để quy định cụ thể hơn về chế định bào chữa viên nhân dân, ngày 02/01/1950 Nghị định số 01 ra đời quy
định về điều kiện để trở thành BCVND bao gồm: « có quốc tịch Việt Nam, không phân
biệt đàn ông hay đàn bà, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa can án đối với những người là nhân viên Ủy ban kháng chiến khu hay tỉnh, thẩm phán xử án hay buộc tội, các lục sự, thư kí thuộc hạt Tòa án đãng xét xử hay các trưởng ty, phó trưởng ty công
an tỉnh mà việc của đương sự đang mang ra xét xử không được tham gia tố tụng với tư cách NBC » Từ đó, đầu mỗi năm, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, thành và chánh
án lập ra một danh sách các người trong địa phương có đủ điều kiện và bằng lòng đứng
ra bào chữa trong các phiên tòa (trừ tòa án binh tại mặt trận) Về phần mình, người bị xét xử có thể trình một danh sách ba người bênh vực và chánh án sẽ chọn một trong ba người này Nếu người bị xét xử chọn một người có tên trong danh sách thì chánh án bắt buộc phải thừa nhận Khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp
lý như luật sư Đây là một trong những quy định mới nhằm bảo đảm thu hút lực lượng quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm và góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của bị can, bị cáo [43-tr.57]
Ngày 20 tháng 6 năm 1956 ngành Tư pháp đã có một văn bản hết sức quan
trọng: “Đề án quyền bào chữa của bị cáo”, trong đó ghi nhận rõ các quyền của người
bào chữa khi tham gia tố tụng NBC có thể bắt đầu công việc của mình từ khi mở cuộc thẩm cứu, có mặt cùng với bị cáo trong những cuộc hỏi cung; tại phiên tòa người bào chữa có một số quyền như được hỏi tất cả những người cung khai trước tòa, trình bày lời bào chữa…sau khi kết thúc phiên tòa được xem bản án, chống án thay cho người bị buộc tội nếu có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của bị can Kế đến ngày 24/10/1956 Thông tư số 2225 do Bộ tư pháp ban hành về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào
chữa của bị can, điểm đặt biệt của Thông tư này là quy định: “Xâm phạm đến quyền tự
do bào chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự do dân chủ khác, mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do đó” Qua các nội dung trên cho thấy, vị thế và vai trò
của NBC nhận được quan tâm và đề cao hơn của ngành Tư pháp, các quy định đã được
cụ thể hơn trước, tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để NBC có thể thực hiện tốt hơn
Trang 34hoạt động bào chữa của mình, giúp bảo đảm tốt hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội tại phiên tòa
Tính đến thời điểm năm 1959, bản Hiến pháp 1946 đã ra đời và phát triển được
14 năm Trong suốt thời gian đó, Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh của nó, quyền bào chữa, và việc tăng cường vai trò của NBC tại phiên tòa hình sự đã không ngừng được nâng cao, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo được đảm bảo tốt hơn Tuy nhiên, trong tình hình mới, và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung, thay đổi Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh công bố hiến pháp Điều 101 Hiến
pháp 1959 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.” So với bản Hiến
pháp trước đó, Hiến pháp 1959 không chỉ ghi nhận quyền bào chữa của bị cáo, mà còn khẳng định cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của họ Cụ thể hóa quy định trên, ngày
15/7/1960 Luật Tổ chức Tòa án được ban hành, tại Điều 7 quy định: “Quyền bào chữa
của bị cáo được bảo đảm, ngoài việc tự bào chữa bị cáo có thể nhờ Luật sư bào chữa cho mình Bị cáo có thể nhờ một công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được Tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo”
Tiếp đó là Thông tư số 06 ngày 9/9/1967 hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào
chữa cho bị cáo, một số quy định nổi bậc như: “được nhận cáo trạng và được thay đổi
