1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ

55 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.1.3 Cấu trúc vùng năng lượng trong polymer dẫn I.1.3.1 Cấu tạo phân tử và các liên kết trong phân tử Điểm then chốt để phân biệt giữa vật liệu vô cơ và hữu cơ là: các kích thích tr

Trang 1

Chương I

POLYMER DẪN ĐIỆN VÀ

LINH KIỆN PHÁT QUANG HỮU CƠ

I.1.1 Giới thiệu chung

Nghiên cứu vật liệu phát quang hữu cơ đã bắt đầu vào thập kỷ 70 khi các nhà nghiên cứu tìm ra độ dẫn của các hệ vật liệu polymer có thể thay đổi từ chất điện môi thành “kim loại” bằng cách pha tạp hoá học

Polymer dẫn điện đầu tiên – polyacetylen – được chế tạo bởi Shirakawa [48] Các khám phá tiếp theo do Heeger và MacDiarmid [22] chỉ ra rằng polymer tăng độ dẫn lên gấp 12 lần bằng cách pha tạp oxy hóa đã làm cả thế giới quan tâm đến các vật liệu này Việc phát triển các màng mỏng điện phát quang hữu cơ được bắt đầu vào những năm 1980 thông qua các công trình của Tang và Van Slyke [21], họ đã chứng minh được quá trình điện phát quang của các polymer bán dẫn bằng cách chế tạo linh kiện điốt phát quang hữu cơ hai lớp thông qua phương pháp bốc bay các vật liệu “phân tử” ở nhiệt độ thấp trong chân không Các linh kiện này bao gồm một lớp truyền trống diamine nhân thơm và lớp phát quang Alq3 (8-hydroxyquinoline aluminium) [91] Ánh sáng phát ra từ vật liệu hữu cơ đo được thông qua quá trình điện phát quang và quang phát quang

Các polymer kết hợp dùng cho các áp dụng phát quang xuất hiện trễ hơn (1990) khi Burroughes [52] và các cộng sự đã công bố việc chế tạo các điốt phát quang trên cơ

sở polymer kết hợp, mở đầu cho quá trình quang – điện (optoelectronic) hữu cơ Sau đó, lĩnh vực này tiến triển mạnh và các sản phẩm thương mại đầu tiên dựa trên các điốt phát quang hữu cơ đã được tung ra thị trường [87]

Trang 2

Từ khi khám phá và quan sát được sự phát xạ ánh sáng của vật liệu hữu cơ của các nhà vật lý tiên phong này, thiết bị phát sáng hữu cơ được phát triển và hoàn thiện đáng kể Thời gian sống của thiết bị cũng như hiệu suất hoặc điện thế làm việc được hoàn thiện thêm rất nhiều Các màn hình phẳng dẻo kích thước lớn đang được tập trung nghiên cứu bởi những tập đoàn sản xuất lớn trên thế giới như Sony, Kodak, Sanyo, Samsung… Bên cạnh đó các nghiên cứu đa dạng về các linh kiện hay sensor bán dẫn hữu cơ cũng được phát triển mạnh mẽ, nhằm vào mục đích là thay thế cho các dụng cụ bán dẫn vô cơ vì giá thành rất thấp và sự đa dạng của chúng (hợp phần hữu cơ chiếm trên 90% các vật liệu hiện có trên thế giới) Một số ưu, nhược điểm chính của các bán dẫn tương lai này có thể liệt kê như sau:

• Các tính chất nổi trội của polymer dẫn điện (Vật liệu “bán dẫn hữu cơ”)

ƒ Tương đồng với các bán dẫn vô cơ

ƒ Giá thành thấp

ƒ Có thể chế tạo được diện tích lớn

ƒ Đáp ứng được các tính chất quang và điện đặc biệt

ƒ Một số tính chất ưu việt khác mà các vật liệu khác không dễ dàng có được như tính dẻo, có thể uốn cong dưới bất kỳ hình dạng nào, màu trung thực, số lượng màu nhiều …

• Các nhược điểm cần khắc phục:

ƒ Độ ổn định

ƒ Kiểm soát độ dày màng polymer

ƒ Độ linh động của các hạt tải điện thấp

Nói chung, khả năng ứng dụng của bán dẫn hữu cơ hiện nay đi vào các lĩnh vực sau: OLED, màn hình phẳng dẻo kích thước lớn, laser, solar cell, photodetector, các loại transistor, các sensor hoá học, bộ nhớ (memory cell), các cấu trúc nano, quantum dot hữu cơ…

Trang 3

Hình I-1: Cấu trúc OLED cơ bản

Cấu trúc OLED cơ bản được mô tả trên Hình I-1 OLED – hệ màng hữu cơ đa lớp – dựa trên cơ sở phun điện tích dương và điện tích âm từ các điện cực vào các lớp hữu

cơ, kết quả cuối cùng là chúng hình thành các exciton và có thể tái hợp phát sáng Màu của sự phát sáng phụ thuộc vào quá trình chọn polymer hoặc các phân tử nhỏ (tạp của lớp phát sáng) thích hợp Các electron được phun từ vật liệu có công thoát thấp, trong khi đó các lỗ trống được phun từ vật liệu có công thoát cao

Điện cực trong suốt ITO hay ZnO:Al …được sử dụng như anốt

Màng truyền lỗ trống HTL hay màng phun lỗ trống HIL: CuPc, PEDOT-PSS, PVK, NBP, TPD… và một số tạp loại p cho chúng như F4TCNQ…

Màng phát quang hữu cơ: PPV, MeH-PPV, Alq3… và một số tạp tạo màu cho chúng như DCM, PtOEP, DCM2…

Màng truyền electron ETL: Alq3, LiF… và một số tạp loại n cho chúng như PBD… Catốt kim loại (Ag, Ag-Mg, Ca …) hay catốt dẫn điện trong suốt

Dựa vào nguyên tắc chung đó, có thể thiết kế OLED với nhiều cấu hình khác nhau, tạo nên tính đa dạng của OLED [72], ví dụ như:

