1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

người bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn

85 1,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 280 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ba, ngời bào chữa chỉ có thể tham gia tố tụng khi đáp ứng đủ các điều Không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia tố tụng hình sự với t cách là ngờibào chữa vì theo qui định của BLTTHS hiệ

Trang 1

Lời nói đầu

Quyền bào chữa là một quyền dân chủ trọng yếu của công dân Để đảm bảocho ngời bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền bào chữa củamình thì cần thiết phải cho phép họ đợc nhờ ngời khác bào chữa cho họ Chính vìvậy mà ngay sau khi Chính quyền cách mạng đợc thành lập, ngày 10/10/1945 Chủtịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 46/SL trong đó qui định tạm thời duy trì các

tổ chức luật s của chế độ cũ nhằm kịp thời bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bịbuộc tội Và ngay cả trong những giai đoạn đất nớc phải trải qua cuộc khángchiến khốc liệt Nhà nớc ta vẫn luôn quan tâm tới việc duy trì các tổ chức luật s,bào chữa viên nhân dân để làm nhiệm vụ bào chữa và bảo vệ quyền lợi cho ngời bịbuộc tội Tuy rằng phải đến khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 đợcban hành thì vị trí, vai trò của ngời bào chữa mới chính thức đợc ghi nhận về mặtlập pháp, nhng lịch sử tố tụng hình sự của nhà nớc ta nói riêng và trên thế giới nóichung đã khẳng định vai trò to lớn của ngời bào chữa đối với việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân cũng nh đối với việc bảo đảm dân chủ trong hoạt

động tố tụng hình sự và quá trình giải quyết vụ án hình sự Và có thể khẳng địnhrằng các thế hệ ngời Việt Nam trớc đây cũng nh ở hiện tại và trong tơng lai sẽkhông thể quên vụ án Tống Văn Sơ (Nguyễn ái Quốc) ở Hồng Kông năm 1931với sự giúp đỡ của luật s F.H Loseby và các cộng sự của ông

Tuy vậy trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam trớc đây cũng nh hiện nayvẫn tồn tại những đánh giá sai lệch về vai trò của ngời bào chữa trong tố tụng hình

sự Nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật tố tụng cha tạo cho ngời bào chữa mộtcơ sở pháp lý cần thiết để họ phát huy vai trò của mình Và khi đó sự cho phép ng-

ời bị buộc tội quyền đợc nhờ ngời khác bào chữa sẽ trở thành vô nghĩa, có chăngthì chỉ là sự thể hiện tính dân chủ về hình thức Xuất phát từ sự nhìn nhận mộtcách đúng đắn về vai trò của ngời bào chữa và với chủ trơng nâng cao chất lợngtranh tụng tại phiên toà cũng nh nâng cao chất lợng của hoạt động tố tụng hình sự,Nhà nớc ta đã chủ trơng tạo điều kiện thuận lợi để ngời bào chữa phát huy vai tròcủa mình Chủ trơng đó đã đợc thể chế thông qua các qui định trong BLTTHSnăm 2003 về ngời bào chữa

Để có thể đa ra nhận xét, đánh giá về giá trị thực tiễn của các qui địnhtrong BLTTHS năm 2003 về ngời bào chữa, từ đó đa ra các ý kiến đóng góp vàoquá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng thì nhất thiết phải có sự nghiên cứu mộtcách kỹ lỡng những vấn đề lý luận chung về ngời bào chữa, thực tiễn hoạt động

1

Trang 2

của ngời bào chữa cũng nh các qui định của pháp luật tố tụng liên quan đến ngờibào chữa

Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Ngời bào chữa trong tố tụng hình sựViệt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm khoá luận tốt nghiệp

Những vấn đề đợc nghiên cứu trong khoá luận bao gồm:

- Khái niệm ngời bào chữa trong tố tụng hình sự;

- Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngời bào chữa trong tố tụng hình

Chơng I: Những vấn đề chung về ngời bào chữa

trong tố tụng hình sự việt nam1.1- Khái niệm ngời bào chữa:

Trong BLTTHS năm 1988 cũng nh trong BLTTHS năm 2003 đều không ghinhận định nghĩa pháp lý của khái niệm ngời bào chữa Do vậy hiện nay trongkhoa học luật tố tụng hình sự tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ng-

ời bào chữa Nhìn chung các quan điểm đều dựa vào các qui định của BLTTHS để

đa ra khái niệm ngời bào chữa

Quan điểm 1: “Ngời bào chữa là ngời tham gia tố tụng với mục đích làmsáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảmnhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lýcần thiết” (1)

( Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001,tr 153.

2

Trang 3

Quan điểm 2: “Ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là ngời tham gia tố tụng

để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ngời bị buộctội, giúp ngời bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa” “Là ngời giúp

đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết về vụ án để cuối cùng Toà án ramột bản án có căn cứ và đúng pháp luật” (2)

Quan điểm 3: “Ngời bào chữa là ngời tham gia tố tụng theo yêu cầu của bị

can, bị cáo, của cơ quan tiến hành tố tụng (nếu thuộc trờng hợp bắt buộc) hoặctheo yêu cầu của những ngời thân thích của bị can, bị cáo để bảo vệ các lợi íchhợp pháp của bị can, bị cáo đồng thời giúp cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để

đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình tố tụng” (3)

Quan điểm 4: “Ngời bào chữa là ngời đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị

cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ, những ngời khác đợc ngời bị tạm giữ, bị can,

bị cáo uỷ quyền mời hay đợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật s phâncông Văn phòng luật cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chứcthành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằmlàm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ng-

ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý”(1)

Quan điểm 5: “Ngời bào chữa là ngời tham gia tố tụng với nhiệm vụ và mục

đích là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh cho sự vô tội hoặclàm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích hợppháp của họ”(2)

Mặc dù các quan điểm trên đều dựa trên cơ sở các qui định của BLTTHS để

đa ra định nghĩa về ngời bào chữa, tuy nhiên với cách tiếp cận khác nhau nên mỗiquan điểm hoặc nhấn mạnh ở một số dấu hiệu của ngời bào chữa hoặc mang tínhliệt kê các qui định của BLTTHS mà cha có sự khái quát

Việc xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về ngời bào chữa có ý nghĩa quantrọng trong khoa học luật tố tụng hình sự Để có thể đa ra khái niệm về ngời bàochữa một cách khái quát nhng vẫn thể hiện đầy đủ các dấu hiệu đặc trng của ngờibào chữa thì việc xác định các dấu hiệu của ngời bào chữa là điều cần thiết

(2) Trần Văn Bảy- Ngời bào chữa trong TTHS, Tạp chí Khoa học pháp lý-Đại học Luật TP HCM,số 1/2001.

(3) Nguyễn Ngọc Điệp -Tìm hiểu luật tố tụng hình sự Việt nam, Nxb Công an nhân dân, tr 34.

( Đinh Văn Quế, Về chế định ngời bào chữa, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2004).

(2) Bình luận khoa học BLTTHS Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2004, tr 131.

3

Trang 4

Trên cơ sở các qui định của BLTTHS có thể nhận thấy các dấu hiệu đặc

tr-ng của tr-ngời bào chữa nh sau:

Dấu hiệu này đã đợc khẳng định trong BLTTHS (ngời bào chữa cùng vớingời bị tạm giữ; bị can; bị cáo; ngời bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngời làm chứng; ngời bảo vệquyền lợi của đơng sự; ngời giám định; ngời phiên dịch đợc qui định tại Chơng IVBLTTHS năm 2003- Chơng qui định chung về ngời tham gia tố tụng)

Dấu hiệu này cho phép phân biệt ngời bào chữa với những ngời tiến hành tốtụng (gồm:Thủ trởng, Phó thủ trởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trởng,Phó viện trởng Viện kiếm sát, Kiểm soát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án,Thẩm phán, Hội thẩm, Th ký toà án), những ngời trong các cơ quan hỗ trợ t pháp(gồm: lực lợng cảnh sát bảo vệ phiên toà, dẫn giải ngời làm chứng đến phiên toà,

áp giải bị cáo đến phiên toà, thi hành bản án tử hình, thi hành bản án phạt tù;những ngời trong các cơ sở y tế chuyên khoa thực hiện các quyết định của các cơquan tiến hành tố tụng trong việc bắt buộc chữa bệnh đối với bị can, bị cáo; nhữngngời làm việc trong các Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi ngời bịkết án sống hay làm việc thực hiện việc giám sát, theo dõi, giúp đỡ ngời bị kết ánthi hành bản án không phải tù giam v.v) và những ngời khác đợc các cơ quan tiếnhành tố tụng mời (nh ngời chứng kiến trong một số hoạt động điều tra hoặc đạidiện cơ quan tổ chức khi khám xét nơi làm việc của ngời phạm tội, khám th tín,

điện tín, bu kiện, bu phẩm tại bu điện v.v.)(1)

Hai, ngời bào chữa tham gia tố tụng hình sự với nghĩa vụ và mục đích là

để làm sáng tỏ những tình tiết xác định ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 5

(BLTTHS 1988 qui định đối tợng bảo vệ của ngời bào chữa chỉ gồm bị can, bịcáo) Về vấn đề phạm vi đối tợng bảo vệ của ngời bào chữa cũng có nhiều ý kiếnkhác nhau Theo TS-LS Phạm Hồng Hải, đối tợng bảo vệ của ngời bào chữa làngời bị buộc tội bao gồm: ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị kết án vì họ là

đối tợng bị buộc tội ở các giai đoạn khác nhau của vụ án(1) ý kiến khác cho rằng

đối tợng bảo vệ của ngời bào chữa chỉ là bị can, bị cáo vì chỉ hai dạng ngời nàymới là ngời bị buộc tội (2) Mặc dù giai đoạn thi hành án cũng đợc coi là một giai

đoạn trong tố tụng hình sự và chịu sự điều chỉnh của BLTTHS, tuy nhiên vớinhững qui định của BLTTHS hiện hành về quá trình thi hành án thì cha đủ cơ sở

để khẳng định ngời bị kết án cũng là đối tợng bảo vệ của ngời bào chữa

Ba, ngời bào chữa chỉ có thể tham gia tố tụng khi đáp ứng đủ các điều

Không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia tố tụng hình sự với t cách là ngờibào chữa vì theo qui định của BLTTHS hiện hành ngời bào chữa chỉ có thể là Luậts; ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhândân với điều kiện là: 1- Phải đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; ngời đại diện hợppháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, những ngời khác đợc họ uỷ quyền mờihoặc đợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật s phân công Văn phòng luật

s cử hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặttrận cử để bào chữa cho bị can, bị cáo nếu vụ án thuộc trờng hợp bắt buộc phải cóngời bào chữa nhng bị can, bị cáo không mời ngời bào chữa hoặc ngời đại diệnhợp pháp của bị can, bị cáo không bào chữa cho bị can, bị cáo và cũng không mờingời bào chữa họ Và 2- họ phải không thuộc một trong những trờng hợp nhữngngời không đợc bào chữa Ngoài ra để trở thành ngời bào chữa trong tố tụnh hình

sự họ còn cần phải thoả mãn điều kiện về thủ tục là phải đợc cơ quan tiến hành tốtụng chấp nhận bằng việc cấp giấy chứng nhận bào chữa

Đó là những điều kiện do BLTTHS qui định Ngoài ra để trở thành ngờibào chữa thì luật s; ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bàochữa viên nhân dân phải đáp ứng các điều kiện khác do các văn bản pháp luậtkhác qui định, chẳng hạn Luật s phải đáp ứng các điều kiện do Pháp lệnh luật

s năm 2001 và các văn bản hớng dẫn qui định; ngời đại diện hợp pháp của ngời bịtạm giữ, bị can, bị cáo phải đáp ứng các qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 về

( Xem: Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999

(2) Xem: Hoàng Thị Sơn, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bị buộc tội, Tạp chí Luật học số 5/2000.

5

Trang 6

đại diện; còn bào chữa viên nhân dân thì cho đến nay vẫn cha có một văn bảnpháp luật nào qui định.

Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu đặc trng của ngời bào chữa theo qui địnhcủa BLTTHS hiện hành có thể đa ra một định nghĩa khái quát về ngời bào chữa

trong tố tụng hình sự nh sau: Ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là ngời đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật qui định tham gia tố tụng hình sự với nghĩa

vụ và với mục đích là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án chứng minh ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ và giúp họ về mặt pháp lý cần thiết khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

1.2 -Vị trí, vai trò của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự

Để ngời bào chữa phát huy đợc vai trò thì nhất thiết họ phải có một vị tríxứng đáng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Tuy nhiên trong thực tiễn tố tụng hình sự nớc ta không phải lúc nào ngờibào chữa cũng đợc coi trọng, thậm chí đôi khi họ còn bị gạt ra khỏi quá trình giảiquyết vụ án Nguyên nhân khách quan của hiện tợng này là do pháp luật tố tụnghình sự cha dành cho họ một vị trí xứng đáng trong hoạt động tố tụng hình sự nênvới thiết chế và thủ tục tố tụng hình sự của nớc ta họ không thể phát huy triệt đểvai trò của mình Đồng thời pháp luật tố tụng cũng cha qui định cụ thể nghĩa vụcủa các chủ thể tiến hành tố tụng cũng nh của các chủ thể khác để bảo đảm thuậnlợi cho ngời bào chữa thực hiện các quyền tố tụng của mình do vậy mà họ khó cóthể thực hiện nhiệm vụ của họ một cách có hiệu quả Thực tiễn đã chứng minh dùyêu cầu, khiếu nại của ngời bào chữa là có căn cứ và đúng pháp luật nhng vẫnkhông đợc các chủ thể có thẩm quyền xem xét giải quyết một cách thoả đángthậm chí còn bị bỏ quên mà không có một lý do nào đợc đa ra từ phía các chủ thể

có trách nhiệm giải quyết và dù quan điểm của ngời bào chữa về đờng lối giảiquyết vụ án là có cơ sở và thuyết phục nhng không đợc Hội đồng xét xử quan tâm

và cũng không đợc phản ánh trong bản án mà nó chỉ có giá trị trong giới khoahọc, trong d luận xã hội Nguyên nhân chủ quan từ phía các chủ thể tiến hành tốtụng đó là các biểu hiện chuyên quyền, không tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật tốtụng, nhìn nhận sai lệch về vai trò của ngời bào chữa cho rằng sự tham gia của ng-

