1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam

99 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu vai trò của NBC và mối quan hệ giữa NBC với người có BC trong TTHS, để từ đó làm bật lên tầm quan trọng của việc bảo đảm sự tham gia bắt buộc của NBC cho các bị can, bị cáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THỊ THU HƯƠNG

SỰ THAM GIA BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thái Phúc

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công tình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2009

Tác giả luận văn

Đào Thị Thu Hương

Trang 3

1 BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

2 BCVND : Bào chữa viên nhân dân

3 CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng

4 CQĐT : Cơ quan điều tra

5 LS : Luật sư

6 HĐXX : Hội đồng xét xử

7 NBC : Người bào chữa

8 NBTG : Người bị tạm giữ

9 NCTN : Người chưa thành niên

10 NĐDHP : Người đại diện hợp pháp

Trang 4

Trang

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5

6 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÀO CHỮA

VÀ SỰ THAM GIA BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG

1.1.3.2 Nhờ người khác bào chữa 23

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa quyền tự bào chữa và quyền nhờ người

1.2 Người bào chữa trong tố tụng hình sự 27

1.2.2 Vai trò của NBC trong tố tụng hình sự Việt Nam 33

1.2.3 Mối quan hệ giữa NBC và người có QBC 35

1.3 Sự tham gia bắt buộc của NBC trong tố tụng hình sự 39

1.3.1 Khái niệm sự tham gia bắt buộc của NBC 40

1.3.2 Cơ sở lý luận của chế định bào chữa bắt buộc trong tố tụng

1.3.3 Ý nghĩa của sự tham gia bắt buộc của NBC 49

1.3.4 Đối tượng của sự tham gia bắt buộc của NBC 52

Trang 5

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VỀ SỰ THAM GIA

BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 58

2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003

2.1.1 Số lượng vụ án có sự tham gia bắt buộc của NBC 58

2.1.2 Chất lượng các vụ án có sự tham gia bắt buộc của NBC 65

2.1.3 Những hạn chế, tồn tại trong việc áp dụng các quy định của bộ luật

TTHS 2003 về sự tham gia bắt buộc của NBC và nguyên nhân 70

2.1.3.1 Những hạn chế, tồn tại 70

2.2 Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa theo pháp luật

một số nước trên thế giới 87

2.2.1 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 87

2.2.5 Hàn Quốc 95

2.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia bắt buộc

2.3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về sự tham gia bắt buộc

2.3.2 Hoàn thiện cơ chế thực hiện 110

KẾT LUẬN 113

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động của người bào chữa (NBC) với sứ mệnh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bảo vệ công lý, công bằng xã hội được xem là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng

của hoạt động tư pháp Ở nước ta, xây dựng một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa

(XHCN) với đặc trưng là đề cao các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người,

là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà Nước ta đối với công cuộc cải cách tư pháp được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được nhấn mạnh trong các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”(sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị) và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” (sau đây

gọi tắt là Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị)

Quyền bào chữa (QBC) là quyền tố tụng cơ bản và quan trọng của công dân khi tham gia tố tụng hình sự (TTHS) với tư cách là người bị buộc tội Bảo đảm QBC của người bị buộc tội là một nguyên tắc hiến định được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp của nước ta và là một nguyên tắc đặc thù của Luật TTHS được quy định tại Điều

11 của BLTTHS 2003 Trong pháp luật TTHS, sự tham gia của NBC đóng vai trò rất quan trọng, NBC có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế XHCN và sự thật khách quan của vụ án Chính sự tham gia của NBC trong pháp luật TTHS sẽ tạo ra cơ chế phản biện giúp cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng (NTHTT) giải quyết vụ án chính xác hơn, khách quan hơn, góp phần bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

TTHS nước ta quy định những trường hợp bắt buộc sự tham gia của NBC chính

là một biểu hiện sinh động của việc đề cao quyền con người, vì con người Sự tham gia bắt buộc của NBC không chỉ là việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ sự thật khách quan của vụ án

Sự tham gia của NBC không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội đối với những trường hợp đặc biệt theo luật định không làm mất đi QBC của họ mà còn là sự bảo đảm bổ sung cho QBC của họ Quy định này là một biểu hiện của giá trị nhân văn cao nhất trong tiến trình lập pháp của Nhà nước ta

Tuy nhiên, hiện nay “chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin

Trang 7

của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp”1 Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự (VAHS) bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cả trong quy định của pháp luật lẫn trong thực tế áp dụng Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS Việt Nam một cách toàn diện và có

hệ thống là cấp thiết, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta Vì thế, tác giả chọn đề tài “Sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

QBC là một trong những vấn đề tiêu biểu và quan trọng của TTHS nên được nhiều nhà khoa học luật trên thế giới và trong nước quan tâm Các luật gia Xô-viết trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về QBC của người bị buộc tội như: Ph.N Phatkulin nghiên cứu về “Buộc tội và bào chữa trong vụ án hình sự”; E.G Martuntric

về “Bảo đảm QBC của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm”… Ở nước ta, có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này của các nhà khoa học và những người làm công tác nghiên cứu về pháp luật Trong đó cần phải kể đến sách chuyên khảo “Bảo đảm QBC của người bị buộc tội” của LS, PTS Phạm Hồng Hải; hay “vai trò của luật sư trong TTHS” của tác giả Nguyễn Văn Tuân, các luận án tiến sĩ như “thực hiện QBC của bị can, bị cáo trong TTHS” của Hoàng Thị Sơn và rất nhiều luận văn thạc sỹ cũng nghiên cứu về QBC của người bị buộc tội dưới nhiều góc độ khác nhau

Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu trên mới tập trung và đề cập chủ yếu đến chế định bào chữa và QBC, và NBC nói chung trong VAHS chứ chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu sự tham gia bắt buộc của NBC đối với nhóm đối tượng theo luật định và thực trạng của hoạt động này đã được thực thi như thế nào trong bối cảnh hiện nay Có một số bài viết của PGS TS Nguyễn Thái Phúc và các tác giả khác

đề cập đến vấn đề tham gia bắt buộc của NBC trên các tạp chí như kiểm sát, khoa học pháp lý, luật học, Nhà nước và pháp luật… nhưng cũng chỉ dừng ở mức độ phân tích một vài khía cạnh cụ thể của chế định về sự tham gia bắt buộc của NBC Vì vậy, việc nghiên cứu chế định về sự tham gia bắt buộc của NBC một cách hệ thống, toàn diện về

cả lý luận lẫn thực tiễn là cần thiết và không trùng lắp với bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Đề tài sẽ làm rõ một cách cơ bản những vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động bào chữa bắt buộc trong TTHS

1 Mục I, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ yêu cầu được đặt ra đối với đề tài là:

- Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về QBC nói chung của NBTG, bị can, bị cáo để làm rõ đặc thù của QBC và yêu cầu khách quan bảo đảm QBC của những người bị buộc tội trong TTHS

- Nghiên cứu vai trò của NBC và mối quan hệ giữa NBC với người có BC trong TTHS, để từ đó làm bật lên tầm quan trọng của việc bảo đảm sự tham gia bắt buộc của NBC cho các bị can, bị cáo theo luật định;

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về sự tham gia bắt buộc của NBC và ý nghĩa, đối tượng của sự tham gia bắt buộc của NBC;

- Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động bào chữa bắt buộc, làm sáng tỏ những hạn chế, tồn tại trong các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS 2003) về sự tham gia bắt buộc của NBC;

- Tìm hiểu, tham khảo kinh nghiệm về hoạt động bào chữa bắt buộc của một số nước trên thế giới;

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động bào chữa bắt buộc

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS Trong luận văn, tác giả sẽ đồng thời nghiên cứu, phân tích những quy định chung của pháp luật về QBC của NBTG, bị can, bị cáo để làm tiền đề cho việc đi sâu, làm rõ vấn đề lý luận về sự tham gia bắt buộc của NBC, nghiên cứu những mâu thuẫn, tồn tại, không thống nhất giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn để

từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định bào chữa bắt buộc trong TTHS

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá, so sánh những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS Việt Nam Vấn đề bảo đảm sự tham gia bắt buộc của NBC theo luật định

có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ của TTHS là không để lọt tội phạm nhưng không làm oan người vô tội đồng thời phản ánh đậm nét tính nhân văn của pháp luật TTHS

Để góp phần hoàn thiện chế định bào chữa bắt buộc, tác giả trình bày một số quan điểm cá nhân và kiến nghị Việc đưa ra những kiến nghị trên cơ sở phân tích, đánh giá, giải quyết mẫu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn và được xem là hậu quả tất yếu của việc hoàn thiện chế định bào chữa bắt buộc sao cho phù hợp với tiến trình dân chủ trong giai đoạn hiện nay của nước ta, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách tư pháp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để làm rõ nội dung nghiên cứu Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử để tiếp cận vấn đề về QBC và sự tham gia bắt buộc của NBC Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng để phân tích các quy định của BLTTHS 2003, chỉ ra những hạn chế, tồn tại của chúng và so sánh với yêu cầu cải cách tư pháp Phương pháp này cũng được vận dụng để tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của nước ngoài về sự tham gia bắt buộc của NBC Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đánh giá thực trạng hoạt động bào chữa bắt buộc và những kiến nghị để hoàn thiện chế định về sự tham gia bắt buộc của NBC Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, thăm dò, trao đổi ý kiến với các chuyên gia, những người làm công tác thực tiễn để tìm ra số liệu và đánh giá thực trạng của hoạt động bào chữa bắt buộc

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác, sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận về QBC và bào chữa bắt buộc, có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng, sửa đổi BLTTHS trong thời gian sắp tới

- Giá trị ứng dụng: Những kết luận, đề xuất của luận văn là kết quả nghiên cứu

có cơ sở lý luận và thực tiễn Vì vậy, các CQTHTT, NTHTT và những người tham gia tố tụng có thể khai thác, vận dụng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động bào chữa, góp phần vào việc thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp theo Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị

đã đề ra

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 02 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bào chữa và sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS 2003 về sự tham gia bắt buộc của NBC Một số kiến nghị

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÀO CHỮA VÀ

SỰ THAM GIA BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa

Quyền con người là một vấn đề có tính lịch sử rất lâu đời cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn Không một quốc gia nào được gọi là văn minh mà ở đó lại không tồn tại những nguyên tắc bảo vệ quyền con người vì “con người là vốn quý nhất trong tất cả các giá trị của xã hội… Cuộc cách mạng XHCN được tiến hành cũng chính là để giải phóng con người khỏi tình trạng vô dân chủ trước đây, đưa con người lên vị trí mới – người chủ của xã hội”2 Khả năng để con người thực hiện các quyền của mình là tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và văn minh của xã hội Chính vì thế mà cả Pháp và Mỹ, những quốc gia được đánh giá là văn minh, dân chủ sớm nhất trên thế giới, đều ghi nhận quyền con người trong bản tuyên ngôn của mình Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ ghi rằng: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Trong khi

đó, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng thừa nhận: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do

và bình đẳng về quyền lợi” Vì thế, chúng ta phải hiểu rằng quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại Nó vừa mang thuộc tính tự nhiên của con người vừa mang tính xã hội Nhà nước, nơi mà con người đang sống phải có trách nhiệm ghi nhận và đảm bảo quyền con người bằng các quy phạm pháp luật

Ở nước ta, quyền con người là một vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng “Đảng ta luôn luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”3

Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước hoạt động là vì con người, bảo đảm và thực hiện quyền con người, ngay từ ngày đầu thành lập (năm 1945), Nhà nước Việt Nam đã khẳng định những nội dung cơ bản về quyền con người; và những nội dung ấy được thể hiện nhất quán và ngày càng đầy đủ trong các bản Hiến Pháp của Nhà nước ta, từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm

1992 khẳng định:

2 Phạm Hồng Hải (1999), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 9

3 Nguyễn Phú Trọng (2009), “Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm và thực hiện quyền con người”, Người đại

biểu nhân dân ngày 01/03/2009

Trang 11

Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật; Nhà nước đảm bảo các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và

xã hội; Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật4

Nhà nước bảo đảm quyền con người thông qua việc quy định các quyền công dân của nước mình Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, quyền công dân

là nghĩa vụ của Nhà nước và ngược lại quyền của Nhà nước là nghĩa vụ của công dân Một trong những quyền công dân quan trọng là khi một công dân bị khởi tố bị can, bị truy tố ra tòa, Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm cho họ có khả năng được thực hiện những hành vi nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Đó chính là QBC của người bị buộc tội trong tố TTHS

QBC của bị can, bị cáo có một quá trình tồn tại lâu dài Nó xuất hiện từ thời La

Mã cổ đại, truyền qua các nước Châu Ầu và hiện nay phổ biến hầu hết trong pháp luật TTHS các nước trên thế giới Trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị

1966 mà Việt Nam đã gia nhập ngày 24/9/1982 đã đề cập đến QBC như sau: Bị cáo được tự bào chữa hoặc nhờ LS bào chữa do mình chọn, bị cáo phải được thông báo về quyền này, trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi thì phải bố trí cho bị cáo

LS bào chữa mà không phải trả tiền nếu như bị cáo không có phương tiện mướn LS (Điểm d Khoản 3 Điều 14) Đối chiếu quy định này với quy định của BLTTHS 2003 nước ta về QBC trong TTHS và trách nhiệm của các CQTHTT là rất phù hợp (Điều

Việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm QBC trong TTHS chẳng những thể hiện tính dân chủ mà còn thể hiện tính chất nhân đạo XHCN của hoạt động tư pháp trong XHCN – điều mà trong các xã hội bóc lột trước đây hoặc không thể có hoặc không thể nào thực hiện được trong thực tế