Cấu trúc OLED

Lớp truyền điện tử

ITO

Đế thủy tinh ÁNH SÁNG

phát ra

2 – 10 VDC

Trang 4

• OLED truyền thống (conventional OLED)

• OLED trong suốt (TOLED:transparent OLED)

• OLED ngược (OILED:inverted OLED)

• OLED không sử dụng điện cực kim loại (MF-TOLED: metal-free TOLED)

• OLED dẻo (FOLED: flexible OLED)

• OLED xếp chồng (SOLED: Stacked OLED)…

Tất cả các cấu hình OLED trên đều có thể phát triển thành màn hình hiển thị hữu cơ

kích thước lớn góp phần làm đa dạng thị trường màn hình phẳng, đồng thời chúng

có nhiều tính năng ưu việt hơn so với các màn hình phẳng đã có Trong bảng I-1,

chúng tôi đưa ra một ví dụ so sánh OLED và LCD, là một loại màn hình phẳng phổ

biến hiện nay:

Bảng I-1: So sánh giữa màn hình OLED và LCD

Màn hình OLED tiêu hao ít năng

lượng hơn

OLED có phổ màu rộng (16,78

triệu màu)

LCD có phổ màu khoảng 262.000 màu

OLED có màu trung thực

LCD có ánh xanh da trời mạnh trong vùng tối của hình ảnh và ánh sáng đỏ mạnh trong các điểm sáng

Trang 5

OLED có độ tương phản cao (tỷ số

tương phản khoảng 3000:1)

LCD có độ tương phản khoảng 200:1

I.1.2 Các chất bán dẫn hữu cơ

Về mặt lịch sử , các vật liệu “bán dẫn hữu cơ” được phân biệt thành 2 loại, bán dẫn hữu cơ “polymeric” hay còn gọi là polymer “kết hợp” và polymer “khối lượng phân

tử thấp” hay còn gọi là vật liệu phân tử Gần đây, sự phân biệt này không còn rõ ràng do sự xuất hiện của các vật liệu “lai”, chúng kết hợp các tính chất và các thuộc tính của các vật liệu “polymeric” và vật liệu phân tử Một số ví dụ của các loại vật liệu này được liệt kê dưới đây (trong các phần sau, chúng tôi chỉ sử dụng các tên viết tắt của các vật liệu này khi nói về chúng) [77]

Các vật liệu “bán dẫn hữu cơ” và các kim loại tổng hợp:

a Các bán dẫn hữu cơ “phân tử”: 6T, Pentacene, Perylene, TPD, PBD, C60, Alq3, PtOEP, btpacac, ADS053RE, 70-PBT-S12, HHTT, N3, Black dye, TNF

b Các bán dẫn hữu cơ polymer: PPV, MEH-PPV, CN-PPV, PPE, PPP, MeLPPP,

PAT, PTV, PTAA, PF, F8BT, F8T2

c Các vật liệu “lai”: PVK, ST638, sQP, oxTPD, NDSP Dendron (G2)

d Các kim loại “tổng hợp”: PA, PDA, PAni, PEDOT

Chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn các thuộc tính của các vật liệu được liệt kê ở trên, chủ yếu tập trung vào một số chủ đề sẽ được giới thiệu một cách hệ thống trong phần mô tả các linh kiện bán dẫn hữu cơ

I.1.3 Cấu trúc vùng năng lượng trong polymer dẫn

I.1.3.1 Cấu tạo phân tử và các liên kết trong phân tử

Điểm then chốt để phân biệt giữa vật liệu vô cơ và hữu cơ là: các kích thích trong vật liệu vô cơ là không định xứ (delocalised) và được mô tả tốt nhất bằng vector sóng k, trong khi đó đối với vật liệu hữu cơ, các kích thích thường là định xứ và k

Trang 6

không phải là số lượng tử tốt nhất để mô tả chúng Để hiểu về bán dẫn hữu cơ, chúng ta phải tìm hiểu liệu bán dẫn hữu cơ có “khe vùng” (tương đương với độ rộng vùng cấm trong bán dẫn vô cơ) tồn tại trong đơn phân tử Chìa khoá để hiểu vấn đề này nằm trong hoá học về Carbon [40]

Đồng vị carbon phổ biến nhất là 12C (nhân có 6 neutron và 6 proton) Trong nguyên

tử carbon, 6 electron chiếm các orbital (vân đạo) sau:

Bảng I-2 Cấu hình điện tử của carbon: 1s 2 2s 2 2p 2

Vân đạo (orbital) 1s 2s 2px 2py 2pz

Số electron 2 2 1 1 0

a) Các vân đạo lai (hybrid orbitals)

Carbon, cũng như các nguyên tố hoá học khác, hình thành các liên kết cộng hoá trị bằng cách chia sẻ các electron ngoài cùng giữa các nguyên tử khác nhau để cho lớp

vỏ điện tử ngoài cùng được lấp đầy Vì vậy:

Các vân đạo nguyên tử Æ Các vân đạo phân tử

Carbon phải hình thành 2 liên kết để thêm vào 2 electron lấp đầy các chỗ trống trong 2 vân đạo p ( px và py) chưa đầy: Theo cách này, carbon phải có hoá trị 2 (hình thành 2 liên kết đơn) nhưng thực ra, carbon hình thành 4 liên kết

Trong carbon ( và một vài nguyên tử khác), liên kết hoá học tiến triển theo các bước trung gian: “hoạt hoá” (“promotion”) và “lai hoá” (“hybridization”)