ời bào chữa sẽ gây cản trở, khó khăn cho các chủ thể tiến hành tố tụng trong cáchoạt động điều tra, trong việc bảo vệ bản cáo trạng; là nhằm chống lại các chủ thểtiến hành tố tụng - chống lại Nhà nớc, bảo vệ hành vi nguy hiểm cho xã hội, bảo

6

Trang 7

vệ kẻ phạm tội nên tồn tại tâm lý không muốn sự tham gia của ngời bào chữa Vềphía xã hội khi chứng kiến thực tiễn ngời bào chữa không thể hiện đợc vai tròquan trọng cũng nh không khẳng định đợc vị trí của mình trong hoạt động tố tụnghình sự cùng với quan niệm cho rằng quá trình giải quyết vụ án hình sự ở nớc tatrải qua các khâu rất chặt chẽ nên ngời bào chữa không thể có cơ hội để đa vụ ántheo hớng có lợi cho những ngời bị buộc tội vì vậy mà xuất hiện tâm lý không cầnthiết phải mời ngời bào chữa, nhất là mời luật s vừa không mang lại kết quả gì vừatốn kém tiền của Về phía ngời bào chữa đôi khi vẫn có ngời không thực hiện tốtnhiệm vụ của mình, không tận tâm với công việc,vô trách nhiệm với ngời đợcmình bảo vệ thậm chí nhận bào chữa chỉ vì lợi ích cá nhân nên thay vì làm nhẹtrách nhiệm hình sự cho đối tợng đợc mình bảo vệ thì họ lại trở thành ngời buộctội thứ hai hoặc làm tăng trách nhiệm hình sự của đối tợng đợc họ bảo vệ Vì vậy

tự họ đã không thể hiện đợc vai trò quan trọng cũng nh không khẳng định đợc vịtrí của mình trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng và trong hoạt động xã hội nóichung

Mặc dù còn tồn tại những cách nhìn nhận sai lệch về vị trí của ngời bàochữa nhng lịch sử tố tụng hình sự của thiết chế nhà nớc dân chủ đã chứng minh sựtham gia của ngời bào chữa vào quá trình giải quyết vụ án hình sự là đòi hỏikhách quan để đảm bảo dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng vàtrong xã hội nói chung bởi sự tham gia của ngời bào chữa sẽ tạo ra một sự kiềmchế, đối trọng cần thiết đối với các chủ thể tiến hành tố tụng đảm bảo cho việcgiải quyết vụ án hình sự đợc đúng đắn, hạn chế sự vi phạm quyền lợi của ngời bịbuộc tội

Và không phải vì ý muốn chủ quan mà các nhà cầm quyền trong các nhànớc dân chủ Hy lạp cổ đại đã cho phép ngời bị buộc tội quyền đợc nhờ ngời thânthuộc của mình bào chữa trớc toà án- cho phép ngời bào chữa tham gia vụấn hình

sự , tuy rằng khi đó sự tham gia của ngời bào chữa chỉ “ xuất hiện từ sự nhiệt tìnhvì sự thật và công lý”(1) “ nhằm minh oan cho bạn bè hoặc ngời thân bị giai cấpthống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán”(2) Nhng đó là một biểuhiện của thiết chế dân chủ và “nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bứcnên nhân dân đồng tình ủng hộ và dần dần thu hút nhiều ngời tham gia bào chữatrớc toà”(3) đồng thời đó cũng “là một hình thức đấu tranh của nhân dân với giai

( 1),(4) Giáo trình luật tổ chức Viện kiểm sát, Toà án, công chứng luật s, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội- 1998.

(2), (3) ) Phan Hữu Th (chủ biên), Kỹ năng hành nghề luật s, Nxb Công an nhân dân, tập 1, tr 9.

(5) Xem Điều 67 Hiến pháp năm 1946.

7

Trang 8

cấp thống trị lúc đó”(4) Cũng không phải ngẫu nhiên mà bản Hiến pháp đầu tiêncủa Nhà nớc ta đã qui định “ngời bị cáo đợc quyền tự bào chữa lấy hoặc mợn luậts”(5), qui định này vẫn tiếp tục đợc duy trì trong các bản Hiến pháp sau này và đợc

cụ thể hoá trong các văn bản luật Và trong mọi hoàn cảnh của đất nớc dù chiếntranh hay hoà bình với nhiều nhiệm vụ quan trọng, khó khăn Nhà nớc ta vẫn luônquan tâm tới việc bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị buộc tội để bảo vệ quyềnlợi của họ với sự tham gia của ngời bào chữa

Nh vậy ngời bào chữa phải có một vị trí nhất định trong hoạt động tố tụng.Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành qui định ngời bào chữa là một trong nhữngngời tham gia tố tụng- “ những ngời có quyền, lợi ích cần đợc bảo vệ trớc phápluật hoặc những ngời có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia vào việc giải quyết vụ ánhình sự theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự và những ngời khác tham gia

để đảm bảo công lý”(1) bao gồm: ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ

án, ngời làm chứng, ngời bào chữa Trong khoa học luật tố tụng hình sự ngời bàochữa đợc xếp vào nhóm những ngòi tham gia tố tụng để bảo đảm công lý(2) hoặcnhóm những ngòi tham gia tố tụng để giúp đỡ ngời có quyền và lợi ích liên quan(3)

bao gồm ngời bào chữa và ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự Tuy nhiên quan

điểm cho rằng ngời bào chữa là ngòi tham gia tố tụng để bảo đảm công lý phản

ánh đợc đầy đủ hơn chức năng, nhiệm vụ, vai trò của ngời bào chữa trong tố tụnghình sự vì ngời bào chữa tham gia tố tụng không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi hợppháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn giúp các cơ quan, ngời tiến hành

tố tụng làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án, tránh đợc những sai lầm có thểmắc phải trong quá trình giải quyết vụ án, mặt khác ngời bào chữa còn giúp nhữngngời tham gia tố tụng khác những mặt pháp lý cần thiết(4)

Để làm rõ hơn về vị trí của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự cần đặt ngờibào chữa trong mối quan hệ với các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng; với ngời bịtạm giữ, bị can, bị cáo và với những ngời tham gia tố tụng khác

Trong quan hệ với Cơ quan điều tra, sự có mặt của ngời bào chữa trong các hoạt động điều tra không hề gây cản trở cho hoạt động đúng đắn của các Điềutra viên Bởi lẽ ngời bào chữa không đợc phép xoá bỏ các dấu vết về vụ án nhằmche giấu hành vi của ngời đang bị điều tra, tạo dựng các chứng cứ nhằm mục đích

Trang 9

gỡ tội cho họ, vì ngời bào chữa có nghĩa vụ phải tôn trọng sự thật, không đợc phépmớm cung cho ngời đang bị điều tra, mua chuộc, cỡng ép hoặc xúi giục ngời kháckhai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật(1) Đồng thời ngời bào chữa có tráchnhiệm phải giao cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án

mà mình thu thập đợc khi vụ án đang trong quá trình điều tra(2) Quá trình điều tra

vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra luôn phải tuân thủ thời hạn luật định dovậy rất dễ dẫn đến sự vi phạm pháp luật của các Điều tra viên để bảo đảm hoànthành điều tra đúng thời hạn, ngoài ra sự vi phạm pháp luật của Điều tra viên cũng

có thể do các nguyên nhân khác chẳng hạn vì lợi ích cá nhân Trong những ờng hợp đó sự tham gia của ngời bào chữa sẽ có tác dụng hạn chế đến mức tối đa

tr-sự vi phạm pháp luật có thể có từ phía Điều tra viên Sự có mặt của ngời bào chữakhi lấy lời khai của ngời bị tạm giữ hoặc hỏi cung bị can sẽ tạo thuận lợi cho các

Điều tra viên vì ngời bị tạm giữ, bị can đợc giúp đỡ về mặt tinh thần nên sẽ bìnhtĩnh khai báo và cũng sẽ không xảy ra tình huống phản cung tại phiên toà.Tấtnhiên cũng không loại trừ hoàn toàn khả năng ngời bào chữa thực hiện những việckhông đợc phép làm, khi đó thì đúng là ngời bào chữa thực sự gây khó khăn chocác Điều tra viên Tuy nhiên trong thực tế rất hiếm khi xảy ra khả năng này mà d-ờng nh chỉ có sự vi phạm pháp luật tố tụng từ phía các Điều tra viên Nếu cho rằngngời bào chữa gây khó khăn cho các Điều tra viên thì có chăng chỉ là ngời bàochữa đã lấy đi cơ hội lạm quyền của họ trong quá trình thực hiện các biện pháp

điều tra

Nh vậy có thể khẳng định sự tham gia của ngời bào chữa trong các hoạt

động điều tra không những không gây khó khăn trở ngại cho các Điều tra viên màcòn giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách đúng pháp luật, đa ra kết luật điều tra

có căn cứ và đúng thời hạn luật định Tuy vậy sự tham gia của ngời bào chữatrong các hoạt động điều tra lại phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép của Điều traviên hoặc của Thủ trởng Cơ quan điều tra Điều đó tạo ra vị thế bị động của ngờibào chữa khi họ muốn tham gia vào các hoạt động điều tra của các cơ quan điềutra, trong khi với chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình họ xứng đáng đợc hởngmột vị thế chủ động

Trong quan hệ với Viện kiểm sát, về hình thức thì dờng nh ngời bào chữaluôn chống lại Viện kiểm sát Bởi lẽ quan điểm của ngời bào chữa luôn khác thậmchí đối nghịch hoàn toàn với quan điểm của Viện kiểm sát Khi Viện kiểm sát raquyết định truy tố thì luôn theo hớng khẳng định bị cáo phạm tội với đề nghị

( Xem Điều 58 khoản 3, điểm d BLTTHS năm 2003.

(2) Xem Điều 58 khoản 3, điểm a BLTTHS năm 2003.

9

Trang 10

khung hình phạt cụ thể áp dụng đối với bị cáo và luôn bảo vệ bản cáo trạng màmình đã đa ra Còn ngời bào chữa thì theo hớng khẳng định bị cáo vô tội hoặcphạm tội khác nhẹ hơn hoặc phạm tội thuộc khung hình phạt nhẹ hơn Tuy nhiênnếu quan điểm của ngời bào chữa có đầy đủ căn cứ thì đã giúp cho Viện kiểm sáthạn chế làm oan ngời bị truy tố, đồng thời theo qui định của pháp luật ngời bàochữa có trách nhiệm giao cho Viện kiểm sát tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án

mà mình thu thập đợc tuỳ theo giai đoạn tố tụng(1) và việc tranh luận về bản cáotrạng sẽ giúp cho Viện kiểm sát đa ra lời buộc tội có căn cứ đảm bảo truy tố đúngngời đúng tội hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình với chức năng công tố Trong tr -ờng hợp quan điểm của ngời bào chữa không có cơ sở thì cho dù họ có cố gắngbảo vệ cho lí lẽ không thuyết phục của mình cũng không làm ảnh hỏng đến bảncáo trạng có căn cứ mà Viện kiểm sát đã đa ra và họ cũng không thể trở thành lựclợng đối nghịch gây khó khăn cho Viện kiểm sát, có chăng thì Kiểm sát viên chỉmất thời gian và công sức để bảo vệ quan điểm của mình bởi khi đó các lý lẽ màngời bào chữa cố gắng đa ra không có giá trị và không hề ảnh hởng đến quyết

định của Toà án về vụ án Và trong mọi trờng hợp để bảo vệ bản cáo trạng mộtcách thuyết phục trớc các ý kiến bác bỏ của ngời bào chữa Viện kiểm sát cần phảithực hiện tốt trách nhiệm của mình theo qui định của pháp luật để hạn chế nhữngthiếu sót, sai phạm trong kết luận điều tra của Cơ quan điều tra cũng nh nhữngthiếu sót trong bản cáo trạng.Về phía mình để có thể tranh luận với Kiểm sát viênmột cách có hiệu quả, đa ra quan điểm thuyết phục và bảo vệ đợc quan điểm củamình thì ngời bào chữa nhất thiết phải có một quá trình chuẩn bị kỹ lỡng thôngqua việc thu thập chứng cứ, nghiên cứu tài liệu liên quan đến vụ án, hồ sơ vụ án

Nh vậy về phơng diện hoạt động giữa Viện kiểm sát và ngời bào chữa cómối quan hệ tơng hỗ lẫn nhau góp phần đảm bảo hoàn thành tốt chức năng, nhiệm

vụ của mỗi bên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên sự tham giacủa ngời bào chữa vào quá trình giải quyết vụ án hình sự nhiều khi vẫn phụ thuộcvào sự quyết định của Viện kiểm sát Mặc dù pháp luật tố tụng chỉ qui định mộttrờng hợp sự tham gia tố tụng của ngời bào chữa phụ thuộc vào ý chí của Việnkiểm sát đó là trờng hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninhquốc gia(1), nhng thực tế ngời bào chữa gặp nhiều cản trở hơn từ phía Viện kiểmsát

(

(1) Xem Điều 58 khoản 3, điểm a BLTTHS năm 2003.

( Xem Điều 58 khoản 1 BLTTHS năm 2003.

(2) Xem Điều 58, khoản 3, điểm a BLTTHS năm 2003.

(3) Xem Điều 58, khoản 2, điểm h BLTTHS năm 2003.