thẩm phán, hội thẩm nhân dân nếu thấy những người này có liên quan đến vụ án mà khi xét xử có thể không công bằng khách quan…, người bào chữa có thể đề nghị hoãn phiên tòa nếu thấy rằng không đủ thời gian cho việc bào chữa, sau khi kết thúc phiên tòa, người bào chữa có thể gặp và trao đổi với bị cáo về bản án và nếu bị cáo yêu cầu thì giúp chống án…” Bên cạnh đó, là các quy định những trường hợp bắt buộc phải
chỉ định NBC cho bị cáo, đó là đối với vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn, bị cáo là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, bị cáo có thể bị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình Đối với những trường hợp khác, nếu bị cáo tha thiết yêu cầu thì Tòa án cũng cố gắng cử NBC cho họ Tại phiên tòa phúc thẩm cũng có thể trực tiếp chỉ định NBC cho bị cáo Thông tư này còn ghi nhận việc thực hiện chế độ bào chữa viên nhân dân và những người khác cũng có thể thực hiện việc bào chữa nếu được Tòa án chấp
Trang 35nhận, nhằm mở rộng chủ thể bào chữa để giúp cho bị cáo có thể lựa chọn người bào chữa tốt nhất cho quyền lợi của mình
Đến ngày 27/8/1974 Thông tư số 16/TATC được ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm Thông tư đã đề cập đến trường hợp bắt buộc phải chỉ định NBC nếu bị cáo là người chưa thành niên và khẳng định quyền bào chữa
là quyền quan trọng nhất của bị cáo, Tòa án phải bảo đảm cho họ thực hiện một cách đầy đủ quyền của mình, Tòa án đồng thời phải nghiên cứu những lời bào chữa một cách khách quan
Sau ngày đất nước giải phóng, việc hoàn thiện chế định bào chữa viên nhân dân tiếp tục nhận được sự quan tâm của chính quyền cách mạng, đặc biệt là việc chuyển hóa chế định bào chữa viên nhân dân thay thế cho chế định luật sư của chính quyền ngụy Sài Gòn ở miền Nam sau ngày giải phóng [48-tr.20,23] Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 06/BTP-TT ngày 11/6/1976 hướng dẫn cụ thể cách thức lập danh sách người bào chữa nhân dân, điều kiện được làm người bào chữa nhân dân, quyền hạn và nhiệm vụ của người bào chữa nhân dân [31-tr.115]
Ngày 12/8/1980 Quốc hội nước ta đã thông qua Hiến pháp 1980, một lần nữa quyền bào chữa của bị cáo trong pháp luật hình sự lại được long trọng ghi nhận, Điều
133: “ Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo, Tổ chức luật sư được thành lập để
giúp đỡ bị cáo các đương sự về mặt pháp lý” Đây chính là điều kiện tiền đề cơ bản
cho việc thành lập Tổ chức luật sư ra đời
Đến ngày 31/10/1983 nhằm giải quyết tình trạng khó khăn trong việc xây dựng chế định luật sư sau khi được thành lập trở lại, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 691/QLTA tạm thời hướng dẫn công tác bào chữa, kiện toàn tổ chức bào chữa viên trong khi chờ văn bản pháp luật của Nhà nước về tổ chức luật sư Trong đó xác định Đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bào vệ chân lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thông qua hoạt động của mình
Pháp lệnh tổ chức luật sư được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 18/12/1987 và Quy chế Đoàn luật sư ban hành kèm theo Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Một số điểm đáng lưu ý trong văn bản này như: Luật sư được tham gia tố tụng với tư cách NBC cho bị can, bị cáo; được bình đẳng với các thành phần khác trước Tòa án, được nghiên cứu hồ sơ, đề xuất chứng cứ, được gặp riêng các
Trang 36bị can, bị cáo; được đề nghị bổ sung hồ sơ, trưng cầu giám định và những kiến nghị cần thiết khác; được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; được tham gia thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa; được đọc, bổ sung, đính chính biên bản phiên tòa…Như vậy, với sự ra đời của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 đã hạn chế phần nào sự rời rạc, lẻ tẻ của các quy định trước đó có liên quan đến Luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự, đồng thời bổ sung những vấn đề mới mà trước đây chúng ta chưa hề đề cập đến, chính những điều đó đã góp phần tăng cường tính khả thi các quy định về sự tham của tố tụng của NBC trên thực tế; đồng thời, quyền bào chữa của bị can, bị cáo được đề cao và ngày càng được coi trọng Bên cạnh những mặt được, thì vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa được, mà nổi bậc nhất là vai trò của NBC trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự còn chưa được quy định chi tiết, hầu hết các quy định hiện giờ đều chỉ tập trung vào giai đoạn xét xử tại phiên tòa hình sự, mà