Các vân đạo nguyên tử Æ Các vân đạo lai Æ Các vân đạo phân tử

Đối với quá trình lai hoá, carbon “hoạt hoá” một electron 2s tới vân đạo pz trống, chúng ta có 1s22s12p3 Sau đó, carbon liên kết (“lai hoá”) electron 2s còn lại với các electron khác:

hay 2 vân đạo 2p -> các lai hoá sp2

Trang 7

hay 1 vân đạo 2p -> lai hoá sp

b) Các vân đạo lai sp 3

Có 4 “nhánh” hướng tới các đỉnh của một tứ diện Góc giữa các nhánh là 109,50 Trong dạng này, carbon có thể hình thành 4 liên kết, nghĩa là bằng cách dùng chung electron với lớp vỏ 1s của hydrogen: ví dụ CH4 (methane) minh họa trên Hình I-2, hay với carbon sp3 khác (nghĩa là: H3C-CH3, ethane) Liên kết C-C trong ethane được gọi là liên kết σ Các liên kết σ rất mạnh, ví dụ như kim cương gồm các carbon liên kết với nhau chỉ toàn bằng liên kết σ

Hình I-2: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp3 và phân tử metan (CH 4)

c) Các vân đạo lai sp 2

Có 3 “nhánh” nằm trong mặt phẳng, tạo từng cặp với nhau góc 1200, và vân đạo p còn lại vuông góc với mặt phẳng như được minh họa trên Hình I-3 Trong dạng này, carbon lai sp2 cần liên kết với một carbon lai sp2 khác để hình thành phân tử, ví dụ như H2C=CH2 : 2 của 3 “nhánh” của mỗi C liên kết với H Nhánh thứ 3 của mỗi C chồng chập với vân đạo sp2 của C khác, để hình thành liên kết σ Các vân đạo p còn lại của cả hai C chồng chập nhau, hình thành liên kết carbon/carbon khác, được gọi

là liên kết π (liên kết 1σ + 1π: nối đôi C (Hình I-3)) Đây là một liên kết yếu, và

C 109o28'

orbital sp3

orbital sp3orbital sp3

H Metan

Trang 8

vân đạo tương ứng thì thường “bất định xứ”, nghĩa là chiếm một không gian tương đối lớn tính từ gốc carbon của nó

Hình I-3: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp2 và phân tử ethylene (C 2 H 4 )

d) Các vân đạo lai sp

Có 2 “nhánh” dọc theo một trục (thường là x) tạo với nhau góc 1800, và 2 vân đạo p còn lại (dọc theo trục y và z) Trong dạng này C có thể liên kết với 2 H và với một vân đạo lai sp khác Nó hình thành 1 liên kết σ giữa các vân đạo sp, và các vân đạo 2p còn lại của mỗi nguyên tử chồng chập để hình thành 2 liên kết π (carbon nối ba)

Ví dụ là Ethene (acetylene), HC≡CH được minh họa trên Hình I-4

Các độ dài liên kết là: C-C ≅ 1,45 Ao ; C=C ≅ 1,33 Ao ; C≡C ≅ Ao (1Ao = 10-10 m)

Trang 9

Hình I-4: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp và phân tử acetylene (C2 H 2)

e) Vòng Benzen

Các vân đạo lai sp2 có góc 1200 tương ứng đối với từng cặp liên kết Vì thế từ 6 liên kết σ của các carbon sp2 chúng ta có thể hình thành một hình lục giác đều Mỗi C sẽ hình thành 2 liên kết σ, mỗi liên kết sẽ nối với carbon lân cận của chúng Một vân đạo sp2 còn lại của mỗi C được liên kết, ví dụ như với H Các vân đạo p còn lại sẽ chồng chập để hình thành các liên kết π Phân tử Benzen được minh hoạ trên Hình I-5

Hình I-5: Hai cấu trúc biên giới hạn của vòng Benzene

Thật ra, vị trí của các liên kết π hoàn toàn không được xác định rõ ràng Trong thực

tế, sự chồng chập lượng tử của hai trạng thái “biên giới hạn” (“borderline”) được chấp nhận, ở khía cạnh nào đó không thể quy cho các liên kết đôi: các electron π là

“bất định xứ” hoàn toàn để hình thành “đám mây” được mở rộng toàn phân tử (Hình I-6)

Trang 10

lý bán dẫn hữu cơ, đều liên quan đến các phân tử chứa các vòng Benzen [50]

Vòng Benzen là nguồn gốc của các phân tử kết hợp, chúng là các phân tử có các liên kết carbon nối ba/đơn hay đôi/đơn luân phiên Trong các phân tử kết hợp, các electron π bất định xứ xuyên suốt toàn bộ phân tử và được liên kết tương đối lỏng lẻo Các tính chất điện học của các polymer kết hợp đều liên quan đến các electron

π bất định xứ này

I.1.3.2 Cấu trúc vùng năng lượng

a) Cấu trúc điện tử của các polymer kết hợp

Các hệ polymer bao gồm các chuỗi carbon dài, trong đó các liên kết carbon-carbon đôi và đơn luân phiên nhau (polymer kết hợp) [62] Một số ví dụ về các polymer kết hợp được giới thiệu trong hình I-7

Trang 11

Hình I-7: Một số polymer kết hợp dẫn xuất từ các vòng Benzen và Thiopene

Có thể nhận thấy các khối xây dựng cơ bản đối với các hợp chất minh họa trên Hình I-7 là các vòng Benzen và Thiophene được nối với các chuỗi bên cạnh bằng các liên kết đơn C-C hay các liên kết đôi C=C và đơn C-C luân phiên Thực vậy, đây là trường hợp chung nhất nhưng vẫn có thể có các biến đổi không ngừng do tính linh hoạtcủa hoá học hữu cơ Các góc liên kết 120o trong Benzen giả định rằng các nguyên tử C là sp2 lai hoá như trong graphit Các liên kết sp2 chủ yếu cố định cấu trúc của phân tử trong khi đó các orbital pz không cặp đôi làm tăng tính hoạt động điện-quang Một cách biểu diễn vòng benzen được bắt đầu với khung sườn phẳng và có tính đến sự chồng chập của các orbital pz (các electron π) được mô tả trên Hình I-8