10

Trang 11

Trong mối quan hệ với Toà án, sự tham gia của ngời bào chữa thông quaviệc cung cấp cho Toà án những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án(2), hỏi nhữngngời tham gia tố tụng khác, tranh luận với Kiểm sát viên về các tình tiết của vụ án

đã đợc thu thập, về bản cáo trạng của Viện kiểm sát(3) giúp cho Hội đồng xét xửnhìn nhận về vụ án một cách toàn diện hơn, tránh đợc việc xem xét phiến diệnmột chiều- nguyên nhân chủ yếu dẫn đến làm oan ngời vô tội Qua đó đảm bảocho phán quyết về vụ án là công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, bảo đảm xét

xử đúng ngời đúng tội, hạn chế oan, sai Đồng thời trong quá trình thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình ngời bào chữa có thể kịp thời phát hiện những biểuhiện sai phạm của Thẩm phán, Hội thẩm, Th ký toà án hoặc những yếu tố làm ảnhhởng đến sự công tâm, vô t, khách quan trong quá trình thực hiện chức năngnhiệm vụ của các chủ thể này từ đó đa ra các yêu cầu, kiến nghị theo qui định củapháp luật góp phần giúp cho Toà án thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quan trọngcủa mình Trong trờng hợp quan điểm của ngời bào chữa đợc Hội đồng xét xửquan tâm đúng mức sẽ giúp cho ngời bào chữa hoàn thành sứ mệnh và phát huy đ-

ợc vai trò của mình Ngợc lại nếu ý kiến, quan điểm của ngời bào chữa không đợctoà án lu tâm không những làm mờ nhạt vị trí, vai trò của ngời bào chữa dẫn đếnnhững nhìn nhận, đánh giá không đúng về vị trí, vai trò của họ mà còn xâm phạm

đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo.Tóm lại trong mối quan hệ với các chủ thể tiếnhành tố tụng mặc dù quan điểm của ngời bào chữa luôn trái ngợc với quan điểmcủa các chủ thể tiến hành tố tụng thì cũng không có nghĩa là ngời bào chữa chốnglại các chủ thể này- chống lại Nhà nớc mà là họ đang thực hiện nhiệm vụ cao cả

đợc pháp luật giao phó

Về mối quan hệ giữa ngời bào chữa với ngời bị tạm giữ, bị can, bị những ngời đợc ngời bào chữa bảo vệ, một số tác giả cho rằnh ngời bào chữa làngời đại diện của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho

cáo-họ Quan điểm khác cho rằng ngời bào chữa là chủ thể độc lập trong tố tụng hình

sự đồng thời là ngời đại diện cho lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bịcáo nhng đây là đại diện với hình thức đặc biệt- đợc hiểu theo nghĩa rộng là thaymặt cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

họ mà không phải chỉ bó hẹp theo nghĩa là thay mặt cho họ thực hiện những côngviệc đợc họ uỷ quyền(1)

Vì ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ ngờikhác bào chữa nên trong mọi trờng hợp (ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời đại

( Xem: Nguễn Văn Tuân, Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng t pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 7 (148)- 2004.

11

Trang 12

diện hợp pháp của họ mời ngời bào chữa và đợc các cơ quan tiến hành tố tụngchấp nhận hoặc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu các chủ thể có trách nhiệm cửngời bào chữa cho bị can, bị cáo trong trờng hợp vụ án bắt buộc phải có ngời bàochữa nhng bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ không mời ngời bàochữa) ý chí của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo- ngời bị buộc tội luôn mang tínhquyết định đối với việc có hay không sự tham gia của ngời bào chữa vào quá trìnhgiải quyết vụ án Và “xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, ngời bị buộc tội cóthể từ chối ngời bào chữa ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng nếu họ thấy

sự tham gia của ngời bào chữa không làm tốt hơn hoặc làm xấu đi tình trạng củahọ”(1) Tuy thế nhng khi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã đồng ý để ngời bào chữatham gia tố tụng để bào chữa cho mình thì họ không thể chi phối các hoạt động,các bớc tiến hành công việc của ngời bào chữa và ngời bào chữa sẽ nhân danhmình để tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ, thậm chí ngời bàochữa có thể có quan điểm khác với quan điểm của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo

về hớng bào chữa chẳng hạn ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo khẳng định mình vôtội nhng qua xem xét các tình tiết, sự việc của vụ án ngời bào chữa nhận thấy ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã phạm tội hoặc ngợc lại vì một lý do nào đó mà ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhận tội nhng ngời bào chữa lại khẳng định họ vô tội.Thực tiễn đã xảy ra những trờng hợp nh vậy, tuy nhiên giữa ngời bào chữa và ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo thờng có sự thống nhất về hớng bào chữa- đây là mộttrong những yêu cầu để việc bào chữa đạt hiệu quả Trờng hợp xảy ra bất đồngquan điểm giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà họ không tìm

đợc tiếng nói chung thì thờng dẫn tới việc từ chối ngời bào chữa từ phía ngời bịtạm giữ, bị can, bị cáo và ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bịcáo Mặc dù về phía mình ngời bào chữa không thể từ chối bào chữa cho ngời bịtạm giữ, bị can, bị cáo trừ khi có lý do chính đáng theo qui định của pháp luật thìcũng không thể khẳng định rằng điều đó tạo nên sự ràng buộc giữa ngời bào chữa

và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà điều đó chỉ ràng buộc ngời bào chữa vớinhiệm vụ của họ- họ không thể tự ý rời bỏ nhiệm vụ của mình và nhiệm vụ đó đợcxác định trên cơ sở qui định của pháp luật chứ không phải trên cơ sở thoả thuậngiữa ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo với ngời bào chữa Nh vậy có thể khẳng địnhquan hệ giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể là quan hệ

đại diện theo nghĩa thông thờng đúng nh ý kiến của TS Nguyễn Văn Tuân Tuynhiên quan hệ giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có phải là một

( (1) Phạm Hồng Hải, Vị trí của ngời bào chữa trong phiên toà xét xử, Tạp chí Luật học số 4/1999.

12

Trang 13

hình thức đại diện đặc biệt hay không thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ vìcho đến nay pháp luật cha qui định thế nào là hình thức đại diện đặc biệt Đồngthời cũng có thể khẳng định giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo

có một sự độc lập nhất định và sự độc lập đó tồn tại từ khi ngời bị tạm giữ, bị can,

bị cáo đồng ý để ngời bào chữa tham gia tố tụng để bào chữa cho mình cho đếnkhi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của những ngời nàymuốn chấm dứt sự tham gia của ngời bào chữa mà họ đã mời hoặc chấp nhận hoặccho đến khi vụ án kết thúc nếu nh ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời đại diệnhợp pháp của họ không tự ý từ chối ngời bào chữa

Về mối quan hệ giữa ngời bào chữa với những ngời tham gia tố tụng khác

Có thể nhận thấy mối quan hệ giữa ngời bào chữa với ngời bị hại; nguyên đơn dânsự; bị đơn dân sự; ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngời làmchứng; ngời giám định đợc biểu hiện rõ nét tại phiên toà xét xử Theo đó ngời bàochữa đợc quyền hỏi những ngời này theo qui định của pháp luật- quyền tơng tựKiểm sát viên (ngời tiến hành tố tụng) Mặc dù ngời bào chữa và ngời bảo vệquyền lợi của đơng sự đều đợc xếp vào nhóm ngời tham gia tố tụng để bảo vệcông lý, nhng ngời bào chữa cũng có vị trí khác so với ngời bảo vệ quyền lợi của

đơng sự thể hiện ở quyền đợc có mặt trong các hoạt động điều tra, quyền thu thậpchứng cứ ở một mức độ nhất định (quyền tơng tự các cơ quan tiến hành tố tụng)

và nghĩa vụ quan trọng là làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội cho ngời bị buộc tội

Nh vậy, mặc dù sự tham gia của ngời bào chữa vào quá trình giải quyết vụ

án hình sự phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo vànhiều khi phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép của các chủ thể tiến hành tố tụngnên phần nào họ còn ở thế bị động Nhng với sứ mệnh của mình ngời bào chữa đ-

ợc pháp luật qui định có những quyền và nghĩa vụ cụ thể điều đó tạo nên vị trí độclập tơng đối cho ngời bào chữa và khi thực hiện nhiệm vụ của mình ngời bào chữacũng có một sự chủ động nhất định trong hoạt động thể hiện ở các khía cạnh: 1-Ngời bào chữa không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nên họ không phải là ngờigiúp việc cho các cơ quan tiến hành tố tụng- những chủ thể có nghĩa vụ, tráchnhiệm chứng minh tội phạm; 2- Nhiệm vụ của ngời bào chữa là do pháp luật tốtụng qui định không phải do đợc uỷ quyền bởi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; 3-các bớc đi để xây dựng luận điểm bào chữa không bị chi phối bởi bất cứ chủ thểnào; và 4- ngời bào chữa nhân danh chính mình để đa ra quan điểm về đờng lối

giải quyết vụ án

13

Trang 14

Nói tới vai trò của ngời bào chữa là nói tới những tác động, ảnh hởng củangời bào chữa đối với cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động của mình, đốivới xã hội thông qua chức năng, nhiệm vụ Có thể nhận thấy vai trò của ngời bàochữa đợc thể hiện rõ nét trên các mặt sau:

Thứ nhất: Sự tham gia tố tụng hình sự của ngời bào chữa góp phần bảo

đảm quyền bào chữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích

Quyền bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân đã

đ-ợc thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản luật (Điều 132 Hiến pháp 1992 và

Điều 11 BLTTHS năm 2003) Việc bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị tạm giữ,

bị can, bị cáo có ý nghĩa quan trọng bởi khi quyền bào chữa không đợc thực thimột cách triệt để thì không thể đảm bảo thực thi đợc các quyền khác dẫn đến xâmphạm các quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng

và của công dân nói chung

Để tạo điều kiện cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình pháp luật qui định: ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự mìnhbào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình Xét về bản chất việc tự mìnhbào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình là hai hình thức biểu hiện quyềnbào chữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo(1) Tuy nhiên trên thực tế với tâm lýmình là ngời bị buộc tội hoặc là đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc do trình độpháp lý hạn chế nên việc tự mình bào chữa không đạt hiệu quả và quyền bàochữa khi đó sẽ chỉ mang tính hình thức Điều này không những ảnh hởng tớiquyền và lợi ích hợp pháp của chính họ mà còn ảnh hởng tới việc giải quyết đúng

đắn vụ án Do vậy việc tham gia tố tụng của ngời bào chữa là cần thiết Bởi lẽ ngờibào chữa không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án nên họ tham gia tố tụngmột cách vô t và nhìn nhận sự việc một cách khách quan Ngời bào chữa cũng cókhả năng và điều kiện cung cấp cho của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo những kiếnthức pháp lý cần thiết để họ tự bảo vệ mình Sự có mặt của ngời bào chữa cũng sẽgiúp đỡ cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất nhiều về mặt tinh thần, mang đếncho họ cảm giác rằng họ không bị cô lập với xã hội, thông qua ngời bào chữa xãhội dờng nh dang tay ra giúp đỡ họ và với sự giúp đỡ của ngời bào chữa họ có cơhội sử dụng một cách đầy đủ những quyền tố tụng mà họ đợc hởng, tích cực thamgia vào nghiên cứu những tài liệu thu thập đợc về vụ án, tranh luận và bác bỏ lời

( 1) Xem: Đỗ Xuân Lân, Cần có nhận thức thống nhất về ngời bào chữa là ngời đại diện hợp pháp của

ng-ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo Điều 56 BLTTHS, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2005).

(2) Phan Hữu Th (chủ biên), sđd, tr.193, 194.

14

Trang 15

buộc tội họ(2) Ngoài ra ngời bào chữa đợc pháp luật trao cho các quyền nhất địnhtrong quá trình giải quyết vụ án hình sự nên họ có lợi thế hơn ngời bị tạm giữ, bịcan, bị cáo trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tợng này.Hơn nữa việc tham gia của ngời bào chữa không làm mất đi quyền tự mình bàochữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Nh vậy có thể nói chế định ngời bào chữa trong tố tụng hình sự chính làmột trong các biện pháp về mặt lập pháp nhằm bảo đảm thực thi quyền bào chữacủa ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong thực tế khi mà họ không có điều kiện hoặc không thể tự mình thực hiện quyền bào chữa(1)

Thứ hai: Ngời bào chữa góp phần vào quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án.

Để đạt đến sự thật khách quan về vụ án thì cần phải có một hệ thống chứng

cứ đầy đủ, hợp pháp, xác thực và có liên quan đến vụ án Tuy nhiên đó luôn làmột việc khó khăn bởi lẽ hành vi phạm tội luôn xảy ra trớc khi việc điều tra thuthập chứng cứ đợc tiến hành nên các chứng cứ chỉ đợc thu thập thông qua các dấuvết đợc ghi nhận trong thế giới khách quan

Với nghĩa vụ làm sáng tỏ những tình tiết xác định ngời bị tạm giữ, bị can,

bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo ngờibào chữa phải tiến hành thu thập chứng cứ bằng các biện pháp do pháp luật qui

định, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên toà về cáctình tiết, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, về bản cáo trạng của Viện kiểm sát Thôngqua việc thu thập chứng cứ ngời bào chữa có thể cung cấp cho Toà án nhữngchứng cứ quan trọng mà vì một lý do nào đó Cơ quan điều tra cha thu thập đợc, bổsung cho hệ thống chứng cứ của vụ án đợc đầy đủ hơn Bằng việc nghiên cứu tàiliệu, hồ sơ vụ án ngời bào chữa có thể phát hiện đợc thiếu sót của những ngời tiếnhành tố tụng, trên cơ sở đó để đa ra các yêu cầu hoặc khiếu nại về quyết định,hành vi tố tụng của cơ quan, ngời tiến hành tố tụng, qua đó hạn chế đợc ý chí chủ

quan của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.

Trong quá trình tranh luận tại phiên toà ngời bào chữa có thể chỉ ra những điểmmâu thuẫn trong việc đánh giá chứng cứ cũng nh những sai phạm trong việc thuthập chứng cứ của các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng giúp Toà án loại bỏ đợcnhững chứng cứ hoặc không xác thực, hoặc không hợp pháp, hoặc không liênquan đến vụ án

Ngoài ra sự có mặt của ngời bào chữa còn giúp cho ngời bị tạm giữ, bị

( Xem: Đỗ Xuân Lân, Cần có nhận thức thống nhất về ngời bào chữa là ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo Điều 56 BLTTHS, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2005).

15

Trang 16

can, bị cáo rất nhiều về mặt tinh thần nên họ sẽ bình tĩnh và thành khẩn khai báo giúp cho việc giải quyết vụ án đợc nhanh chóng và đúng sự thật vì họ là ngời đã

thực hiện hành vi bị buộc tội nên họ là ngời biết rõ các tình tiết về vụ án hơn bất

cứ ngời nào khác Với vai trò này ngời bào chữa đợc xem nh là ngời bổ trợ t giúp cho các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng làm sáng tỏ mọi tình tiết liên quan

pháp-đến vụ án, qua đó giúp cho quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đợc tính kháchquan

Thứ ba: Ngời bào chữa góp phần đảm bảo dân chủ; bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế Xã hội chủ nghĩa.

Quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là biểu hiện cao nhất tính dân chủ trong hoạt động

tố tụng hình sự và quyền này chỉ thực sự tồn tại trong các Nhà nớc dân chủ Ngờibào chữa tham gia tố tụng hình sự là để giúp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thựchiện quyền bào chữa của họ một cách có hiệu quả nhất với mục đích là bảo vệcác quyền tự do dân chủ của họ

Tính dân chủ trong tố tụng hình sự còn đợc thể hiện ở khía cạnh đó là mọicông dân, tổ chức đều có quyền tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự.Ngời bào chữa với t cách là một công dân hoặc thành viên của một tổ chức xã hộinào đó khi tham gia tố tụng họ không đại diện cho quyền lực nhà nớc mà nhândanh mình tham gia tố tụng với mục đích là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhng họ cũng chính là đại diện cho nhân dân

hoặc tổ chức xã hội mà họ là thành viên trong việc giám sát hoạt động của các cơ

quan, ngời tiến hành tố tụng- những chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nớc vàhoạt động của những ngời tham gia tố tụng khác Với chức năng, nhiệm vụ đặcthù của mình ngời bào chữa đợc pháp luật trao cho những quyền nhất định trongcác giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự và với nhữngquyền đó ngời bào chữa đợc phép có mặt trong một số hoạt động điều tra, đa ra

yêu cầu, khiếu nại, tranh luận bình đẳng với các chủ thể đại diện cho quyền lực

nhà nớc và đợc phát biểu quan điểm của mình về vụ án Đó chính là các đảm bảo

về mặt lập pháp để ngời bào chữa phát huy vai trò của họ đồng thời đó cũng làmột trong các định chế đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự

Chính bằng việc sử dụng các quyền của mình và thông qua các quyền đó ngời bào chữa có thể phát hiện những biểu hiện vi phạm thủ tục tố tụng của nhữngchủ thể tiến hành tố tụng, đồng thời sự có mặt của ngời bào chữa trong các giai

đoạn tố tụng giống nh một ngời chứng kiến, một kênh giám sát sẽ hạn chế đợc sự

16

Trang 17

lạm quyền của những ngời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng- nguyên nhân

chính dẫn đến vi phạm pháp luật tố tụng, giúp cho việc giải quyết vụ án đúngpháp luật Có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu ngời bào chữa đợc tạo điều kiệnmột cách đầy đủ để thực hiện một cách triệt để các quyền của họ thì sẽ không cònhiện tợng bức cung, dùng nhục hình, dàn dựng chứng cứ, bỏ sót chứng cứ, làm sailệch hồ sơ vụ án, thuyết phục nhận tội đồng thời hệ thống chứng cứ của vụ án vừa

đầy đủ hơn vừa đảm bảo các thuộc tính hợp pháp, khách quan, liên quan đến vụ

án vì ngời bào chữa vừa có quyền thu thập chứng cứ vừa có quyền phản biệnchứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập và do vậy sẽ giúp cho Toà án xét xử đúngngời đúng tội- ra bản án công minh, có căn cứ , đúng pháp luật, hạn chế rất nhiềucác trờng hợp oan, sai trong tố tụng hình sự Và nh vậy công lý đợc bảo vệ, nhândân tin vào công bằng xã hội; pháp luật tố tụng nói riêng và pháp luật của nhà n-

ớc nói chung đợc tôn trọng

Mặc dù quá trình giải quyết vụ án hình sự với nhiều giai đoạn khác nhau

đ-ợc thực hiện bằng một thủ tục tố tụng đđ-ợc pháp luật qui định chặt chẽ tuy nhiêntrên thực tế hiện tợng lạm quyền, chuyên chế- biểu hiện của vi phạm thủ tục tốtụng của các chủ thể tiến hành tố tụng không phải là ít Dù nguyên nhân của sự viphạm đó là do khách quan hay chủ quan thì đều là vi phạm pháp luật Không thểnói tới việc bảo đảm pháp chế khi mà chính các chủ thể có chức năng và nhiệm vụbảo vệ pháp luật lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bởi pháp chế hiểu theonghĩa chung nhất là sự yêu cầu tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tuyệt

đối tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của mình Sự tham gia của ngời

bào chữa trong quá trình tố tụng sẽ tạo ra một sự đối trọng nhất định đối với các

cơ quan và ngời tiến hành tố tụng có thẩm quyền buộc các chủ thể đó phải ý thứchơn về từng hành vi của mình, phải tự kiềm chế các biểu hiện lạm quyền, chuyênchế, phải tuân thủ một cách triệt để thủ tục tố tụng, phải tôn trọng và bảo vệ các

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đó chính là tác dụng phòng ngừa vi

phạm có thể xảy ra từ phía các chủ thể tiến hành tố tụng Đồng thời thông quaviệc đa ra yêu cầu hoặc khiếu nại đối với các chủ thể tiến hành tố tụng ngời bàochữa góp phần vào việc khắc phục những sai phạm đã xảy ra nhằm bảo vệ quyềnlợi của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo đúng qui định của pháp luật Với sựtham gia tố tụng của mình ngời bào chữa không những góp phần hạn chế những viphạm thủ tục tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng mà còn hớng ngời bị tạmgiữ, bị can, bị cáo tuân thủ pháp luật vì đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện

17

Trang 18

việc bảo vệ quyền lợi của của chính họ Và do vậy pháp luật đợc đảm bảo thựcthi- pháp chế đợc bảo vệ.

Thứ t: Ngời bào chữa góp phần tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân.

Khi tham gia tố tụng ngời bào chữa giúp cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáocũng nh những ngời tham gia tố tụng khác hoặc những cá nhân, tổ chức liên quan

đến quá trình giải quyết vụ án hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họthông qua việc gặp gỡ họ trong quá trình thu thập chứng cứ, và ngời bào chữacũng có thể cung cấp cho họ kiến thức pháp lý cần thiết để họ thực hiện các cácquyền và nghĩa vụ của họ Đồng thời ngời bào chữa hớng dẫn các chủ thể đó cũng

nh các tổ chức và mọi công dân cách xử sự trong các hoàn cảnh cụ thể phù hợpvới pháp luật để tránh đợc những hậu quả pháp lý bất lợi(1) Qua đó ngời bào chữagóp phần tuyên truyền pháp luật trong trong quần chúng nhân dân Với sự thamgia của ngời bào chữa quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bịcáo đợc bảo vệ một cách tốt nhất qua đó góp phần củng cố niềm tin vào nhữngquyền cơ bản, nhân phẩm, giá trị con ngời; niềm tin của

nhân dân đối với pháp luật, chế độ dân chủ

Từ đó mỗi ngời dân sẽ tự giác nâng cao kiến thức pháp luật của mình bởi

đó là công cụ hữu hiệu để họ bảo vệ quyền lợi của chính họ trớc các biểu hiện xâm phạm của các chủ thể đại diện cho quyền lực nhà nớc

1.3- Chức năng, nhiệm vụ của ngời bào chữa

trong tố tụng hình sự.

Theo nghĩa chung nhất, chức năng của một chủ thể đợc hiểu là những

ph-ơng diện hay những mặt hoạt động chủ yếu của chủ thể đó Việc xác định rõ chứcnăng của một chủ thể là cơ sở để xác định phạm vi những nhiệm vụ mà chủ thể đóphải thực hiện

Chức năng của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự đã đợc thể hiện trong

chính tên gọi của họ- bào chữa Bào chữa theo nghĩa rộng là đa ra lập luận kèmtheo các chứng cứ cho lập luận đó để bác bỏ sự cáo buộc trách nhiệm nhằm bảo

vệ lợi ích của mình Trong tố tụng hình sự, sự cáo buộc trách nhiệm chính là việccác cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội đối với một ngời nào đó (cho là ngời đó đãthực hiện hành vi phạm tội hoặc khẳng định là ngời đó đã phạm tội hoặc kết luận

là ngời đó đã phạm tội), và nh vậy bào chữa trong tố tụng hình sự là đa ra lập luận

( 1) Phan Hữu Th (chủ biên) Sđd, trang112

18

Trang 19

kèm theo các chứng cứ để bác bỏ lời buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụngnhằm bảo vệ quyền lợi đợc Nhà nớc bảo vệ của mình Tuy nhiên không phải trongxã hội nào ngời bị buộc tội cũng đợc phép bào chữa mà quyền bào chữa của ngời

bị buộc tội hầu nh chỉ tồn tại trong chế độ xã hội dân chủ

Ngời bị buộc tội do ở trạng thái tâm lý không ổn định, lo sợ và đôi khikhông hiểu biết pháp luật nên thờng không thể tự mình thực hiện tốt quyền bàochữa của mình Để ngời bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả quyền bàochữa của họ thì không có cách nào tốt hơn là trao cho họ quyền đợc nhờ ngời khácgiúp họ bào chữa- đây là cơ sở ra đời và tồn tại của chế định ngời bào chữa

Nh vậy ngời bào chữa tham gia tố tụng hình sự là để giúp ngời bị buộc tội bác bỏ lời buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng- giúp họ bào chữa Bác

bỏ sự buộc tội không phải chỉ với nghĩa là phủ định lời buộc tội mà còn bao gồmcả việc làm giảm nhẹ lời buộc tội Vì vậy bào chữa trong tố tụng hình sự còn đ ợchiểu với nghĩa là gỡ tội cho ngời bị buộc tội

Xét về bản chất thì chức năng bào chữa tồn tại độc lập và đối trọng với chứcnăng công tố nh một yếu tố khách quan tự thân của tố tụng hình sự (1) Tuy nhiên trong mỗi hình thức tố tụng hình sự khác nhau sự độc lập và đối trọng giữa chứcnăng bào chữa và chức năng công tố đợc thể hiện ở mức độ khác nhau tuỳ thuộcvào trình tự thủ tục và tổ chức thiết chế tố tụng của hình thức tố tụng đó

Với chức năng gỡ tội cho ngời bị buộc tội, ngời bào chữa phải thực hiệnnhững nhiệm vụ nhất định- đó là những mục tiêu mà ngời bào chữa cần đạt tới,những vấn đề đặt ra mà ngời bào chữa cần giải quyết

Mục đích đầu tiên của việc bào chữa chính là để bảo vệ quyền và lợi íchcủa ngời đợc bào chữa

Khi bị buộc tội, quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị buộc tội có nguy cơ

bị ảnh hởng bởi hai yếu tố: 1- Bị buộc tội oan và 2- Bị xâm phạm bởi các hành vi,quyết định trái pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình giảiquyết vụ án Ngời bào chữa tham gia tố tụng là để hạn chế đến mức thấp nhất cácnguy cơ đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị buộc tội

Ngoài ra khi tham gia vào tố tụng hình sự với t cách là ngời bào chữa, bảnthân ngời bào chữa cũng phải thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ chung của mọicông dân là bảo vệ pháp chế Tuy nhiên trong giới hạn của lĩnh vực tố tụng hình

sự, ngời bào chữa có trách nhiệm đấu tranh trớc những vi phạm pháp luật trong

( 1) Phan Trung Hoài, Vấn đề hoàn thiện pháp luật về luật s ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội-2004, tr.55.

19

Trang 20

quá trình giải quyết vụ án hình sự vừa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

ng-ời bị buộc tội đồng thng-ời để bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân

Nh vậy nhiệm vụ của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là: 1- bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị buộc tội và 2- bảo vệ pháp chế Xã hội chủnghĩa Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế trong thực tế không đối lập với nhiệm vụ bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị buộc tội vì thực hiện hai nhiệm vụ này đềuhớng tới mục tiêu của tố tụng hình sự đặt ra là việc điều tra, truy tố, xét xử đợctiến hành khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của Nhà nớcquyền và lợi ích hợp pháp của công dân(1)

1.4- Khái quát quá trình hình thành và phát triển của chế định

về ngời bào chữa ở Việt Nam.

Từ 1864 với Sắc lệnh ngày 25/7/1864 của Hoàng đế Napoléon III về tổ chứcnền t pháp Nam kỳ, những ngời bào chữa đã đợc hình thành bên cạnh các Toà ánthuộc địa(4), tuy nhiên chỉ có ngời Pháp đợc làm ngời bào chữa Với Sắc lệnh ngày25/5/1930 Hội đồng luật s ở Hà Nội và Sài Gòn đợc thành lập và ngời Việt Nam

đợc tham gia biện hộ với điều kiện tốt nghiệp Đại học Luật khoa và phải tập sựtrong một văn phòng biện hộ của một luật s thực thụ với thời gian năm năm(5)

Ngay sau khi cách mạng thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một loạtsắc lệnh về tổ chức và hoạt động của các cơ quan t pháp trong đó có Sắc lệnh số46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức Đoàn thể luật s Theo sắc lệnh này, Đoàn thểluật s của chế độ cũ vẫn đợc duy trì với một số điểm sửa đổi cho phù hợp với điều

( Xem: Phạm Hồng Hải, Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngời bào chữa trong BLTTHS năm 2003, Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật số 5/2004, tr.23.

(2),(4) Phan Trung Hoài, sđd, tr 21, 22, 110.

(3) Điều 691 Quốc triều hình luật qui định: “Những án xét vào tội nhẹ, nhng tình lý đáng ngờ thì giao cho Viện thẩm hình hội đồng bàn xét, hỏi tội nhân cho đến lúc nhận tội; nếu tội nhân không chịu nhận tội thì cho phép đợc bào chữa rồi phải xét lại kỹ càng …” ”

(5) Xem: Phan Hữu Th (chủ biên), sđd, tr 20.

20

Trang 21

kiện mới Mục đích duy trì tổ chức luật s khi đó là nhằm kịp thời bảo đảm quyềnbào chữa của bị cáo Hoạt động của tổ chức luật s trong thời kỳ này về cơ bản làbào chữa trớc các Toà án cấp tỉnh trở lên(1).

