1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam ở cấp xét xử sơ thẩm

77 151 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 00 đã có những quy định cụ thể về quyền của NBC, đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng CQTHTT, người tiến hành tố tụng NTHT

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM VĂN HIẾN

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG

HÌNH SỰ VIỆT NAM Ở CẤP XÉT XỬ SƠ THẨM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THỊ THANH MAI

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các số liệu, ví dụ trong Luận văn là trung thực, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả

Phạm Văn Hiến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy tận tình và chu đáo của Quý thầy, cô, sự giúp đỡ của các cơ quan, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học Qua đây, tôi xin gửi lời cám ơn đến:

Ban Giám hiệu cùng Quý thầy, cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phan Thị Thanh Mai, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này

Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Tác giả

Phạm Văn Hiến

Trang 4

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA Ở CẤP XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 6

hái niệm bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình sự 6

Các biện pháp bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m 13

nghĩa của hoạt động bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m 22

ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2 QU ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ẢO ĐẢM QU ỀN CỦA NGƯỜI ÀO CHỮA Ở CẤP T Ử SƠ THẨM VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH 25

Quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m 25

2.2 Thực trạng thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền của người bào chữa 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA Ở CẤP XÉT XỬ SƠ THẨM 57

3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp xét xử sơ th m 57

3.2 Một số giải pháp khác 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU 1.T n ấp iế ủ ề i

Trong tố tụng hình sự, việc tham gia của người bào chữa (NBC) có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hạn chế sự lạm quyền từ phía những người tiến hành tố tụng (NTHTT) Đồng thời, hoạt động bào chữa của NBC cũng góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ

án và bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự Hoạt động của NBC phải được tiến hành theo các quy định của pháp luật Các quy định pháp luật tố tụng hình sự là cơ

sở pháp lý quan trọng để NBC thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình Chính vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động bào chữa của NBC nhằm tạo khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh, hợp lý, đáp ứng yêu cầu hoạt động của NBC thì việc bảo đảm các quyền của NBC có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chất lượng bào chữa Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 00 đã có những quy định cụ thể về quyền của NBC, đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), người tiến hành tố tụng (NTHTT) trong việc đảm bảo cho NBC thực hiện được các quyền của mình trong hoạt động bào chữa và những quy định khác điều chỉnh hoạt động bào chữa của Luật sư Có thể nói NBC là chìa khóa mở ra cánh cửa cho tất cả các quyền và trách nhiệm của họ được pháp luật quy định Rõ ràng là cả pháp luật hình sự và pháp luật

tố tụng hình sự là những vấn đề phức tạp và nó thường là khó hiểu nếu thiếu đi sự tham gia của người bào chữa.[47,Tr.255]

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về bảo đảm quyền của NBC vẫn còn đang tồn tại nhiều bất cập Các cơ chế bảo đảm và xác định trách nhiệm của CQTHTT trong việc phải bảo đảm quyền của NBC vẫn còn chung chung và chưa thật đầy đủ ặc dù các quyền của NBC đã được luật hóa, nhưng lại thiếu đi những quy định mang t nh bắt buộc để bảo đảm việc thực hiện; chưa quy định đầy đủ về trách nhiệm của NTHTT trong việc phải bảo đảm thực hiện quyền đó, vẫn thiếu đi

cơ chế giám sát việc thực hiện các quyền của NBC Đặc biệt, chưa có đủ những chế tài cần thiết đối với cơ quan và người THTT khi vi phạm các quyền của NBC Hơn nữa, thực trạng thi hành các quyền của NBC trên thực tế vẫn còn đang tồn tại những vướng mắc Việc nhận thức không đầy đủ về tầm quan trọng của NBC là nguyên

Trang 7

nhân cơ bản dẫn đến thực trạng NBC không thể thực hiện được hết chức năng, quyền hạn của mình khi tham gia tố tụng

Nhận thức được tầm quan trọng của NBC trong hoạt động tố tụng, trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều ch nh sách để xác định rõ hơn vị trí, vai trò của NBC, đồng thời nâng cao hơn nữa vai trò của họ khi tham gia

tố tụng Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 0 0 đã nhấn mạnh: “phải xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của NTHTT và người tham gia tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Đặc biệt, lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được ghi nhận tại một văn bản có

hiệu lực pháp lý cao nhất – Hiến pháp 2013:“…Nguyên tắc trong tranh tụng trong xét xử được bảo đảm…” Muốn thực hiện được chủ trương lớn của Đảng về Cải

cách Tư pháp và để thực hiện Hiến pháp 2013 thì không còn cách nào khác là phải bảo đảm các quyền của NBC và nâng cao vị thế của NBC

Ch nh vì vậy, tác giả Luận văn nhận thấy việc nghiên cứu đề tài :

ố tụng hình sự Việ

là cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đề tài nghiên cứu, một mặt góp phần vào định

hướng việc thực hiện nhiệm vụ của Cải cách tư pháp, mặt khác giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án cấp sơ th m có cái nhìn đúng đắn hơn về vị

tr , vai trò cũng như cần thiết phải bảo đảm quyền của NBC khi tham gia tố tụng

Trang 8

uận v t ự t n trong v ệ t ự t qu n ủ p p uật n o

qu ền ủ uật sư trong qu tr n t g tố tụng n sự, T Phan Trung Hoài,

Tạp ch iểm sát số 0 00 ; n về v ệ o qu ền n ng ủ uật sư o

t g tr n tụng t p n t n sự, Nguyễn Văn Trượng, Tạp ch

Dân chủ và Pháp luật số 0 00 ; ng t uận v n ố v o t ng

n ng ề ủ uật sư trong g o n t t T n v t số g p p o n

t ện, Th Nguyễn Hữu Ch nh,Tạp ch Tòa án nhân dân số 0 ; ng o v t

ủ t p n t n sự, Tạp ch uật học 00 ; Ho n t ện t số qu

n ủ uật tố tụng n sư n n ng o ệu qu o t ng o ủ uật sư trong g o n t s t , Th Nguyễn Hải Ninh đăng trong Đề tài

khoa học cấp trường Ho n t ện p p uật tố tụng n sự n n ng o ệu qu

o t ng o ủ uật sư, Đại học uật Hà Nội năm 0 ; T ự tr ng v v n

ề n ng o v tr ủ uật sư trong tr n tụng trư u u tư p p,

T Nguyễn Văn Tuân, Tạp ch Dân chủ và Pháp luật số 0 0 0; T ự tr ng v tr

ủ uật sư trong tr n tụng t p n t n sự nư T n trong t gian qua, Th Nguyễn Văn Hiển, Tạp ch Nhà nước và pháp luật số 0 0 0; Ho n

t ện p p uật tố tụng n sự n n ng o ệu qu o t ng o ủ uật sư, T Phan Thị Thanh ai, Đề tài khoa học cấp trường, Đại học uật Hà Nội

năm 0

Đây là những công trình khoa học, bài viết nghiên cứu khoa học nghiên cứu

về vị tr , vai trò cũng như hoạt động của NBC mà chủ yếu là nghiên cứu về vị tr , vai trò của uật sư khi tham gia tố tụng nói chung Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học trên mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ nội dung quyền của NBC, hoặc mới chỉ để cấp đến việc xác định trách nhiệm, quyền hạn của NBC khi tham gia vào từng giai đoạn tố tụng khác nhau Hơn nữa, hiện nay chưa uận văn nào nghiên cứu một cách tổng thể về quyền và bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình sự

3 Mụ n iệm ụ n i n

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền của NBC tại cấp

x t xử sơ th m vụ án hình sự, tác giả Luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm

Trang 9

nâng cao hiệu quả việc bảo đảm tốt hơn quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

Với mục đ ch trên, nhiệm vụ của uận văn là:

- Xây dựng khái niệm khoa học về bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ

th m vụ án hình sự; làn rõ nội dung của hoạt động bảo đảm quyền của NBC và ý nghĩa của hoạt động bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình sự

- Nghiên cứu các quy định của B TTH năm 00 về quyền của NBC và bảo đảm quyền của NBC những quy định pháp luật có liên quan; xác định những bất cập của các quy định này

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ

th m tìm hiểu những vướng mắc, hạn chế trong hoạt động này

- Đề xuất những kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật TTHS và một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động bảo đảm quyền của người bào chữa đạt hiệu quả cao hơn

- Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t

xử sơ th m trong TTH Việt Nam

- Về lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu việc Tòa án bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m mà không nghiên cứu trách nhiệm của các CQTHTT khác, các biện pháp bảo đảm quyền của NBC và ý nghĩa của việc bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử

sơ th m

- Về pháp luật, đề tài tập trung nghiên cứu quy định của B TTH năm 00 Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác có liên quan đến liên quan đến hoạt động bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m