Hình I-8: Sự chồng chập của các vân đạo pz trong vòng benzene (nét đứt)

poly (par a-phenylene vinylene) PPV poly (par a-phenylene) PPP

S

S S

poly (thiophene)

O

MeO poly(2-methoxy-5-(2'-ethylhexoxy)-1,4-

phenylene vinylene) MEH-PPV

orbital pi không lai hóa

X 6

Trang 12

Trong hầu hết các trường hợp chỉ có các điện tử hoá trị trong lớp vỏ p và s đóng góp vào các liên kết và cấu trúc vùng Các điện tử s chỉ có thể hình thành nên các liên kết loại σ (các liên kết trục) Trong khi đó các điện tử p có thể hình thành cả hai liên kết loại σ và loại π (liên kết ngoài trục) Các liên kết π có năng lượng liên kết thấp,

vì thế các điện tử là bất định xứ Các liên kết π thường hợp với liên kết σ tạo thành các nối đôi hay nối ba Hình I-9 và Hình I-10 minh họa các liên kết điện tử lớp s và lớp p tương ứng

Hình I-9: Liên kết σ hình thành từ điện tử 2s Khi A và B có các hàm sóng đối xứng, và

các hàm spin phản-đối xứng: liên kết là σ-liên kết Nếu chúng có các hàm sóng phản-đối xứng và các hàm spin đối xứng: liên kết là σ-phản liên kết

Hình I-9 minh hoạ các liên kết σ trong trục, tương tự các hàm sóng đối xứng và các hàm spin phản-đối xứng được gọi là liên kết σ-liên kết Ngược lại các hàm sóng phản-đối xứng và các hàm spin đối xứng được gọi là liên kết σ-phản liên kết Hình I-10 minh hoạ các liên kết π ngoài trục Trong liên kết π, sự chồng chập hàm sóng thì không mạnh như trong liên kết σ và có năng lượng liên kết thấp hơn Tương tự, lực đẩy của liên kết π-phản đối xứng cũng yếu hơn [40]

Trang 13

Hình I-10: Các liên kết được hình thành từ các điện tử lớp p Hình trên minh hoạ các liên

kết σ trong trục, tương tự các hàm sóng đối xứng và các hàm spin phản-đối xứng được gọi là liên kết σ-liên kết Ngược lại các hàm sóng phản-đối xứng và các hàm spin đối xứng được gọi là liên kết σ-phản liên kết Hình bên dưới minh hoạ các liên kết π ngoài trục Trong liên kết π, sự chồng chập hai hàm sóng thì không mạnh như trong liên kết σ,

và có năng lượng liên kết thấp hơn

Sự trộn lẫn các orbital-pz (nguyên tử) suy biến dẫn đến các mức năng lượng trong phân tử có thể tách thành hai vùng: π và π* hay liên kết và phản liên kết được minh họa trên Hình I-11

Hình I-11: Hai vùng năng lượng π và π* của phân tử benzene

-P x P x

P y P y

_

Trang 14

Các mức-π chiếm đầyđiện tửtương đương với “vùng hoá trị” trong các tinh thể bán dẫn Mức “hoạt động điện” cao nhất gọi là HOMO (Orbital phân tử chiếm đầy cao nhất) Các mức-π* không chiếm đầy tương đương với “vùng dẫn” và mức “hoạt động điện” thấp nhất gọi là LUMO (Orbital phân tử không chiếm đầy thấp nhất) Đặc trưng cấu trúc của hầu hết các polymer kết hợp là hệ π (các vân đạo pz) gần như

vô hạn của chúng mở rộng trên một lượng lớn các đơn vị monomer tuần hoàn Đặc điểm này dẫn đến độ dẫn định hướng trong các vật liệu lớn nhất dọc theo trục của chuỗi

Cấu trúc điện tử của các bán dẫn hữu cơ trong vùng hoá trị thường được mô tả bằng phương pháp LCAO và trong vùng dẫn là phương pháp MO sẽ được trình bày trong phần sau

b) Các mức năng lượng phân tử và cấu trúc vùng của bán dẫn hữu cơ

Một phương pháp phổ biến để tính cấu trúc vùng, thường sử dụng cho các phân tử hữu cơ, là phương pháp LCAO: phương pháp tổ hợp tuyến tính của các vân đạo nguyên tử [56]

Cơ sở của phương pháp này là hàm sóng electron trong tinh thể có thể mô tả bởi sự chồng chập của các hàm sóng electron nguyên tử Trong tinh thể, nó thường được

sử dụng để mô tả vùng hoá trị hơn là vùng dẫn, vì nó là phép gần đúng liên kết mạnh Các thông số “chồng chập” có ý nghĩa vật lý, trong các tính toán cấu trúc vùng, là do tương tác của các electron tinh thể

Các thông số chồng chập liên kết được tìm thấy như là các yếu tố ma trận của Hamiltonian tương tác trong biểu diễn điều hoà toạ độ cầu Chỉ có 5 yếu tố ma trận không bằng 0 của ma trận Hamiltonian tương tác:

σ

ss

E s H

σ

sp

z E p H

σ

pp z

z H p E

Trang 15

pp y y x

x H p p H p E

Trong đó s là hàm sóng phương vị của vân đạo s, p x , p y , p z là 3 hàm sóng phương vị

riêng của vân đạo p, và E là năng lượng liên kết Sự khác biệt về năng lượng của các trạng thái “phản-liên kết” và “liên kết” bằng 2 lần năng lượng này Giả sử rằng trục z dọc theo liên kết, như thế trục x và y có thể hoán đổi nhau

Thuận lợi lớn nhất của phương pháp LCAO là khi tính toán cấu trúc vùng của các hợp chất, các thông số chồng chập có thể được đánh giá từ các vật liệu đơn tinh khiết ban đầu Do đó, nếu biết các hằng số mạng và cấu trúc tinh thể của các vật liệu ban đầu, chúng ta có thể đoán nhận được các thông số quan trọng của hợp chất Trong Hình I-12, minh họa ba vùng năng lượng của các bán dẫn Si, Ge và α-Sn ở cột IV