Năm 1946 Nhà nớc ta đã ban hành Hiến pháp và ghi nhận quyền đợc mợnluật s bào chữa của bị cáo Do số lợng luật s khi đó còn hạn chế, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ký sắc lệnh số 217 ngày 22/11/1946, trong đó qui định những Thẩm phán

có bằng luật khoa đợc bổ nhiệm sau ngày 19/8/1945 sau khi đã thực hành chức vụ

t pháp trong thời hạn ba năm trớc các Toà án đệ nhị cấp, Toà án quân sự, toà ánbinh hay Tòa thợng thẩm có thể ra làm luật s mà không cần phải tập sự tại mộtvăn phòng luật s (2) Qui định này nhằm bảo đảm có đủ luật s để bào chữa cho bịcáo Tiếp theo là Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 (đợc bổ sung bởi Sắc lệnh số144/SL ngày 22/12/1949) qui định bị cáo có thể nhờ một công dân không phải làluật s bào chữa cho mình trớc Toà án thờng và Toà án đặc biệt Để cụ thể hoá Sắclệnh này Bộ T pháp đã ban hành Nghị định số 01/NĐ-VY ngày 12/1/1950 ấn định

điều kiện để làm bào chữa viên (do bị can chọn và phải đợc Toà án công nhậnhoặc Toà án cử ra): Quốc tịch Việt Nam; ít nhất 21 tuổi; hạnh kiểm tốt và khôngcan án (3) Theo Nghị định này, hàng năm Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố vàChánh án Toà án lập ra một danh sách những ngời trong tỉnh có đủ điều kiện

và đồng ý đứng ra bào chữa và niêm yết tại trụ sở Toà án

Đến năm 1957, cùng với qui chế bào chữa viên nhân dân theo Nghị định

01, Bộ T pháp ra Thông t số 101 ngày 29/8/1957 về việc tổ chức bào chữa viên nhân dân đã hớng dẫn thêm về việc các đoàn thể nhân dân cử ngời ra bênh vực,giúp cho những thành viên của mình khi bị truy tố trớc toà án (1)

Quyền bào chữa của bị cáo tiếp tục ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959(2),

và đợc cụ thể hoá trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 với qui định:Ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có thể nhờ luật s bào chữa cho mình Bị cáo cũng

có thể nhờ ngời công dân đợc đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc đợc Toà án chấpnhận bào chữa cho mình(3) Pháp lệnh về tổ chức Toà án nhân dân tối cao và Toà

án nhân dân địa phơng ngày 23/3/1961 cũng có qui định cho phép ngời bào chữa

đợc tham gia bào chữa trớc Toà án nhân dân các cấp Để hớng dẫn về trình tự tố

( Xem: Đào Trí úc (chủ biên), Hệ thống t pháp và cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội- 2002, tr 139.

(2) Nguyễn Văn Tuân, Luật s và hành nghề luật s, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội-2002, tr 163,164 (3) Phan Hữu Th (chủ biên), sđd, tr.20.

(

( Xem: Đào Trí úc (chủ biên), Hệ thống t pháp và cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội- 2002, tr 140.

(2) Điều 101 Hiến pháp năm 1959 qui định: “ Quyền bào chữa của bị cáo đợc bảo đảm”.

(3) Xem: Điều 7 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960.

21

Trang 22

tụng hình sự sơ thẩm ngày 27/9/1974 Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông t

số 16, trong đó qui định ba trờng hợp bắt buộc phải có sự tham gia của ngời bàochữa trong giai đoạn xét xử là: bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình; bịcáo là vị thành niên hoặc ngời có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần mà phạmpháp nghiêm trọng; vụ án có tính chất quan trọng, phức tạp và ảnh hởng lớn trong

d luận Thông t 16 cũng qui định khi tham gia bào chữa trong các trờng hợp đóngời bào chữa có quyền gặp riêng bị cáo đang bị tạm giam mà không ai đợc thamdự; đợc đề nghị thay đổi Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân; đợc tham gia cuộcthẩm vấn và trình bày lời bào chữa tại phiên toà; đợc bị cáo uỷ nhiệm kháng tốtheo qui định của pháp luật, nếu bị cáo là vị thành niên hoặc là ngời có nhợc điểm

về thể chất hoặc tâm thần thì ngời bào chữa có quyền chủ động kháng tố để bảo vệnhững quyền lợi của bị cáo mà không cần phải đợc sự đồng ý của họ

Nh vậy Thông t 16 nêu trên là văn bản đầu tiên qui định về quyền của ngờibào chữa

Sau giải phóng miền Nam, việc hoàn thiện chế định bào chữa viên nhân dân tiếp tục đợc chính quyền cách mạng quan tâm, đặc biệt là việc chuyển hoá chế

định bào chữa viên nhân dân thay thế cho chế định luật s của chính quyền nguỵSài Gòn Ngày 16/3/1976 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền NamViệt Nam đã ban hành sắc lệnh số 01/SL qui định về tổ chức Toà án nhân dân vàViện kiểm sát nhân dân trong tại Điều 4 đó có qui định: “Quyền bào chữa của bịcáo đợc bảo đảm Ngoài việc tự bào chữa ra bị cáo có thể nhờ ngời công dân thuộccác đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc đợc các Toà án nhân dân chấp nhận bàochữa cho mình Khi cần thiết Toà án nhân dân chỉ định ngời bào chữa cho bị cáo”

Bộ T pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đãban hành Thông t số 06/ BTP-TT ngày11/6/1976 hớng dẫn cụ thể cách thức lậpdanh sách ngời bào chữa nhân dân, quyền hạn và nhiệm vụ của ngời bào chữanhân dân(1)

Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo và đãtạo cơ sở pháp lý cho cho việc xây dựng chế định luật s (2) Tuy nhiên việc thànhlập tổ chức luật s gặp nhiều khó khăn Vì vậy để củng cố, nâng cao chất lợng hoạt

động bào chữa của bào chữa viên, Bộ T pháp đã ra Thông t số 691/QLTA ngày31/10/1983 tạm thời hớng dẫn về công tác bào chữa, trong đó có qui định ngời

( (1) Xem: Phan Trung Hoài, sđd, tr 117, 118.

(2) Điều 133 Hiến pháp năm 1980 qui định: “Quyền bào chữa của bị cáo đợc bảo đảm Tổ chức luật s

đ-ợc thành lập để giúp bị cáo và các đơng sự về mặt pháp lý”.

(3) Xem: Đào Trí úc (chủ biên), Hệ thống t pháp và cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội- 2002, tr 140, 141.

22

Trang 23

muốn làm bào chữa viên phải có phẩm chất đạo đức tốt và có kiến thức pháp lýcần thiết (3) Ngày 18/12/1987 Hội đồng Nhà nớc ban hành Pháp lệnh tổ chức luật

s và ngày 21/2/1989 Hội đồng Bộ trởng ban hành Qui chế Đoàn luật s kèm theoNghị định số 15/HĐBT tạo cơ sở pháp lý cho việc

thành lập các Đoàn luật s Pháp lệnh tổ chức luật s năm 1987 đã ghi nhận một sốquyền, nghĩa vụ của luật s khi tham gia bào chữa trong vụ án hình sự tạo điềukiện cho luật s phát huy vai trò của mình trong t cách ngời bào chữa

BLTTHS năm 1988 đợc thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1989 là văn bản pháp luật đầu tiên qui định một cách rõ ràng quyền và nghĩa

vụ của ngời bào chữa, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tiễn của ngời bào chữa

Ngày 1/4/2001 ủy ban thờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh luật s thay thế Pháp lệnh tổ chức luật s năm1987 Với Pháp lệnh luật s năm 2001 hoạt độngcủa luật s đã có sự phát triển vợt bậc, góp phần nâng cao chất lợng của hoạt độngbào chữa trong tố tụng hình sự

Trong xu thế phát triển mới của đất nớc, BLTTHS năm1988 ngày càng tỏ rõnhững bất cập, hiệu quả điều chỉnh ngày càng giảm làm cho hoạt động tố tụnghình sự không đạt mục đích Trớc tình hình đó Nhà nớc ta đã đề ra chủ trơng cảicách t pháp trong đó có yêu cầu phải sớm ban hành BLTTHS mới thay thếBLTTHS năm 1988

BLTTHS năm 2003 đợc Quốc hội ban hành ngày 26/11/2003 và có hiệu lực

từ ngày 1/7/2004 với nhiều qui định mới về quyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa

đã khẳng định một bớc phát triển mới của chế định ngời bào chữa trong pháp luật

tố tụng Việt Nam

Chơng II: Địa vị pháp lý của ngời bào chữa

23

Trang 24

theo pháp luật hiện hành

2.1- Điều kiện để trở thành ngời bào chữa:

Không phải bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ ánhình sự với t cách là ngời bào chữa Một ngời muốn trở thành ngời bào chữa trong

tố tụng hình sự thì họ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định baogồm các điều kiện về nội dung (điều kiện về chủ thể) và các điều kiện về hìnhthức (điều kiện về thủ tục)

Theo Điều 56 khoản 1 BLTTHS hiện hành những ngời có thể trở thành ngờibào chữa bao gồm : Luật s; ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bịcáo; bào chữa viên nhân dân

* Đối với luật s:

Theo qui định của Pháp lệnh luật s năm 2001 “Luật s là ngời có đủ điềukiện hành nghề theo qui định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng,thực hiện t vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân,

tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo qui định của pháp luật”

(1) Điều kiện để hành nghề luật s là phải gia nhập một Đoàn luật s và có chứng chỉhành nghề luật s (2) Những ngời muốn đợc gia nhập Đoàn luật s thì phải có đủ các

điều kiện: 1- là công dân Việt Nam thờng trú tại Việt Nam; 2- có trình độ đại họcluật; 3- tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật s ở Việt Nam hoặc ở nớc ngoài đợc phápluật Việt nam công nhận, trừ trờng hợp đợc miễn (đó là những ngời đợc công nhận

là Giáo s, Phó Giáo s chuyên ngành luật; Tiến sĩ luật; ngời đã làm Thẩm phán,Kiểm sát viên từ 5 năm trở lên; ngời đã làm Điều tra viên cao cấp, Chuyên viênpháp lý cao cấp, Nghiên cứu viên pháp lý cao cấp); 4- có phẩm chất đạo đức tốt;5- không phải là cán bộ, công chức theo qui định của pháp luật về cán bộ, côngchức; 6- không thuộc vào những trờng hợp không đợc gia nhập Đoàn luật s (đó

là những ngời đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà ch a đợcxoá án tích; đang bị quản chế hành chính; bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vidân sự; là cán bộ, công chức bị buộc thôi việc mà cha hết thời hạn 3 năm kể từngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực)”(1)

( Điều 1 khoản 1 Pháp lệnh luật s năm 2001.

(2) Điều 7 Pháp lệnh luật s năm 2001.

( 1) Xem Điều 8, Điều 9 Pháp lệnh luật s năm 2001.

(2) Xem Điều 3, 17; Điều 19 khoản 2; Điều 18 khoản 2; Điều 23 khoản 2 Pháp lệnh luật s năm 2001 (3) Xem: Điều 29 khoản 1 Nghị định số 87/2003/ NĐ-CP ngày 22/7/2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam; Điều 7 khoản 2 Nghị định số 65/2003/ NĐ-CP ngày11/6/2003 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động t vấn pháp luật.

24

Trang 25

Tuy nhiên không phải bất kỳ ngời luật s nào dù đã có đủ các điều kiện trêncũng đều có thể tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can,

bị cáo Bởi theo qui định của Pháp lệnh luật s năm 2001 thì hình thức tổ chứchành nghề luật s là Văn phòng luật s và Công ty luật hợp doanh, nếu luật s lựachọn hình thức tổ chức hành nghề là Công ty luật hợp doanh thì không đợc thựchiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng nên không thể tham gia tố tụng hình sựvới t cách ngời bào chữa Chỉ có Văn phòng luật s đợc thực hiện dịch vụ pháp lýtrong lĩnh vực tố tụng và chỉ có Văn phòng luật s có nghĩa vụ cử luật s tham gia tốtụng trong các vụ án hình sự theo sự phân công của Đoàn luật s khi cơ quan tiếnhành tố tụng yêu cầu (2) Hoặc nếu luật s tham gia vào tổ chức hành nghề luật s n-

ớc ngoài tại Việt Nam, Trung tâm t vấn pháp luật thì cũng không thể tham gia tốtụng hình sự với t cách là ngời bào chữa(3) Trờng hợp luật s không tham gia vàomột trong các hình thức tổ chức trên mà chỉ gia nhập một Đoàn luật s hoặc thamgia Trung tâm trợ giúp pháp lý (tổ chức trợ giúp pháp lý cho ngời nghèo và đối t-ợng chính sách đợc thành lập theo Quyết định số 734/TTg ngày 6/9/1997 của Thủtớng Chính phủ và Thông t liên tịch số 52/ TTLT/ TP-TC-CBCP-LĐTBXH ngày14/1/1998 của Bộ T pháp, Bộ Tài chính, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, Bộ lao

động thơng binh- xã hội hớng dẫn Quyết định số 734/TTg) có đợc tham gia bàochữa hay không thì cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có tác giả cho rằng trong cáctrờng hợp đó luật s không đợc tham gia bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can, bịcáo(1) Cũng có tác giả cho rằng luật s tham gia tổ chức trợ giúp pháp lý với t cáchchuyên viên trợ giúp pháp lý đợc phép tham gia bào chữa cho đối tợng thuộc diện

đợc trợ giúp pháp lý(2) Theo Thông t 52 nêu trên thì một trong những nhiệm vụcủa Trung tâm trợ giúp pháp lý là “bào chữa miễn phí cho ngời nghèo, đối tợngchính sách trong các vụ việc liên quan đến pháp luật về hình sự, tố tụng hình

sự…” ” Nếu luật s tham gia Trung tâm trợ giúp pháp lý họ sẽ trở thành Chuyênviên trợ giúp pháp lý và vì vậy họ phải thực hiện nhiệm vụ đợc tổ chức giao

* Đối với ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo:

Khái niệm ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo không

đợc quy định trong BLTTHS cũng nh cha đợc giải thích chính thức bởi cơ quan

có thẩm quyền, do vậy còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này cũng nh

( Xem: Đinh Văn Quế, Về chế định …” Sđd.

(2) Xem: Đỗ Xuân Lân, Chuyên viên trợ giúp pháp lý với việc đại diện, bào chữa trớc Toà án, Tạp chí Toà án nhân dân số 4/ 2003.

(3) Xem Điều 67 Bộ luật dân sự năm 1995.