- Về thực trạng, đề tài nghiên cứu hoạt động bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử

sơ th m vụ án hình sự trong phạm vi năm từ năm 0 0 đến năm 0 và một số vụ

việc có liên quan khác

Trang 10

5 P ƣơn p áp n i n u

Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác- ênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, về vấn đề cải cách tư pháp và về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do

dân, vì dân làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu

Chúng tôi chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với nội dung nghiên cứu đó là phương pháp phân t ch, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia khi nghiên

cứu đề tài này

6 Những kết quả nghiên c u mới củ ề tài

Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện về bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m

Thứ nhất, Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m góp phần vào việc nhận thống nhất về khái niệm, nội dung cũng như ý nghĩa của hoạt động bảo đảm quyền của NBC trong cấp xét xử sơ

th m

Thứ hai, Luận văn phân t ch, đánh giá những quy định của pháp luật là cơ sở

để bảo đảm quyền cho NBC khi tham gia phiên tòa ở cấp sơ th m Đồng thời, Luận văn cũng phân t ch thực trạng thi hành quy định đó trên thực tế đồng thời chỉ ra nguyên của thực trạng đó

Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng đó, Luận văn đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, cũng với đó là một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thi hành các quy định đó

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA

NGƯỜI BÀO CHỮA Ở CẤP XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 ái niệm ảo ảm q ền ủ n ười bào chữ ở ấp ử ơ m ụ

án n ự

Hiện nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một khái niệm chung nhất về bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình sự Các khái niệm trong khoa học pháp lý hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về vị tr , vai trò của NBC Do đó, việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm trên là rất cần thiết ột mặt, giúp chúng Tòa án có câu trả lời câu hỏi tại sao phải bảo đảm quyền của NBC và sự cần thiết phải bảo đảm quyền của họ ặt khác, bổ sung thêm quan điểm khoa học

về bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m Trong nội hàm khái niệm bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m có một số nội dung mà chúng Tòa án cần phải lần lượt đi làm rõ: Cấp x t xử sơ th m là gì Thế nào là hoạt động bảo đảm quyền của người bào chữa au khi lần lượt làm rõ các vấn đề trên chúng ta s có một khái niệm chung về bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình

Khi tiến hành hoạt động xét xử, Tòa án với tư cách là CQTHTT thực hiện chức năng x t xử vụ án, giải quyết những vấn đề bản chất của vụ án, bao gồm: định

Trang 12

tội danh, quyết định hình phạt đối với người có hành vi phạm tội Như vậy, có thể thấy, cấp xét xử sơ th m có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hình sự, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Nhiệm vụ hàng đầu của xét xử sơ th m là giải quyết chính xác, hợp tình, hợp lý Điều này thể hiện qua việc xác định sự thật khách quan của vụ án; xác định các quy phạm pháp luật để áp dụng trng trường hợp cụ thể của

vụ án; ra phán quyết trê cơ sở sự thật khách quan được xác định theo các quy định của pháp luật Không những vậy, cấp xét xử sơ th m còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân Bởi l , quá trình chứng minh được thực hiện công khai trực tiếp tại phiên tòa Việc chứng minh được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau thực hiện một cách dân chủ và bình đẳng Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng mà pháp luật quy định cho họ như quyền đưa ra chứng cứ và các yêu cầu, quyền đề nghị người thay đổi tiến hành tố tụng…họ được tại điều kiện pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến vụ án Chính phiên tòa ở cấp xét xử sơ th m là nơi thể hiện đầy đủ nhất các nguyên tắc tố tụng hình sự, cũng ch nh ở đây quyền của những người tham gia tố tụng, NBC được thể hiện và bảo đảm thực hiện Với tầm quan trọng đó, cấp xét xử sơ th m được hiểu như thế nào Hiện nay, đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất cấp x t xử sơ th m được hiểu là: “hoạt động x t xử một

vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp x t xử thấp nhất”.[ ]

Quan điểm thứ hai: “Cấp x t xử sơ th m là cấp x t xử lần đầu bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ th m sau khi tuyên án mười lăm ngày, nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì s có hiệu lực pháp luật.[ ] Quan điểm thứ ba: “Cấp x t xử sơ th m là x t xử lần đầu để giải quyết tất cả những vấn đề liên quan trong vụ án Trong cấp x t xử sơ th m, Tòa án xem x t và giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng việc ra bản án và quyết định Hội đồng x t xử

có hội th m nhân dân tham gia Trong thời gian kháng cáo, kháng nghị, bản án và quyết định sơ th m chưa có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc th m”.[ , Tr 0-221]

Trang 13

Tất cả các quan điểm trên đều thừa nhận cấp x t xử sơ th m là cấp x t xử thứ nhất, cấp x t xử thấp nhất vụ án hình sự Tòa án cấp sơ th m thực hiện chức năng

x t xử của mình từ khi nhận hồ sơ vụ án và vào sổ thụ lý vụ án cho đến khi bản án hoặc quyết định đó có hiệu lực pháp luật Hay nói đúng hơn, bản án, quyết định đó của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc th m Tuy nhiên, các khái niệm, quan điểm trên theo tác giả chưa làm rõ được bản chất nội dung của cấp

x t xử sơ th m V dụ như quan điểm đầu tiên mang nặng t nh hình thức, chưa làm

rõ nội dung thuộc về bản chất của cấp x t xử sơ th m là cấp x t xử lần đầu bản án, quyết định của Tòa án sơ th m tuyên chưa có hiệu lực pháp luật mà còn có thể bị kháng cáo, kháng nghị Hay như quan điểm thứ hai, thì lại chưa ch nh xác ở ch không phải mười lăm ngày sau khi tuyên án không có kháng cáo, kháng nghị là bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành mà có khi phải sau thời hạn dài hơn…Do đó, để khắc phục những hạn chế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một

cách hiểu về cấp x t xử sơ th m như sau: p t s t p xét x thứ nh t

vụ n n sự v n n qu t nh củ t n p s t t ng o

ng ng t t n n p p t

Theo đó, cấp xét xử sơ th m có những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Thời điểm bắt đầu được xác định từ khi hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng

của V được chuyển sang Tòa án có th m quyền Sau khi vụ án đã được thụ lý, Chánh án Tòa án phân công Th m phán (hoặc một nhóm Th m phán) nghiên cứu hồ

sơ và tham gia tố tụng tại phiên Tòa với tư cách là chủ tọa hoặc Th m phán xét xử;

- Thời điểm kết thúc bằng việc Tòa án cấp sơ th m ra bản án hình sự do Hội đồng xét xử tuyên tại phiên Tòa hoặc quyết định đình chỉ vụ án;

- Nhiệm vụ của Tòa án cấp sơ th m là xem xét và giải quyết nội dung vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Bên cạnh Tòa án cấp sơ th m đóng vai trò ch nh trong hoạt động xét xử, còn

có sự tham gia tố tụng của những chủ thể khác như: đại diện VKS, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… Khác với các chủ thể còn lại khi tham gia tố tụng, NBC tham gia tố tụng không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính bản thân mình Nếu những chủ thể khác

Trang 14

khi tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người mà

họ đại diện thì NBC tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho người đang bị cáo buộc có hành vi phạm tội Bên cạnh đó, sự tham gia tố tụng của NBC còn góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.[ ] Muốn làm tốt được điều này trước hết, NBC phải tôn trọng sự thật và tôn trọng pháp luật Bên cạnh đó, muốn góp phần bào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì phải làm tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo trên cơ sở của pháp luật NBC phải chú ý cả hai nhiệm vụ trên Nếu chỉ chú ý đến nhiệm vụ bảo

vệ quyền lợi của bị can, bị cáo thôi thì s dấn đến tình trạng ngụy biện Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến bảo vệ pháp luật thì có thể biến mình thành người buộc tội bị can,

bị cáo.[25,Tr.68] Vậy NBC được hiểu như thế nào? Hiện nay, trong khoa học pháp lý chưa có một định nghĩa thống nhất về NBC ở dĩ tồn tại nhiều quan điểm khác như vậy, xuất phát từ việc B TTH năm 00 không đưa ra khái niệm cụ thể về NBC

Ch nh vì vậy, khi nghiên cứu về chế định NBC, m i tác giả lại xây dựng riêng cho mình một khái niệm trên cơ sở các quy định của pháp luật

Điều B TTH năm 00 quy định có ba chủ thể có tư cách của NBC, bao gồm: Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân

dân Khoản Điều quy định: “Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Bào chữa viên nhân dân”