Hình I-12: Các thông số chồng chập và các vùng bị tách trong bán dẫn loại IV: Si, Ge,

α-Sn α-Sn hoạt động giống như kim loại do vị trí của mức Fermi (vân đạo p được lấp đầy

một phần)

Phương pháp LCAO không chỉ hữu dụng cho các kết quả định tính về cấu trúc vùng

và định lượng của các vùng hoá trị, nó cũng là phương pháp được chọn lựa để tính toán cấu trúc vùng cho các bán dẫn hữu cơ và cho phép chúng ta hiểu được bản chất

của các vân đạo phân tử trong các oligomer và polymer chuỗi ngắn

Trang 16

Khoảng cách năng lượng giữa mức LUMO và HOMO được xem như là năng lượng vùng cấm của bán dẫn hữu cơ Hầu hết các loại polymer bán dẫn có năng lượng vùng cấm trong khoảng 1,5 đến 3 eV (minh họa trên Hình I-13), rất thích hợp cho việc chế tạo các linh kiện quang điện tử phát ánh sáng trong vùng khả kiến [90]

Hình I-13: Độ rộng vùng cấm hình thành từ các mức LUMO và HOMO của polymer bán

dẫn

Từ cơ học lượng tử (thường dựa trên mô hình LCAO), chúng ta biết rằng các nguyên tử có các mức điện tử riêng biệt, gián đoạn Chỉ có các mức năng lượng thấp được lấp đầy điện tử, tất cả các mức khác là trống Hình I-14 minh họa các mức điện tử của một nguyên tử giống hydrogen Đối với polymer dẫn, sơ đồ năng lượng điện tử sẽ thay đổi khi ghép các đơn nguyên tử thành các chuỗi polymer

Hình I-14: Sơ đồ các mức năng lượng điện tử của một nguyên tử giống Hydrogen

Trang 17

Khi chỉ có một nguyên tử, mỗi trạng thái trong nguyên tử có thể chứa hai điện tử, một với spin hướng lên và một với spin hướng xuống Ghép hai nguyên tử với nhau,

có thể có một điện tử với spin hướng lên và một điện tử với spin hướng xuống nằm trong một trạng thái, nhưng cũng có thể tồn tại trạng thái có các điện tử đều có spin cùng hướng lên hoặc cùng hướng xuống

Vì hai điện tử (của hai nguyên tử), tạo nên liên kết giữa hai nguyên tử để hình thành phân tử, có thể nằm ở một trong hai trạng thái có năng lượng khác nhau, nên các mức đóng góp vào liên kết tách ra và do đó làm tăng gấp đôi số trạng thái mà trong các trạng thái này có thể chứa các điện tử năng lượng cao Rõ ràng là trong liên kết phân tử trên, tổ hợp spin lên/xuống là cấu hình “liên kết” vì năng lượng của nó thấp hơn đối với các nguyên tử tách rời Các cấu hình spin lên/lên hay xuống/xuống được gọi là “phản-liên kết”, vì chúng có năng lượng cao hơn các mức năng lượng trong hai nguyên tử tách rời [95]

Độ sai biệt về năng lượng của các mức “liên kết” và “phản-liên kết” lớn hay nhỏ phụ thuộc vào loại liên kết Liên kết σ cộng hoá trị (Hình I-15a) tách các mức rất mạnh và tất cả các điện tử sẽ nằm trong các trạng thái “liên kết” Mặc dầu các trạng thái “phản-liên kết” bất định xứ có thể đóng góp vào độ dẫn, nhưng không có điện

tử nào nằm trong các trạng thái “phản-liên kết” này Do đó hầu hết các phân tử có loại liên kết này đều là điện môi

Hình I-15: Minh họa sự khác nhau của các liên kết π và σ lớp p trong liên kết C=C

Xét đến các liên kết yếu hơn, nghĩa là các năng lượng “liên kết” và “phản-liên kết” gần nhau hơn Một trong các liên kết phân tử yếu hơn là liên kết π trong nối đôi

lk sigma

lk pi

(a)

(b)

Trang 18

(thậm chí là nối 3) Trong đó, một nối vẫn là liên kết σ, nhưng nối còn lại là liên kết

π ít mạnh và rất bất định xứ (Hình I-15b)

Sự bất định xứ tốt nhất đạt được bằng cách có nối đôi và đơn luân phiên nhau giữa các nguyên tử Carbon (mặc dầu các liên kết trong bán dẫn không giới hạn trong liên kết Carbon – Carbon) Trong trường hợp này, nếu đưa các nguyên tử lại gần nhau

để hình thành một phân tử, các mức sẽ tách ra nhưng vẫn có năng lượng gần nhau Điều này gọi là “kết hợp”, và “chiều dài kết hợp” xác định số nối đơn và đôi luân phiên nhau trong một chuỗi

Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng rằng nếu xây dựng một chuỗi nhiều nguyên

tử, chúng ta sẽ có nhiều mức, luôn luôn tách thành các mức “liên kết” và “phản-liên kết” như được mô tả trong Hình I-16 Nói một cách khác, khi kích thước của phân

tử tăng thì số vân đạo phân tử liên kết và phản liên kết tăng Do đó sự chồng chập của các vân đạo pz không lai hoá từ các liên kết đôi trong polymer liên hợp dẫn đến một số lớn các mức năng lượng Nếu tăng số nguyên tử tới vô cùng, các mức năng lượng sẽ rất sát nhau tạo nên vùng năng lượng

Hình I-16: Mức năng lượng điện tử từ một đến nhiều nguyên tử

Trang 19

Tóm lại, vật liệu phân tử nhỏ sẽ có các mức năng lượng gián đoạn và các phân tử dài vô hạn (polymer kết hợp) sẽ có các cấu trúc vùng (có vùng cấm nhỏ nếu có các liên kết π, vùng cấm lớn nếu chỉ có các liên kết σ)

Tuy nhiên, rất khó để tổng hợp được các phân tử polymer có chuỗi dài mà không có bất kỳ sai hỏng nào Điều gì sẽ xảy ra khi polymer có sai hỏng và chỉ có các chuỗi ngắn?