Nguyên tắc đảm bảo QBC của NBTG, bị can, bị cáo là nguyên tắc xuyên suốt quá trình TTHS Tất cả các nguyên tắc khác của TTHS đều gắn liền với nguyên tắc

4 Điều 50, 51, 52, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Trang 12

này Nó có ý nghĩa lớn lao đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG,

bị can, bị cáo và tìm ra sự thật của vụ án

Chính vì tầm quan trọng của chế định QBC mà cho đến nay mặc dù có rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề này, song vẫn còn nhiều điểm cần làm sáng tỏ về khái niệm, nội dung, đối tượng của QBC dưới góc độ lý luận và việc thực hiện quyền này như thế nào trong thực tiễn

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về QBC:

Quan điểm thứ nhất: Philip L Reichel cho rằng “QBC chỉ thuộc về về bị cáo và

bị cáo có quyền im lặng”5

Quan điểm thứ hai: Theo giáo sư M X Strôgôvích – nhà luật học người Nga

thì: “QBC là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can”6;

Cả hai quan điểm trên theo tôi là quá hẹp và không chính xác vì các quan điểm chỉ thừa nhận QBC thuộc về một chủ thể duy nhất hoặc là bị can, hoặc là bị cáo

“Trong TTHS, QBC xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và QBC thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội”7 Với quan điểm này thì QBC phải thuộc về cả bị can và

bị cáo Bị can, hay bị cáo chỉ là tên gọi của người bị buộc tội theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng cả bị can và bị cáo có một điểm chung là họ đang bị cáo buộc là thực hiện hành vi phạm tội nên họ bị các bên buộc tội đưa vào vòng tố tụng

Một người tham gia tố tụng với tư cách là bị can khi cơ quan có thẩm quyền có

đủ căn cứ xác định họ là người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm và ra quyết định khởi tố bị can đối với họ Trong TTHS, khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trước khi TA ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Giai đoạn tố tụng sau đó họ sẽ tham gia với tư cách là bị cáo

Trái ngược với hai quan điểm nêu trên, có tác giả lại xác định chủ thể của QBC quá rộng:

Quan điểm thứ ba: QBC không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người

bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, NBC, bị đơn dân sự và NĐDHP của họ8;

Việc cho rằng, QBC không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về “những công dân tham gia trong TTHS với tư cách khác” hoặc người bị kết án là hoàn toàn không chính xác vì nó dẫn đến việc đồng nhất khái niệm QBC trong TTHS với khái niệm quyền của công dân bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình

QBC với tư cách là một quyền tố tụng cơ bản của TTHS chỉ thuộc về những người bị buộc tội, tức là NBTG, bị can, bị cáo

8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1995), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của Luật tố tụng hình sự”,

Kỷ yếu đề tài khoa học, Hà Nội

Trang 13

Nhưng có quan điểm lại cho rằng “NBTG không thể coi là đối tượng bị buộc tội mà họ chỉ có thể trở thành đối tượng bị buộc tội nếu có đủ căn cứ để khởi tố họ với

tư cách là bị can”9 Tôi hoàn toàn không ủng hộ quan điểm này M.X.Xtrôgôvích đã viết : “Cơ sở coi một người là người bị tình nghi phạm tội là các dữ kiện khách quan

và không thể bắt giữ một người khi điều tra viên hoặc CQĐT “nghi” là họ phạm tội vì bản thân sự nghi ngờ mang tính chủ quan”10 Trước khi khởi tố bị can, NBTG được coi là nhân vật trung tâm của tố tụng, tất cả hành vi tố tụng của NTHTT và những người tham gia tố tụng khác đều hướng tới mục đích xác định NBTG có phải là người

đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không; nếu đúng thì hành vi đó có phải là tội phạm không Khi CQĐT cho rằng có đủ căn cứ tạm giữ thì sẽ ra quyết định tạm giữ Rõ ràng trong trường hợp này quyết định tạm giữ của CQĐT được coi là hành vi buộc tội đối với NBTG Quyết định tạm giữ làm phát sinh một số hậu quả pháp lý CQĐT phải nhanh chóng áp dụng các biện pháp do luật định như lấy lời khai của NBTG, làm rõ nhân thân của họ; trong thời hạn không quá 9 ngày phải thu thập các chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình là NBTG chính là người thực hiện hành vi phạm tội, còn NBTG được quyền biết lý do bị tạm giữ, được giải thích quyền

và nghĩa vụ, trình bày lời khai, đưa ra những yêu cầu, khiếu nại về việc tạm giữ và những quyết định khác có liên quan Dù chưa bị khởi tố để điều tra nhưng NBTG đã bị buộc tội mặc dù mức độ của sự buộc tội này khác mức độ buộc tội bằng các văn bản pháp lý có tính chất tố tụng như quyết định khởi tố bị can, cáo trạng, bản án buộc tội Hậu quả pháp lý của sự buộc tội đối với NBTG là họ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế TTHS là tạm giữ Vì thế, tôi đồng tình với LS Phạm Hồng Hải rằng “trong TTHS, sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và kết thúc khi TTHS kết thúc”11 Chính vì vậy mà BLTTHS năm

2003 đã có sự sửa đổi, bổ sung tiến bộ khi thừa nhận NBTG cũng có QBC (Điều 11, 48)

Từ phân tích trên có thể khẳng định, đối tượng bị buộc tội chỉ có thể là NBTG,

bị can, bị cáo, và vì thế, họ là những chủ thể của QBC Những người tham gia tố tụng khác không thể là chủ thể của QBC trong TTHS Điều 11 BLTTHS hiện hành quy định: “NBTG, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” là quy định tiến bộ, phù hợp với xu hướng xây dựng Nhà nước Pháp quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Với quy định như trên thì chủ thể QBC không những được

mở rộng mà BLTTHS nước ta còn cho phép NBC của NBTG, bị can, bị cáo được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội

QBC là một quyền tố tụng quan trọng, “là hình thức chủ đạo thực hiện chức năng bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo trong TTHS Các chủ thể này được sử dụng

9 Hoàng Thị Sơn (2000), “Về khái niệm QBC và việc đảm bảo QBC của bị can, bị cáo”, Luật học, (05), tr 41

10 M.X.Xtrôgôvích, Tlđd, tr 236

11 Phạm Hồng Hải, Tlđd, tr 27-28

Trang 14

tất cả những biện pháp mà pháp luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của CQĐT, VKS hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm của mình trong vụ án”12 QBC có vai trò như một cái trục xoay quanh các quyền như: quyền được nhận các quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra, cáo trạng; quyền khiếu nại các hoạt động và quyết định của CQĐT, VKS, TA; quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu; quyền được tham dự phiên tòa; quyền được nói lời sau cùng; quyền kháng cáo…

NBTG, bị can, bị cáo thực hiện QBC bằng cách tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình và ngay cả khi họ nhờ người khác bào chữa thì điều này không làm mất đi khả năng tự bào chữa của họ Bào chữa là một sự phản ứng tự nhiên khi con người bị gán tội, bị quy trách nhiệm Do vậy, bào chữa trong TTHS là một nhu cầu tất yếu, khách quan và tồn tại với tư cách là một chức năng xuất phát từ mục đích, nhiệm

vụ của TTHS đặt ra đối với tất cả các CQTHTT, NTHTT và những người tham gia tố tụng

Nhiệm vụ của TTHS đòi hỏi các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội (CQĐT, VKS) phải thực hiện việc buộc tội một cách khách quan, có căn cứ, hành vi phạm tội đến đâu buộc tội đến đó, lỗi thế nào thì buộc tội thế đó, phải làm rõ các tình tiết tăng nặng cũng như các tình tiết giảm nhẹ TNHS, các chứng cứ buộc tội cũng như chứng

cứ gỡ tội Chức năng buộc tội không thể thực hiện được nhiệm vụ này mà không cần đến chức năng bào chữa Và ngược lại, chức năng bào chữa không thể tự thân tồn tại

mà không có chức năng buộc tội Sự đấu tranh nhằm phủ định giữa hai chức năng này chính là động lực làm cho hoạt động TTHS vận động và phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và kết quả của sự phủ định giữa hai chức năng đối trọng này đương nhiên là sự phát triển và thay đổi về chất của VAHS: từ chỗ chưa xác định được

sự thật khách quan của vụ án đến chỗ sự thật đó được làm sáng tỏ; từ giả thiết ban đầu

là bị can, bị cáo là người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội đến khi có bản án khẳng định giả thiết đó là đúng, phù hợp với thực tế khách quan (bản án kết tội) hoặc giả thiết đó là sai, không đúng thực tế khách quan (bản án vô tội)13 Buộc tội mà không

có bào chữa sẽ dẫn đến hàng loạt hiện tượng tiêu cực và đương nhiên sẽ xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Buộc tội mà không có bào chữa làm cho TTHS trở nên vô dân chủ, khắc nghiệt Bào chữa mà không có sự buộc tội thì trở nên

vô nghĩa Vì thế, ở đâu có buộc tội thì ở đó phải có gỡ tội Và để giải quyết sự đấu tranh của hai hoạt động buộc tội và bào chữa, TTHS cần đến chức năng xét xử Như vậy, hoạt động xét xử là kết quả của sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập là: buộc tội và bào chữa

Nhờ có sự đối trọng, phản biện của QBC mà các CQĐT, VKS buộc phải xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, tránh làm oan người vô tội Trong

12 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2009), Bảo đảm quyền con người trong TTHS Việt Nam, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp bộ (Chủ nhiệm: PGS TS Nguyễn Thái Phúc), tr 127

13 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2009), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Tlđd, tr 126

Trang 15

mối tương quan giữa Nhà nước và công dân khi mà điều tra viên, kiểm sát viên được trao cho quyền lực Nhà nước để giải quyết vụ án, nếu những NTHTT này không có một cơ chế phản biện lại tất cả các hoạt động buộc tội của họ sẽ dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, vô dân chủ và làm oan người vô tội Trong bối cảnh đó, NBTG, bị can, bị cáo chỉ có một công cụ pháp lý duy nhất, đó là QBC, để bác bỏ lời buộc tội của CQĐT, VKS hoặc đưa ra lập luận để minh oan hoặc làm giảm nhẹ TNHS của mình QBC không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn

có lợi cho hoạt động tố tụng của chính các CQTHTT QBC của NBTG, bị can, bị cáo buộc CQĐT, VKS phải kiểm tra lại căn cứ buộc tội, nội dung buộc tội của mình Như vậy, QBC tồn tại trong TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can,

bị cáo cũng có nghĩa là chống lại sự buộc tội và ngược lại, khi chống lại sự buộc tội thì cũng có nghĩa là bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo

Nhận thức được ý nghĩa lớn lao của QBC nên các nhà lập pháp nước ta đặt ra các trường hợp bắt buộc sự tham gia của NBC Đây là những trường hợp mà Nhà nước nhận thấy họ ở vị thế bất lợi hơn các bị can, bị cáo khác do có nguy cơ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc nhất mà có thể tước đi quyền được sống của họ hoặc

đó là những bị can, bị cáo có tầm nhận thức hạn chế do chưa đủ tuổi thành niên hoặc

bị khuyết tật gây hạn chế khả năng bào chữa của họ, được quy định tại khoản 2 Điều

57 BLTTHS 2003 Việc đặt ra các trường hợp này vừa để bảo đảm QBC cho các đối tượng theo luật định vừa để buộc các CQTHTT cẩn trọng hơn trong đánh giá chứng cứ

và định tội Quy định này thể hiện bản chất nhân đạo, tôn trọng quyền con người của TTHS

Thừa nhận QBC cũng tức là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng Càng mở rộng QBC bao nhiêu thì càng mở rộng tính tranh tụng bấy nhiêu và kết quả tương ứng là càng hạn chế khả năng làm oan sai người vô tội trong xét xử

Vậy, QBC trong TTHS là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho

phép NBTG, bị can, bị cáo sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS

Để hiểu rõ QBC của người bị buộc tội, chúng ta phải xem xét QBC và chức năng bào chữa có đồng nhất với nhau không và chúng có mối quan hệ như thế nào với các chức năng khác của TTHS

1.1.2 Mối quan hệ giữa chức năng bào chữa và quyền bào chữa trong tố tụng hình sự

Theo lý luận chung thì chức năng là những phương hướng, phương diện hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu được đề ra Vậy, chức năng TTHS được hiểu là những hướng hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ của TTHS Đó là “phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và

xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, tổ

Trang 16

chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” (Điều 1 BLTTHS 2003)

TTHS đặc trưng bởi ba chức năng cơ bản, đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Trong đó chức năng buộc tội được xem là chức năng đóng vai trò chủ đạo, quyết định các chức năng khác vì sự tồn tại của chức năng buộc tội quyết định sự tồn tại của chức năng bào chữa và chức năng xét xử Tuy nhiên, khẳng định như trên không có nghĩa là chức năng bào chữa và chức năng xét xử đóng vai trò thứ yếu Cả ba chức năng đều đóng vai trò quan trọng trong TTHS, nhưng chức năng buộc tội là động lực đầu tiên làm xuất hiện các chức năng tố tụng khác, là đòn bẩy đưa bộ máy tố tụng vào hoạt động14

Chức năng buộc tội là “một dạng hoạt động nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm sự phán xử và hình phạt đối với người đó”15