Trước hết, uật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật.[ 0, tr ] Theo Điều uật luật sư năm 00 : “ uật sư là người có đủ tiêu chu n, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi là khách hàng)” Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một đoàn luật sư, phải có đủ các điều kiện theo quy định của uật luật sư, cụ thể là theo quy định tại Điều 0 uật luật sư: “Công dân Việt Nam, trung thành với

Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự, hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở

Trang 15

thành luật sư” Và khi đã đạt đủ điều kiện theo quy định tại Điều 0 còn phải hội đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định được quy định tại Điều uật luật sư:

“Người có đủ tiêu chu n quy định tại Điều 0 của uật này muốn được hành nghề uật sư phải có chứng chỉ hành nghề và gia nhập một Đoàn luật sư”

Hiện nay, do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân Tòa án còn nhiều hạn chế nên khi nói đến NBC là chỉ nghĩ ngay tới Luật sư Còn những người khác không phải là Luật sư thì không được coi là NBC Trong quá trình soạn thảo

B TTH năm 00 cũng có ý kiến đề nghị chỉ quy định Luật sư là người bào chữa Còn những người khác nếu bào chữa thì quyền và nghĩa vụ của họ như đối với Luật

sư Nhưng ý kiến này đã không được chấp nhận, vì Luật sư là khái niệm nghề nghiệp, còn người bào chữa là khái niệm tố tụng Tuy nhiên, khi nói đến NBC, người Tòa án thường nghĩ đến Luật sư, vì uật sư là nhân vật trung tâm của hoạt

động bào chữa.[19]

Bên cạnh Luật sư, người đại diện hợp pháp cũng có tư cách của NBC khi tham gia tố tụng Theo đó, người đại diện hợp pháp là cha m hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tinh thần.[ 0,tr ] Bao gồm: người đại diện hợp pháp cho bị cáo là bố

m đ , bố m nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm

về thể chất, tinh thần Họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp Nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là NBC thì họ có quyền và nghĩa vụ như

NBC.[19,Tr.17]

Một chủ thể khác cũng có tư cách của NBC đó là bào chữa viên nhân dân Chức danh Bào chữa viên nhân dân ở nước Tòa án ra đời trên cơ sở ắc lệnh số ngày và chế định bào chữa viên nhân dân vẫn còn tồn tại đến ngày nay Theo đó, bào chữa viên nhân dân là người được Ủy ban ặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Ủy ban ặt trận Tổ quốc Việt Nam cử NBC cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ch ch nh đáng của bị can, bị cáo trong những trường hợp do pháp luật quy định Bào chữa viên nhân dân khi tham gia tố tụng với tư cách là NBC đều

có các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho NBC

Trang 16

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới cũng có những quy định rất khác nhau

về NBC

Pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc quy định:“ hi một người bị truy tố

và đưa ra x t xử, người đó có quyền tự bào chữa hoặc yêu cầu sự giúp đỡ của uật

sư, trong trường hợp, công tố viên truy tố trước Tòa án và nếu bị cáo không yêu cầu người bào chữa thì Tòa án phải chỉ định NBC cho người đó Bào chữa viên do Tòa

án chỉ định là uật sư chuyên nghiệp”

uật Tố tụng hình sự của iên Bang Nga thì: “Người bào chữa có thể là Luật

sư hoặc đại diện của tổ chức công đoàn và tổ chức xã hội đối với thành viên của họ, hoặc những người khác trong những trường hợp do pháp luật quy định Tòa án hoặc

Th m phán có thể quyết định công nhận người bào chữa là người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo (Điều 47)

Luật Tố tụng hình sự của Hàn Quốc: “Người bào chữa phải là Luật sư Trong trường hợp đặc biệt, trừ Tòa án tối cao thì các Tòa án khác có thể đồng ý cho việc

cử người không phải Luật sư làm người bào chữa” (Điều 34)

BLTTHS Nhật Bản cũng có quy định tương tự: “Ở Tòa giản lược, Tòa án gia đình hoặc Tòa án khu vực, Luật sư bào chữa có thể được lựa chọn trong số những người chưa hành nghề Luật sư nhưng với sự cho phép của Tòa án Tuy vậy, điều đó

áp dụng ở Tòa án khu vực chỉ đối với những vụ án đã có một Luật sư bào chữa khác được lựa chọn trong số những Luật sư đang hành nghề” (Điều 31)[25]

ặc dù quan niệm về NBC của một số quốc gia trên thế giới có nhiều khác biệt, nhưng nhìn chung, nhưng đều có đặc điểm chung là người có kiến thức pháp lý được bị can, bị cáo hoặc người được pháp luật cho ph p đề tiến hành hoạt động bào chữa nhằm mục đ ch bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của người bị tạm giữ, người

bị tinh nghi, bị can, bị cáo Như vậy có thể hiểu: NBC trong tố tụng hình sự l ngư i

tham gia tố tụng chứng minh sự vô t i hoặc làm gi m nhẹ trách nhiệm hình sự

củ ngư i b bu c t g p ngư i b bu c t i về mặt pháp lý nh m b o vệ quyền và

l i ích h p pháp của họ t ông qu o vệ pháp ch xã h i chủ ng ĩ

Đề nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo, bảo vệ pháp luật, pháp chế

xã hội chủ nghĩa, khi tham gia tố tụng, NBC được trao một số quyền năng nhất định

để thực hiện nhiệm vụ của mình Đồng thời, song song với đó, pháp luật quy định

Trang 17

thêm các cơ chế bảo đảm để các quyền năng đó được thực hiện Đây là một công

cụ, phương tiện quan trọng để NBC thực hiện được nhiệm vụ của mình Có thể thấy, ở m i giai đoạn tố tụng, NBC lại có nhưng quyền năng khác nhau Trong giai đoạn điều tra NBC có quyền có mặt khi lấy lời khai, có quyền đề nghị cơ quan điều tra thông báo trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can, gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam hay trong giai đoạn

x t x t xử NBC có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa, có quyền đưa ra các tài liệu đồ vật, yêu cầu, có quyền khiếu nại quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng của Tòa án NBC s sử dụng những quyền năng này để tham gia tố tụng nhằm bảo

vệ lợi ch hợp pháp cho người mà mình nhận bảo vệ và cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án

Khi tham gia tố tụng, các chủ thể được pháp luật ghi nhận một số quyền năng pháp lý nhất định và được bảo đảm thực hiện bằng các cách thức, phương tiện, biện pháp khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của các hoạt động tố tụng.[ ,Tr - ]

Theo Từ điển uật học, thuật ngữ “quyền” được hiểu là “những điều mà pháp luật

công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”[ ] Còn thuật ngữ “bảo đảm” được nhìn nhận dưới hai góc độ khác nhau Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc đủ những gì cần thiết”.[ ] Từ điển uật học định nghĩa

cụ thể hơn khi cho rằng: “Bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được những điều cần thiết là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân hoặc tổ chức) phải làm cho quyền

và lợi ch hợp pháp của bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường.”[ ]

Tóm lại, trên cơ sở phân t ch các quan điểm, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về bảo đảm quyền của NBC trong tố tụng hình sự ở cấp x t xử sơ th m như

sau: o qu ền ủ trong tố tụng hình sự p t s t v ệ

T n v n ng ngư t qu ền p t n u vụ n n sự tr

n ệ t ực hiện nghiêm chỉn qu nh của pháp luật v t o ều ện n t t

t ực hiện ư ủ các quyền n ng TTHS qu nh

Trang 18

1.2 Cá iện p áp ảo ảm q ền ủ n ƣời bào chữ ở ấp ử ơ m

1.2.1 Biệ

Thực chất của hoạt động bảo đảm về mặt pháp lý là chúng ta tạo ra hành lang pháp lý cần thiết và đủ mạnh để các quyền năng đó được thực hiện trên thực tế Có thể thấy, hoạt động bào chữa là một trong ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Hoạt động bào chữa của NBC không chỉ là phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật, đảm bảo không làm oan người vô tội NBC thông qua hoạt động của mình đã góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ của tố tụng hình sự đó

là phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.[22] Muốn làm được như vậy, trước hết, pháp luật phải có những quy định mang tính toàn diện, đồng bộ, minh bạch và phù hợp để làm cơ sở pháp lý cho NBC thực hiện hoạt động bào chữa, những quy định có sự ràng buộc trách nhiệm của cơ quan và NTHTT trong việc bảo đảm cho NBC thực hiện quyền của mình, tạo môi trường pháp lý tốt để NBC thực hiện hoạt động bào chữa Song song với đó, phải quy định về chế tài xử lý đối với những hành vi trái pháp luật Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm pháp luật s phải gánh chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự

Bên cạnh đó, luật pháp phải quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể có th m quyền tiến hành tố tụng khi hạn chế hoạt động bào chữa của NBC một cách trái pháp luật Những quy định này là cơ sở để những người có th m quyền tiến hành tố tụng nhận thức rõ trách nhiệm và điều chỉnh hành vi tố tụng của mình Phải xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền của NBC Đồng thời, phải có

cơ chế giám sát hoạt động tố tụng hình sự và vận hành tốt cơ chế này để kịp thời yêu cầu các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc

Trang 19

bảo đảm quyền của Luật sư và phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi xâm phạm trái phép hoạt động bào chữa của NBC

ặc dù hoạt động bảo đảm các quyền của NBC không được xác định là một trong những nguyên tắc hiến định hay luật định, nhưng cơ sở pháp lý của việc bảo đảm quyền của NBC được B TTH xác định thông qua các quy định mang tính nguyên tắc chung, những quy định mang tính thủ tục bắt buộc đối với các CQTHTT

và những quy định xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi tiến hành giải quyết vụ án Cụ thể, Điều của B TTH năm

00 quy định: “Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, x t xử, thi hành án thì tùy theo

t nh chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

Hoạt động bảo đảm quyền của NBC còn được thông qua nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án được quy định tại Điều B TTH 00 :“ iểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan

của vụ án” Đây là những quy định mang t nh nguyên tắc, định hướng nhằm xác

định trách nhiệm của CQTHTT, NTHTT trong việc bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng nói chung và của NBC nói riêng

Ngoài những quy định mang t nh nguyên tắc trên, rải rác trong một số điều luật của B TTH năm 00 cũng đã quy định về trách nhiệm bảo đảm các quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m như Điều về giao các quyết định của Tòa án; Điều về sự có mặt của NBC; Điều 202 về giải quyết việc đề nghị thay đổi Th m phán, Hội th m, Kiểm sát viên, Thư k Tòa án, người giám định, người phiên dịch; Điều 205 giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt; Điều đối đáp ặc dù chưa ghi nhận được hết các cơ chế bảo đảm nhưng đó cũng là những cơ sở pháp lý quan trọng để quyền của NBC có thể được thực thi trên thực tế

Trang 20

Không chỉ vậy, B TTH năm 00 còn quy định chế độ trách nhiệm của các CQTHTT trong việc bảo đảm quyền của NBC Cụ thể, theo Điều 12 BLTTHS quy

định: “Trong quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, x t xử, thi hành án thì tuỳ theo t nh

chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

Trong m i giai đoạn tố tụng khác nhau, trách nhiệm bảo đảm quyền của NBC lại được xác định khác nhau Ở cấp xét xử sơ th m, trách nhiệm chính trong việc bảo đảm các quyền cuả NBC được xác định là Tòa án cấp sơ th m với tư cách là cơ quan xét xử lần đầu vụ án hình sự Trách nhiệm đó được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án theo quy định tại

điểm c khoản Điều 38 BLTTHS:“…Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào

chữa…”; thông qua trách nhiệm của Th m phán khi giải quyết vụ án: “Th m phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình”; thông qua trách nhiệm của Hội th m nhân dân khi tham gia phiên tòa với tư cách là thành viên của hội đồng xét xử: “Hội th m phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình” hoản Điều 76 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 0 quy định về trách nhiệm của Th m phán khi thực hiện nhiệm vụ: “Th m phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật Th m phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Th m phán thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và Th m phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa

án theo quy định của luật”

Ngoài ra, trách nhiệm của Tòa án cấp sơ th m còn được xác định trong những quy định khi giải quyết vụ án hình sự như việc bảo đảm tranh tụng trong hoạt động xét xử tại phiên tòa Theo Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án năm 0 : “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng”

Trang 21

Bên cạnh đó, uật uật sư năm 00 , sửa đổi, bổ sung một số điều năm 0 cũng đã ghi nhận rất rõ cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của uật sư Theo Điều của uật luật sư năm 00 , sửa đổi, bổ sung một số điều năm 0 thì: “Người có chức vụ, quyền hạn, mà có hành vi xâm phạm quyền và lợi ch hợp pháp của uật

sư, tổ chức hành nghề uật sư hoặc cản trở uật sư, tổ chức hành nghề uật sư thực hiện quyền và nghĩa vụ này thì tùy theo t nh chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì s phải bồi thường theo quy định của pháp luật”

Với những quy định trên s là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để những quyền năng của NBC được thực thi trên thực tế và được các cơ quan, tổ chức cá nhân tôn trọng và bảo vệ

1.2.2 Các biện pháp b m khác

1.2.2.1 Về ngũ n

Bảo đảm về mặt tổ chức để quyền của NBC ở cấp x t xử sơ th m vụ án hình

sự là một vấn đề quan trọng Ngoài việc chúng ta có một hành lang pháp lý vững chắc để cho các quyền của NBC được bảo đảm, thì cần phải có sự bảo đảm từ ph a các cơ quan, tổ chức mà trước hết là đội ngũ cán bộ Th m phán, Hội th m – những người trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử vụ án hình sự Trong những năm gần đây, toàn ngành Tòa án đã có những thay đổi nhằm tạo mọi điều kiện để cho NBC được tham gia thực chất hơn vào hoạt động xét xử Bằng việc có những biện pháp nhằm bảo đảm cho NBC thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, được trình bày hết ý kiến của mình, những câu hỏi của HĐXX và iểm sát viên được khách quan hơn; được tranh luận một cách khách quan, dân chủ và bình đẳng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác; phán quyết của Tòa

án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án”.[ ] ột trong những biện pháp đầu tiên được nhắc đến là phát triển số lượng đội ngũ Th m phán, Hội th m, Thư ký Tòa án và cán bộ ngành Tòa án, đi đôi với đó là nâng cao chất lượng chuyên môn đối với họ

Theo Báo cáo của TANDTC, t nh đến tháng tháng năm 0 , toàn ngành Tòa

án đã có Th m phán[ ] Về trình độ của đội ngũ Th m phán, t nh đến cuối năm

0 , 00% Th m phán các cấp có trình độ Cử nhân luật trở lên Cụ thể là trong số

Trang 22

Th m phán của Tòa án nhân dân tối cao có % trình độ trên Đại học, % có trình

độ Cử nhân luật, 00% có trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận ch nh trị, gần 0% có trình độ ngoại ngữ và tin học cơ sở; trong số Th m phán trung cấp có % có trình độ trên Đại học, % có trình độ Cử nhân luật, 0% có trình độ cao cấp hoặc cử nhân lý luận ch nh trị, 0% có trình độ trung cấp lý luận ch nh trị, hơn 0% có trình độ ngoại ngữ và tin học cơ sở; trong số Th m phán sơ cấp có , % có trình độ trên Đại học, 93,5% có trình độ cử nhân luật, , % có trình độ cao cấp hoặc cử nhân lý luận ch nh trị, , % có trình độ trung cấp lý luận ch nh trị, gần % Th m phán sơ cấp có trình

độ ngoại ngữ và tin học cơ sở T nh đến tháng năm 0 , có trên 0% Th m phán Toà án địa phương đã được bổ nhiệm làm Th m phán nhiệm kỳ thứ hai, nhiều trường hợp là nhiệm kỳ thứ ba, cá biệt có trường hợp có trên 0 năm làm Th m phán nên

t ch luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác.[ ]

ong song với việc bảo đảm về số lượng, chất lượng đội ngũ Th m phán, cán

bộ công chức ngành Tòa án, thì số lượng, chất lượng đội ngũ Hội th m cũng từng bước được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm cụ của Cải cách Tư pháp T nh đến tháng 0 thì tổng số Hội th m nhân dân Tòa án nhân dân (TAND) dân địa phương (nhiệm kỳ 2011- 0 ) đã bầu được 0 người, trong đó Hội th m TAND cấp tỉnh là người và Hội th m TAND cấp huyện là 13.859 người Về chất lượng, Hội th m nhân dân có trình độ cử nhân luật là 2.887 người (chiếm 18,5%); cử nhân chuyên ngành khác là người (chiếm 52,8%); còn lại 0 người có trình độ dưới đại học (chiếm 28,7%) Hội th m quân nhân Toà án quân sự (TAQS) (nhiệm kỳ 2009- 0 ) đã cử được người, trong đó Hội th m quân nhân TAQS cấp quân khu là người và Hội th m quân nhân Toà án quân sự khu vực là người Về chất lượng, Hội th m quân nhân có trình độ Cử nhân luật là người (chiếm 17%); Cử nhân chuyên ngành khác là 0 người (chiếm 83%).[32] Không chỉ tăng lên về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, mà nhận thức của đội ngũ cán bộ ngành Tòa án về vai trò của NBC khi tham gia tố tụng cũng có ý nghĩa rất quan trọng Việc thực hiện các quyền của NBC trong B TTH s trở lên rất khó khăn nếu như nó không được các cơ quan tiến hành tố tụng, NTHTT nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa hoạt động của NBC NBC tham gia phiên tòa nhằm cùng với Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ các quyền và lợi ch