Trở lại định nghĩa polymer và oligomer Cả hai được hình thành từ một số monomer, hay đơn giản là các đơn vị lặp lại Monomer là phần tử cơ sở cho các chuỗi của polymer và oligomer, là đơn vị nhỏ nhất lặp lại nhiều lần Ví dụ cho PVC (polyvinyl chloride) hay polyethylene được minh họa trong Hình I-17

Hình I-17: (a) Quá trình polymer hoá của Polyvinyl chloride (b)phân tử Polyethylene, đơn

vị monomer là -CH 2 - và đơn vị cuối là -CH 3

Vì số đơn vị monomer lặp lại xác định các đặc trưng điện tử học, người ta gọi phân

tử có được là monomer (một đơn vị lặp lại), oligomer (đơn vị lặp lại <10), polymer (đơn vị lặp lại > 15) Ranh giới giữa polymer và oligomer vẫn chưa được định nghĩa

rõ ràng Các chuỗi không nhiễu loạn dài có các đơn vị lặp lại hoàn hảo là rất hiếm,

do vậy người ta thường xem phân tử là polymer nếu chúng có 15 đơn vị lặp lại trở lên Trong trường hợp polymer dẫn, số đơn vị lặp lại thường vào khoảng 15 đến 20

H2C

H C Cl peroxides

C

H2

CH C

H2

CH C

H2

C H

H2

C Cl

n Polyvinyl chloride

H C

C C

C C H

H

H H

H

H

H H

H

H

C C

C C C H

H H

H

H

H H

H

H

H H

(a)

(b)

Trang 20

để khi thêm vào chúng một đơn vị lặp lại sẽ không làm thay đổi các đặc trưng điện

trong đó En là năng lượng cho đơn vị lặp lại n

nrep là số đơn vị lặp lại

Hình I-18: Sự phụ thuộc của năng lượng vùng cấm vào độ dài chuỗi

I.1.3.3 Các hạt tải và mức năng lượng trong bán dẫn hữu cơ

Trong vật lý bán dẫn, quá trình tải điện tích và năng lượng được thực hiện bởi các hạt tải cơ bản như điện tử, lỗ trống, phonon và các chuẩn hạt như soliton, polaron, exciton (phonon và exciton chỉ tải năng lượng)

Đối với polymer dẫn, để mô tả quá trình tải điện và năng lượng trong chuỗi polymer

“kết hợp”, thông thường sử dụng đến các chuẩn hạt chứ không dựa trên các hạt cơ bản vì cơ chế dẫn của các polymer “kết hợp” dựa trên cơ sở của các sai hỏng tích điện trong khung sườn kết hợp Các hạt tải dương hay âm được xem như là các sản

Trang 21

phẩm của quá trình oxy hoá hay khử polymer tương ứng và các điện tích di chuyển bằng các bước nhảy (hopping) giữa các vị trí trên các chuỗi khác nhau

Hình I-19 minh họa các loại chuẩn hạt “soliton” khác nhau trong polymer “kết hợp” polyacetylene (PA) [50, 74]

Hình I-19: Các loại chuẩn hạt “soliton” khác nhau trong polymer “kết hợp” Polyacetylene

Việc kết hợp ba loại soliton trên theo các cách thức khác nhau sẽ cho các chuẩn hạt polaron “dương”, polaron “âm”, bipolaron “dương” và bipolaron “âm” (Hình I-20)

Cấu tạo polyacetylene (PA) không bị sai hỏng

Soliton dương

Soliton trung hòa

Soliton âm

Trang 22

Hình I-20: Các loại chuẩn hạt “polaron” khác nhau trong polymer “kết hợp” Polyacetylene

Trong polymer dẫn, để tiện dụng cho việc mô tả các hạt tải điện và năng lượng, người ta thường dùng chuẩn hạt polaron và exciton với các khái niệm đặc thù riêng được trình bày chi tiết hơn trong phần sau

Nói chung, để thuận lợi, tránh rối rắm và thống nhất trong quá trình trình mô tả các loại hạt tải điện và năng lượng trong polymer dẫn, người ta thường sử dụng các loại hạt tải điện và năng lượng đã được hiểu thấu đáo trong các bán dẫn vô cơ như một bức tranh “tương đồng” để mô tả quá trình truyền tải năng lượng và điện tích trong polymer dẫn nhưng các chuẩn hạt được sử dụng này sẽ có các đặc thù riêng tương ứng với mỗi chủng loại polymer dẫn

Trong phần sau, chúng tôi sẽ mô tả các chuẩn hạt polaron và exciton trong polymer dẫn với các đặc thù riêng của chúng dựa trên bức tranh “tương đồng” polaron và exciton của bán dẫn vô cơ

Polaron âm = soliton âm + soliton trung hoà Bipolaron dương = soliton dương + soliton dương Bipolaron âm = soliton âm + soliton âm

Polaron dương = soliton dương + soliton trung hoà

Cấu tạo polyacetylene (PA) không bị sai hỏng

Trang 23

(độ dài kết hợp) hình thành cặp electron-phonon, gọi là polaron Phonon được xem như một “hạt”, đặc trưng cho sự lượng tử hoá năng lượng dao động giữa các nguyên

tử trong phân tử Thuật ngữ cặp điện tử-phonon (polaron) được xem như là “chất keo” gắn kết giữa các điện tử “liên kết” của các nguyên tử khác nhau trong phân tử Phụ thuộc vào loại hạt tải phun vào (điện tử hay lỗ trống), sẽ tạo nên các polaron-điện tử và polaron-lỗ trống chuyển động dọc theo polymer về các điện cực trái dấu Nói cách khác, polaron là các hạt tải tương tác với mạng, làm chuyển động một hay nhiều ion trong một ô đơn vị, tạo nên trạng thái liên kết yếu trong vật rắn Khối lượng hiệu dụng của polaron cao hơn khối lượng hiệu dụng của điện tử tự do, bởi vì lực hút được thêm vào, do vậy độ linh động của polaron là thấp hơn Tại nhiệt độ phòng, các polaron không được tìm thấy trong các bán dẫn vô cơ và nó chỉ được xem như là các tính chất vật lý ở nhiệt độ thấp