25

Trang 26

về cách xác định phạm vi những ngời đợc xem là ngời đại diện hợp pháp của ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Theo pháp luật dân sự hiện hành ngời đại diện hợp pháp có thể là ngời đạidiện theo pháp luật hoặc là ngời đại diện theo uỷ quyền Ngời đại diện theo phápluật cho cá nhân đợc xác định theo Điều 150 Bộ luật dân sự năm 1995 bao gồm:cha mẹ đối với con cha thành niên; ngời giám hộ đối với ngời đợc giám hộ(3); ngời

đợc toà án chỉ định làm ngời đại diện cho ngời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.Ngời đại diện theo uỷ quyền là ngời có đủ năng lực hành vi dân sự đợc ngời khác

uỷ quyền để đại diện cho họ thực hiện các giao dịch, ngời uỷ

quyền cũng phải là ngời có đủ năng lực hành vi dân sự

Hiện nay trong khoa học luật tố tụng hình sự có quan điểm cho rằng trong

tố tụng hình sự không thể có ngời đại diện theo uỷ quyền của ngời bị tạm giữ,

bị can, bị cáo mà ngời đại diện hợp pháp của họ chỉ có thể là ngời đại diện theopháp luật và để xác định ai là ngời đại diện hợp pháp (ngời đại diện theo phápluật) của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì phải căn cứ vào qui định tại Điều 150

Bộ luật dân sự Cơ sở của quan điểm này là cá nhân không đợc để ngời khác đạidiện cho mình nếu pháp luật qui dịnh họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch

đó(1) Cũng có một số quan điểm thống nhất với quan điểm này khi cho rằng “ngời

đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thờng là những ngời ruộtthịt, thân thích của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nh bố, mẹ, anh, chị em ruột, vợchồng, vv…” của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; là những ngời đợc qui định tại

Điều 150 Bộ luật dân sự” (2)

Quan điểm khác lại cho rằng cần thiết phải có một cái nhìn rộng hơn vềkhái niệm ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo hớngngời đại diện hợp pháp bao gồm ngời đại diện theo pháp luật và cũng có thể là đạidiện theo uỷ quyền vì BLTTHS dùng khái niệm ngời đại diện hợp pháp mà khôngdùng khái niệm ngời đại diện theo pháp luật và vì pháp luật tố tụng hình sự chagiải thích nên có thể vận dụng cách hiểu của pháp luật dân sự để đảm bảo tínhthống nhất, đồng thời việc uỷ quyền ở đây là uỷ quyền bào chữa của ngời bị tạmgiữ, bị can, bị cáo cho luật s, bào chữa viên nhân dân, ngời đại diện hợp pháp của

Trang 27

Về vấn đề phạm vi những ngời đợc xem là ngời đại diện hợp pháp của ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có nhiều quan điểm khác nhau Một số tác giả chorằng ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cha, mẹ, anh chị

em ruột, vợ, chồng đối với trờng hợp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời chathành niên hoặc ngời có nhợc điểm về thể chất hay tinh thần(4)

hoặc chỉ là bố mẹ (cả bố mẹ đẻ và bố mẹ nuôi), ngời giám hộ của những ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cha thành niên(1)

Theo các qui định của BLTTHS hiện hành và Nghị quyết số HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao liênquan đến khái niệm ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo chothấy ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ tham gia tốtụng trong trờng hợp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cha thành niên, ngời

03/2004/NQ-có nhợc điểm về tâm thần hoặc thể chất còn trong trờng hợp ngời bị tạm giữ, bịcan, bị cáo là ngời đã thành niên và không có nhợc điểm về tâm thần hoặc thể chấtthì không có sự tham gia của ngời đại diện hợp pháp Ngời đại diện hợp pháp củangời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về tâmthần hoặc thể chất có quyền lựa chọn ngời bào chữa cho những ngời này hoặc tựmình bào chữa cho họ và bảo vệ quyền lợi của họ

Dựa theo qui định của pháp luật dân sự hiện hành để xác định ngời đại diệnhợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì sẽ có ba khả năng sau:

- Nếu ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cha thành niên thì chỉ có đạidiện theo pháp luật;

- Nếu ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời có nhợc điểm về tinh thần và

họ từ đủ 18 tuổi trở lên thì họ chỉ có ngời đại diện theo pháp luật (trong Bộ luậtdân sự hiện hành không có khái niệm ngời có nhợc điểm về tâm thần mà chỉ cókhái niệm ngời bị mất năng lực hành vi dân sự và ngời bị hạn chế năng lực hành vidân sự, tuy nhiên ngời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự lại không phải là ngời

có nhợc điểm về tâm thần nên chỉ có thể coi ngời có nhợc điểm về tâm thần là

ng-ời bị mất năng lực hành vi dân sự);

- Nếu ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời có nhợc điểm về thể chất và họ

từ đủ 18 tuổi trở lên thì họ chỉ có đại diện theo uỷ quyền vì họ là ngời có đủ nănglực hành vi dân sự nên họ có quyền uỷ quyền cho ngời có đủ năng lực hành

vi dân sự làm đại diện cho họ

( 1) Xem: Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa …” , Sđd, tr 170.

27

Trang 28

Và nh vậy nếu căn cứ vào Bộ luật dân sự hiện hành thì ngời đại diện hợppháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự bao gồm cả ngời đạidiện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền tuỳ theo từng trờng hợp nêu trên.Nếu hiểu ngời đại diện hợp pháp trong tố tụng hình chỉ là ngời đại diện theo phápluật thì trong trờng hợp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời có nhợc điểm về thểchất và họ từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ không có ngời đại diện vì những ngời này chỉ có

đại diện theo uỷ quyền khi đó sẽ khó bảo đảm quyền bào chữa cho họ bởi lẽ đôikhi họ muốn mời ngời bào chữa thì tự họ không thể thực hiện đợc (do có nhợc

điểm về thể chất, chẳng hạn không thể nói hoặc nghe một cách bình thờng, khôngthể viết đợc…” ) Tuy nhiên nếu ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo đồng ý để ngời đạidiện theo uỷ quyền của mình bào chữa cho mình thì ngời đại diện sẽ có một sự

độc lập tơng đối đối với ngời đợc đại diện trong hoạt động bào chữa mà khôngphải theo phạm vi đợc uỷ quyền Thực tế ngời đợc uỷ quyền thờng là ngời ruộtthịt, thân thích của ngời uỷ quyền, tuy nhiên họ cũng có thể là ngời khác mà ngời

uỷ quyền tin tởng

Dù là ngời đại diện theo pháp luật hay đại diện theo uỷ quyền thì ngời đạidiện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là ngời có nănglực hành vi dân sự đầy đủ, có quốc tịch Việt Nam và c trú tại Việt Nam, trừ trờnghợp pháp luật có qui định khác đối với ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngời cóquốc tịch nớc ngoài, ngời không có quốc tịch hoặc là ngời Việt Nam ở nớcngoài(1)

Vì còn nhiều cách hiểu khác nhau về ngời đại diện hợp pháp của ngời bịtạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự nên tất nhiên sẽ dẫn đến việc áp dụngkhông thống nhất qui định này trong thực tiễn Do vậy cần thiết phải qui định mộtcách rõ ràng về khái niệm này trong pháp luật tố tụng hình sự

* Đối với bào chữa viên nhân dân:

Khái niệm này cũng không đợc qui định một cách rõ ràng trong BLTTHS hiện hành và hiện nay cũng cha đợc giải thích chính thức hoặc hớng dẫn cụ thểtrong một văn bản nào Bởi vậy nên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đềnày Có quan điểm cho rằng bào chữa viên nhân dân là ngời đại diện cho cơ quan,

tổ chức nơi bị can c trú hoặc làm việc nh đại diện công đoàn, Đoàn thanh niên, hộiphụ nữ, v.v., có khả năng bào chữa và đợc các cơ quan tiến hành tố tụng côngnhận(1) Theo quan điểm này thì cơ quan, tổ chức chỉ cử ngời làm bào chữa viên

( 1) Xem : Đinh Văn Quế, Về chế định …” , Sđd.

( Bình luận khoa học …” , Sđd, tr 132.

28

Trang 29

nhân dân để bào chữa cho bị can- rõ ràng là không hợp lý Có tác giả lại cho rằngbào chữa viên nhân dân là ngời đợc tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho

bị cáo(2) Quan điểm này cũng không hợp lý vì tổ chức, đoàn thể xã hội hoàn toàn

có thể cử đại diện để bào chữa cho ngời bị can Theo quan điểm khác thì bào chữaviên nhân là ngời đại diện cho cơ quan, tổ chức nơi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáolàm việc hoặc sinh sống, có khả năng bảo vệ quyền lợi cho ngời bị tạm giữ, bịcan, bị cáo(3)

Trong quá trình thi hành BLTTHS năm 1998 có nhều Toà án nhân dân địaphơng đề nghị cần có sự giải thích, hớng dẫn về vấn đề này nên trong kết luận tạiHội nghị tổng kết công tác ngành Toà án nhân dân năm 1993 Chánh án Toà ánnhân dân đã hớng dẫn: Để tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa củamình trong tình hình tổ chức luật s cha đợc tổ chức ở tất cả các địa phơng và nơi

đã có tổ chức luật s rồi thì tổ chức luật s cũng cha đủ điều kiện để đảm nhiệm việcbào chữa trong tất cả các vụ án hình sự có yêu cầu bào chữa cho bị cáo, nên có thểchấp nhận việc hội viên Hội luật gia làm ngời bào chữa cho bị cáo, Chánh án toà

án hoặc Hội đồng xét xử xem xét và cấp giấy chứng nhận cho hội viên Hội luậtgia đã nhận bào chữa cho bị cáo(4) Tuy rằng hớng dẫn này không phải là hớng dẫnchính thức nhng vẫn đợc các Toà án áp dụng trong thực tiễn xét xử Chính vì vậy

mà “trong một thời gian dài nhiều ngời chỉ quan niệm bào chữa viên nhân dân làthành viên của Hội luật gia đợc các văn phòng t vấn pháp luật của tổ chức này cửtham gia tố tụng bào chữa cho ngời bị buộc tội và đợc cơ quan tiến hành tố tụngchấp nhận” và “trong thực tế ngoài luật s,

ngời đại diện của ngời bị buộc tội, tham gia vào tố tụng hình sự với vai trò là ngờibào chữa về cơ bản cũng chỉ có các thành viên của Hội luật gia”()

Theo qui định của BLTTHS năm 2003 thì phạm vi những ngời có thể trởthành bào chữa viên nhân dân đã đợc mở rộng rất nhiều so với qui định củaBLTTHS năm 1998, vì BLTTHS năm 2003 cho phép Uỷ ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cử ngời bào chữa cho bị can, bịcáo là thành viên của tố chức mình

Mặc dù pháp luật tố tụng hiện nay cha qui định tiêu chuẩn của bào chữaviên nhân dân nhng để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của một ngời bào chữa thì dù

(2) Đinh Văn Quế, Về chế định …” , Sđd.

(3) Xem: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Sđd, tr 153,154

(4) Xem: Toà án nhân dân tối cao, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng, Hà Nội 1995, trang 125.

(

(*) Phạm Hồng Hải, Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngời bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Nhà nớc và pháp luật số 5/2004.

29

Trang 30

đợc cử hay đợc mời họ cũng phải là ngời có khả năng bào chữa với một kiến thứcpháp luật nhất định.

Nh vậy trong các đối tợng có thể trở thành ngời bào chữa trong tố tụng hình

sự thì cho đến nay chỉ có luật s là đợc qui định chặt chẽ về điều kiện, tiêu chuẩncòn hai đối tợng còn lại thì vẫn cha đợc qui định cụ thể về các vấn đề này Để đảmbảo quyền nhờ ngời khác bào chữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo đợc thựchiện triệt để và có hiệu quả trong điều kiện đội ngũ luật s cha đủ để đáp ứng nhucầu của xã hội và không phải tất cả những ngời bị buộc tội đều có khả năng kinh

tế để mời luật s nói riêng và ngời bào chữa nói chung thì việc qui định ngời đạidiện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân có thểtham gia bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là phù hợp và cần thiết Tuynhiên để những qui định này đợc thực thi trong thực tiễn và

đợc áp dụng một cách thống nhất thì nhất thiết phải có sự hớng dẫn chính thức một cách cụ thể và chi tiết bởi các cơ quan có thẩm quyền theo luật định

2.1.1.2- Những điều kiện chung:

Ngoài những điều kiện riêng cả ba đối tợng này đều phải đáp ứng những

điều kiện chung về mặt chủ thể sau:

1-Không thuộc một những ngời không đợc bào chữa theo qui định tại Điều

Ngời đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó là ngời thuộc một trong các chủthể đợc qui định tại khoản 2 Điều 33 BLTTHS năm 2003 mà trong quá trình khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đó đang thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tơng ứngcủa ngời tiến hành tố tụng (2)

Về khái niệm ngời thân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành tố tụngtrong vụ án đó thì cha có văn bản hớng dẫn cụ thể Có ý kiến cho rằng có thể dựatrên qui định của Bộ luật dân sự về thừa kế, qui định của Luật hôn nhân và gia

( 1), (2),(3) Xem: Đặng Quang Phơng, Tìm hiểu một số …” , Sđd, tr 19.

30

Trang 31

đình về cấp dỡng để xác định ngời thân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành tốtụng trong vụ án đó(3) Quan điểm này không phù hợp vì phạm vi những ngời đợcxác định để giải quyết mối quan hệ thừa kế hoặc cấp dỡng- quan hệ tài sản lànhững ngời có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dỡng Còn trong hoạt

động tố tụng việc xác định những ngời thân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành

tố tụng trong vụ án là để bảo đảm sự vô t của những ngời tiến hành tố tụng, đảmbảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án Trong quan hệ tài sản giữaanh chị em nuôi không tồn tại quan hệ thừa kế tuy nhiên mối quan hệ tình cảmgiữa họ nhiều khi thân thiết hơn là giữa anh chị em ruột vì vậy không thể nói việcngời bào chữa là anh chị em nuôi của ngời đã hoặc đang tiến hành tố

tụng trong vụ án không ảnh hởng đến sự vô t của họ

Nếu vận dụng cách giải thích của Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày2/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về ngời thân thíchcủa ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền, lợi ích liênquan đến vụ án, bị can, bị cáo() thì phạm vi những ngời thân thích của ngời đãhoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó sẽ bao gồm:

- Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của ngời đãhoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;

- Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của ngời

đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;

- Cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của ngời đãhoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó hoặc là cháu ruột của ngời đã hoặc

đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó mà ngời đã hoặc đang tiến hành tố tụngtrong vụ án đó đó là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

Tuy nhiên theo cách giải thích này thì cháu ruột của ngời đã hoặc đang tiếnhành tố tụng trong vụ án đó mà ngời đó là ông, bà nội ngoại không phải là ngờithân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành tố tụng thì không phù hợp

Nh vậy khái niệm ngời thân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành tố tụngcũng cần phải đợc giải thích chính thức một cách rõ ràng và phù hợp hơn

Trong quá trình tố tụng ngời bào chữa luôn là ngời đa ra các chứng cứchứng minh ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội; chứng minh các tình tiết giảmnhẹ trình trạng của họ còn ngời tiến hành tố tụng là ngời có trách nhiệm đánh giácác chứng cứ của vụ án Nếu ngời bào chữa đồng thời là ngời tiến hành tố tụng

(

(*) Xem: Điểm b mục 4 phần I Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

31

Trang 32

hoặc là ngời thân của những ngời này thì việc đánh giá chứng cứ sẽ không đảmbảo khách quan và ngời bào chữa sẽ có lới thế hơn ngời bị hại hoặc đại diện của

họ trong việc thu thập chứng cứ có sẵn trong hồ sơ vụ án, không bảo đảm

quyền bình đẳng trong tố tụng(1)

+ Ngời tham gia trong vụ án đó với t cách là ngời làm chứng, ngời giám

định hoặc ngời phiên dịch:

Khi ngời bào chữa đồng thời là ngời làm chứng, ngời giám định hoặc ngờiphiên dịch thì lời khai hoặc kết luận giám định hoặc lời dịch của họ sẽ thiên vịcho ngời đợc bào chữa điều này ảnh hởng nghiêm trọng đến nguyên tắc bình đẳngtrong tố tụng hình sự (2)vì xuất phát điểm của ngời bào chữa là làm nhẹ trình trạngcủa ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo Do vậy nếu một ngời đã là ngời làm chứng,ngời giám định hoặc ngời phiên dịch trong vụ án đó thì họ phải từ chối nếu đợcmời hoặc cử để tham gia với t cách là ngời bào chữa, ngợc lại nếu đã đợc mờihoặc cử làm ngời bào chữa thì ngời đó phải từ chối tham gia với t cách là ngờigiám định hoặc ngời phiên dịch trong vụ án đó Theo nh qui định này thì nhữngngời tham gia tố tụng khác nh ngời bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; ngời

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vẫn có thể trở thành ngời bào chữa chongời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng vụ án đó(3) (vì họ không thuộc nhữngngời không đợc bào chữa) đây là điều không phù hợp và nó thể hiện sự thiếu chặtchẽ của BLTTHS Vì vậy BLTTHS nên qui định những ngời tham gia tố tụng nàycũng là những ngời không đợc bào chữa

Ngoài ra nếu một ngời đã đợc mời hoặc cử làm ngời bào chữa nhng trongquá thực hiện nhiệm vụ họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà án tuyên

bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ sẽ không thể tiếp tục tiếp tục

tham gia với t cách là ngời bào chữa đợc nữa Bởi vậy BLTTHS cũng cần qui

định ngời không đủ năng lực hành vi dân sự là ngời không đợc bào chữa(1)

2- Điều kiện cuối cùng về chủ thể là một ngời không đợc bào chữa chonhiều ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ đối lập nhau

Trong nhiều trờng hợp việc xác định quyền và lợi ích của những ngời bịtạm giữ; các bị can, bị cáo có đối lập nhau hay không không phải dễ dàng bởinhiều khi giữa họ có mối quan hệ ruột thịt, thân thiết nhng quyền và lợi ích của họvẫn đối lập nhau(2) Do vậy để xác định quyền và lợi ích giữa những ngời bị tạm

( (1),(2) Xem: Bình luận khoa học …” , Sđ d, tr 132,133.

(3) Xem thêm: Đinh Văn Quế, Về chế định …” , Sđd, tr 19.

( 1),(2),(3) Xem thêm: Đinh Văn Quế, Về chế định …” , sđd, trang 19.

32

Trang 33

giữ; giữa các bị can, bị cáo có đối lập nhau hay không phải căn cứ vào nhiều tìnhtiết của vụ án và quan trọng nhất là phải đặt ra giả thiết là nếu đa ra chứng cứ,quan điểm gỡ tội cho ngời này thì có buộc tội cho ngời khác không hoặc nếu đa rachứng cứ, quan điểm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ngời này thì có làm tăngtrách nhiệm hình sự cho ngời khác mà mình cùng bào chữa hay không (3).

2.1.2 - Điều kiện về thủ tục:

Những điều kiện về chủ thể chỉ là những điều kiện cần để luật s ; ngời đạidiện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân có thểtham gia bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo Để thực sự đợc tham gia vụ

án hình sự với t cách là ngời bào chữa thì những ngời này còn phải đáp ứng những

điều kiện về mặt thủ tục- điều kiện đủ để họ trở thành ngời bào chữa trong vụ ánhình sự

Những điều kiện về mặt thủ tục bao gồm:

1- Đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoặc ngời đại diện hợp pháp của họlựa chọn (nhờ);

- Hoặc đợc Văn phòng luật s cử theo phân công của Đoàn luật s hoặc

đợc Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử khi các Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu trong các trờng hợp: Bị can, bị cáo về tộitheo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình đợc qui định tại Bộ luật hình sự;

Bị can, bị cáo là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về tâm thần hoặc thể chất

mà bị can, bị cáo hoặc ngời đại diện hợp pháp của họ không mời ngời bào chữa và

đợc bị can, bị cáo ngời đại diện hợp pháp của họ đồng ý (không có yêu cầu thay

đổi hoặc từ chối ngời bào chữa)

2- Đợc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bằng việc cấpgiấy chứng nhận bào chữa

* Về quyền lựa chọn ngời bào chữa của bị can, bị cáo, hoặc ngời đại diệnhợp pháp của họ, Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004 của Hội đồngThẩm phán Toà án nhân dân tối cao hớng dẫn cụ thể nh sau:(1)

+ Đối với bị can, bị cáo là ngời cha cha thành niên, ngời có nhợc điểm vềtâm thần hoặc thể chất, thì họ và ngời đại diện hợp pháp của họ đều có quyền đợclựa chọn ngời bào chữa;

+ Đối với bị can, bị cáo là ngời từ đủ mời tám tuổi trở lên, không có nhợc

điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì chỉ họ mới có quyền lựa chọn ngời bào chữa;

( 1) Xem mục 2 phần II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

33

Trang 34

trong trờng hợp ngời thân thích của họ hoặc ngời khác lựa chọn (nhờ) ngời bàochữa cho họ thì cần phân biệt nh sau:

- Nếu việc lựa chọn (nhờ) ngời bào chữa đã có sự đồng ý (hoặc uỷ quyền)của bị can, bị cáo thì Toà án xem xét cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ng ời bàochữa để ngời bào chữa thực hiện việc bào chữa

- Nếu việc lựa chọn (nhờ) ngời bào chữa cha có sự đồng ý (hoặc uỷ quyền)của bị can, bị cáo thì Toà án yêu cầu ngời thân thích của bị can, bị cáo hoặc ngờikhác thực hiện việc lựa chọn ngời bào chữa phải hỏi ý kiến của bị can, bị cáo Toà

án cũng có thể thông báo cho bị can, bị cáo đang bị tạm giam biết việc ng ời thânthích của họ hoặc ngời khác đã lựa chọn (nhờ) ngời bào chữa cho họ và hỏi có

đồng ý hay không Nếu họ đồng ý thì Toà án xem xét cấp giấy

chứng nhận bào chữa để ngời bào chữa thực hiện việc bào chữa

* Về các trờng hợp cử ngời bào chữa theo yêu cầu của các Cơ quan tiến hành tố tụng, Nghị quyết 03 hớng dẫn cụ thể nh sau(1):

+ Trờng hợp khi phạm tội ngời phạm tội là ngời cha thành niên, nhng khikhởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ mời tám tuổi thì họ không thuộc trờng hợp qui

định tại điểm b khoản 2 điều 57 của BLTTHS

+ Trờng hợp bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ không mời ngờibào chữa và theo yêu cầu của Toà án, Văn phòng luật s đã cử ngời bào chữa cho

họ hoặc Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận đã

cử bào chữa viên nhân dân cho thành viên của tổ chức mình thì Toà án phải thôngbáo cho bị can, bị cáo và ngời đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là ngời chathành niên, ngời có nhợc điểm về tâm thần hoặc thể chất biết Việc thông báo cóthể bằng văn bản riêng, có thể đợc ghi trong quyết định đa vụ án ra xét xử

+ Trớc khi mở phiên toà bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ cóyêu cầu thay đổi hoặc từ chối ngời bào chữa thì ngời có yêu cầu phải làm văn bảntrong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu Trong trờng hợp họ trực tiếp đến Toà án yêucầu thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu và ngời có yêu cầu phải ký tênhoặc điểm chỉ vào biên bản Yêu cầu thay đổi hoặc từ chối ngời bào chữa đợc giảiquyết nh sau:

- Trờng hợp yêu cầu thay đổi ngời bào chữa thì Thẩm phán đợc phân cônglàm chủ toạ phiên toà căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 56 của BLTTHS, hớngdẫn của Nghị quyết này để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận.Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho ngời yêu cầu biết trong

( 1) Xem mục 3 phần II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

34

Trang 35

đó cần nêu rõ căn cứ của việc không chấp nhận Nếu chấp nhận thì yêu cầu Đoànluật s phân công Văn phòng luật s đã cử ngời khác bào chữa cho bị can, bị cáohoặc đề nghị Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận

cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tổ chức mình

- Trờng hợp yêu cầu từ chối ngời bào chữa thì vẫn tiến hành triệu tập ngờibào chữa đã đợc cử tham gia phiên toà theo thủ tục chung Nếu tại phiên toà mà

họ vẫn tiếp tục có yêu cầu từ chối ngời bào chữa thì Hội đồng xét xử xem xét

+ Tại phiên toà bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ có yêu cầuthay đổi hoặc từ chối ngời bào chữa thì phải ghi vào biên bản phiên toà Yêu cầuthay đổi hoặc từ chối ngời bào chữa đợc giải quyết nh sau:

- Trờng hợp yêu cầu thay đổi ngời bào chữa thì Hội đồng xét xử thảo luận

và thông qua tại phòng xử án Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 56 của BLTTHS,hớng dẫn của Nghị quyết này để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấpnhận Nếu không chấp nhận thì thông báo cho ngời có yêu cầu biết và nói rõ căn

cứ của việc không chấp nhận Nếu chấp nhận thì phải hoãn phiên toà và Thẩmphán đợc phân công làm chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử yêu cầu

Đoàn luật s phân công Văn phòng luật s đã cử ngời khác bào chữa cho bị cáo hoặc

đề nghị Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cửbào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tổ chức mình

- Trờng hợp yêu cầu từ chối ngời bào chữa (kể cả đã có yêu cầu từ chối ngờibào chữa trớc khi mở phiên toà) thì Hội đồng xét xử cần phải giải thích cho họbiết ngời bào chữa sẽ giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp cho bị cáo và chi phí cho ngời bào chữa do Toà án thanh toán

Trong trờng hợp bị cáo là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về tâmthần hoặc thể chất mà cả bị cáo và ngời đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữnguyên ý kiến từ chối ngời bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản phiên toà vàtiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của ngời bàochữa đã đợc cử Nếu chỉ có bị cáo từ chối ngời bào chữa còn ngời đại diện hợppháp của bị cáo không từ chối hoặc chỉ có ngời đại diện hợp pháp của bị cáo từchối ngời bào chữa còn bị cáo không từ chối thì tiến hành xét xử vụ án theo thủtục chung có sự tham gia của ngời bào chữa đã đợc cử

Tuy nhiên vấn đề quyền lựa chọn ngời bào chữa của ngời bị tạm giữ, ngời

đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ; vấn đề quyền yêu cầu thay đổi hoặc

từ chối ngời bào chữa đợc cử của họ cũng nh vấn đề yêu cầu thay đổi hoặc từ chốingời bào chữa đợc cử theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng của bị can,

35

Trang 36

ngời đại diện hợp pháp của họ ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố lại không đợcNghị quyết 03 hớng dẫn Điều này sẽ gây không ít vớng mắc trong quá trình ápdụng qui định của BLTTHS về vấn đề này.

* Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bào chữa

Theo qui định của BLTTHS những ngời có thẩm quyền cấp giấy chứngnhận bào chữa bao gồm:

- Thủ trởng cơ quan điều tra khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự; PhóThủ trởng cơ quan điều tra khi đợc phân công điều tra vụ án hình sự(1);

-Viện trởng Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự; Phó Viện trởngViện kiểm sát khi đợc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự (2);

- Chánh án Toà án khi tiến hành việc giải quyết vụ án hình sự; Phó Chánh

án Toà án khi đợc phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự (3);

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao (4)

Nh vậy so với BLTTHS năm 1998, BLTTHS năm 2003 qui định chi tiết hơn

về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bào chữa, đồng thời BLTTHS năm 2003 đã

mở rộng phạm vi những ngời có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bào chữa Đây

là một trong những thuận lợi để ngời bào chữa tham gia tố tụng

* Về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa

BLTTHS 1988 không qui định về thời hạn cấp giấy chứng nhận bào chữadẫn đến tình trạng tuỳ tiện của các chủ thể có thẩm quyền theo luật định trongviệc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ngời bào chữa

Khắc phục hạn chế này BLTTHS năm 2003 đã qui định cụ thể: Trong thờihạn ba ngày kể từ ngày nhận đợc đề nghị của ngời bào chữa kèm theo giấy tờ liênquan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét,cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp giấychứng nhận bào chữa thì phải nêu rõ lý do Đối với trờng hợp tạm giữ ngời thìtrong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đợc đề nghị của ngời bào chữa kèm theo giấy

tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng

( Xem điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 34 BLTTHS năm 2003.

(2) Xem điểm k khoản 2 và khoản 3 Điều 36 BLTTHS năm 2003.

(3) Xem điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 38 BLTTHS năm 2003.

(4) Xem khoản 3 Điều 39 Điều 38 BLTTHS năm 2003.

36

Trang 37

nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thìphải nêu rõ lý do().

Những qui định này là một trong các đảm bảo về mặt lập pháp để ngời bàochữa kịp thời tham gia vào các giai đoạn tố tụng- đây là một điều kiện cần thiết đểbảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Về giá trị của giấy chứng nhận bào chữa cũng có nhiều ý kiến tranh luận

Có ý kiến cho rằng giấy chứng nhận bào chữa đợc cấp ở giai đoạn tố tụng nào thìchỉ có giá trị trong giai đoạn đó, sang giai đoạn sau phải xin lại giấy chứng nhậnbào chữa ý kiến khác thì cho rằng với một giấy chứng nhận bào chữa, ngời bàochữa có thể tham gia từ thời điểm đợc cấp cho đến khi kết thúc phiên toà phúcthẩm Cũng có ý kiến cho rằng với một giấy chứng nhận bào chữa, ngời bào chữachỉ có thể tham gia từ thời điểm đợc cấp đến hết phiên toà sơ thẩm, nếu ngời bàochữa thực hiện quyền kháng cáo thì phải xin lại giấy chứng nhận bào chữa để đợctham gia quá trình xét xử phúc thẩm

Khi ngời bào chữa đợc cấp giấy chứng nhận bào chữa tại giai đoạn nào đóthì khi chuyển sang giai đoạn tiếp theo cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn đónhất thiết phải xem xét xem ngời bào chữa có rơi vào trờng hợp không đợc bàochữa hay không, nếu không thì không cần thiết phải cấp lại giấy chứng nhận bàochữa mà chỉ cần một thủ tục đơn giản là chấp thuận để ngời bào chữa đợc thamgia giai đoạn đó Trờng hợp ngợc lại thì ngời bào chữa không thể tiếp tục tham gia

và đơng nhiên phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ngời bào chữa khác nếu có

Nếu cho rằng trong mọi trờng hợp khi chuyển sang giai đoạn tố tụng tiếptheo hoặc chuyển sang quá trình xét xử phúc thẩm đều phải làm lại thủ tục cấpgiấy chứng nhận bào chữa cho ngời bào chữa là không phù hợp bởi lẽ việc cấpgiấy chứng nhận bào chữa cho ngời bào chữa hiện nay còn phải trải qua nhiềuthủ tục phức tạp Nh vậy có thể khẳng định việc sớm ban hành Thông t hớng dẫnchi tiết về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ngời bào chữa là rất cầnthiết

2.2- Quyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa theo pháp luật

hiện hành.

Các quyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa là cơ sở để xác định vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự Bởi vậy vấn đềquan trọng nhất khi nghiên cứu về ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là việc xemxét quyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa

( *) Xem khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003.

37

Trang 38

Trong BLTTHS năm 2003 (nguồn cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật

tố tụng hình sự) các quyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa đợc qui định tập trungtại Điều 58 và đợc qui định tại một số điều luật khác

Nhìn chung trong mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau ngời bào chữa có cácquyền và nghĩa vụ khác nhau tuy nhiên cũng có những quyền và nghĩa vụ tồn tạitrong suốt quá trình giải quyết vụ án Do vậy sẽ phù hợp hơn nếu nghiên cứu cácquyền và nghĩa vụ của ngời bào chữa theo hớng đó là quyền và nghĩa vụ chungcủa họ vì nh vậy sẽ tránh đợc sự lặp lại khi đặt các quyền và nghĩa vụ của ngờibào chữa vào từng giai đoạn tố tụng Tuy nhiên không thể không xem xét nộidung của các quyền và nghĩa của ngời bào chữa đợc thể hiện trong mỗi một giai

đoạn tố tụng cụ thể

Theo nghĩa chung nhất quyền là khả năng xử sự của một chủ thể khi thamgia vào các quan hệ xã hội và đợc pháp luật qui định Nh vậy quyền của ngời bàochữa chính là khả năng xử sự của ngời bào chữa khi tham gia vào các quan hệ tốtụng hình sự và đợc pháp luật tố tụng hình sự qui định

tạm giữ trong các trờng hợp: bắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp; bắt ngời phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

Đây là quyền của ngời bào chữa nhng cũng đồng thời là quyền của ngời

bị tạm giữ, bị can, bị cáo- quyền có ngời bào chữa từ khi bị tạm giữ hoặc từ khi bịkhởi tố

Quyền này tạo khả năng cho ngời bào chữa chính thức bắt đầu tham giahoạt động tố tụng hình sự Việc thực hiện quyền này trên thực tế là cơ sở để ngờibào chữa có thể thực hiện các quyền khác của mình vì nếu cha chính thức thamgia hoạt động tố tụng thì không thể thực hiện các quyền tố tụng khác đợc Tuynhiên nh đã phân tích, để tham gia thực tế vào hoạt động tố tụng thì ngời bào chữaphải đợc mời hoặc cử và phải đợc các Cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận bằngviệc cấp giấy chứng nhận bào chữa Do vậy việc thực hiện quyền này trên thực tếkhông phụ thuộc vào ý muốn của ngời bào chữa

Việc tạo khả năng cho ngời bào chữa tham gia sớm hơn vào quá trình giảiquyết vụ án hình sự thay vì chỉ cho phép tham ở giai đoạn xét xử không chỉ có ýnghĩa quan trọng đối với ngời bị buộc tội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án.Chính vì vậy BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận quyền tham gia tố tụng từ khi có

38

Trang 39

quyết định tạm giữ cho ngời bào chữa trong một số trờng hợp bắt ngời Trongkhoa học luật tố tụng hình sự cũng có nhiều ý kiến về việc qui định thời điểm bắt

đầu tham gia của ngời bào chữa Có tác giả cho rằng chỉ khi khởi tố bị can thì mớibắt đầu sự buộc tội đối với một ngời nào đó và khi đó quyền bào chữa mới xuấthiện và do vậy ngời bào chữa chỉ có thể tham gia từ khi có quyết định khởi tố bịcan(1) Có tác giả lại cho rằng thời điểm một ngời bị tạm giữ về hình sự là thời

điểm ngời đó bị buộc tội và quyền bào chữa xuất hiện từ thời điểm đó và vì vậyngời bào chữa phải đợc tham gia từ khi có quyết định tạm giữ (2)

Bản chất của quyền bào chữa là chống lại sự buộc tội và bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình trớc các biểu hiện xâm phạm đến từ các chủ thể đại diệncho nhà nớc Khi một ngời bị tạm giữ về hình sự thì quyền và lợi ích hợp pháp của

họ đã có nguy cơ bị xâm phạm bởi các chủ thể đại diện cho nhà nớc do vậy họphải đợc hởng quyền bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Không thể nói Nhà nớc của chúng ta là Nhà nớc của dân, do dân và vì dân nếu ng-

ời dân không có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trớc các Cơquan nhà nớc Vậy có thể khẳng định rằng qui định cho ngời bào chữa quyềntham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can và từ khi có quyết định tạmgiữ trong một số trờng hợp là cần thiết và phù hợp để đảm bảo cho việc tạm giữngời bị bắt, khởi tố bị can là có căn cứ, đúng pháp luật và để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can một cách tốt nhất

Mặc dù sự tham gia sớm của ngời bào chữa vào quá trình giải quyết vụ ánhình sự có nhiều ý nghĩa quan trọng, tuy nhiên trong một số trờng hợp sự tham giacủa ngời bào chữa vào hoạt động điều tra có nguy cơ làm ảnh hởng đến lới ích củaNhà nớc- lợi ích cần đợc u tiên bảo vệ Bởi vậy pháp luật qui định: “Trong trờnghợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện tr ởngviện kiểm sát quyết định để ngời bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điềutra”(3) Về vấn đề này, trong quá trình xây dựng dự thảo BLTTHS

năm 2003 cũng có ý kiến cho rằng cần cho phép ngời bào chữa tham gia tố tụng

từ khi khởi tố bị can đối với tất cả các vụ án với lý do là: nếu cho rằng sự tham giacủa ngời bào chữa ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng sẽ gây khó khăncho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra vụ án, không bảo đảm bí mật

điều tra, lộ bí mật nhà nớc, bí mật công tác v.v là sự suy đoán xuất phát từ ý thức

( Xem: Hoàng Thị Sơn, Khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí luật học số 5/2000.

(2) Xem: Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1999.

(3) Xem khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003.

39

Trang 40

chủ quan của các cơ quan này và không có căn cứ thuyết phục Sự tham gia củangời bào chữa ngay từ đầu đối với tất cả các vụ án sẽ là điều kiện bảo đảm choviệc điều tra đầy đủ, toàn diện và khách quan về vụ án Còn việc tiết lộ bí mật

điều tra, lộ bí mật nhà nớc hay bí mật công tác, v.v đã có các chế tài pháp luậtkhác đủ để điều chỉnh và xử lý ngời bào chữa nếu họ vi phạm(1)

Theo qui định này thì không phải tất cả vụ án về tội xâm phạm an ninhquốc gia (các tội đặc biệt nghiêm trọng đợc qui định tại Chơng XI Bộ luật hình sựnăm 1999) đều có sự hạn chế về thời điểm bắt đầu tham gia của ngời bào chữa màchỉ trong trờng hợp cần thiết phải giữ bí mật điều tra Nếu hiểu bí mật điều tra là

kỹ thuật, nghiệp vụ điều tra (nghĩa là việc điều tra đợc thực hiện bằng các biệnpháp nghiệp vụ, kỹ thuật gì, các bớc tiến hành ra sao…” ) thì không chỉ phải giữ bímật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà cần phải giữ đối với tấtcả các tội đợc qui định trong Bộ luật hình sự, bởi lẽ nếu để lộ kỹ thuật nghiệp vụ,biện pháp điều tra thì kẻ phạm tội sẽ dễ dàng gây khó khăn cho công việc điều tra,

ảnh hởng nghiêm trọng đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tộiphạm

Nh vậy bí mật điều tra trong qui định này phải đợc hiểu là bí mật của đối ợng điều tra (chẳng hạn những tài liệu, địa điểm quan trọng thuộc các lĩnh vựcchính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế…” mà Nhà nớc cha hoặc không công bố

t-và nếu bị lộ sẽ gây nguy hại cho Nhà nớc(2)

Cũng theo qui định này thì khả năng tham gia tố tụng của ngời bào chữa chỉ phụ thuộc vào ý chí của cơ quan tiến hành tố tụng trong trờng hợp cần giữ bí mật điều tra theo qui định của pháp luật Còn trong những trờng hợp bắt buộc phải

có ngời bào chữa nhng bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của họ không mờingời bào chữa mà cơ quan tiến hành tố tụng không yêu cầu các chủ thể có tráchnhiệm cử ngời bào chữa là cơ quan tiến hành tố tụng đã không thực hiện đúngnhiệm vụ của mình và đã vi phạm thủ tục tố tụng Đây chỉ là sự hạn chế sự thamgia tố tụng của ngời bào chữa bởi ý chí của các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực

tế mà không phải là sự hạn chế bởi ý chí của các cơ quan tiến hành tố tụng theoluật định

Để có thể thực hiện đợc quyền này trên thực tế vào đúng thời điểm qui

định, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng trách nhiệm của

( Nguyễn Đức Mai, Vấn đề tranh tụng trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, Tạp chí nhà nớc

và pháp luật số 10/2003.

(2) Xem: Lê Cảm (chủ biên), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội-2003, trang 639.

40

Ngày đăng: 11/08/2014, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9- Nghị định của Chính phủ số 87/2003/NĐ-CP ngày 22/7/2003 về hành nghề của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam, Công báo số 111 (2-8-2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ số 87/2003/NĐ-CP ngày 22/7/2003 về hành nghề của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam
10- Nghị định của Chính phủ số 65/ 2003/ NNĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức hoạt động t vấn pháp luật, Công báo số 69-70 (1-7-2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ số 65/ 2003/ NNĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức hoạt động t vấn pháp luật
13- Toà án nhân dân tối cao: Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, Hà Néi-1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng
15- Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
16- Khoa luật Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Giáo trình Luật tổ chức Toà án, Viện kiểm sát, Công chứng, luật s, Nxb Đại học tổng hợp Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tổ chức Toà án, Viện kiểm sát, Công chứng, luật s
Nhà XB: Nxb Đại học tổng hợp Hà Nội
17- Nguyễn Ngọc Chí: Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải cách t pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền, Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật số 11/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải cách t pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền
18- Đinh Văn Quế: Thủ tục xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19- Đinh Văn Quế: Về chế định ngời bào chữa, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế định ngời bào chữa
20- Đinh Văn Quế: Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của ngời tham gia tố tụng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (7/ 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của ngời tham gia tố tụng
21- Nguyễn Văn Tuân: Vai trò của luật s trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của luật s trong tố tụng hình sự
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
22- Nguyễn Văn Tuân: Luật s và hành nghề luật s, Nxb Đại học quốc gia Hà Néi, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật s và hành nghề luật s
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Néi
23- Nguyễn Văn Tuân: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng t pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 7 (148)- 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng t pháp ở Việt Nam hiện nay
24- Đào Trí úc (chủ biên): Hệ thống t puáp và cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội- 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống t puáp và cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội"
25- Phan Trung Hoài: Vấn đề hoàn thiện pháp luật về luật s ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hoàn thiện pháp luật về luật s ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
26- Phan Trung Hoài: Một số vấn đề về cơ sở bảo đảm dân chủ trong tranh luận tại phiên toà hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 3/ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cơ sở bảo đảm dân chủ trong tranh luận tại phiên toà hình sự
27- Phan Hữu Th (chủ biên): Kỹ năng hành nghề luật s, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng hành nghề luật s
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
28- Phạm Hồng Hải: Bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội- 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị buộc tội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
29- Phạm Phạm Hồng Hải: Vai trò của luật s trong hoạt động tố tụng- Thực trạng và phơng hớng đổi mới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Đặc san số 4 (3/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của luật s trong hoạt động tố tụng- Thực trạng và phơng hớng đổi mới
30- Phạm Hồng Hải: Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngời bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật số 5/ 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngời bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
31- Phạm Hồng Hải: Vị trí của luật s bào chữa trong phiên toà xét xử, Tạp chí Luật học số 4/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của luật s bào chữa trong phiên toà xét xử

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w