Theo Điều 10 BLTTHS thì “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về CQTHTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Điều này không có nghĩa là tất cả các CQTHTT đều là chủ thể của chức năng buộc tội Cần phân biệt sự buộc tội như là một chức năng với sự buộc tội như là đối tượng của sự chứng minh Chức năng buộc tội chỉ do người buộc tội thực hiện, đó là CQĐT, VKS, bởi đơn giản là người buộc tội thì phải thực hiện sự buộc tội và sự buộc tội phải được chứng minh bởi người buộc tội Còn khi TA ra bản án kết tội chỉ là hình thức TA giải quyết vụ án và trong trường hợp này TA đồng tình với chứng cứ chứng minh của bên buộc tội đưa ra TA không phải là chủ thể của chức năng buộc tội, mà là chủ thể của chức năng xét xử

Chức năng buộc tội được thực hiện trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử Khi CQĐT ra quyết định khởi tố bị can, tức là CQĐT đã chuyển một người với tư cách là công dân vào tư cách người bị buộc tội CQĐT, điều tra viên đã đưa họ vào mối quan hệ tố tụng Tuy nhiên, buộc tội của CQĐT trong giai đoạn điều tra mới chỉ là

sự khẳng định về một giả thiết và có vai trò định hướng cho hoạt động điều tra tiếp theo, chưa phải là buộc tội trước cơ quan TA Chức năng buộc tội trong TTHS được thể hiện rõ nét tại phiên tòa sơ thẩm khi VKS với tư cách là một CQTHTT có đầy đủ quyền lực nhà nước buộc tội một cá nhân ra trước TA để truy cứu TNHS của người

14 Lê Tiến Châu (2003), “Một số vấn đề về chức năng buộc tội”, Khoa học pháp lý, (03)

15 Phạm Thị Thu Thanh (1997), Người bào chữa trong luật TTHS, Luận văn cao học, Viện nghiên cứu Nhà nước

và pháp luật, tr 14

Trang 17

quan hệ này mang tính biện chứng Không thể chỉ có chức năng buộc tội mà thiếu chức năng bào chữa, vì như thế sẽ dẫn đến một loạt các hiện tượng tiêu cực như kết tội oan sai do ngộ nhận, phiến diện, chủ quan, truy tố người vô tội, trừng phạt khắc nghiệt người vi phạm pháp luật Ngược lại, nếu bào chữa là chức năng duy nhất, không có chức năng buộc tội thì không cần bào chữa Do đó, sự tồn tại của hai chức năng này là một nhu cầu tất yếu khách quan để nâng cao hiệu quả của hoạt động TTHS, để đạt đến mục đích xác định chân lý khách quan của vụ án Chức năng bào chữa và chức năng buộc tội tồn tại trong TTHS như là sự tồn tại của hai mặt đối lập trong một thể thống nhất Hai chức năng này trong TTHS có mối quan hệ tương hỗ nhau để bảo đảm cho việc giải quyết VAHS một cách khách quan, đúng đắn nhất tại phiên tòa

“Nếu nhìn nhận chức năng bào chữa và chức năng buộc tội từ khía cạnh phương thức cụ thể tiến hành chức năng thì chúng ta thấy bào chữa là hậu quả còn buộc tội là nguyên nhân Chức năng bào chữa luôn được xây dựng với sự tính toán trước theo nội dung, giới hạn của sự buộc tội, theo đặc điểm hình thức và mức độ của

sự buộc tội đã đưa ra Cường độ bào chữa sẽ tùy thuộc vào cường độ buộc tội”16 Điều này cho thấy mối quan hệ hữu cơ và tính phụ thuộc bị chi phối của chức năng bào chữa trong quan hệ chức năng buộc tội vì buộc tội đến đâu thì bào chữa đến đó Các chức năng TTHS khác nhau được thực hiện bởi những chủ thể hoặc nhóm chủ thể khác nhau Mỗi chủ thể của từng chức năng tố tụng có các quyền và nghĩa vụ khác nhau: CQĐT, VKS thực hiện chức năng buộc tội; NBTG, bị can, bị cáo và NBC của

họ thực hiện chức năng bào chữa và TA thực hiện chức năng xét xử

Có quan điểm cho rằng chức năng bào chữa không chỉ thuộc về bên bào chữa

mà còn thuộc về cả bên buộc tội và cơ quan xét xử vì Điều 10 BLTTHS 2003 nêu:

CQĐT, VKS và TA phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định

sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ vô tội, những tình tiết tăng nặng

và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo

Điều này là không chính xác vì khi CQĐT, VKS muốn thực hiện việc buộc tội một đối tượng cụ thể, các cơ quan này phải xem xét toàn diện trong đó bao gồm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, hoặc các chứng cứ buộc tội và chứng cứ chứng minh bị can vô tội để họ có thể cân nhắc, đánh giá sự việc một cách khách quan, toàn diện, từ

đó mà việc buộc tội của họ mới đúng đắn Hoạt động chính của các cơ quan này vẫn là buộc tội, chứ không phải thực hiện chức năng bào chữa Còn TA, khi xét xử phải cân nhắc, xem xét, đánh giá tất cả mọi tình tiết, chứng cứ thì mới có thể ra một bản án công minh, đúng pháp luật

Vì vậy, mặc dù mỗi chức năng có những đặc điểm riêng nhưng cả ba chức năng này tồn tại một cách thống nhất và có tính tất yếu trong TTHS, chúng có tác dụng bổ trợ cho nhau Bào chữa mà không có buộc tội thì bào chữa trở nên vô nghĩa Bào chữa

16 Phạm Thị Thu Thanh, Tlđd, tr 30

Trang 18

mà không có xét xử thì không cần phải bào chữa Chức năng bào chữa chỉ tồn tại khi

có mục đích đó là có chức năng xét xử và điều kiện để có nó chính là chức năng buộc tội Chức năng bào chữa tồn tại như là điều kiện cần và đủ cho chức năng xét xử Chức năng bào chữa hạn chế sai sót của chức năng buộc tội, làm cho sự buộc tội khách quan hơn Do vậy, trong quan hệ với chức năng xét xử thì chức năng bào chữa đóng vai trò

là chức năng giúp đỡ và làm đối trọng của chức năng buộc tội Chúng ta có thể thấy ba chức năng này tồn tại trong TTHS như ba góc của một tam giác với hai góc ở đáy lần lượt là các chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, góc ở đỉnh là chức năng xét xử

và trọng tâm của tam giác đó chính là tội phạm17

Trong khi đó, QBC là quyền của người bị buộc tội thực hiện những hành vi tố tụng nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS QBC bao gồm hai bộ phận không thể tách rời nhau là quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa Khi người bị buộc tội thực hiện quyền này thì quyền còn lại không bị triệt tiêu hay tự mất đi

QBC là cơ sở cho mọi quyền tố tụng khác dành cho người bị buộc tội Chủ thể của QBC chỉ có thể là người bị buộc tội, tức là NBTG, bị can, bị cáo hay nói cách khác, QBC là quyền chủ thể của NBTG, bị can, bị cáo QBC tồn tại trong TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp hợp pháp cho chính bản thân người bị buộc tội nhưng đồng thời cũng là sự phản biện có lợi cho các CQTHTT để hạn chế những sai lầm, hạn chế oan sai trong hoạt động tố tụng của các cơ quan này

QBC là phương tiện pháp lý cần thiết để người bị buộc tội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, trước hết và cơ bản nhất thì chủ thể của QBC phải là chủ thể của chức năng bào chữa Với vũ khí là QBC được Nhà nước trao cho thì NBTG, bị can, bị cáo sử dụng nó để thực hiện chức năng bào chữa nhằm bác bỏ, chống lại sự buộc tội của bên buộc tội Khi bản thân NBTG, bị can, bị cáo nhận thấy bản thân mình không đủ điều kiện, trình độ, kiến thức để sử dụng quyền tự bào chữa thực hiện chức năng bào chữa một cách tốt nhất thì họ sẽ sử dụng quyền được nhờ người khác bào chữa để cùng mình thực hiện các hoạt động bào chữa Khi NBTG, bị can, bị cáo không mời, hoặc từ chối NBC thì không có nghĩa là việc bào chữa đã không còn, hay nói chính xác hơn là không có nghĩa chức năng bào chữa không thực hiện được QBC là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và vận động của chức năng bào chữa trong mối liên hệ với các chức năng khác của tố tụng Nếu NBTG, bị can, bị cáo không có QBC thì chức năng bào chữa sẽ không tồn tại trong TTHS Vì thế, khi NBTG, bị can, bị cáo sử dụng QBC là cách thức tiêu biểu nhất của việc thực hiện chức năng bào chữa, hay nói cách khác là chức năng bào chữa được thể hiện đậm nét thông qua việc NBTG, bị can, bị cáo thực hiện QBC

1.1.3 Các hình thức thực hiện quyền bào chữa

17 Phạm Thị Thu Thanh, Tlđd, tr 31

Trang 19

Tự bào chữa là một trong những hình thức thực hiện QBC của người bị buộc tội

và là nội dung quan trọng của QBC trong TTHS Pháp luật cho phép NBTG, bị can, bị cáo được tự mình thực hiện các hành vi tố tụng như đưa ra chứng cứ và những yêu cầu

có lợi cho mình khi tham gia tố tụng mà không nhất thiết phải có sự tham gia của NBC Vì thế, QBC của NBTG, bị can, bị cáo được thể chế hóa thông qua các quyền tố tụng của họ:

• NBTG có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ (Điều 48 BLTTHS 2003); bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì (Điều 49 BLTTHS 2003)

Quy định này là một biểu hiện công minh, dân chủ của pháp luật tố tụng Một người khi lâm vào tình trạng bị bắt giữ, bị khởi tố, họ cần phải biết nguyên do, căn cứ

và lý do tại sao họ rơi vào vòng tố tụng Nếu bị bắt giữ, bị khởi tố mà họ không phạm tội, họ có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh sự vô tội của họ Quy định này sẽ hạn chế tình trạng tùy tiện của CQĐT trong việc bắt giữ hoặc ra quyết định khởi tố bị can một cách thiếu căn cứ pháp luật Mặc dù quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can chưa khẳng định là họ có tội nhưng các quyết định này sẽ dẫn đến những hậu quả pháp

lý nhất định đối với họ Đó là họ bị hạn chế một phần tự do về thân thể nếu họ là NBTG; đối với bị can, họ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như tạm giam hoặc cũng có thể bị đình chỉ chức vụ mà họ đang đảm nhiệm Vì thế, việc ra quyết định tạm giữ hoặc khởi tố phải dựa trên các căn cứ xác thực, phải được cân nhắc thận trọng và sử dụng một cách khách quan

• Bị can có quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng và các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS (điểm g khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003)

Khởi tố bị can là một hình thức pháp lý trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định một người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm Quyết định này sẽ dẫn đến một số hậu quả pháp lý bất lợi đối với bị can như có thể bị đình chỉ chức vụ, công việc đang đảm nhận, bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hạn chế tự do cá nhân… Quyết định khởi tố

bị can là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền tiến hành những hành vi tố tụng tác động trực tiếp đối với bị can Quyết định này phải được cơ quan ra quyết định giao trực tiếp cho bị can, đồng thời phải giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 49 BLTTHS 2003 Việc giao các quyết định tố tụng phải được lập thành văn bản ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người giao quyết định, sau

đó người giao quyết định và bị can cùng ký tên vào biên bản Mặc dù BLTTHS 2003

đã quy định cụ thể về quyền được nhận các quyết định tố tụng nêu trên nhưng trong

Trang 20

thực tế vẫn còn những trường hợp bị can không được giao nhận các quyết định này

Cá biệt và khôi hài hơn là có bị can bị truy tố trước khi bị khởi tố, tức là bị can không

bị CQĐT ra quyết định khởi tố bị can, nhưng “bị can đã bị bắt tạm giam gần 5 năm, sau bốn lần ra tòa xét xử, thì CQTHTT mới sực nhớ: chưa khởi tố bị can”18

Một trường hợp khác vừa xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh thì CQTHTT ra quyết định khởi tố, truy tố, nhưng bị can “bị khởi tố, truy nã 15 năm mà … không hề hay biết”:

Lê Thị Minh Nguyệt, Phó giám đốc Xí nghiệp chế biến lâm sản Thanh Niên, đã lợi dụng chức vụ ký nhiều khế ước vay tiền của các hợp tác xã tín dụng Hành vi của Nguyệt bị cơ quan công tố cáo buộc tội “Tham ô tài sản”

Võ Minh Phụng, kế toán trưởng, cũng là người bị cáo buộc trong vụ án này do Phụng đã không thực hiện hết nhiệm vụ được giao, để cho Nguyệt thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, tại tòa hai bị cáo Lê Thị Minh Nguyệt và Võ Minh Phụng cho rằng, trong thời điểm vụ án được khởi tố, họ không hề nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can cũng như việc CQĐT ra lệnh truy

nã họ!

Trong suốt 15 năm, bà Nguyệt và ông Phụng vẫn có hộ khẩu tại Tp.Hồ Chí Minh Năm 1996, bà Nguyệt làm thủ tục chuyển khẩu từ Quận 10 sang Quận Phú Nhuận, sau đó còn được cấp hộ chiếu đi du lịch Còn ông Phụng vẫn làm lại được chứng minh nhân dân19

Trong vụ án này, rõ ràng các bị can không lẩn trốn, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan không hay biết việc hai người này bị khởi tố và bị truy nã Chúng ta chưa bàn đến hành vi của Lê Thị Minh Nguyệt và Võ Minh Phụng có cấu thành tội phạm hay không nhưng rõ ràng CQĐT thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm nghiêm trọng những quy định về quyền của bị can

Trong quá trình điều tra, khi có đủ chứng cứ xác định tội phạm và bị can là người thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố theo Điều 162 BLTTHS 2003 Bản kết luận điều tra phải được giao cho bị can Trong thời hạn luật định (20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)

kể từ ngày nhận được hồ sơ và bản kết luận điều tra, VKS phải ra một trong những quyết định sau: Truy tố bị can trước TA bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (khoản 1 Điều 166 BLTTHS) nếu VKS không gia hạn thêm thời hạn Bị can phải được nhận các quyết định này Bản cáo trạng là cơ

sở cho bị can chuẩn bị cho việc bào chữa

• NBTG, bị can có quyền khiếu nại các quyết định của CQĐT, VKS; khiếu nại đối với hoạt động của điều tra viên, kiểm sát viên (điểm e khoản 2 Điều 48; điểm h khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003); được quyền tham dự và tham gia một số hoạt động điều tra

18 Báo Tuổi Trẻ (11/8/2007), “Kỳ án Đặng Nam Trung: Quên khởi tố bị can”

19 http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=88473&ChannelID=12

Trang 21

như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, nhận dạng, được thông báo nội dung kết luận giám định (Điều 139, 150,153, 158 BLTTHS 2003)

Các quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, là cơ hội

để bị can trình bày trước CQĐT rõ hơn nữa về những tình tiết liên quan đến vụ án, giúp CQĐT nhận thức và xác định sự thật khách quan của vụ án một cách đầy đủ, toàn diện hơn hành vi phạm tội, giải quyết vụ án một cách chính xác, đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

• NBTG, bị can, bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm d khoản 2 Điều

48, và điểm đ khoản 2 Điều 49, 50 BLTTHS 2003)

Tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của NBTG, bị can, bị cáo không có nghĩa là dung túng, tạo cơ hội cho họ “chạy tội” mà thực chất là sự đề cao hoạt động xem xét, đánh giá và cọ xát chứng cứ chứng minh tội phạm Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các VAHS cho thấy, không ít trường hợp không tôn trọng quyền này của NBTG, bị can, bị cáo nên dẫn đến hậu quả làm oan người vô tội Mặc

dù BLTTHS đã quy định, điều tra viên, kiểm sát viên không được mớm cung, bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can nhưng trên thực tế những vi phạm trên vẫn liên tục xảy ra, đặc biệt đối với những trường hợp mà lời khai của NBTG, bị can, bị cáo không phù hợp với chứng cứ mà CQTHTT đã thu thập được Nếu NBTG, bị can,

bị cáo đưa ra chứng cứ mâu thuẫn với chứng cứ mà CQTHTT thu thập được thì họ cho rằng NBTG, bị can, bị cáo quanh co, ngoan cố, không thành khẩn

• Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch (điểm d, khoản 2 Điều 49, 50 BLTTHS 2003)

Việc giải quyết VAHS chỉ có thể tiến hành một cách khách quan khi điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thư ký phiên tòa, người giám định, người phiên dịch… công minh, vô tư và giỏi về chuyên môn Do vậy, để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, BLTTHS quy định bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch khi có căn cứ theo quy định của pháp luật

Bị cáo là người bị TA quyết định đưa ra xét xử Khi tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo trong VAHS, ngoài những quyền nêu trên, bị cáo còn có các quyền tố tụng sau:

• Bị cáo có quyền được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và được tham gia phiên tòa (điểm a, b khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003)

“Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo… chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa” (Điều 182) Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm QBC của bị cáo Nó giúp cho bị cáo chuẩn bị tốt hơn và chủ động bào chữa cho mình tại phiên tòa, tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền tố tụng một cách hiệu quả nhất

Tham gia phiên tòa xét xử mà chính mình là người bị buộc tội không chỉ là quyền mà còn là một vấn đề có tính nguyên tắc vì tại phiên tòa, bị cáo không chỉ trực

Trang 22

tiếp trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử (HĐXX), kiểm sát viên, NBC mà còn trực tiếp thanh minh và tự bào chữa cho mình Tại phiên tòa xét xử, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước TA được thể hiện một cách rõ nét, các chứng cứ được CQĐT thu thập được đánh giá công khai, bị cáo được trình bày ý kiến về bản cáo trạng, về tình tiết của vụ án, tranh luận bình đẳng với kiểm sát viên Do vậy, quyền tham gia phiên tòa của bị cáo là một quy định nhằm bảo đảm QBC nói chung và quyền tự bào chữa nói riêng của bị cáo Đây là một quyền tố tụng đặc trưng của bị cáo mà không ai

có thể làm thay cho bị cáo được

• Bị cáo có quyền được nói lời sau cùng trước khi nghị án; được trả tự do ngay tại phiên tòa trong những trường hợp luật định và được kháng cáo bản án và quyết định của TA (điểm h, i khoản 2 Điều 50, Điều 227 BLTTHS 2003)

Quyền nói lời sau cùng của bị cáo là sự bảo đảm quan trọng của pháp luật để bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa của mình Quyền nói lời sau cùng là quyền tố tụng đặc biệt, chỉ bị cáo mới có Những tình tiết do bị cáo đưa ra khi nói lời sau cùng có ý nghĩa pháp lý quan trọng và HĐXX cần phải đánh giá, xem xét và trong một số trường hợp nếu chúng có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án phải được giải quyết lại từ khâu xét hỏi tại phiên tòa Khi bị cáo nói lời sau cùng, không ai được đặt câu hỏi đối với bị cáo; bị cáo được tự mình trình bày những điều liên quan đến vụ án mà không bị hạn chế thời gian (Điều 220 BLTTHS 2003)

Là người bị buộc tội nhưng trong thực tế vì những lí do khác nhau mà bị can, bị cáo thường tự mình thực hiện QBC chứ không nhờ người khác bào chữa cho mình Trong thực tế, số vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện QBC của mình bằng hình thức tự bào chữa nhiều hơn gấp nhiều lần so với số vụ án có NBC tham gia Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp năm 2007, số vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện QBC của mình chiếm gần 80% so với tổng số vụ án mà các TA đã xét xử Hiện nay, bị can, bị cáo đã nhờ NBC nhiều hơn nhưng vẫn còn hạn chế và chưa phổ biến Nguyên nhân của tình trạng bị can, bị cáo không nhờ người khác bào chữa cho mình rất đa dạng:

Thứ nhất, nhân dân ta chưa có thói quen nhờ NBC và chưa thấy rõ được vai trò

của NBC trong các VAHS;

Thứ hai, nhiều người biết nhưng lại không có tiền hoặc sợ tốn kém nên không

mời NBC

Thứ ba, trình độ hiểu biết pháp luật của một số NBTG, bị can, bị cáo hiện nay

là quá thấp nên mặc dù được CQTHTT giải thích nhưng họ vẫn không hiểu Ngược lại, có trường hợp bị can, bị cáo không được CQTHTT giải thích một cách rõ ràng20

Thường những trường hợp bị can, bị cáo tự bào chữa thì chất lượng không cao Thậm chí có trường hợp bị kết tội oan nhưng họ vẫn cam chịu và không biết làm thế nào để có thể minh oan Trong những vụ án trên, nếu có sự tham gia của NBC thì chắc

20 Hoàng Thị Sơn (2002), “Thực trạng thực hiện quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa của bị

can, bị cáo”, Luật học (04), tr.45

Trang 23

chắn sẽ hạn chế việc hủy và sửa án, số bị cáo bị oan sai giảm, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ

1.1.3.2 Nhờ người khác bào chữa

Trong thực tiễn vì những lí do khác nhau nên không phải bất cứ NBTG, bị can,

bị cáo nào cũng có khả năng tự bào chữa một cách hiệu quả Do vậy, pháp luật tạo điều kiện để họ thực hiện QBC của mình bằng việc có thể nhờ người khác bào chữa Quyền nhờ người khác bào chữa là một trong những hình thức thực hiện QBC của NBTG, bị can, bị cáo thông qua sự giúp đỡ của những người được pháp luật quy định nhằm giúp cho NBTG, bị can, bị cáo thực hiện QBC của mình

Trong tương quan giữa nhà nước và người dân thực chất là các mối quan hệ không ngang bằng Nhà nước nắm quyền lực cai trị nên vì lợi ích tồn tại của chính mình, nhà nước sử dụng quyền lực Trong khi đó, người dân thường không có công cụ nào khác ngoài sử dụng luật pháp và dựa vào pháp luật Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khi các luật lệ ngày càng nhiều, càng tinh vi và phức tạp thì đa số người dân càng ít có điều kiện để am hiểu và sử dụng công cụ luật pháp21 Vì thế, người dân phải cần đến người trợ giúp pháp lý, và NBC chính là người có thể góp phần giúp người dân thực hiện QBC của mình khi họ rơi vào vòng tố tụng

Bên cạnh đó, quá trình đánh giá chứng cứ và xác định sự thật khách quan của

vụ án đều phải thông qua lăng kính chủ quan của con người nên việc đưa ra các kết luận, quyết định phụ thuộc vào trình độ, kiến thức, đạo đức, thói quen, tư duy pháp lý của những NTHTT Quyền nhờ người khác bào chữa là một kênh thông tin phản biện

và là cơ chế giám sát hiệu quả đối với các hoạt động tố tụng của NTHTT22

Vì thế, bảo đảm cho NBTG, bị can, bị cáo quyền được nhờ người khác bào chữa, nhất là đối với những bị can, bị cáo thuộc loại “đặc biệt” cần phải có sự tham gia bắt buộc của NBC theo quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều 57 BLTTHS có ý nghĩa

vô cùng quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Việc tham gia tố tụng của NBC sẽ góp phần vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo giúp CQTHTT giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện và đầy đủ

Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo với Quốc Hội "Nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên tòa, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư"23 Trong số

“20% số vụ án có LS tham gia” thì chiếm đa số là những vụ án thuộc trường hợp bắt buộc CQTHTT mời NBC tham gia Nguyên nhân là do số lượng LS còn rất thấp trong khi số vụ án nhiều Đa số LS tập trung tại các thành phố lớn như Tp HCM, Hà Nội… Hơn nữa, trình độ nhận thức pháp luật và khả năng hiểu biết để nhờ NBC của người dân còn kém, hoặc chưa tin cậy vào NBC, không đủ khả năng trang trải chi phí…

21 Phan Trung Hoài (2006), Hoàn thiện pháp luật về LS ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 15

22 Nguyễn Phạm Duy Trang (2007), Sự tham gia của NBC trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố VAHS, Luận

văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Tp HCM

23 http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/11/753203/

Trang 24

Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án có sự tham gia của NBC cho thấy

sự tham gia tố tụng của NBC đã thực sự mang lại những hiệu quả cho NBTG, bị can,

bị cáo Nó không mang tính hình thức như một số người vẫn thường nghĩ vì những lý

do sau:

Thứ nhất, trong số các vụ án mà có nhờ NBC tham gia có hơn 50% số vụ án mà

đề nghị của NBC được CQTHTT chấp nhận như đề nghị giảm mức hình phạt; đề nghị thay đổi tội danh nhẹ hơn; đề nghị tuyên bố vô tội; đề nghị miễn TNHS, miễn chấp hành hình phạt…24

Thứ hai, mặc dù còn những khó khăn nhất định nhưng sự tham gia của NBC đã

góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo, giúp CQĐT, VKS, TA giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy

đủ, tránh được việc chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội mà không xem xét chứng cứ gỡ tội cho bị can, bị cáo

Thứ ba, mặc dù chưa tới 20% số vụ án có NBC tham gia nhưng nhìn chung

việc tham gia tố tụng của NBC đã đáp ứng được yêu cầu bào chữa và đạt được kết quả đáng khích lệ; khắc phục được những vi phạm tố tụng; làm rõ sự thật khách quan, đảm bảo cho việc xét xử của TA được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; loại trừ dần tình trạng lạm quyền trong việc áp dụng pháp luật và củng cố niềm tin của nhân dân đối với CQTHTT hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền Sự tham gia của NBC trong các VAHS mặt khác còn giúp CQTHTT sửa chữa những thiếu xót, kịp thời quyết định đình chỉ điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung Trong nhiều vụ án, nhờ có sự tham gia tích cực và có chất lượng của NBC mà sự thật của vụ án làm sáng

tỏ, không ít bị cáo được TA tuyên không phạm tội; giảm nhẹ hình phạt, đổi tội danh nhẹ hơn…

Thứ tư, nhiều vụ án đã có đủ cơ sở pháp lý để kết tội bị can, bị cáo nhưng sự

tham gia của NBC tại phiên tòa cũng giúp cho HĐXX làm sáng tỏ thêm tính chất, động cơ, mục đích, nguyên nhân và hành vi phạm tội của bị cáo, giúp HĐXX xem xét, cân nhắc để ra một bản án công minh, đúng pháp luật, giúp bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, chấp hành bản án một cách tự giác, yên tâm cải tạo thành người tốt25

Quyền nhờ người khác bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù của NBTG, bị can, bị cáo Việc không ghi nhận hoặc không đảm bảo quyền được nhờ người khác bào chữa cho người bị buộc tội là vi phạm nghiêm trọng QBC Đảm bảo QBC nói chung, quyền nhờ người khác bào chữa nói riêng của người bị buộc tội là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả hoạt động TTHS, sâu xa hơn là nó thể hiện bản chất tốt đẹp của nhà nước pháp quyền Việt Nam

24 Theo số liệu thống kê của vụ Luật sư, tư vấn pháp luật - Bộ Tư pháp

25 Hoàng Thị Sơn (2002), “Thực trạng thực hiện quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo”, Luật học (04), tr.48

Trang 25

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa

Quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là hai nội dung của QBC, nó có tác dụng bổ sung cho nhau chứ không triệt tiêu lẫn nhau và cùng song song tồn tại Điều này có nghĩa là khi NBTG, bị can, bị cáo nhờ người khác bào chữa cho mình họ vẫn có quyền tự bào chữa và ngược lại, khi họ tự bào chữa thì họ cũng không mất đi quyền nhờ người khác bào chữa

Hình thức NBTG, bị can, bị cáo tự bào chữa được thực hiện với chất lượng bào chữa còn thấp hơn nhiều so với hình thức NBTG, bị can, bị cáo nhờ người khác bào chữa cho mình Bị can, bị cáo khi tự bào chữa thì mới chỉ dừng lại ở việc ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai báo; tự nhận thấy hành vi lối sống của mình là sai và chỉ yêu cầu được giảm hình phạt, được nhận sự khoan hồng từ phía Nhà nước và pháp luật NBTG, bị can, bị cáo nhìn chung không đủ năng lực, trình độ nhận thức pháp luật để

có thể tự mình đưa ra lời bào chữa thuyết phục; tự mình không có điều kiện để thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ để phục vụ cho việc bào chữa Mặt khác, trong bối cảnh là người bị buộc tội thì NBTG, bị can, bị cáo chịu áp lực tâm lý rất lớn, khó có thể thực hiện tốt quyền tự bào chữa Ngay cả ở những nước có trình độ dân trí cao, ý thức pháp luật cao thì quyền tự bào chữa cũng ít được người buộc tội sử dụng

Nhìn từ tính phức tạp của quá trình giải quyết VAHS gồm nhiều vấn đề pháp lý của luật nội dung và luật TTHS như hành vi bị truy tố có dấu hiệu tội phạm hay không, lỗi cố ý hay vô ý, chứng cứ của bên buộc tội có hợp pháp hay không… thì tự bào chữa là việc hết sức khó khăn Do vậy, bào chữa thông qua sự trợ giúp của người

có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng là hình thức phổ biến và chủ đạo26 Quyền có NBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền đặc biệt quan trọng, nhằm đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân, tránh sự xâm hại từ phía các

cơ quan công quyền Các quy định về quyền có NBC được quy định cụ thể trong các điều luật của BLTTHS 2003, đặc biệt ở các điều 11, 48, 49, 50, 56, 57, 58 Chính những quy định này không chỉ làm nổi bật vai trò của NBC trong các giai đoạn tố tụng

mà còn là những quy định bảo đảm QBC nói chung và quyền có NBC nói riêng của người bị buộc tội Trong quá trình hoạt động tố tụng khi có sự tham gia của NBC thì CQĐT, VKS, TA thường cẩn trọng hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, góp phần hạn chế được nhiều sai sót, phòng ngừa được các

vi phạm như mớm cung, bức cung, dùng nhục hình

Sự tham gia của những người có trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm về pháp luật và các hoạt động TTHS sẽ tạo ra thế cân bằng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Khi mà bên buộc tội là những cá nhân được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm về pháp luật lại là những người được nhân danh quyền lực nhà nước để buộc tội NBTG,

bị can, bị cáo, nếu người bị buộc tội không nhờ người khác bào chữa cho mình thì rõ ràng đây là một cuộc đấu tranh pháp lý không cân bằng Nói như thế, cũng không có

26 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Tlđd, tr 127

Trang 26

nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò người bị buộc tội tự bào chữa Trong TTHS hai quyền này tồn tại song song và tương hỗ cho nhau Có những quyền năng tố tụng mà chỉ có người bị buộc tội mới được sử dụng để tự bào chữa như: quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án, nhưng NBC cũng có những quyền và nghĩa vụ riêng được pháp luật TTHS quy định khi tham gia bào chữa cho người bị buộc tội Do vậy, quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau trong một tổng thể thống nhất các quyền tố tụng của người bị buộc tội, trong đó quyền nhờ người khác bào chữa đóng vai trò phổ biến và chủ đạo, tạo ra thế cân bằng giữa bên bào chữa và bên buộc tội

Tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là quyền chủ thể của người bị buộc tội NBTG, bị can, bị cáo sử dụng đồng thời hai quyền này sẽ nâng cao được sức mạnh tổng hợp để bác bỏ, chống lại sự buộc tội của bên buộc tội

1.2 Người bào chữa trong tố tụng hình sự

1.2.1 Khái niệm NBC

NBC là người tham gia TTHS theo quy định của pháp luật để đưa ra những chứng cứ, tình tiết xác định sự vô tội, hoặc làm giảm nhẹ TNHS của NBTG, bị can, bị cáo và giúp cho NBTG, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đồng thời thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

NBC chỉ là người tham gia TTHS Thuật ngữ tham gia nói lên tính chất, vai trò của NBC Họ chỉ là góp phần hoạt động của mình vào trong hoạt động tố tụng, họ không có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án

Trước hết phải khẳng định sự tham gia của NBC trong TTHS là cần thiết, khách quan Người bị buộc tội luôn ở trạng thái bị động, tâm lý hoang mang, lo sợ về

số phận pháp lý của mình Họ thường là những người bị hạn chế về kiến thức pháp luật, thiếu kinh nghiệm trong trong các hoạt động tố tụng Trong khi đó, bên buộc tội gồm các CQTHTT và NTHTT là những chủ thể được Nhà nước trao quyền lực, đủ thẩm quyền trong việc điều tra, truy tố, xét xử Bản thân các chủ thể này thường được đào tạo cơ bản, có kiến thức pháp luật, có chuyên môn, kinh nghiệm trong việc quy kết và xử lý tội phạm Như vậy, người bị buộc tội luôn ở vị thế bất lợi hơn so với bên buộc tội Vì thế, sự hiện diện của NBC để giúp đỡ cho người bị buộc tội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, tạo ra thế cân bằng trong TTHS27

Hiện nay, trong nhận thức và thực tiễn TTHS ở nước ta còn không ít người quan niệm các CQTHTT đều là cơ quan nhà nước của nhân dân (Công an nhân dân, VKSND, TAND không chỉ có nhiệm vụ buộc tội mà còn có trách nhiệm gỡ tội Vì thế,

sự có mặt của NBC làm mất thời gian, cản trở hoạt động tố tụng, nên đòi hỏi NBC là

27 Trần Văn Bảy (2000), Người bào chữa trong TTHS, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Tp Hồ

Chí Minh

Trang 27

“mang tư tưởng hình thức chủ nghĩa, pháp lý tư sản”28, không tin vào sự khách quan

vô tư của các CQTHTT

Quan niệm như trên là trái với quy định của pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, đi ngược với chiến lược cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị là “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với LS, NBC và những người tham gia tố tụng khác…” Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong TTHS không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm giúp khắc phục những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án

Cơ sở pháp lý để NBC tham gia vào TTHS chính là ý chí của người bị buộc tội Trong một số trường hợp luật định thì NBC tham gia vào TTHS theo yêu cầu của CQTHTT và được NBTG, bị can, bị cáo đồng ý (khoản 2 Điều 57 BLTTHS)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS thì NBC có thể là: LS; NĐDHP của NBTG, bị can, bị cáo; BCVND

“LS là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật”29 Như vậy, LS là NBC chuyên nghiệp

Hiện nay, do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân ta còn nhiều mặt hạn chế nên khi nói đến NBC là người ta nghĩ đến LS còn những người khác không phải là LS thì không được coi là NBC Có ý kiến đề nghị chỉ quy định LS mới là NBC, còn những người khác nếu bào chữa thì quyền và nghĩa vụ của họ như đối với LS, nhưng ý kiến này không được chấp nhận vì LS là khái niệm nghề nghiệp, còn NBC là khái niệm tố tụng Tuy nhiên, khi nói đến NBC, người ta thường nghĩ đến LS, vì LS là nhân vật trung tâm về hoạt động bào chữa30 Như vậy, LS và NBC không hoàn toàn đồng nhất với nhau

Theo quy định của pháp luật thì LS chỉ trở thành NBC khi họ tham gia tố tụng

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo NBC có thể là LS nhưng cũng

có thể không phải là LS Trong TTHS, nếu LS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của đương sự (khoản 1 Điều 59 BLTTHS 2003)

NĐDHP cho NBTG, bị can, bị cáo cũng có thể tham gia tố tụng với tư cách là NBC để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo BLTTHS nước ta chưa có quy định cụ thể ai là NĐDHP, mà chỉ có thể hiểu theo lẽ thông thường thì NĐDHP là những người thân thích của người bị buộc tội như cha mẹ, người giám hộ, anh chị em ruột đã thành niên… Vấn đề này BLTTHS của nước CHND Trung Hoa quy định cụ thể hơn: “NĐDHP của bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ

28 Nguyễn Thành Vĩnh (1990), LS với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nxb Pháp lý, Hà

Nội, tr 9

29 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình luật TTHS Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 135

30 Đinh Văn Quế (2007), Bình luận khoa học BLTTHS (xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm),

Nxb Tổng hợp Hồ Chí Minh, tr 107

Trang 28

đầu và người đại diện cơ quan, đoàn thể có trách nhiệm bảo lãnh” (Điều 58) Trong thực tế, rất hiếm trường hợp NĐDHP tham gia tố tụng với tư cách là NBC, nếu có thì

họ chỉ dừng ở mức độ làm rõ tình trạng nhân thân, hoàn cảnh của người bị buộc tội Pháp luật một số nước cũng quy định NĐDHP có thể tham gia bào chữa theo quyết định của TA nhưng chỉ khi có đủ hai điều kiện là: tham gia bào chữa cùng với luật sư

và phải có khả năng thực tế trợ giúp pháp lý cho bị cáo

Trong thực tiễn tố tụng ở nước ta, cũng đã có trường hợp NĐDHP tham gia TTHS với tư cách là NBC rất hiệu quả Đó là trường hợp của ông Nghiêm Xuân Tí ở Đồng Nai, một lão nông ra tòa bào chữa cho con:

Khi nghe tin đưa con trai thứ ba của mình bị tai nạn giao thông, ông vội vàng đến nơi xảy ra tai nạn và thấy con mình là một trong ba người nằm bất động bên lề đường Nhìn hiện trường, nghe lời kể của một số người chứng kiến, ông đinh ninh ai đó đã gây tai nạn cho con mình Nào ngờ chỉ sau vài ngày được ra viện, con ông bị bắt giam và bị khởi tố Tin con, và cảm thấy có nhiều điều tréo ngoe trong vụ án, ông lần tìm sách pháp lý và xin được bào chữa cho con Đề nghị của ông được chấp nhận Được chấp nhận làm NBC, ông vừa mừng vừa lo vì “sinh viên mất 4 năm mài mòn đũng quần ở giảng đường đại học, có thầy cô hướng dẫn cặn kẽ còn chưa xong, huống hồ tôi, lão nông gần

70 tuổi, không chút kiến thức pháp luật làm vốn” Nhưng tình thương đối với đứa con đang bị tạm giam đã giúp ông vượt qua khó khăn để bảo vệ con mình Ngoài việc đọc sách pháp luật, ông tìm hiểu thêm các kiến thức hóa học, toán học, rồi lên TA theo dõi các phiên tòa… Tại phiên tòa, những lý lẽ đầy căn cứ của ông bị HĐXX bác bỏ Ông nói “Nghe tòa giải thích dây đồng dính vào mâm điện của xe là vì trong đồng có vi lượng sắt, tôi choáng thật sự” Những chứng cứ mà ông đưa ra về việc vi phạm tố tụng trong hoạt động giám định, khám nghiệm hiện trường, về sự vô tội của con mình không được TA cấp sơ thẩm chấp nhận nhưng được TA cấp phúc thẩm xem xét31

Ngoài LS và NĐDHP của NBTG, bị can, bị cáo, BLTTHS 2003 còn quy định BCVND cũng có thể tham gia với tư cách là NBC Ở nước ta, trong một thời gian dài trước khi có pháp lệnh LS, BCVND đóng vai trò quan trọng và phổ biến trong việc bào chữa cho bị can, bị cáo Hiện nay, tên gọi BCVND chỉ còn tồn tại trong văn bản pháp lý, thực tiễn rất hiếm khi BCVND được mời hay cử để bào chữa cho bị can, bị cáo Hoạt động bào chữa của BCVND không phải là chuyên nghiệp mà chỉ mang tính chất nghiệp dư Theo quan điểm truyền thống thì BCVND là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho bị can, bị cáo32 Hiện nay, BLTTHS năm 2003 cũng

đã mở rộng phạm vi của người có thể trở thành BCVND tham gia TTHS với tư cách là NBC (khoản 2 Điều 57) Tuy nhiên, quy định này cũng chỉ mang tính hình thức vì trên thực tế người bị buộc tội chỉ mời hoặc CQTHTT chỉ cử LS làm NBC

31 http://vnexpress.net/SG/Phap-luat/2002/02/3B9B91CB/

32 Lê Kim Quế (1989), Những điều cần biết về điều tra, truy tố và xét xử, Nxb Pháp lý, Hà Nội

Trang 29

Trong bối cảnh hiện nay khi mà vẫn còn một số tỉnh đội ngũ luật sư còn hạn chế như Lai Châu, Sơn La… thì việc mở rộng phạm vi đối tượng có thể trở thành NBC

là cần thiết Để làm được điều này, Nhà nước cần phải ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc tham gia tố tụng của BCVND Theo đó, để một người tham gia tố tụng với tư cách là BCVND, họ cũng phải được quy định cụ thể như đối với LS nhưng họ không bắt buộc phải có trình độ tốt nghiệp đại học luật và tốt nghiệp khóa đào tạo LS, họ có thể là cán bộ, công chức Như vậy, có thể hiểu BCVND là bất cứ người nào có kiến thức pháp luật cần thiết, có khả năng bào chữa, tự nguyện đứng ra bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo và được CQTHTT chấp nhận Trong thực tế hiện nay, đã có một vài TA chấp nhận hội viên của Hội luật gia hoặc trợ giúp viên pháp lý tại các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tham gia bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo trong các VAHS Trong trường hợp này, hội viên của Hội luật gia hoặc các trợ giúp viên pháp lý phải được hiểu là BCVND chứ họ không thể là LS hay NĐDHP của bị can, bị cáo được

Pháp luật TTHS của một số nước cũng quy định về NBC như sau:

BLTTHS Nga quy định: “NBC có thể là LS hoặc đại diện của tổ chức công đoàn và tổ chức xã hội đối với thành viên của họ, hoặc những người khác trong những trường hợp do pháp luật quy định TA hoặc thẩm phán có thể quyết định công nhận NBC là người thân thích hoặc NĐDHP của bị can, bị cáo hoặc những người khác” (Điều 47);

BLTTHS Hàn Quốc quy định: “NBC phải là LS Trong trường hợp đặc biệt, trừ

TA tối cao, thì các TA khác có thể đồng ý cho việc cử người không phải là LS làm NBC” (Điều 34)

Tùy theo hoàn cảnh, yêu cầu cụ thể mà BLTTHS của các nước quy định những người tham gia tố tụng với tư cách là NBC trong TTHS có thể khác nhau

Để việc bào chữa được khách quan, hiệu quả, khoản 2 Điều 56 BLTTHS 2003 quy định những người sau đây không được bào chữa:

- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;

- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch

Người tham gia tố tụng với tư cách là NBC theo quy định của BLTTHS 2003 thì dù họ là LS, BCVND hay NĐDHP của NBTG, bị can, bị cáo đều phải được CQĐT, VKS hoặc TA chấp nhận Tùy theo từng giai đoạn tố tụng, trong thời hạn 3 ngày (đối với trường hợp bào chữa cho bị can, bị cáo) hoặc trong thời hạn 24 giờ (đối với trường hợp bào chữa cho NBTG), kể từ ngày nhận được đề nghị của NBC kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, CQĐT, VKS, TA phải xem xét, cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lí do (khoản 4 Điều 56 BLTTHS 2003)

Trang 30

Như vậy, để trở thành NBC trong TTHS cần có 2 điều kiện gồm điều kiện về chủ thể và điều kiện về hình thức Về chủ thể, họ phải là một trong những người được quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTHS 2003 Về hình thức, họ phải được NBTG, bị can, bị cáo hoặc NĐDHP của họ mời hoặc CQTHTT yêu cầu đoàn LS cử và họ phải được CQTHTT cấp giấy chứng nhận bào chữa theo quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS 2003

Khi đảm nhận vai trò là NBC thì NBC vừa là người giúp đỡ NBTG, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ vừa là người bảo vệ pháp luật Phạm vi giúp đỡ về mặt pháp lý của NBC bao gồm: tham gia các hoạt động

tố tụng, đại diện cho NBTG, bị can, bị cáo liên hệ với cơ quan công quyền, đệ đơn khiếu nại, đưa ra các chứng cứ, tình tiết để gỡ tội… NBC không đại diện cho cơ quan công quyền nên khi tham gia tố tụng họ có điều kiện giám sát khách quan hoạt động tố tụng, góp phần đấu tranh với những hành vi lạm quyền, tiêu cực từ phía các cơ quan

và NTHTT

Như vậy, khi tham gia với tư cách là NBC trong TTHS thì NBC có hai nhiệm

vụ chính Đó là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và bảo vệ pháp chế XHCN Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau Thực hiện cả hai nhiệm vụ này tức là NBC đã hướng đến mục tiêu của TTHS là điều tra, truy tố, xét xử

vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và lợi ích của công dân

1.2.2 Vai trò của NBC trong TTHS Việt Nam

Khi tham gia tố tụng, NBC không chỉ bảo vệ quyền lợi của NBTG, bị can, bị cáo mà họ còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ mật thiết với nhau Muốn bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo thì phải tôn trọng sự thật và tôn trọng pháp luật Ngược lại, muốn góp phần vào việc bảo vệ pháp chế XHCN thì phải làm tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của NBTG, bị can, bị cáo trên cơ sở của pháp luật

Đây là hai mặt của một vấn đề Khi NBC bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo thì cũng có nghĩa là bảo vệ pháp chế vì các quyền và lợi ích này do pháp luật quy định Trong TTHS, NBC phải luôn luôn chú ý đến cả hai nhiệm

vụ trên Nếu chỉ chú ý đến nhiệm vụ bảo vệ NBTG, bị can, bị cáo thôi thì dễ dẫn đến tình trạng ngụy biện Ngược lại, nếu chú ý đến việc bảo vệ pháp luật, pháp chế thì dễ biến mình thành người buộc tội đối với NBTG, bị can, bị cáo Như vậy, vai trò đặc trưng của NBC trong TTHS là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo với việc bảo vệ chân lý, tôn trọng pháp luật và pháp chế Khi xã hội thừa nhận tính tối cao của pháp luật thì NBC càng có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ đơn giản là bảo vệ NBTG, bị can, bị cáo mà còn phụng sự mục đích cao cả của hoạt động TTHS, đóng vai trò bổ trợ tư pháp quan trọng

Trang 31

Bằng hoạt động của mình, NBC giúp bị can, bị cáo thực hiện tốt hơn nữa quyền

và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật, đồng thời giúp CQTHTT giải quyết

và xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vai trò của NBC trong các giai đoạn khác nhau của TTHS nhìn chung có sự tương đồng Điều này được xác định bởi nhiệm vụ chung trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án là NBC vừa bảo vệ NBTG,

bị can, bị cáo vừa bảo vệ pháp luật, tức là bảo đảm việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Quá trình điều tra VAHS có những đặc thù riêng so với các hoạt động tố tụng khác Những đặc thù của giai đoạn này có ảnh hưởng, tác động nhất định đến hoạt động bào chữa Trong giai đoạn điều tra mặc dù không có sự cọ xát chứng cứ trực tiếp giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như tại phiên tòa xét xử nhưng sự tham gia của NBC đóng vai trò vô cùng quan trọng: NBC tập trung thời gian, công sức, trí tuệ để nghiên cứu, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của những quyết định, những biên bản

về hoạt động điều tra, kịp thời đưa ra những kiến nghị phù hợp như triệu tập thêm nhân chứng, hủy bỏ hoặc thay thế các biện pháp ngăn chặn… đặc biệt sự tham gia của NBC trong các buổi hỏi cung sẽ tạo tâm lý an tâm cho bị can, đồng thời khắc phục được hiện tượng bức cung, ép cung từ phía điều tra viên, và cũng tránh được tình trạng khi ra tòa bị cáo phản cung và đổ lỗi cho điều tra viên là đã bức cung, ép cung bị cáo… Bên cạnh đó, sự tham gia của NBC tạo cơ chế phản biện đối với các hoạt động điều tra của CQĐT, buộc các chủ thể tiến hành tố tụng phải thận trọng trong việc điều tra, thu thập chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Giai đoạn xét xử khác với các giai đoạn trước đó ở chỗ, nó xác định một cách dứt điểm bị cáo có tội hay không có tội và mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo Những sai lầm dù nhỏ nhất trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nếu không được phát hiện cũng có thể dẫn đến việc kết tội oan sai, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo Vì thế, NBC tham gia trong giai đoạn xét xử góp phần thiết thực vào việc giúp các CQTHTT xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo; giúp TA ra một bản án có căn cứ, hợp pháp và có sức thuyết phục

Trong mỗi giai đoạn của phiên tòa, sự có mặt của NBC luôn luôn là cần thiết đối với bị cáo Tuy nhiên, trong tất cả các giai đoạn đó thì phần tranh luận tại phiên tòa đóng vai trò quyết định việc bào chữa có đạt hiệu quả hay không Đây chính là đỉnh điểm của việc tranh tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án Phần tranh luận tại phiên tòa chủ yếu được thực hiện bởi đại diện VKS và NBC Việc tranh luận được bảo đảm bởi nguyên tắc bình đẳng giữa các bên (Điều 19 BLTTHS 2003) Theo đó, kiểm sát viên và NBC bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận Kiểm sát viên giữ chức năng buộc tội, NBC giữ chức năng bào chữa Hai chức năng này tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng thực sự cả hai cùng đi đến một mục tiêu là đạt được chân lý, sự thật của vụ án làm cho việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội,

Trang 32

đúng mức hình phạt Thông qua tranh luận, tính dân chủ của việc xét xử được phát huy giúp TA có đủ cơ sở để kết luận vụ án và ra bản án công minh

Sự buộc tội và bào chữa tồn tại song song từ khi quá trình tố tụng bắt đầu nhưng ở giai đoạn điều tra nó không thể hiện trực tiếp, công khai, chỉ ở giai đoạn tranh luận thì hai chức năng này bộc lộ định hướng sắc nét hơn Tại phần tranh luận, quan

hệ tranh tụng giữa kiểm sát viên và NBC ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành bản

án Các chứng cứ được cọ xát với nhau, mỗi bên đưa ra lập luận, luận cứ để làm bật lên sự thật khách quan của vụ án Trên cơ sở đó TA nhận định vụ án toàn diện, đầy đủ

để ra một bản án công minh, hợp lý, hợp tình

1.2.3 Mối quan hệ giữa NBC và người có quyền bào chữa

QBC trong TTHS chỉ thuộc về những người bị buộc tội, mà ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng đó là NBTG, bị can, bị cáo Trong thực tiễn, không phải bất cứ người bị buộc tội nào cũng có khả năng thực hiện được và thực hiện có hiệu quả QBC của mình Chính vì vậy, sự giúp đỡ về mặt pháp lý cho họ từ phía NBC là cần thiết,

Sự tham gia của NBC trong TTHS là nhằm đảm bảo cho nguyên tắc bảo đảm QBC của những người bị buộc tội (người có QBC) trong thực tế được thực hiện Đây không chỉ là nét dân chủ của luật TTHS XHCN mà đi xa hơn là nó đã tạo điều kiện cho TTHS đạt được những mục đích đặt ra, trong đó có mục đích bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Mối quan hệ giữa NBC và người có QBC chỉ xuất hiện ở một trong hai trường hợp:

- Người có QBC (hoặc NĐDHP của họ) mời NBC cho họ và được CQTHTT chấp nhận;

- CQTHTT yêu cầu Đoàn LS phân công văn phòng LS cử NBC hoặc đề nghị

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử NBC cho người bị buộc tội và được người này đồng ý

Như vậy, trong cả hai trường hợp nêu trên, ý chí của người bị buộc tội luôn là yếu tố quyết định có hay không có sự tham gia của NBC trong TTHS

Bản thân NBC không có lợi ích liên quan trong VAHS, sự tham gia của họ trong TTHS dù dưới hình thức được mời hay được cử thì vẫn nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Chính vì vậy, có thể khẳng định thực hiện công việc bào chữa cho người bị buộc tội là trách nhiệm, nghĩa vụ của NBC Trách nhiệm, nghĩa vụ này tồn tại trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người bị buộc tội (người mời hoặc đồng ý sau khi có sự chỉ định NBC từ phía các CQTHTT) và NBC (người được mời hoặc được chỉ định) Sự thỏa thuận giữa những người nói trên là một dạng của hợp đồng dân sự (hợp đồng dịch vụ pháp lý) và sự tham gia của NBC trong TTHS xuất phát từ hợp đồng này33

33 Phạm Hồng Hải (1995), “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà nước và

Pháp luật, (06), tr 22

Trang 33

Trong TTHS, cùng với người bị buộc tội, bị đơn dân sự và NBC hợp thành một bên, được gọi là bên bào chữa (bên gỡ tội) Mặc dù cũng là người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng mối quan hệ giữa NBC với người bị buộc tội không giống mối quan hệ giữa người bảo vệ quyền lợi của đương sự với bị đơn hoặc nguyên đơn dân sự trong tố tụng dân sự hoặc tố tụng kinh tế Người bảo vệ quyền lợi của đương sự nếu được đương sự ủy quyền thì họ có thể toàn quyền thay mặt đương sự (trừ những vụ án ly hôn hoặc hủy việc kết hôn trái pháp luật) quan

hệ với các cơ quan hữu quan giải quyết vụ việc, trong khi trong TTHS, NBC không được thay mặt người bị buộc tội mặc dù hành vi tố tụng của hai người này đều hướng đến mục tiêu giải quyết TNHS của bản thân người bị buộc tội Khai báo trước CQTHTT và NTHTT, nói lời sau cùng tại phiên tòa là quyền và nghĩa vụ riêng của người bị buộc tội và tiếp xúc, nghiên cứu hồ sơ vụ án lại là quyền riêng của NBC

NBC và người bị buộc tội đều là những người tham gia tố tụng nhưng địa vị pháp lý của họ khác nhau và giữa họ có mối quan hệ ràng buộc nhất định với nhau NBC xuất hiện trong tố tụng theo ý muốn của người có QBC và NBC cũng sẽ chấm dứt hoạt động của mình nếu như người có QBC muốn như vậy Trong phạm vi được pháp luật cho phép, NBC có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các hành vi tố tụng khác nhau nhằm bào chữa cho người bị buộc tội một cách có hiệu quả NBC không được từ chối bào chữa nếu không có những lí do chính đáng, bởi từ chối bào chữa chính là hành vi đơn phương hủy bỏ hợp đồng Trong trường hợp có lý do chính đáng để từ chối NBC, NBC phải thông báo cho người bị buộc tội và nêu rõ các lý do để người này có kế hoạch thực hiện QBC mà pháp luật đã dành cho họ

Hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vị trí của NBC trong TTHS Một số tác giả cho rằng “không thể coi NBC là người tham gia tố tụng độc lập” vì

“xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, người bị buộc tội có thể từ chối NBC ở bất kỳ giai đoạn nào của tố tụng nếu họ thấy sự tham gia của NBC không làm tốt hơn hoặc làm xấu đi tình trạng của họ”34 Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác lại khẳng định NBC là người tham gia tố tụng độc lập vì vị trí độc lập của NBC trong TTHS được xác định bằng các quy phạm pháp luật TTHS Những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho NBC khẳng định NBC là chủ thể độc lập của hoạt động TTHS35

NBC chỉ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo bằng những phương pháp và phương tiện hợp pháp chứ không phải bằng bất cứ biện pháp nào miễn là thỏa mãn yêu cầu của “khách hàng” Vì thế, theo chúng tôi, NBC là người tham gia tố tụng độc lập Tính chất tham gia tố tụng độc lập của NBC thể hiện qua các đặc điểm sau:

Một là, khi tham gia tố tụng NBC có quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định

Họ có nhiều quyền trong việc xuất trình và nghiên cứu chứng cứ Họ có quan hệ

34 Phạm Hồng Hải (1999), “Vị trí của LS bào chữa trong phiên tòa xét xử”, Luật học, (04), tr 13

35 Nguyễn Văn Tuân (2001), Vai trò của LS trong TTHS, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr 43

Trang 34

ngang bằng với người buộc tội Quyền và nghĩa vụ của NBC được pháp luật tố tụng quy định một cách rõ ràng và đầy đủ;

Hai là, trường hợp bị can, bị cáo là NCTN hoặc người có nhược điểm về thể

chất hay tâm thần thì NBC hoàn toàn độc lập không phụ thuộc vào ý kiến của bị can,

bị cáo miễn sao việc đó có lợi cho họ;

Ba là, NBC không chịu sự ràng buộc vô điều kiện với bị can, bị cáo vì không

phải khi đã nhận thù lao thì NBC phải làm bất cứ việc gì theo yêu cầu của NBTG, bị can, bị cáo

Bốn là, trong những trường hợp bắt buộc sự tham gia của NBC thì sự tham gia

tố tụng của NBC không phụ thuộc vào ý chí của NBTG, bị can, bị cáo mà phụ thuộc vào việc CQTHTT có mời NBC hay không

Trong thực tiễn không phải lúc nào người bị buộc tội cũng đồng tình với quan điểm bào chữa của NBC, mà có những tình huống xảy ra xung đột về quan điểm bào chữa giữa NBC với thân chủ của mình Có thể xảy ra các trường hợp sau:

- Trường hợp NBTG, bị can, bị cáo không nhận tội: Nếu sau khi nghiên cứu hồ

sơ, tình tiết vụ án và thu thập chứng cứ cho thấy rằng NBTG, bị can, bị cáo là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng họ vẫn không nhận tội thì NBC cũng không thể khuyên thân chủ của mình nên nhận tội vì như thế là trái với nguyên tắc suy đoán vô tội của TTHS và trái ngược với chức năng, đạo đức của NBC Ngược lại, NBC cũng không thể bằng mọi giá bào chữa cho bị can, bị cáo vô tội dẫn đến xuyên tạc sự thật và vi phạm pháp luật Trong trường hợp này, NBC nên tìm tất cả mọi lý lẽ, chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo nhằm làm giảm nhẹ tội, giảm nhẹ TNHS cho NBTG, bị can, bị cáo

- Trường hợp NBTG, bị can, bị cáo không phạm tội nhưng nhận tội: vì nhiều lý

do mà trong nhiều trường hợp, NBTG, bị can, bị cáo không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng lại nhận là mình gây ra như: Nhận tội thay cho người khác; Nhận tội nhẹ để che giấu tội nặng; Bị can, bị cáo nghĩ là mình phạm tội… Trong các trường hợp này, NBC có quyền đưa ra những chứng cứ bác bỏ lời nhận tội của bị can, bị cáo để chứng minh là họ vô tội mà không phải phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo có cần bào chữa vô tội hay không Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của BLTTHS 2003 là NBC vừa bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo vừa bảo vệ pháp luật và tôn trọng sự thật khách quan;

- Trường hợp NBTG, bị can, bị cáo nhận tội và có đủ chứng cứ chứng minh họ

đã phạm tội: Về lý luận, kết luận điều tra và cáo trạng truy tố bị can chỉ là cơ sở

để đưa vụ án ra xét xử trước TA chứ không phải là quyết định xác định bị can

có tội vì Điều 10 BLTTHS nêu rõ “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật” Về thực tiễn, khi NBTG, bị can, bị cáo nhận tội, CQTHTT cho rằng chứng cứ đã rõ ràng, đầy

đủ nên dễ dẫn đến tình trạng oan sai, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp

Trang 35

pháp của bị can, bị cáo Sự tham gia của NBC sẽ giúp CQTHTT nhận định vụ

án khách quan, toàn diện, từ đó mới có thể đưa ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong thực tiễn, dù tội phạm có nghiêm trọng ở mức độ nào, NBC cũng có thể tìm ra những tình tiết đề nghị TA xem xét và cân nhắc khi quyết định hình phạt

Mặc dù sự tham gia của NBC trong TTHS phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội nhưng NBC không bị ràng buộc vô điều kiện với ý chí của người bị buộc tội Trong thực tế, không phải lúc nào quan điểm của NBC và của người bị buộc tội cũng thống nhất với nhau Trong những trường hợp này, NBC nên cố gắng làm sáng tỏ những điểm yếu của sự buộc tội, những điểm còn nghi ngờ, những mâu thuẫn trong chứng cứ… nghĩa là sử dụng tất cả những gì hợp pháp và có lợi cho người bị buộc tội NBC không có quyền hành động có hại đến người mình đã nhận bào chữa, cũng không có quyền chuyển sang quan điểm của bên buộc tội, nhưng người có QBC không thể bắt NBC của mình hoạt động sai quy định của pháp luật và niềm tin nội tâm của NBC Một khi đã lựa chọn NBC hoặc đồng ý sự tham gia của họ thì người bị buộc tội không thể yêu cầu NBC chọn quan điểm mà NBC cho là không đúng và không hợp lý

Bên cạnh đó, sự tham gia của NBC có ý nghĩa vô cùng quan trọng về mặt xã hội NBC là chỗ dựa tinh thần của người bị buộc tội khi họ bị bước vào vòng tố tụng Với tinh thần trách nhiệm và niềm cảm thông sâu sắc, NBC có thể tạo cho người bị buộc tội niềm tin để nói lên sự thật hoặc những uẩn khúc đời tư của mình, từ đó NBC

sẽ thấy được nguyên nhân, mục đích, động cơ của hành vi phạm tội và tìm được biện pháp tốt nhất để bào chữa có hiệu quả

Mối quan hệ giữa NBC và người bị buộc tội xuất phát trên cơ sở thỏa thuận nhưng NBC phải vượt lên sự thỏa thuận đó để hoàn thành sứ mệnh cao cả là bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội36 Vì vậy, NBC tham gia tố tụng không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo

mà còn góp phần vào việc giúp cho CQTHTT xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, góp phần bảo vệ công lý

1.3 Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự

1.3.1 Khái niệm sự tham gia bắt buộc của NBC

NBC tham gia vào TTHS khi được NBTG, bị can, bị cáo mời hoặc do CQTHTT yêu cầu Thông thường sự tham gia của NBC phụ thuộc vào ý chí của NBTG, bị can, bị cáo Họ có thể trực tiếp mời hoặc ủy quyền cho người thân của mình mời NBC Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của NBC vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo Đó là các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 57 và khoản 2 Điều 305 BLTTHS 2003 khi các chủ thể này hoặc NĐDHP của họ không mời NBC thì các CQTHTT có nghĩa vụ yêu

36 Trần Văn Bảy (2000), Người bào chữa trong TTHS, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Tp Hồ

Chí Minh

Trang 36

cầu Đoàn LS phân công văn phòng LS cử NBC cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc cử NBC cho thành viên của tổ chức mình Trong lý luận gọi đây là trường hợp bào chữa bắt buộc, còn trong thực tiễn gọi là bào chữa chỉ định

Chế định bào chữa bắt buộc ra đời muộn hơn so với các quy định về QBC nói chung nhưng kể từ khi ra đời, nó vẫn ổn định và kế thừa Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là củng cố chính quyền Cách mạng, nên việc ban hành các văn bản pháp luật để ổn định các quan hệ xã hội chưa được quan tâm đúng mức Vì thế, QBC lúc này cũng chưa được coi trọng mà nó chỉ được đề cập thông qua quyền biện hộ của

LS (Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 quy định các LS có thể làm nhiệm vụ bào chữa tại tất cả các TA cấp tỉnh trở lên và trước các TA quân sự; Sắc lệnh số 13/SL quy định thành lập Đoàn thể LS và các LS có quyền biện hộ trước tất cả TA trừ TA sơ thẩm) Chỉ đến khi Hiến pháp năm 1946 ra đời thì QBC mới được ghi nhận như một nguyên tắc hiến định Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, một loạt các quy định về việc bảo đảm QBC cho bị cáo đã được ban hành, trong đó đáng chú ý nhất là Sắc lệnh

số 69/SL ngày 18/9/1949 cho phép bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là LS bênh vực cho mình trước TA Sắc lệnh này được xem như viên gạch đầu tiên của chế định bào chữa bắt buộc khi quy định rằng: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông chánh án có thể tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can cử ra NBC cho bị can”

“Người đứng ra bênh vực không được nhận tiền thù lao của bị can hay của thân nhân

bị can Người nào phạm vào điều này sẽ bị truy tố và trừng phạt như tội lừa đảo”37

Trên tinh thần “QBC của người bị cáo được đảm bảo” (khoản 2, Điều 101 Hiến pháp năm 1959), việc hoàn thiện các quy định về bào chữa bắt buộc tiếp tục được hoàn thiện thông qua thông tư số 2225-HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp:

TA cần chỉ định NBC cho bị cáo trong những vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn, những vụ án mà bị cáo là người có những nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà không thể tự bào chữa được và những vụ án mà bị cáo có thể bị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình Ngoài những trường hợp nói trên, TA không nhất thiết phải chỉ định NBC, nhưng nếu bị cáo thiết tha yêu cầu, thì cũng nên

cố gắng cử NBC cho bị cáo

Trong trường hợp bị cáo từ chối việc chỉ định NBC của TA, TA cần giải thích cho bị cáo hiểu rõ việc chỉ định NBC cho bị cáo là cần thiết, nhưng nếu bị

cáo vẫn không đồng ý thì tùy trường hợp, TA sẽ xét và quyết định (mục 6)

Quy định trên tiếp tục được khẳng định tại Điều 7 của Luật tổ chức TAND ngày 14/7/1960 Điều này thể hiện một bước tiến mới trên nền dân chủ Qua nhiều lần sửa đổi và pháp điển hóa, các quy định về QBC nói chung và chế định bào chữa bắt buộc nói riêng vẫn được kế thừa và phát triển Các thông tư số 06/TC ngày 09/9/1967

và thông tư số 16-TANDTC ngày 27/9/1974 của TAND tối cao tiếp tục ghi nhận và

37 Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Sắc lệnh số 69/SL ngày

18/9/1949 (Điều 2, Điều 3), Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

Trang 37

khẳng định QBC và quyền được bảo đảm sự tham gia bắt buộc của NBC cho bị cáo trong những trường hợp đặc biệt Đó là:

- Bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc phạt tử hình;

- Bị cáo là vị thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc về tinh thần;

- Vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn, có tính chất quan trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn trong dư luận của nhân dân

Tuy nhiên, tất cả các quy định trên về QBC nói chung và bào chữa bắt buộc nói riêng mới chỉ ghi nhận QBC của bị cáo Các quy phạm về địa vị pháp lý của bị can và việc bảo đảm QBC của bị can vẫn còn bỏ ngõ BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời năm 1988 đã khắc phục hạn chế trước đây khi thừa nhận QBC của cả bị can và bị cáo, đồng thời xác nhận trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền này thuộc các CQTHTT Kế thừa những quy định về QBC và bào chữa bắt buộc của BLTTHS năm 1988, BLTTHS hiện hành (năm 2003) tiếp tục ghi nhận QBC và bảo đảm QBC cho bị can, bị cáo, đồng thời mở rộng thêm chủ thể của QBC là NBTG

Theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc NĐDHP của họ không mời NBC thì CQĐT, VKS hoặc TA phải yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận

tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình:

- Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS;

- Bị can, bị cáo là người chưa thành niên (NCTN), người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Chương XXXII “Thủ tục tố tụng đối với NCTN” của BLTTHS hiện hành quy định CQĐT, VKS, TA phải yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho

bị can, bị cáo hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình nếu bị can, bị cáo không tự lựa chọn được NĐDHP của NBTG, bị can, bị cáo có thể lựa chọn NBC hoặc tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo” (Điều 305 BLTTHS 2003)

Chế định bào chữa bắt buộc ở tòa phúc thẩm đã được quy định trong pháp luật TTHS nước ta Trước khi có BLTTHS việc tiến hành xét xử phúc thẩm được áp dụng theo quy định của Thông tư 19/TATC ngày 2/10/1974 của TAND tối cao Trong đó có quy định sự có mặt của LS, BCVND là bắt buộc trong phiên tòa phúc thẩm đối với các

vụ án quan trọng hoặc vụ án chỉ định LS là bắt buộc; trong những trường hợp này nếu

LS vắng mặt thì TA phải hoãn phiên tòa

Quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 có thể hiểu là sự tham gia bắt buộc của NBC được áp dụng trong cả giai đoạn xét xử phúc thẩm Quy định sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS là bảo đảm bổ sung cho việc thực hiện QBC của bị can, bị cáo

Trang 38

Các trường hợp bào chữa bắt buộc trước hết người bị buộc tội phải được bảo đảm đầy đủ QBC như tất cả các bị can, bị cáo khác, tức là họ vẫn có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa, và các CQTHTT phải bảo đảm cho họ được thực hiện quyền này Tuy nhiên, sự tham gia của NBC trong các trường hợp bào chữa bắt buộc có những điểm khác biệt so với trường hợp thông thường ở những điểm sau:

- Cơ sở pháp lý đầu tiên để NBC tham gia vào vụ án là sự chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm QBC của bị can, bị cáo từ phía các CQTHTT bằng cách yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn LS hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử NBC;

- Quyết định quản lý của Đoàn LS hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc là cơ sở pháp

lý tiếp theo để NBC tham gia vào vụ án chứ không phải là sự thỏa thuận giữa bị can, bị cáo và NBC;

- Bị can, bị cáo là NCTN hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối NBC đã được cử nhưng quyền này không có tính tuyệt đối Thí dụ nếu chỉ có bị cáo là NCTN từ chối NBC còn NĐDHP không từ chối thì TA vẫn tiến hành xét xử với sự tham gia của NBC

đã được cử;

- Chi phí cho NBC do Nhà nước thanh toán38

Sự tham gia bắt buộc của NBC là quy định tiến bộ và đầy tính nhân đạo của BLTTHS Quy định này trước hết là xuất phát từ lợi ích của bị can, bị cáo Sự tham gia của NBC vào vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo như là “sự nhân đôi bảo đảm QBC cho họ”39 Vì thế, nên chăng Nhà nước cần luật hóa việc hạn chế quyền chủ thể của tất cả các đối tượng thuộc trường hợp bào chữa bắt buộc vì các đối tượng này là những người ở trong tình thế khó khăn, bất lợi hơn các bị can, bị cáo khác do phải đối mặt với điều luật có mức hình phạt nghiêm khắc nhất; khó khăn về thể chất, tâm thần Việc hạn chế quyền chủ thể của bị can, bị cáo trong các trường hợp bào chữa bắt buộc không làm mất đi QBC của họ mà là sự bảo đảm bổ sung QBC Sự tham gia của NBC trong các trường hợp này không chỉ cần thiết cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo mà còn cần thiết và có lợi cho các CQTHTT, cho nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án, cho việc xét xử đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội

Một số điều tra viên cho rằng yêu cầu của pháp luật về việc bắt buộc có NBC chỉ có thể thực hiện bằng cách yêu cầu Đoàn LS cử NBC và không giải thích cho bị can biết quyền tố tụng của họ trong đó có quyền mời NBC Đôi khi sự giải thích đó được tiến hành một cách hình thức và không kịp thời, thực chất là làm mất khả năng của bị can mời NBC theo mong muốn của mình Điều 57 BLTTHS 2003 nhấn mạnh là trong các trường hợp bắt buộc có sự tham gia của NBC thì trước tiên là bị can, bị cáo

có quyền mời NBC Nếu họ không sử dụng quyền đó thì CQĐT, VKS, TA phải mời NBC cho họ

38 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2009), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Tlđd, tr.138

39 Nguyễn Thái Phúc (2009), “Bàn về sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS”, Kiểm sát, (01), tr 45

Trang 39

Mặc dù sự tham gia của NBC trong bất kỳ trường hợp nào cũng cho thấy là không chỉ có lợi cho thân chủ của NBC mà còn có lợi cho chính các CQTHTT nhưng thực tế giải quyết vụ án cho thấy các CQĐT vẫn ngại sự tham gia của NBC, ngay cả với những trường hợp luật định về bào chữa bắt buộc vì nhiều nguyên nhân

Bảo đảm QBC là nguyên tắc của TTHS và các CQTHTT phải có nghĩa vụ bảo đảm cho QBC của NBTG, bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế Đối với các trường hợp bào chữa bắt buộc, khi bị can, bị cáo không mời NBC thì CQTHTT phải

có nghĩa vụ cử NBC cho họ Khi đã là nghĩa vụ do luật định thì CQTHTT phải tuân thủ, phải thực hiện, không có lựa chọn nào khác Các hoạt động tố tụng không theo đúng luật định sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Và tất nhiên, nếu các

cơ quan này không tuân thủ theo luật định thì phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay còn gọi là chế tài

Chế tài ở đây là những gì mà các cơ quan này đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án sẽ không được thừa nhận là hợp pháp: hồ sơ vụ án bị trả lại trong các giai đoạn trước xét xử và bản án đã xử có thể bị hủy Các hoạt động tố tụng phải thực hiện bổ sung hoặc thực hiện lại theo đúng quy định của luật Cụ thể tại các điều 168, 179, 250, 287 BLTTHS 2003 quy định khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì VKS có quyền trả hồ sơ cho CQĐT, thẩm phán có quyền trả hồ sơ cho VKS, TA cấp phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ớ cấp sơ thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm có quyền hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để để điều tra hoặc xét xử lại Chỉ có như vậy thì các quy định của luật mới được tuân thủ Một khi điều tra viên nhận thức được rằng nếu không bảo đảm sự tham gia của NBC theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 thì hồ sơ sẽ bị VKS hoặc TA trả lại và mọi việc phải làm lại theo đúng luật thì người đó sẽ chọn phương án tối ưu là thực hiện theo đúng yêu cầu của luật ngay từ đầu40

Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng các vụ án bào chữa bắt buộc thường đạt hiệu quả tranh tụng không cao, nếu không muốn nói là hầu như không có tranh tụng Việc bào chữa đôi khi trở nên hình thức Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chính

là chi phí cho NBC chưa tương xứng với khối lượng công việc mà họ phải thực hiện

và đạo đức nghề nghiệp của NBC Do vậy, để quy định tiến bộ và nhân đạo của luật đi vào thực tiễn mà không là hình thức thì chúng ta phải giải quyết được hai vấn đề nêu trên

Như vậy, sự tham gia bắt buộc của NBC là việc CQTHTT và NTHTT phải

bảo đảm cho người bị buộc tội theo luật định có NBC trong mọi giai đoạn tố tụng

1.3.2 Cơ sở lý luận của chế định về sự tham gia bắt buộc của NBC trong luật TTHS

Việt Nam

40 Nguyễn Thái Phúc (2009), “Bàn về sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS”, Kiểm sát, (01), tr.48

Trang 40

Nhà nước với vị trí trung tâm của hệ thống chính trị phải luôn luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con người được thực hiện trong thực tế Quyền con người chỉ có thể trở thành hiện thực khi nó được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các chế định pháp

lý Để thực hiện điều đó, Nhà nước cần có những biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật, không cho phép bất cứ người nào vì bất kỳ lý do gì mà xâm phạm đến quyền lợi của người khác Đồng thời Nhà nước cũng không có quyền tước

bỏ quyền cơ bản của công dân một cách vô căn cứ Để đảm bảo quyền con người và quyền công dân trên thực tế, Nhà nước phải có một hệ thống những chế tài bắt buộc áp dụng đối với những công dân vi phạm41 Trong các hệ thống chế tài đó, chế tài hình sự

là một trong những loại chế tài nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với những người

có hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đến mức phải truy cứu TNHS Tuy nhiên, để buộc tội và truy cứu TNHS đối với một người phải có những căn cứ nhất định theo quy định của pháp luật và phải do người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Các Mác đã nói: “Dưới con mắt của

kẻ phạm tội sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó”42

Tuy nhiên, quá trình đánh giá chứng cứ và xác định sự thật của vụ án đều phải thông qua lăng kính chủ quan của con người nên việc đưa ra các kết luận, các quyết định trong tiến trình tố tụng phụ thuộc vào trình độ, kiến thức, đạo đức, thói quen tư duy pháp lý của những NTHTT

Xuất phát từ tinh thần nhân đạo vì muốn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, của người bị buộc tội nói riêng, đồng thời để đạt được chân lý khách quan của vụ án, không làm oan người vô tội, Luật đã đề ra những trường hợp được bảo đảm sự bắt buộc tham gia của NBC theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003

Trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự thì tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất vì hình phạt này sẽ tước đi sinh mạng và sự sống của một con người ra khỏi

xã hội và chỉ áp dụng đối với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà khả năng cải tạo, đưa họ trở lại cuộc sống lương thiện khó có thể đạt được

Hình phạt tử hình có đặc điểm khác với các loại hình phạt khác là khi đã thi hành, không có cách nào có thể khắc phục được Những phát hiện sau đó có vi phạm thủ tục tố tụng hay những tình tiết mới sau khi bản án tuyên tử hình đã có hiệu lực pháp luật và bản án đã được thi hành thì mọi nỗ lực cố gắng cũng trở nên vô nghĩa Vì vậy, bất cứ một sơ suất nào trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc sự tham gia không tích cực của NBC đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với người bị kết án Do vậy, sự tham gia của NBC đối với những vụ án này là bắt buộc NBC góp phần vào việc đưa ra một bản án công minh43 Trong thực tế, không hiếm các trường hợp bị can, bị cáo bị truy tố theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử

41 Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện QBC của bị can, bị cáo trong TTHS, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật

Hà Nội, tr 15

42 C.Mác – Ph Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội

43 Nguyễn Văn Tuân (2001), Vai trò của LS trong TTHS, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr 30

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
33. Bộ Tư pháp (2001), Tài liệu triển khai pháp lệnh LS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu triển khai pháp lệnh LS
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2001
35. Lê Tiến Châu (2003), “Một số vấn đề về chức năng buộc tội”, Khoa học pháp lý, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chức năng buộc tội”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2003
36. C.Mác – Ph. Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ph. Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1978
37. Nguyễn Tiến Đạm (2004), “Quyền lựa chọn người bào chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên phạm tội”, Dân chủ & Pháp luật, 7(148) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lựa chọn người bào chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên phạm tội”, "Dân chủ & Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạm
Năm: 2004
38. Vũ Đức Khiển, Phạm Xuân Chiến (1989), Họ vẫn chưa bị coi là có tội (Tìm hiểu BLTTHS), NXB Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ vẫn chưa bị coi là có tội (Tìm hiểu BLTTHS)
Tác giả: Vũ Đức Khiển, Phạm Xuân Chiến
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1989
39. Phạm Hồng Hải (1995), “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam”, "Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1995
40. Phạm Hồng Hải (1999), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
41. Phạm Hồng Hải (1999), “Vị trí của LS bào chữa trong phiên tòa xét xử”, Luật học, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của LS bào chữa trong phiên tòa xét xử”, "Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
42. Phan Trung Hoài (2006), Hoàn thiện pháp luật về LS ở Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về LS ở Việt Nam
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
43. Nguyễn Huy Hoàn (2004), “Bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa cho bị can trong hoạt động TTHS”, Dân chủ và pháp luật, 10 (151) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa cho bị can trong hoạt động TTHS”, "Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàn
Năm: 2004
44. Phạm Quốc Hùng (18/8/1998), “Những rào cản khi hành nghề LS”, Pháp luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rào cản khi hành nghề LS”, "Pháp luật TP
45. Nguyễn Duy Hưng (2004), “Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2003”, Khoa học pháp lý, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2003”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Duy Hưng
Năm: 2004
46. Vũ Thành Long (2004), “Lý do chính đáng để LS từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo”, Dân chủ & Pháp luật, 11 (152) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý do chính đáng để LS từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo”, "Dân chủ & Pháp luật
Tác giả: Vũ Thành Long
Năm: 2004
48. An Nhiên (2002), “Không vào từ giai đoạn điều tra thì khó cãi tốt”, Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không vào từ giai đoạn điều tra thì khó cãi tốt”, "Pháp luật TP. "Hồ Chí Minh
Tác giả: An Nhiên
Năm: 2002
49. Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh (19/6/2006), “Bị kết án tử hình, 26 năm sau mới được giải” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bị kết án tử hình, 26 năm sau mới được giải
50. Pháp luật TP. Hồ Chí Minh (09/5/2007), “Vụ bị cáo hai lần được tuyên trắng án: Lại được tòa minh oan!” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ bị cáo hai lần được tuyên trắng án: Lại được tòa minh oan
51. Hoàng Thị Sơn (2000), “Về khái niệm QBC và việc đảm bảo QBC của bị can, bị cáo”, Luật học, (05) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm QBC và việc đảm bảo QBC của bị can, bị cáo”, "Luật học
Tác giả: Hoàng Thị Sơn
Năm: 2000
52. Hoàng Thị Sơn (2002), “Thực trạng thực hiện quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo”, Luật học, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thực hiện quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo”, "Luật học
Tác giả: Hoàng Thị Sơn
Năm: 2002
53. Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện QBC của bị can, bị cáo trong TTHS, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện QBC của bị can, bị cáo trong TTHS
Tác giả: Hoàng Thị Sơn
Năm: 2003
54. Nguyễn Thái Phúc (2009), “Bàn về sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS”, Kiểm sát, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS”, "Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w