Trên thực tế không có các hạt tải tự do trong các polymer kết hợp Thay vào đó là các polaron dương và âm với độ linh động thấp hơn, làm giảm trầm trọng độ linh động của linh kiện hữu cơ (thông thường vào khoảng 4 đến 6 bậc thấp hơn các bán dẫn vô cơ) Riêng đối với tinh thể phân tử, các liên kết trong các tinh thể này thường phẳng nhất và không thể nén chúng, đó là một phần lý do tại sao các độ dẫn cao đã quan sát được trong các hệ như vậy [53] Các polaron được minh họa bằng các mức năng lượng riêng biệt, được định vị trong vùng cấm [32], và có thể đo được (định lượng) với phổ hấp thụ-cảm photon (PIA: Photon-induced absorption) [31]

Các polaron biểu hiện hai trạng thái năng lượng mới nằm giữa HOMO và LUMO

và có khoảng cách nhỏ hơn vùng cấm Eg Polaron âm tạo nên mức năng lượng thấp hơn mức LUMO, ngược lại polaron dương có mức năng lượng cao hơn mức HOMO Như vậy, việc lấy đi một electron cần năng lượng ít hơn mức năng lượng HOMO, và khi electron liên kết với phân tử sẽ thu được năng lượng nhiều hơn mức LUMO (Hình I-21) Nói cách khác, các năng lượng đòi hỏi đó, tương ứng được gọi

Trang 24

là “thế năng ion hoá” Ei, và “ái lực điện tử ” Ea, được biểu diễn trên phương trình sau

D -Ei Æ D+ + e

-A+ e- -Ea Æ A

-Ei và Ea liên quan rất gần khái niệm “thế năng Redox” điện hoá Sự khác biệt chính

là Ei và Ea được định nghĩa cho các electron trong chân không, trong khi đó thế năng Redox được chuẩn hoá cho các electron trên điện cực quy chiếu

Hình I-21: Các polaron được minh họa bằng các mức năng lượng riêng biệt, được định vị

trong vùng cấm

Các lực hút giữa polaron dương và âm hình thành nên exciton-polaron polaron có spin và tính chất của trạng thái đơn hay bội ba Mức năng lượng của exciton-polaron nằm dưới vùng dẫn và năng lượng “giải phóng” được phát ra dưới dạng photon Các trạng thái của exciton-polaron ảnh hưởng đến sự phát xạ ánh sáng

Exciton-và hiệu suất lượng tử vì chỉ có các trạng thái đơn giải phóng năng lượng của nó đóng vai trò như phát xạ photon (còn các trạng thái bội ba giải phóng năng lượng tạo nên nhiệt năng)

LUMO

HOMO

Trang 25

được định xứ trong vùng cấm Cặp này trung hoà về điện và chỉ có moment lưỡng cực

Có hai loại exciton [39]:

• Exciton Wannier-Mott: Exciton loại này mở rộng trên vài hằng số mạng hay

đơn vị monomer lặp lại và chúng liên kết tương đối yếu do sự chắn tĩnh điện (Coulomb) của mạng và điện tử ở giữa cặp lỗ trống/điện tử (Hình I-22) Năng lượng liên kết của exciton Wannier-Mott phụ thuộc vào hằng số điện môi của vật liệu:

2 2

) (

q m

Hình I-22: Exciton Wannier-Mott

Từ công thức mô tả năng lượng trên, ta thấy các exciton có các mức gián đoạn giống như nguyên tử hygrogen mà các mức năng lượng có thể thay đổi đối với các loại bán dẫn hoạt động quang học Exciton tiêu biểu cho hầu hết các bán dẫn vô cơ

là exciton Wannier-Mott đóng góp vào các tính chất vật lý của bán dẫn, năng lượng liên kết tiêu biểu của nó trong khoảng 5 tới 60 meV (bảng I-3) Giá trị này có thể so sánh với năng lượng nhiệt tại nhiệt độ phòng, kBT = 25 meV Do đó tại nhiệt độ

Năng lượng liên kết ~ 10 meV Bán kính ~ 100 A 0

Trạng thái

cơ bản

Exciton Wannier

Trang 26

phòng, exciton Wannier-Mott trong hầu hết các bán dẫn vô cơ bị phân ly nhiệt vì thế sự hấp thụ kiểu exciton khác biệt với hấp thụ quang học thông thường [51]

Bảng I-3 Các năng lượng liên kết exciton đối với một số bán dẫn.

Năng lượng liên kết

• Exciton Frenkel [20]: Các exciton này định xứ mạnh trong một ô đơn vị của

mạng (Hình I-23) Do đó lực hút giữa cặp lỗ trống/điện tử không bị che (và lực hút này cũng bị ảnh hưởng bởi sự tương tác với các điện tử lõi và các thế năng liên kết) Chính vì thế, các exciton Frenkel khó mô tả hơn, và năng lượng liên kết phải cao hơn Exciton Frenkel hiếm khi quan sát được trong các bán dẫn vô cơ

Hình I-23: Exciton Frenkel

Trong trường hợp các bán dẫn hữu cơ, có thể mong đợi năng lượng liên kết exciton cao hơn trong các bán dẫn vô cơ Vì các hằng số điện môi trong các bán dẫn hữu cơ thấp hơn trong các vật liệu vô cơ, làm tăng năng lượng liên kết exciton, do đó các exciton trong một số vật liệu hữu cơ có thể là các exciton Frenkel Năng lượng liên kết thực của exciton trong các vật liệu kết hợp hữu cơ trong khoảng từ 50 meV [70] tới gần 1eV [86] (Nhiều tác giả công bố các số liệu rất khác nhau) Các giá trị tiêu biểu trong khoảng 300 đến 400 meV [48, 92, 94, 99]