“quên” mất các giai đoạn trước đó, điều này đã phần nào ảnh hướng đến chất lượng bào chữa của NBC tại phiên tòa hình sự
Tóm lại, với sự ra đời của các quy định về NBC trong Hiến pháp 1946, 1959 và Hiến pháp 1980, cùng với đó là các văn bản hướng dẫn thi hành, đã thể hiện một bước phát triển về mặt nhận thức đối với quyền bào chữa của người bị buộc tội nói chung và vai trò, vị thế của NBC nói riêng Đó là biểu hiện của sự dân chủ tiến bộ, đánh dấu sự đổi mới về đường lối phát triển kinh tế và tư duy pháp lý sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) Có thể nói rằng càng về sau thì sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với quyền bào chữa càng được đề cao Tuy nhiên, sự thật là trong giai đoạn này hệ thống các văn bản pháp luật về quyền và nghĩa vụ của NBC còn chưa được hoàn thiện, tồn tại nhiều bất cập, vướng mắt Thông qua thực tiễn áp dụng các quy định trên trên thực tế, các nhà lập pháp nước ta dần dần nhận ra được các hạn chế, và tiếp thu những đóng góp của nhân dân, đồng thời thường xuyên học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật của bạn bè quốc tế, trình độ lập pháp và sự nhìn nhận quyền bào chữa không ngừng được nâng cao, chinh những động lực ấy đã tạo tiền đề cho sự hình thành Bộ Luật TTHS đầu tiên ở Việt Nam
1.5.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Từ sự đổi mới về đường lối phát triển kinh tế và tư duy pháp lý mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đề ra, toàn dân, toàn Đảng đã cùng nhau dốc sức cho
Trang 37công cuộc đổi mới đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau Dẫn đến “cơ sở kinh tế thay
đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tần đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”[21-tr.15], trong giai đoạn sau năm 1986, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội đã
có nhiều biến chuyển, kéo theo là yêu cầu tất yếu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới, trong đó có pháp luật TTHS Với vai trò là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, sự tác động của pháp luật TTHS là sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của những quan hệ pháp luật TTHS Đảng và Nhà nước ta nhận ra được nhiều khuyết điểm của công tác lập pháp TTHS trong quá khứ, đồng thời xuất phát từ thực tiễn khách quan của công tác giải quyết các
vụ án hình sự, vì thế yêu cầu được đặt ralúc bấy giờ là phải có một hệ thống pháp luật TTHS hoàn thiện nhằm khắc phục thực trạng đó Chính vì thế, mà 28/6/1988 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật TTHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và
có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1989 Sự ra đời của BLTTHS năm 1988 chính là sự kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục hạn chế tồn tại trước đó, xây dựng nên phương tiện hữu hiệu để bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ cơ sở kinh tế, và trên hết là bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội nói riêng được tốt hơn
Lần đầu tiên chúng ta có được một văn bản pháp lý quy định toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, bao gồm trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, đồng thời quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa…Điểm mới tiến bộ tiếp đến là đã ghi nhận quyền bào chữa của bị can, bị cáo là
một nguyên tắc cơ bản trong TTHS, Điều 12 của Bộ luật này quy định:“Bị can, bị cáo
có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa cho họ”.Để
giải thích khái niệm bị can, bị cáo, tại Khoản 1 Điều 34 quy định: “bị can là người đã
bị khởi tố về hình sự”, “bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử”.Như
vậy, Bộ luật TTHS năm 1988 không những xem quyền có NBC là một nguyên tắc luật định, mà còn có sự phân định rõ tư cách bị can, bị cáo Với quy định này, quyền bào chữa của người bị buộc tội được mở rộng ra, không chỉ là tại phiên tòa hình sự, mà còn
Trang 38ở các giai đoạn trước đó, đặt biệt là giai đoạn điều tra đối với bị can Dĩ nhiên là vai trò của NBC ở các giai đoạn này đã được khẳng định, và được bảo đảm thực thi
Cụ thể như một số quy định về quyền của của NBC nhằm tạo điều kiện để họ có
thể thực hiện hoạt động bào chữa có hiệu quả như “người bào chữa có quyền có mặt
khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; được gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; được đọc
hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra…” Đồng thời để
tránh tình trạng NBC lơ là trách nhiệm của mình, từ chối bào chữa, gây ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng của các CQTHTT (đặt biệt là các trường hợp NBC do được cử),
BLTTHS năm 1988 đã quy định nghĩa vụ của người bào chữa là “không được từ chối
bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận, nếu không có lý do chính đáng”
Và xác định rõ NBC có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Về phía các CQTHTT, Bộ luật đã quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát… cấp giấy chứng nhận NBC trong
vụ án để họ thực hiện nghĩa vụ bào chữa
Đến Hiến pháp 1992 ra đời, tiếp tục khẳng định: “Quyền bào chữa của bị cáo
được bảo đảm, bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức Luật sư được thành lập để giúp cho bị cáo…” Nhằm thực thi quy định về “Tổ chức Luật sư được thành lập để giúp cho bị cáo”, Pháp lệnh luật sư được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội chính thức thông qua ngày 24/7/2001, quy định về điều kiện trở thành Luật sư, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức Luật sư, quyền và nghĩa vụ của Luật sư Đây là một bước tiến quan trọng nâng cao chất lượng và chuyên nghiệp hóa đội ngũ luật sư Việt Nam nói chung và quyền bào chữa của bị can, bị cáo nói riêng Đến Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị cũng đã nhấn mạnh
rằng phải “tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng như tham gia hỏi
cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án”
Sự ra đời và phát triển liên tục của các văn bản có giá trị thực tiễn cao trong giai đoạn này như BLTTHS năm 1988, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh luật sư 2001, đặt biệt là văn bản mang tính định hướng xuyên suốt là Nghị quyết 08/NQ-TW, đã một lần nữa
Trang 39chứng minh rằng tiến trình dân chủ hóa, quyền con người, quyền công dân (trong đó
có quyền bào chữa) ngày càng được ghi nhận rộng hơn và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Các quy định pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của NBC trong các văn bản pháp luật về sau càng thể hiện sự tiến bộ, ưu việt hơn so với trước đó Dần hình thành sự phân công trách nhiệm một cách rõ ràng của các CQTHTT để bảo đảm cho người bị buộc tội có NBC trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự, đồng thời tạo thêm nhiều phương tiện pháp lý để NBC có thể bảo vệ tốt hơn lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và ràng buộc nghĩa vụ để tăng cường vai trò của NBC trong TTHS Tuy nhiên, dù đã có nhiều điểm mới tích cực đáng ghi nhận, nhưng trong giai đoạn này vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định như chưa ghi nhận quyền bào chữa dành cho người bị tạm giữ, cơ chế bảo đảm sự có mặt của NBC trong TTHS còn chưa cụ thể, quyền của NBC trong việc thu thập, tài liệu đồ vật để phục vụ cho việc bào chữa còn chưa có…Chính vì thế mà yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chế định NBC lại tiếp tục được nghiên cứu và phát triển trong giai đoạn sau, là tiền đề cho sự ra đời của BLTTHS năm 2003
1.6 Người bào chữa trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới
1.6.1 Người bào chữa trong pháp luật Hoa Kỳ
Nguồn luật được áp dụng tại Mỹ có hai loại là thành văn và bất thành văn Trong
đó nguồn luật bất thành văn – án lệ, được sử dụng chủ yếu và thương xuyên nhất Chính vì thế, địa vị pháp lý của NBC được ghi nhận không chỉ trong các văn bản pháp luật thành văn mà còn hiện diện nhiều trong các án lệ của nước Mỹ
Vì Nhà nước Hoa Kỳ được tố chức theo mô hình liên bang cho nên hệ thống pháp luật ở nước này gồm pháp luật liên bang và pháp luật các bang Ở cấp liên bang, quyền có NBC của người bị buộc tội được ghi nhận trong những điều khoản cụ thể của Đạo luật Nhân quyền bao gồm Tu chính pháp thứ IV, V, VII, VIII và tu chính thứ XIV
về Tố tụng công bằng, điều khoản Bảo đảm công bằng, Bộ luật TTHS Liên bang và Bộ luật cơ bản của Hoa Kỳ Ở cấp bang, quyền lợi của người bị buộc tội được bảo đảm bởi Hiến pháp và các đạo luật của bang Tuy nhiên, người bị buộc tội cũng có quyền viện dẫn đến những bảo đảm được ghi nhận trong Hiến pháp liên bang [45] Đối với
án lệ, một số án lệ nổi tiếng có đề cập đến quyền có NBC của người bị buộc tội như:
án lệ Powell v Alabama năm 1932, án lệ Johnson v Zerbst năm 1938, án lệ Bett v
Trang 40Brady năm 1942, án lệ Gideon v Wainwright năm 1963, án lệ In Re Gault năm 1967,
án lệ Argeringer v Hamlin năm 1972… Những án lệ này cho thấy phạm vi bảo đảm
quyền có NBC trong TTHS Mỹ mang tính lịch sử và ngày càng được mở rộng [45] Trước thời điểm năm 1966, TTHS Mỹ có một đặc trưng là quá trình tố tụng hình
sự Hoa Kỳ chỉ bắt đầu từ giai đoạn xét xử, không có các giai đoạn tiền xét xử, các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của các bên diễn ra một cách tùy nghi, không có sự quản lý chặt chẽ Vì thế phạm vi bào chữa tương đối hẹp và chính thức bắt đầu từ giai đoạn xét xử, nhưng không vì thế mà vị thế của NBC lại không được đề cao, ngược lại vai trò của NBC rất quan trọng Ở phiên tòa bên bào chữa và bên buộc tội giữ vai trò chính, hai bên có địa vị pháp lý bình đẳng, khách quan, không bên nào được lấn át hay
áp đặt nhận thức đối với bên kia về quan điểm mà mình đưa ra, Tòa án như một trọng tài phân xử Tòa án có quyền chất vấn nhưng ít khi họ sử dụng quyền này Bồi thẩm đoàn và chủ tọa chỉ lắng nghe cuộc tranh luận có tính quyết định giữa Công tố viên và Luật sư, sau đó nghị án Hoạt động của NBC ở đây rất chủ động
Tuy nhiên, kể từ năm 1966 - thời điểm hình thành án lệ nổi tiếng Ernest Miranda
v Arizona, học thuyết có tội về mặt pháp lý được hình thành Điển hình là “cảnh báo
Miranda - Miranda warning”, một lời cảnh báo được cảnh sát thông báo cho nghi
phạm hình sự ngay lúc bị bắt giữ, hay khi đang ở tình trạng giam giữ, trước khi nghi phạm hình sự bị thẩm vấn hoặc lấy cung liên quan đến sự phạm tội Một bản buộc tội bởi một nghi phạm sẽ không tạo thành một chứng cứ có thể thừa nhận trừ phi nghi
phạm đó đã được thông báo cho biết "các quyền Miranda" của mình và đã được người
ta làm cho hiểu, nắm rõ và tự nguyện từ bỏ các quyền này Án lệ Miranda được coi là
cơ sở tiền đề để mở rộng những đảm bảo quyền có NBC bắt đầu từ giai đoạn tiền xét
xử
Từ đó trở về sau, quyền có NBC của người bị buộc tội được các Tu chính pháp
thứ VI, V, VI khẳng định: “Trong tất cả các hoạt động cáo buộc hình sự, người bị
buộc tội sẽ có quyền được xét xử nhanh chóng và công khai bởi hội đồng xét xử của trung ương … và được nhận sự hỗ trợ từ phía người bào chữa” Dựa trên nền tảng
này, Bộ luật cơ bản Hoa Kỳ và Đạo luật Liên bang về TTHS đã cụ thể hóa các quy định về trình tự tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Ví dụ như Nguyên tắc
5 của Đạo luật Liên bang về TTHS thì tại phiên trình diện ban đầu đối với vụ án