Trang 23

hợp pháp của bị cáo và h trợ họ về mặt pháp lý để tự bảo vệ quyền và lợi ch ch nh đáng của mình Có l , ch nh vì nhận thức chưa đầy đủ hoặc chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của NBC khi tham gia phiên tòa mà nhiều cán bộ Tòa án cho rằng, NBC tham gia phiên tòa s cản trở quá trình x t xử vụ án hoặc làm ảnh hướng để việc xác định sự thật khách quan của vụ án

Đầu tiên, phải thấy rằng, Tòa án cấp sơ th m là cấp xét xử thứ nhất vụ án hình

sự Tòa án s căn cứ vào những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được cùng với những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được hoặc những tài liệu chứng cứ mà bị cáo cung cấp để tiến hành x t xử và ra phán quyết cuối cùng về vụ án đó Việc bảo đảm các quyền của NBC khi tham gia tố tụng

ch nh là giúp Tòa án giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Việc NBC tham gia tố tụng không những tạo sự giúp đỡ vững chắc bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo mà còn góp phần không làm sáng tỏ nội dung vụ án và bảo đảm

t nh ch nh xác và có căn cứ của phán quyết Đây cũng là nhiệm vụ mà pháp luật giao cho NBC Với những luận cứ, lý l mà NBC đưa ra nhằm làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho bị cáo Đồng thời, với sự “cọ sát” giữa những chứng cứ buộc tội

và chứng cứ gỡ tội s giúp Tòa án cấp sơ th m khách quan hơn trong quá trình giải quyết vụ án.[ , Tr.108]

Tuy nhiên, trên thực tế, không t các Th m phán, Hội th m có nhận thức rằng:

“tội phạm đã rõ ràng thì uật sư không thể bào chữa cho k phạm tội” Thậm ch

một số Th m phán cho rằng: “Có NBC tham gia chi gây khó khăn cho công tác x t

xử, vì thế đã có thái độ không đúng với NBC Bên cạnh đó, vẫn còn có những tư tưởng hạ thấp vai trò của NBC, vì sự tham gia của NBC làm yếu đi hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giúp cho k phạm tội trốn tránh trách nhiệm hình sự” Quan niệm như vậy đối với luật sư nói riêng và NBC nói chung là trái với quy định của pháp luật và ch nh sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việc

có sự tham gia của NBC trong hoạt động x t xử của Tòa án chẳng những không cản trở mà còn thúc đ y cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xử lý vụ án, x t xử không có căn cứ người vô tội Do đó, khi tiến hành hoạt động x t xử, những NTHTT mà trước hết là đội ngũ Th m phán, Hội th m phải nhận thức được rằng:

Trang 24

ự tham gia tố tụng của NBC là yếu tố khách quan để vụ án được giải quyết một cách đúng đắn;

NBC có vai trò quan trọng trong việc đưa ra những chứng cứ và những chứng cứ giúp cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng tránh được những sai sót đáng tiếc có thể xảy ra khi đưa ra các quyết định, phán quyết về vụ án;

Đồng thời, về ph a NBC, họ là người có kiến thức pháp luật, có nghiệp vụ Do

đó, cùng với việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bị can, bị cáo thì họ còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật Để làm tốt được việc này, cùng với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng bào chữa thành thạo với tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, khi đã nhận thức đúng đắn bản chất của hoạt động bào chữa thì chắc chắn NBC s thành công trong việc bào chữa.[ , Tr 0]

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, hưởng ứng cuộc vận động và sinh hoạt chính trị “sống và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Ch inh” ngành Tòa án nhân dân đã triển khai thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Ch inh với chủ đề: “Nâng cao bản lĩnh ch nh trị, ph m chất đạo đức, lối sống của đội ngũ Th m phán, cán bộ, công chức ngành TAND” nhằm từng bước xây dựng, kiện toàn đội ngũ Th m phán, cán bộ, công chức ngành Tòa án đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng với mục tiêu xây dựng ngành Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh về ch nh trị tư tưởng và tổ chức; đội ngũ Th m phán, cán bộ, công chức Tòa án phải “phục vụ nhân dân”, “phụng sự Tổ quốc” để củng cố lòng tin của xã hội, của nhân dân đối với ngành Tòa án Thông qua cuộc sinh hoạt chính trị sâu rộng đó, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngành Tòa án đã được nâng lên đáng kể Bản lĩnh ch nh trị được giữ vững, tình trạng đội ngũ cán bộ Th m phán, Hội th m Tòa án

vi phạm pháp luật đã giảm, với cam kết: “ 00% Th m phán, cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân có cam kết và thực hiện đúng cam kết về việc thực hiện đúng Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, không vi phạm ph m chất chính trị, đạo đức l i sống, không vi phạm kỷ luật và pháp luật.”[ ]

1 2 2 2 o về s vật t

Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết để tòa án cấp sơ th m thực hiện được trách nhiệm của mình cũng có ý nghĩa rất quan trọng Không chỉ bảo đảm

Trang 25

điều kiện hoạt động bình thường của Tòa án, mà còn góp phần thực hiện Chiến

lược Cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị:“Đổi mới việc tổ chức

phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của Người tiến hành

tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.[ ]

Để bảo đảm tốt hơn các quyền của NBC, ngành Tòa án đã chủ động đầu tư hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm bảo đảm những như cầu tối thiểu của NBC Theo đó, hệ thống trụ sở Tòa án được xây dựng, các phòng xử án được bố trí riêng biệt T nh đến ngày 30-6-2013, trong số 700 TAND cấp huyện, có đơn vị đã có trụ sở Ở TAND cấp tỉnh, từ năm 00 đến nay, có 39/63 trụ sở đã được đầu tư (trong đó có trụ sở xây mới, 11 trụ sở cải tạo mở rộng đã hoàn thành đưa vào sử dụng và 8 trụ sở đang xây mới, 6 trụ sở đang cải tạo, mở rộng).[32]

Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt động xét xử, sao chụp tài liệu, bàn ghế, ch ngồi của NBC và của những người tham gia tố tụng khác cũng được chú trọng đầu tư T nh đến 30/6/2013 toàn ngành hiện có 1.250 bộ bàn ghế xét

xử, có 2.149 chiếc máy photocopy Ngoài ra, ngành Tòa án còn xây dựng hệ thống mạng Internet để phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin pháp luật cho đội ngũ cán bộ Tòa án, NBC khi tham gia tố tụng tại phiên tòa.[32]

Đặc biệt, để bảo đảm quyền của NBC và để giám sát hoạt động của Tòa án, nhiều Tòa án đã đầu tư hệ thống trang thiết bị ghi âm, ghi hình gắn tại các phòng xử

án Đi đầu trong việc này phải kể đến TAND tỉnh Khánh Hòa Tại đây, hầu hết các phòng xử án của TAND tỉnh đã được bố trí lắp đặt hệ thống camera để theo dõi, giám sát hoạt động xét xử, hoạt động bảo đảm các quyền của những người tham gia

tố tụng, tham gia bào chữa tại phiên tòa

1 2 2 3 o ố v ngư o t g o

t eo u u ủ qu n t n n tố tụng

Bảo đảm các chế độ đối với NBC có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong ác vụ

án NBC tham gia tố tụng theo yêu cầu của CQTHTT Theo đó, hiện nay, chế độ

ch nh sách của uật sư khi tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được điều chỉnh bởi Nghị định 0 NĐ-CP ngày 0 0 quy định

Trang 26

chi tiết một số điều và biện pháp thi hành uật uật sư Theo đó, đối với những vụ

án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu luật sư thì mức thù lao được trả cho 0 ngày làm việc của luật sư là 0, lần mức lương cơ sở, tương đương 0.000 đồng ngày (quy định trước đây là 0.000 đồng ngày) Ngoài khoản tiền thù lao, trong quá trình chu n bị và tham gia bào chữa tại phiên tòa và các cơ quan tiến hành

tố tụng, luật sư được thanh toán chi ph tàu xe, lưu trú theo quy định về chế độ công tác ph cho công chức, cán bộ Nhà nước đi công tác trong nước.[ ]

Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 0 TT T-BTP - BTC hướng dẫn về

thù lao và thanh toán chi phí cho uật sư trong trường hợp uật sư tham gia tố tụng

theo yêu cầu của CQTHTT cũng quy định về chế độ của NBC Theo đó, mức thù lao chi trả cho uật sư khi tham gia tố tụng được xác định là 0, lần mức lương cơ

sở do Ch nh phủ quy định Ngày làm việc của uật sư được t nh trên cơ sở 0 giờ làm việc Trong trường hợp, uật sư làm việc trong nhiều ngày, nhưng m i ngày thực hiện không đủ 0 giờ, thì số ngày làm việc của uật sư được t nh trên tổng số giờ làm việc thực tế của uật sư ố giờ làm việc l còn lại (nếu có) được t nh như sau: Nếu số giờ làm việc l không đủ 0 giờ thì t nh thành ½ ngày làm việc Nếu số giờ làm việc l từ 0 giờ trở lên thì t nh thành 0 ngày làm việc Trường hợp uật

sư gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, x t xử theo lịch cho ph p gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, x t xử tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam hoặc thời gian tham gia phiên tòa vào ngoài giờ hành ch nh, ngày nghỉ, ngày lễ thì thời gian làm việc được t nh mức theo nguyên tắc chi trả tiền lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể như sau: ức 0% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường ức 00% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần

ức 00% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ bù nếu ngày nghỉ lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần.[ ] Với chế độ như vậy phần nào giúp NBC yên tâm hơn trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình

1 2 2 4 g s t o t ng o qu ền ủ ngư o

Phải có cơ chế giám sát hoạt động tố tụng hình sự và vận hành tốt cơ chế này

để kịp thời yêu cầu các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm quyền của uật sư và phát hiện nhanh chóng, ch nh xác mọi

Trang 27

hành vi xâm phạm trái ph p hoạt động bào chữa của NBC Hiện nay, chúng Tòa án

có năm cơ chế giám sát Bao gồm: hoạt động giám sát của cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), hoạt động giám sát của các tổ chức ch nh trị - xã hội, thông qua hoạt động của V , hoạt động giám sát nhân dân và cơ chế giám sát nội

bộ Điều uật tổ chức TAND năm 0 quy định:“Quốc hội, các cơ quan của

Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, ặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của ặt trận giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân theo quy định của luật”

Đồng thời, phải quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của các chủ thể có th m quyền tiến hành tố tụng khi hạn chế hoạt động bào chữa của NBC một cách trái pháp luật Những quy định này là cơ sở để những người có th m quyền tiến hành tố tụng nhận thức rõ trách nhiệm và điều chỉnh hành vi tố tụng của mình Phải xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền của NBC Tùy t nh chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTH mà có thể xử lý bằng biện pháp hành ch nh, dân sự hoặc hình sự

1.3 n ủ oạ n ảo ảm q ền ủ n ƣời o ữ ở ấp

ử ơ m

Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của NBC khi tham gia tố tụng là bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và bảo đảm bản án được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội, mà hoạt động bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ

th m có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên cả ba phương diện: ý nghĩa về mặt chính trị, về mặt pháp lý và về phương diện xã hội

Về mặt chính trị, bảo đảm quyền của NBC chính là nhằm thực hiện chủ trương, ch nh sách của Đảng về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Nhìn vào thực trạng pháp luật và hoạt động của NBC trong tố tụng hình sự ở một quốc gia ít nhiều có thể đánh giá được quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền và quan điểm chính trị của giới lãnh đạo của Nhà nước đó về vấn

đề quyền con người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là quyền bào chữa của người bị buộc tội Trong tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta đã rất chú trọng đến việc tăng cường tranh tụng

Trang 28

dân chủ trong tố tụng hình sự và hoạt động của Luật sư Bên cạnh đó, hoạt động bảo đảm quyền của NBC trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải đảm bảo tôn trọng pháp luật, tạo được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý Nhà nước, chống lại sự tùy tiện của những người có quyền Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân và việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền Nhà nước

có trách nhiệm tạo khung khổ pháp lý và những điều kiện cần thiết khác để luật sự thực hiện hoạt động bào chữa có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của Nhà nước pháp quyền Ngược lại, hoạt động bào chữa của NBC góp phần thực hiện các đòi hỏi nói trên Bằng hoạt động bào chữa, Luật sư góp phần vào việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm pháp luật được tôn trọng và thực thi một cách nghiêm chỉnh, góp phần bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Về mặt xã hội, hoạt động bảo đảm quyền của NBC góp phần bảo đảm cho công lý được thực thi, bảo đảm việc thực hiện công bằng, dân chủ trong tố tụng hình

sự, không làm oan người vô tội, qua đó bảo đảm công bằng trong xã hội Ngoài ra, việc tạo điều kiện cho NBC tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự còn hạn chế sự lạm quyền và vi pháp pháp luật của cơ quan và NTHTT Từ đó, hoạt động này có tác dụng củng cố lòng tin của người dân vào CQTHTT, vào pháp luật và Nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà “niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng ph , suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên”.[26]

Về mặt pháp lý, hoạt động bào chữa của NBC là một phương hướng hoạt động cơ bản của tố tụng hình sự nhằm thực hiện chức năng bào chữa, một trong ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Hoạt động bào chữa không chỉ là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ

án khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật, đảm bảo không làm oan người

vô tội NBC thông qua hoạt động bào chữa đã góp phần tích cực vào việc thực hiện

Trang 29

các nhiệm vụ của tố tụng hình sự đó là phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không

để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.[20] Mặt khác, bảo đảm các quyền của NBC còn là điều kiện cơ bản để thực hiện tốt các nguyên tắc của

tố tụng hình sự, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, x t dưới các góc độ khác nhau, bảo đảm quyền của NBC ở cấp x t

xử sơ th m có ý nghĩa rất quan trọng Chương I của uận văn, tác giả đã tập trung

đi sâu vào phân t ch, làm rõ một số nội dung lý luận cơ bản về bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m Bên cạnh đó, uận văn đưa ra các nội dung bảo đảm quyền của người bào chữa (Bảo đảm về mặt pháp lý, bảo đảm về mặt tổ chức và bảo đảm về nhận thức) Cuối cùng, Luận văn chỉ ra ý nghĩa cơ bản của hoạt động bảo đảm quyền của NBC Có thể bao quát bao nội dung trên như sau:

hái niệm bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ th m Theo

đó bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp xét xử sơ th m là việc Tòa án và những người ở cấp xét xử lần đầu vụ án hình sự có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tạo điều kiện cần thiết để người bào chữa thực hiện được đầy đủ xác quyền năng mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định

Các biện pháp bảo đảm quyền của NBC ở cấp xét xử sơ th m vụ án hình sự Theo đó có hai nhóm biện biện pháp cơ bản đó là biện pháp bảo đảm về mặt pháp lý

và các biện pháp bảo đảm khác (về đội ngũ cán bộ, về cơ sở vật chất, về chế độ chính sách và về cơ chế giám sát)

nghĩa của hoạt động bảo đảm quyền của người bào chữa ở cấp x t xử sơ

th m vụ án hình sự nghĩa đó được xác định trên ba phương diện: nghĩa về

chính trị, về xã hội và về pháp lý

Trang 30

CHƯƠNG 2

QU ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ẢO ĐẢM QU ỀN CỦA NGƯỜI ÀO CHỮA Ở CẤP T Ử SƠ THẨM VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH

2.1 QU ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ẢO ĐẢM

QU ỀN CỦA NGƯỜI ÀO CHỮA Ở CẤP T Ử SƠ THẨM

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật từ khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa rất coi trọng vấn đề bảo vệ con người, bảo vệ quyền công dân Và một trong những nội dung đó là chúng Tòa án đã ghi nhận quyền được tham gia tố tụng của uật sư, Bào chữa viên nhân dân với tư cách là NBC để bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho bị cáo Tuy nhiên, có một điểm dễ nhận thấy trong các văn bản pháp luật từ năm đến trước khi có B TTH năm là pháp luật mới chỉ ghi nhận quyền được tham gia tố tụng của uật sư, Bào chữa viên mà chưa ghi nhận các

cơ chế bảo đảm cần thiết để uật sư, hay Bào chữa viên nhân dân tham gia bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa được thực hiện Các văn bản mới chỉ tập trung vào kiện toàn, ghi nhận quyền của NBC

hoản Điều Nghị định số 0 NĐ-BTP của Bộ Tư pháp ngày 0 0 quy định các điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên trên đã ghi nhận quyền của người bào chữa, đó là: “Người bào chữa được cử ra hoặc thừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự đển xem x t và ch p hồ sơ.” Ngoài ra, theo Điều 8 của Nghị định này còn quy định: “Người bào chữa có quyền nhận phụ cấp cho công việc bào chữa theo quy định”

Sau này, quyền của NBC đã được Thông tư số 22-HCTP ngày 18/12/1957 của

Bộ Tư pháp hướng dẫn tương đối cụ thể: “về quyền hạn của người bào chữa cho bị cáo thì trong “Đề án quyền bào chữa của bị can” (do Hội nghị tư pháp họp ở Bộ ngày 20/6/1956 thông qua) có nhận định rằng bị cáo nhờ NBC là để giúp bị cáo thực hiện các quyền lợi về tố tụng Theo đó, NBC được đề nghị với Tòa án mời giám định viên hoặc người làm chứng mới có lợi cho bị cáo; tại phiên tòa, người bào chữa được hỏi tất cả những người cung khai trước phiên tòa, sau khi xin phép ông Chánh án Nếu có

Trang 31

hiện tượng không dân chủ trấn áp bị cáo làm mất quyền tự do bào chữa thì NBC được

đề nghị với Tòa án chấm dứt ngay Sau khi Công tố viên luận tội, NBC được trình bày lời bào chữa của mình để ra những quan điểm không đồng ý với Công tố viên và biện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệ luật pháp, chính sách và quyền lợi chính đáng của bị can Sau khi NBC nói xong mà Công tố viên đáp lại thì NBC có quyền trả lời; NBC có quyền xem bút lục của phiên Tòa và đề nghị với ông Chánh án đ nh chính hoặc bổ khuyết nếu phát hiện những ch ghi chép sai lầm thêm bớt hoặc thiếu sót Sau phiên tòa xét xử, NBC có thể chống án thay cho bị cáo nếu bị cáo yêu cầu hoặc được sự đồng ý của bị can

au đó, năm 0 uật tổ chức TAND ra đời Trên cơ sở của Hiến pháp năm

1959, Luật tổ chức TAND đã quy định về NBC cũng như xác định địa vị pháp lý của họ: “Ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể nhờ Luật sư bào chữa cho mình

Bị cáo có thể nhờ công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết, TAND chỉ định NBC cho bị cáo” Điểm tiến bộ nhất trong thời gian này là trong một số văn bản quy phạm pháp luật đã ghi nhận biện pháp bảo đảm từ ph a Tòa án cho NBC được thực hiện quyền của mình Theo đó, Tòa án phải chú ý sắp xếp lịch phiên tòa để người bào chữa có thời gian cần thiết để chu n bị cho bài bào chữa NBC có thể xin hoãn phiên tòa, nếu nhận thấy không có đủ thời gian cho việc bào chữa Tòa án cũng cần sắp xếp hợp lý thời gian phiên tòa để NBC có đủ thời gian cho việc chu n bị bào chữa và tranh luận trước tòa Lời bào chữa cần được ghi chép trong biên bản phiên Tòa, trừ trường hợp NBC đọc bản bào chữa viết và đưa bản đó vào hồ sơ vụ án NBC được xem biên bản phiên tòa và đề nghị với chủ tọa phiên tòa đ nh ch nh hoặc bổ khuyết nếu thấy có những nội dung ghi chép sai sót Tòa án phải nghiên cứu kỹ lưỡng mọi

lý l của người bào chữa để có chủ trương x t xử thật đúng, thật sát Nếu xét thấy cần thiết có thể cho hoãn phiên tòa để nghiên cứu thêm Bản án của Tòa án phải trả lời những lý l mà người bào chữa nêu ra Sau phiên tòa NBC có thể gặp bị cáo để trao đổi với bị cáo về bản án và nếu bị cáo yêu cầu thì có thể giúp đỡ cho bị cáo chống án; nếu được bị cáo ủy nhiệm người bào chữa có thể chống án thay cho bị cáo

Trang 32

Trong Thông tư số 16/TANDTC ngày 27/9/1974 của TAND tối cao có quy định cụ thể về quyền của NBC tại phiên tòa Theo đó, tại phiên tòa NBC được xin thay đổi Th m phán hoặc Hội th m nhân dân; được tham gia cuộc th m vấn hoặc trình bày lời bào chữa ở phiên tòa, được bị cáo ủy nhiệm cho kháng tố theo quy định của pháp luật; nếu bị cáo là vị thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì người bào chữa có quyền chủ động kháng tố để bảo vệ những quyền lợi của bị cáo mà không cần có sự đồng ý của họ

au này, khi đến Hiến pháp năm 0 ra đời và Luật Tổ chức TAND năm

1981, các quyền của NBC tại phiên tòa về cơ bản vẫn được quy định như trước đây Nhưng Hiến pháp năm 0 quy định, đề cập cụ thể hơn về tổ chức chuyên nghiệp của những NBC trong vụ án hình sự: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm

Tổ chức Luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” (Điều 133) Tiếp đó, quyền của NBC ngày được khẳng định khi pháp lệnh tổ chức Luật sư được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày Trong đó, đặc

biệt nhấn mạnh đến quyền của NBC tại phiên tòa như sau:

- Bình đẳng với các thành phần khác trước Tòa án; không buộc phải làm chứng

về những vấn đề biết được khi làm nhiệm vụ bào chữa hoặc đại diện cho các đướng

sự khác;

- Đề nghị thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng;

- Tham gia th m vấn và tranh tụng tại phiên tòa Đề nghị biện pháp xử lý bị cáo, bồi thường thiệt hại và các biện pháp giai quyết tranh chấp;

- Đọc, yêu cầu bổ sung, đ nh ch nh biên bản phiên tòa;

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp làm bào chữa hay làm đại diện cho bị cáo, đướng sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm

Trang 33

Các quyền của NBC và cơ chế bảo đảm quyền của người bào chữa được hệ thống hóa và quy định tập trung trong một văn bản khi B TTH năm được thông qua vào ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1989 Ngoài việc xác định địa vị pháp lý, thiết lập quyền của NBC khi tham gia tố tụng, để bảo đảm sự bình đẳng của NBC tại phiên tòa, B TTH năm còn quy định: “ iểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đua ra yêu cầu và tranh luận trước Tòa án.” Đồng thời, khi NBC có đề nghị cấp giấy chứng nhận bào chữa thì: “Thủ trường Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận bào chữa trong các vụ án để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa”[ ] Trong quá trình x t xử vụ án, nếu thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, NBC có quyền khiếu nại các quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng của Tòa án: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hoặc của bất kì cá nhân nào thuộc cơ quan đó Cơ quan có th m quyền phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các khiếu nại và tố cáo, thông báo bằng văn bản kết quả cho người khiếu nại

và tố cáo biết để có biện pháp khắc phục Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh

dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá nhân có hành vi trái pháp luật thì tùy trường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”[ ] Theo quy định tại Điều , B TTH trong giai đoạn xét xử thì NBC được quyền đề nghị thay đổi Th m phán, Hội th m nhân dân, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký Tòa án nếu có lý do ch nh đáng cho rằng người đ không khách quan; tham gia th m phấn, tranh luận với bên buộc tội là đại diện VKS và bị hại, được đề xuất với Hội đồng xét xử về cách thức giải quyết vụ án

áp dụng điều luật về tội danh và hình phạt nhằm làm giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo; được xem biên bản phiên Tòa, có quyền yêu cầu, ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên Tòa và ký xác nhận, được đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ; được tiếp xúc với bị cáo; NBC được hỏi thêm người làm chứng, trình bày những nhận xét của mình về vật chứng, về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án; được quyền nhận xét về những tài liệu của vụ án đã được công bố và hỏi thêm về những vấn đề có liên quan, nhận xét về kết luận giám định; người bào chữa có quyền tranh luận với

Trang 34

Kiểm sát viên và đưa ra những đề nghị của mình; được giao bản án chậm nhất là 15 ngày sau khi tuyên án (Điều 188,189,192,203 của BLTTHS 1988) Những quyền này của NBC được bảo đảm bởi những quy định liên quan đến trách nhiệm của cơ quan Tòa án với vai trò là cơ quan tài phán, nhân danh công lý, nhân danh Nhà nước trong hoạt động xét xử

Ngoài B TTH năm , quyền của NBC còn được bảo đảm theo Quy chế Đoàn uật sư ban hành kèm theo Nghị định số HĐBT ngày và Thông

tư của Bộ Tư pháp số 313-TT ngày hướng dẫn thực hiện quy chế Đoàn uật sư Tại Điều 16-Quy chế Đoàn uật sư có quy định: “ hi tham gia tố tụng, Luật sư có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Các cơ quan, tổ chức, và cá nhân có liên quan có trách nhiệm bảo đảm cho Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó” ặc dù không quy định trách nhiệm cụ thể, nhưng quy định

đó là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền của NBC khi tham gia tố tụng tại Tòa án trong thời gian đó

2.1.2 Q n ủ p áp ậ ố ụn n ự iện n ề ảo ảm q ền ủ

n ƣời o ữ ở ấp ử ơ m

Cùng với quá trình phát triển của đất nước, Đảng ta đã xác định việc mở rộng dân chủ và đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xác hội là cần thiết BLTTHS năm trong quá trình thi hành gần năm qua, đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần (tháng 6/1990, tháng 12/1992 và tháng 6/2000) Các lần sửa đổi, bổ sung này chưa

có điều kiện để sửa đổi một cách tổng thể mà mới chỉ tập trung vào một số điều để đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn

Những vấn đề liên quan đến NBC và vấn đề cần phải bảo đảm quyền của NBC khi tham gia tố tụng nhằm nâng cao vị thế của họ trong tố tụng đã được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đảng Đặc biệt, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định phải cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm về người bào chữa, phải thể chế hóa các chủ trương đó thành các quy định cụ thể, sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh

Trang 35

phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội và chống làm oan sai người vô tội; nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối với công dân, bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định khắc phục việc bắt, giam giữ, điều tra truy tố, xét

xử, oan sai, đề cao vai trò của cơ quan, tổ chức, công dân trong tố tụng hình sự Các quy định của tố tụng hình sự phải xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của từng Cơ quan tiến hành tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng chức danh tố tụng, đồng thời cũng xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, nhất là quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.[7] Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, B TTH năm 00 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ 4 khóa XI ngày 26/11/2003 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004 thay thế B TTH năm Trong B TTH mới này có những quy định về người bào chữa được kế thừa và phát huy những giá trị pháp luật về tố tụng hình sự truyền thống của nước Tòa án trên cơ sơ nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc và đúc rút kinh nghiệm trong pháp luật tố tụng hình sự của các quốc gia khác So với BLTTHS năm , B TTH năm 00 quy định rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về quyền của NBC, các biện pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của các CQTHTT trong việc bảo đảm quyền của họ[9] nhằm giúp các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của mình, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.[ ] Theo quy định tại khoản Điều B TTH năm 00 , ở cấp xét xử sơ th m, NBC có những quyền năng cơ bản sau đây:

- Đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch theo quy định tại

Bộ luật này;

- Đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu;

- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có th m quyền tiến hành tố tụng;

Trang 36

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này

Để bảo đảm những quyền cơ bản trên của NBC ở cấp xét xử sơ th m, BLTTH

đã ghi nhận các cơ chế bảo đảm khác nhau Đó có thể là những quy định mang tính nguyên tắc hoặc những quy định mang tính thủ tục bắt buộc phải tiến hành, những quy định xác định trách nhiệm từ phía các CQTHTT nhất là Tòa án cấp sơ th m

Thứ nh t qu nh về việc Tòa án c p s t m b o m quyền ư ề ngh

t ổ THTT ngư g n ngư i phiên d ch củ ngư i bào ch a

Để bảo đảm quyền yêu cầu thay đổi NTHTT, B TTH năm 00 đã giành hẳn một điều luật quy định về giải quyết việc đề nghị thay đổi Th m phán, Hội th m Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch Theo quy định tại Điều 0 thì: “ iểm sát viên và những người tham gia tố tụng phải được chủ tọa phiên tòa hỏi xem họ có đề nghị thay đổi Th m phán, Hội th m, Kiểm sát viên, Thư

ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch hay không Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử s xem xét và quyết định”

Có thể thấy, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những NTHTT Điều B TTH năm 00 quy định: “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án,

Th m phán, Hội th m, Thư ký Tòa án không được tiến hành tố tụng hoặc người giám định, người phiên dịch không được tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình” nghĩa của nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho vụ án được tiến hành một cách khách quan

và chính xác, đồng thời củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công minh của các CQĐT, V , Tòa án trong việc giải quyết vụ án Nếu có lý do xác đáng để cho rằng, họ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình thì họ không được tiến hành tố tụng Có thể thấy, sự vô tư của NTHTT là một trong những điều kiện quan trọng có tính chất quyết định để vụ án được giải quyết khách quan, không làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm Thực tế cho thấy những giá trị mà nền tư pháp mang lại cho xã hội phụ thuộc chủ yếu vào sự vô tư của NTHTT,

Trang 37

do chỉ có thái độ vô tư của những người cầm cân nảy mực mới có nhận thức khách quan về những tình tiết của vụ án, bản án và các quyết định họ đưa ra mới khách quan, đúng người, đúng tội; mới làm cho người có tội và xã hội tâm phục, kh u phục Sự vô tư của những NTHTT vì thế có ý nghĩa vô cùng quan trọng không những trong quá trình giải quyết vụ án, mà còn trong việc thực thi công lý, bảo đảm quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền Hơn nữa, việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là điều kiện cần thiết để thực hiện một số nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự như; nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, xác định sự thật của vụ án, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nguyên tắc Th m phán và Hội th m xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Th m phán - Chủ tọa phiên tòa phải hỏi những người tham gia tố tụng để xem có ai muốn thay đổi NTHTT hay không Quy định này nhằm đảm bảo sự vô tư của những NTHTT, người giám định, người phiên dịch và cũng là một trong những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc giải quyết vụ

án được đúng đắn, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo nói riêng và của những người tham gia tố tụng nói chung Vì vậy, bảo đảm sự vô tư của những người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa việc hỏi Kiểm sát viên và nhưng những người tham gia tố tụng về yêu cầu thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch là một thủ tục bắt buộc

Khi có yêu cầu thuộc một trong các trường hợp sau đây, Tòa án phải tiến hành xem xét và công bố công khai tại phiên tòa Trong trường hợp không chấp nhận đề nghị thì phải nêu rõ lý do: Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo; Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó; Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Thứ qu nh về việc Tòa án c p s t m b o m quyền ư ư r t

liệu ồ vật, yêu c u của NBC

Trang 38

Điều 0 B TTH năm 00 quy định: “Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì chủ tọa phiên tòa cũng phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử s xem

xét và quyết định”

Trong khi tiến hành các hoạt động để thu thập tài liệu, chứng cứ nghiên cứu

hô sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, NBC có thể phát hiện ra những tình tiết mới, quan trọng có lợi cho thân chủ mà CQĐT chưa có hoặc chưa thu thập được Chính vì vậy, B TTH năm 00 quy định NBC có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu Theo đó, NBC có quyền đưa ra chứng cứ mà mình đã thu thập được hoặc yêu cầu CQTHTT xem xét hoặc thu thập thêm những chứng cứ chứng minh sự

vô tội, các tình tiết giảm nh trách nhiệm của bị can, bị cáo Quyền đưa ra chứng cứ

và yêu cầu ở đây được hiểu là quyền trong tất cả các giai đoạn tố tụng từ giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố đến giai đoạn xét xử Ví dụ như những yêu cầu, đề xuất ở giai đoạn điều tra để CQĐT thu thập thêm những chứng cứ, yêu cầu CQĐT bổ sung kịp thời những thiếu sót trong hoạt động điều tra; ở giai đoạn xét xử NBC có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, yêu cầu hoãn phiên tòa, yêu cầu giám định pháp y nếu trước đây chưa có hoặc có rồi nhưng chưa ch nh xác thì yêu cầu giám định lại khi có căn cứ để thấy rằng kết quả giám định là không khách quan Những yêu cầu này có thể làm sáng tỏ tình tiết liên quan đến vụ án có lợi cho thân chủ của họ; hay t ra cũng để cho họ có thời gian thêm chứng cứ mời để bào chữa cho thân chủ của mình Có thể thấy, trên thực tế, quyền này của NBC có ý nghĩa rất quan trọng Đã có nhiều trường hợp, nhiều kết luận không ch nh xác đã dẫn tới việc xét xử, định tội oan như việc giám định tỷ lệ thương t ch sai dẫn đến kết tội sai khung Chính vì vậy mà NBC phải xem x t, đánh

giá tình hình sử dụng quyền đưa yêu cầu của mình hợp lý là việc rất cần thiết

Để bảo đảm thực hiện quyền này của NBC, trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa phải giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt Đây là thủ tục bắt buộc không thể bỏ qua nhằm

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w