Năng lượng liên kết ~ 1 eV Bán kính ~ 10 A 0

Trạng thái

cơ bản Exciton Frenkel

Trang 27

Exciton trong một số bán dẫn polymer hữu cơ không được quan sát trực tiếp, chủ yếu do sự mở rộng bờ hấp thụ không đồng nhất, các đặc điểm hấp thụ exciton thì khó phân biệt với sự hấp thụ ở bờ vùng cấm – phổ hấp thụ thu được là chồng chập của cả hai Mặc dù ngày nay, độ dài của polymer có thể kiểm soát được hoàn toàn bằng hoá học, độ dài kết hợp hiệu dụng có thể thay đổi do các kích thích và các điện tích trên chuỗi, các tạp chất và các tương tác chuỗi – chuỗi

Do các dạng hình học đặc biệt của các chuỗi kết hợp polymer, rất tiện lợi để chia các exciton (xảy ra trong polymer kết hợp) thành 2 nhóm khác nhau:

Các exciton “nội chuỗi”, các cặp “lỗ trống”/”điện tử” (hay gọi là cặp polaron-lỗ trống/polaron điện tử) trên cùng một chuỗi polymer trong cùng một yếu tố kết hợp Đây là các exciton thường được mong đợi nhất trong các polymer [48, 92]

Các exciton, trong đó “điện tử” và “lỗ trống” được tách biệt trên hai phân tử khác nhau, hay hai chuỗi polymer khác nhau có năng lượng vùng cấm khác nhau, nghĩa

là các exciton “liên chuỗi” [93]

Các exciton có thể phân ly theo hai cách, phân ly nhiệt và phân ly trường

Trong các bán dẫn vô cơ, tại nhiệt độ phòng, hầu hết các exciton bị phân ly nhiệt, ngoại trừ ZnS, ZnO, hay các vật liệu tương tự Trong các vật liệu hữu cơ, exciton có năng lượng liên kết 10 lần cao hơn, năng lượng nhiệt cần cho exciton phân ly là vài ngàn độ Kelvin, cao hơn cả nhiệt độ bay hơi Nhưng exciton trong các vật liệu hữu

cơ có thể được phân ly bằng điện trường Theo nguyên tắc, hiện tượng điện tử xuyên hầm xuất hiện khi vật liệu hữu cơ (polymer) được áp vào một điện trường ngoài

exc

exc ext

Ngày đăng: 15/08/2014, 02:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình I-1: Cấu trúc OLED cơ bản - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-1: Cấu trúc OLED cơ bản (Trang 3)
Hình I-2: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp 3  và phân tử metan (CH 4 ) - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-2: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp 3 và phân tử metan (CH 4 ) (Trang 7)
Hình I-3: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp 2  và phân tử ethylene (C 2 H 4 ) - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-3: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp 2 và phân tử ethylene (C 2 H 4 ) (Trang 8)
Hình I-4: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp và phân tử acetylene (C 2 H 2 ) - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-4: Sự hình thành các vân đạo lai hóa sp và phân tử acetylene (C 2 H 2 ) (Trang 9)
Hình I-7: Một số polymer kết hợp dẫn xuất từ các vòng Benzen và Thiopene - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-7: Một số polymer kết hợp dẫn xuất từ các vòng Benzen và Thiopene (Trang 11)
Hình I-10: Các liên kết được hình thành từ các điện tử lớp p. Hình trên minh hoạ các liên - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-10: Các liên kết được hình thành từ các điện tử lớp p. Hình trên minh hoạ các liên (Trang 13)
Hình I-11: Hai vùng năng lượng π và π*  của phân tử benzene. - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-11: Hai vùng năng lượng π và π* của phân tử benzene (Trang 13)
Hình I-12: Các thông số chồng chập và các vùng bị tách trong bán dẫn loại IV: Si, Ge, α- - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-12: Các thông số chồng chập và các vùng bị tách trong bán dẫn loại IV: Si, Ge, α- (Trang 15)
Hình I-14: Sơ đồ các mức năng lượng điện tử của một nguyên tử giống Hydrogen. - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-14: Sơ đồ các mức năng lượng điện tử của một nguyên tử giống Hydrogen (Trang 16)
Hình I-16: Mức năng lượng điện tử từ một đến nhiều nguyên tử Số nguyên tử - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-16: Mức năng lượng điện tử từ một đến nhiều nguyên tử Số nguyên tử (Trang 18)
Hình I-17: (a) Quá trình polymer hoá của Polyvinyl chloride. (b)phân tử Polyethylene, đơn - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-17: (a) Quá trình polymer hoá của Polyvinyl chloride. (b)phân tử Polyethylene, đơn (Trang 19)
Hình I-18: Sự phụ thuộc của năng lượng vùng cấm vào độ dài chuỗi. - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-18: Sự phụ thuộc của năng lượng vùng cấm vào độ dài chuỗi (Trang 20)
Hình I-19 minh họa các loại chuẩn hạt “soliton” khác nhau trong polymer “kết hợp” - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-19 minh họa các loại chuẩn hạt “soliton” khác nhau trong polymer “kết hợp” (Trang 21)
Hình I-20: Các loại chuẩn hạt “polaron” khác nhau trong polymer “kết hợp” Polyacetylene - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-20: Các loại chuẩn hạt “polaron” khác nhau trong polymer “kết hợp” Polyacetylene (Trang 22)
Hình I-22: Exciton Wannier-Mott. - POLYMER dẫn điện và LINH KIỆN PHÁT QUANG hữu cơ
nh I-22: Exciton Wannier-Mott (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm