Bản tin khoa học và ứng dụng là tờ tin nhằm phổ biến những kiến thức về khoa học và ứng dụng t với các mục chính như tin tức sự kiện về khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, cuộc sống qanh ta hay mục vinh danh đất việt cho mọi người dân có nhu cầu
Trang 1In 500 bản, khổ 19 x 27 cm.
Giấy phép xuất bản số:
24/GP-STTTT do Sở Thông tin & Truyền thông
tỉnh Bắc Giang cấp ngày 01 tháng 4 năm
2011 In tại Nhà in Báo Bắc Giang.
TRONG SỐ NÀY
z Hội thảo khoa học Thân thế sự nghiệp Tiến sĩ Thân Nhân Trung
z Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm
z Chấm điểm mô hình, sản phẩm dự thi sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng lần VII, năm 2011
z Đẩy mạnh công tác thi đua trong các tổ chức Hội
z Trao đổi kinh nghiệm hoạt động với Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh Ninh Bình
z Hội thảo tư vấn, phản biện và giám định xã hội
z Hội Điều dưỡng tỉnh: Nhân rộng mô hình chăm sóc người bệnh theo đội
z Hội chữ thập đỏ Bắc Giang:
Chịu trách nhiệm xuất bản
ThS NGUYỄN ĐỨC KIÊN
Chủ tịch Liên hiệp các hội
KH&KT tỉnh Bắc Giang
Biên tập
HOÀNG VĂN THÀNH
NGUYỄN THỊ THUỶ
NGUYỄN VĂN DƯƠNG
Thư ký biên tập
NGUYỄN VĂN CHỨC
Trình bày
LÂM PHONG
Bản tin xuất bản hàng quý
Thông tin đóng góp xin vui lòng
liên hệ Ban biên tập - Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Website: http//www.busta.vn
Email: lienhiephoibg@yahoo.com
TIN TỨC - SỰ KIỆN
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
KHOA HỌC - KỸ THUẬT
VĂN HOÁ - GIÁO DỤC
ĐẤT VÀ NGƯỜI BẮC GIANG
NHÌN RA THẾ GIỚI
TIN HOẠT ĐỘNG
z Thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại buổi làm việc với Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam
z Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
z Cách mạng Tháng 8 - Thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân
z Ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020
z Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
z Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ
z Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bắc Giang hiện nay
z Tri thức Khoa học và công nghệ mong được tin dùng
z Hội làm vườn tỉnh Bắc Giang hướng tới cách làm hiệâu quả
z Xử lý ni-tơ trong nước thải sẽ làm sạch không khí
z Nghiên cứu một số bệnh không lây nhiễm tại các bệnh viện của tỉnh Bắc Giang
z Nhà sử học Dương Trung Quốc nghĩ về việc học sử
z Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu
z Đọc gì, ai đọc, đọc ở đâu?
z Đào tạo nhân tài ở Trung Quốc
PHÁT MINH - KHÁM PHÁ
z Hệ thống đèn “thông minh”
z Chế tạo xăng từ mùn cưa và cỏ
z Phát hiện mới về người tiền sử
Ảnh bìa 1: Đ/c Bùi Văn Hạnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh
Bắc Giang cùng các nhà khoa học tại Hội thảo
khoa học Thân thế sự nghiệp Tiến sĩ Thân Nhân Trung
z Tiến sĩ Thân Nhân Trung - Danh nhân văn hoá ở thế kỷ XV
z Chốn tổ Vĩnh Nghiêm
Trang 2KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
Á
Ngày 15 tháng 4 năm 2011, tại Văn
phòng Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đã làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam Cùng tham dự
buổi làm việc có Phó Thủ tướng Nguyễn
Thiện Nhân, đại diện lãnh đạo Ban Tuyên
giáo Trung ương, các Bộ: Khoa học và Công
nghệ, Nội vụ, Tài chính, Văn phòng Chính
phủ và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Sau khi nghe đồng chí Đặng Vũ Minh,
Chủ tịch Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam (sau đây gọi tắt là Liên hiệp
Hội) báo cáo kết quả hoạt động và các kiến
nghị của Liên hiệp Hội, ý kiến của Phó Thủ
tướng Nguyễn Thiện Nhân và các đại biểu
dự họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kết
luận như sau:
Qua hơn một phần tư thế kỷ xây dựng và
hoạt động, Liên hiệp Hội đã ngày càng phát
triển, có nhiều đóng góp vào việc xây dựng
cơ chế, chính sách phát triển khoa học và
công nghệ, nhất là trong việc tư vấn, phản
biện và giám định xã hội, thông tin và phổ
biến kiến thức, tổ chức các hoạt động, cuộc
thi sáng tạo khoa học và công nghệ qua đó
đã tập hợp, đoàn kết và phát huy tiềm năng,
trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công
nghệ trong nước và ở nước ngoài, đóng góp
thiết thực vào thành tựu chung của đất nước
Nhất trí với đánh giá về những mặt còn
yếu, nhược điểm được nêu trong báo cáo của
đồng chí Chủ tịch Liên hiệp Hội, như việc còn
lúng túng trong tổ chức hoạt động nên chưatập hợp được đông đảo đội ngũ trí thức khoahọc và công nghệ, nhất là lực lượng trẻ, độingũ trí thức trong các viện nghiên cứu, họcviện, trường đại học, doanh nghiệp và trí thứckhoa học và công nghệ Việt Nam ở nướcngoài; nội dung và phương thức hoạt độngtrên một số lĩnh vực, như tư vấn, phản biện vàgiám định xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của các hội thành viên và hội viên cònchưa thật cụ thể
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, coitrọng và tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ tríthức khoa học và công nghệ tập hợp, đoànkết, phát huy trí tuệ, sức mạnh sáng tạo vàluôn coi khoa học và công nghệ, cùng vớigiáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,là động lực quan trọng trong sự nghiệp pháttriển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIcủa Đảng đã xác định rõ việc phát triểnnhanh nguồn nhân lực gắn kết chặt chẽ vớiphát triển và ứng dụng khoa học và côngnghệ là một trong ba khâu đột phá có tínhchiến lược trong giai đoạn tới Là nơi tập hợpvà đoàn kết lực lượng trí thức trong lĩnh vựckhoa học và công nghệ, Liên hiệp Hội cầnchủ động và tập trung thực hiện Chỉ thị số42-CT/TW ngày 16 tháng 4 năm 2010 củaBộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệpcác Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Số: 116/TB-VPCP Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2011
-THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI BUỔI LÀM VIỆC VỚI LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
Trang 3KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
Á
hóa đất nước, xây dựng Liên hiệp Hội trở
thành tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh ở
Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, giữ vai trò nòng cốt trong tập
hợp, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo của
đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
Về một số kiến nghị của Liên hiệp Hội,
Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau:
1 Hoan nghênh Liên hiệp Hội tiếp tục
tham gia tích cực vào việc tư vấn, phản biện
và giám định xã hội
Liên hiệp Hội chủ trì, phối hợp với Văn
phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan
để xây dựng Quy chế phối hợp cộng tác giữa
Chính phủ với Liên hiệp Hội theo quy định
pháp luật
Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương
hoàn thiện dự thảo Quyết định thay thế Quyết
định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01
năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt
động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ
2 Bộ Nội vụ khẩn trương nghiên cứu đề
xuất việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số
45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010
của Chính phủ và Quyết định số
68/2010/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ theo đúng
tinh thần Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16 tháng
4 năm 2010 của Bộ Chính trị, trong đó đã xác
định Liên hiệp Hội là tổ chức chính trị - xã hội,
trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định
Liên hiệp Hội cần làm việc với các cơ
quan có liên quan để thực hiện các quy trình,
thủ tục phê duyệt Điều lệ theo quy định
3 Đồng ý ban hành Chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ để chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ
thị số 42-CT/TW ngày 16 tháng 4 năm 2010
của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và Thông báo số 353-TB/TWngày 25 tháng 6 năm 2010 của Ban Bí thưTrung ương Đảng về việc xác định các đề ánđể triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TWngày 16 tháng 4 năm 2010 của Bộ Chính trị.Giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợpvới Liên hiệp Hội dự thảo Chỉ thị này
Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ khẩn trươnghoàn thành các đề án đã được giao tại Thôngbáo số 353-TB/TW ngày 16 tháng 4 năm
2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đểbáo cáo đúng thời hạn quy định
Đối với Đề án xây dựng các dự thảo Luậtphổ biến kiến thức và Luật hành nghề kỹ sưchuyên nghiệp, Chính phủ đã có kết luậngiao Bộ Tư pháp trao đổi với Liên hiệp Hội đểlàm rõ thêm một số nội dung, báo cáo kếtquả lên Thủ tướng Chính phủ
Giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, làmviệc với Hội Khuyến học Việt Nam và Liênhiệp Hội để thống nhất việc Liên hiệp Hộitham gia phổ biến kiến thức tại các Trungtâm học tập cộng đồng
4 Việc xây dựng mới trụ sở của Liên hiệpHội là cần thiết Trụ sở mới cần tương xứngvới vai trò, vị trí và tính chất hoạt động củaLiên hiệp Hội Liên hiệp Hội cần khẩn trươngtiến hành lập dự án đầu tư xây dựng trụ sở,thực hiện việc thẩm định và trình duyệt theoquy định hiện hành
Nguồn vốn đầu tư xây dựng trụ sở Liênhiệp Hội được bố trí theo chỉ đạo của Thủtướng Chính phủ tại Công văn số 160/VPCP-KTTH ngày 8 tháng 01 năm 2008 của Vănphòng Chính phủ
Văn phòng Chính phủ xin thông báo đểLiên hiệp Hội và các Bộ, cơ quan liên quanbiết, thực hiện
KT BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM Nguyễn Hữu Vũ
Trang 4TIN TỨC - SỰ KIỆN
KHOA HỌC&ỨNG DỤNG
Á
Phần thứ nhất TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ
THUẬT TRONG NHỮNG NĂM QUA
Những năm qua, đội ngũ trí thức Bắc Giang
không ngừng tăng về số lượng, nâng cao về
chất lượng, hình thành được đội ngũ trí thức
hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội Thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW ngày
11/11/1998 của Bộ Chính trị và Thông báo kết
luận số 145-TB/TW ngày 09/7/2004 của Ban Bí
thư Trung ương về đẩy mạnh hoạt động của
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt
Nam, các cấp uỷ, chính quyền đã có sự quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện Liên hiệp
hội hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị
của mình Tổ chức Liên hiệp hội từng bước
được ổn định và phát triển, thu hút nhiều các
hội thành viên, hội viên Đến nay, toàn tỉnh có
15.292 người có trình độ từ đại học trở lên,
chiếm khoảng 1% dân số, 57,6% tổng số công
chức, viên chức của tỉnh Trong đó có 466 thạc
sỹ, 16 tiến sỹ Liên hiệp hội có 18 hội thành
viên với gần 7 vạn hội viên Tổ chức bộ máy cơ
quan Thường trực Liên hiệp hội được củng cố,
đã bố trí chủ tịch Liên hiệp hội hoạt động
chuyên trách, biên chế cán bộ được tăng
cường; hoạt động tư vấn phản biện và giám
định xã hội từng bước được đẩy mạnh; hoạt
động phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật
được chú trọng Đã phát hành Bản tin Khoa
học và ứng dụng, bản tin phổ biến kiến thức
khoa học kỹ thuật, bản tin của các hội thành
viên; tuyên truyền, tập huấn cho hàng nghìn
người về lĩnh vực tư vấn pháp luật, khám chữabệnh…Công tác nghiên cứu khoa học được đẩymạnh, nhiều đề tài nghiên cứu được áp dụnghiệu quả trong đời sống xã hội Đã tổ chứcthành công nhiều hội thi, cuộc thi sáng tạo kỹthuật với hàng trăm giải pháp làm lợi cho nhànước, doanh nghiệp nhiều tỷ đồng
Tuy nhiên, hoạt động của Liên hiệp hội cònhạn chế: chưa tập hợp được đông đảo trí thứckhoa học và công nghệ, trí thức trẻ, trí thứctrong doanh nghiệp (mới chỉ tập hợp được30% trí thức KH&CN) Tổ chức bộ máy chưađủ mạnh; tính chất chính trị - xã hội chưa rõnét; nội dung, phương thức hoạt động còn hạnchế; Thường trực Liên hiệp hội chưa tạo sựliên kết chặt chẽ với các hội thành viên Nănglực công tác hội của một số cán bộ chưa đápứng yêu cầu; chưa chú ý lợi ích và bảo vệquyền lợi chính đáng của tổ chức hội thànhviên; vai trò của Liên hiệp hội trong Mặt trậnTổ quốc tỉnh chưa thực sự nổi bật, hiệu quảphối hợp hoạt động của Liên hiệp hội với các
cơ quan nhà nước trong việc khai thác tiềmnăng, sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoahọc và công nghệ chưa cao; hoạt động tư vấnphản biện và giám định xã hội mới đạt kết quảbước đầu; hoạt động khoa học công nghệ, đàotạo, phổ biến kiến thức khoa học còn mangtính nhỏ lẻ, thiếu hiệu quả
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là
do nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyềnvà các tổ chức trong hệ thống chính trị chưađầy đủ về vị trí vai trò của Liên hiệp hội; việc cụthể hóa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của
UBND TỈNH BẮC GIANG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LIÊN HIỆP CÁC HỘI KH&KT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_
Số:233 /CTr-LHH Bắc Giang, ngày 01 tháng 8 năm 2011
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Căn cứ Chương trình hành động của Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; căn cứ tình hình thực tế của đội ngũ trí thức cũng như hoạt động của Liên hiệp hội tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật tỉnh xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng với những nội dung chủ yếu sau:
Trang 5TIN TỨC - SỰ KIỆN
KHOA HỌC&ỨNG DỤNG
Á
Á
Đảng, chính sách của nhà nước liên quan hoạt
động của Liên hiệp hội thành nhiệm vụ, giải
pháp của tỉnh còn chậm; việc đầu tư của nhà
nước về biên chế, kinh phí, trụ sở làm việc, cơ
chế chính sách cho Liên hiệp hội hoạt động
còn thiếu; hoạt động của cơ quan thường trực
chưa thực sự đủ mạnh
Phần thứ hai NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
I Quan điểm:
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Bắc
Giang là tổ chức chính trị xã hội do Tỉnh uỷ lãnh
đạo, có chức năng tập hợp, đoàn kết và phát
huy sức sáng tạo của trí thức khoa học và công
nghệ trong và ngoài tỉnh; bảo vệ quyền là lợi
ích hợp pháp của các hội thành viên, các hội
viên, góp phần đưa khoa học công nghệ trở
thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương;
Phát triển Liên hiệp hội là trách nhiệm của
cấp uỷ, chính quyền và đội ngũ trí thức khoa
học và công nghệ của tỉnh;
Thực hành dân chủ, phát huy tinh thần yêu
nước, tính sáng tạo và tính tích cực xã hội trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ là nội dung
chủ yếu của quá trình đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động của Liên hiệp hội
II Mục tiêu:
Quán triệt nội dung nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đến các đồng
chí uỷ viên Ban chấp hành Liên hiệp hội, các
hội thành viên, trong đó chú trọng nội dung xây
dựng và phát triển đội ngũ trí thức Bắc Giang từ
nay đến năm 2015 và các năm tiếp theo thành
tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh Phấn đấu
tập hợp ít nhất 50% trí thức khoa học và công
nghệ vào tổ chức Liên hiệp hội; kết nạp 100%
các hội khoa học đã được thành lập
III Nhiệm vụ và giải pháp
1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán
triệt sâu rộng trong các hội thành viên, các cơ
quan, đơn vị và tầng lớp nhân dân nội dung
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 27-NQ/TW,
Chương trình hành động số 46-CT/TU của Tỉnh
uỷ về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số
42-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số
06-KH/TU ngày 19 tháng 02 năm 2011 của Tỉnh
uỷ về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội khoahọc Việt Nam
2 Tham mưu Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành chính sách tạo điều kiện thuận lợi Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật hoạt động và phát triển
Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy,biên chế hoạt động của cơ quan Thường trựcvà các hội thành viên; bảo đảm kinh phí và điềukiện hoạt động cho Liên hiệp hội như các tổchức chính trị xã hội khác;
- Ban hành quy định hoạt động tư vấn, phảnbiện và giám định xã hội của Liên hiệp hội,theo đó quy định cụ thể những dự án, chươngtrình phát triển bắt buộc phải có tư vấn, phảnbiện của Liên hiệp hội; xây dựng đề án pháttriển Liên hiệp hội đến năm 2020;
Thành lập một số đơn vị, trung tâm trựcthuộc Liên hiệp hội; xây dựng đề án phổ biếnkiến thức khoa học và công nghệ; thành lập vàxây dựng quy chế hoạt động của Câu lạc bộ tríthức Bắc Giang nhằm tập hợp và phát huy trítuệ của trí thức trong và ngoài tỉnh góp phầnphát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; thànhlập Tạp chí "Trí thức Bắc Giang" và nâng caochất lượng các ấn phẩm khoa học kỹ thuật củaLiên hiệp hội
Hàng năm Liên hiệp hội tổ chức gặp mặttrí thức khoa học và công nghệ trong và ngoàitỉnh; vận động thành lập các hội chuyên ngành;tập hợp, đoàn kết các hội thành viên và trí thứctrong và ngoài tỉnh tham gia phát triển kinh tế -xã hội ở địa phương
Tham mưu đề xuất thành lập Đảng đoànLiên hiệp hội; thành lập các ban của Liên hiệphội hoạt động chuyên trách; xây dựng Quỹ hỗtrợ sáng tạo khoa học và kỹ thuật nhằm hỗ trợmột phần kinh phí đối với tài năng sáng tạo kỹthuật; thành lập Giải thưởng khoa học kỹ thuậtnhằm tôn vinh các nhà khoa học, trí thức BắcGiang có nhiều đóng góp trong việc phát triểnkinh tế - xã hội ở địa phương
Xây dựng chính sách cụ thể để Liên hiệphội tham gia có hiệu quả vào nhiệm vụ giáodục, phố biến kiến thức khoa học, nghiên cứukhoa học, bảo vệ môi trường, xoá đói giảmnghèo và thực hiện một số dịch vụ công; xâydựng cơ sở sản xuất thực nghiệm, trình diễnmô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
Trang 6KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
Xây dựng quy chế phối hợp giữa Liên
hiệp hội với các sở, ngành, với các hội thành
viên trong việc thực hiện tư vấn, phản biện
và giám định xã hội, giáo dục, phổ biến kiến
thức khoa học;
3 Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của Liên hiệp hội
Liên hiệp hội tích cực đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động bảo đảm dân chủ,
tôn trọng pháp luật, phát huy tư duy sáng
tạo, tính tích cực trong nghiên cứu khoa học
của các hội viên Nâng cao công tác giáo
dục chính trị tư tưởng; tổ chức các phong
trào thi đua trong hệ thống của Liên hiệp
hội; tăng cường mối liên hệ giữa cơ quan
thường trực với các hội thành viên và giữa
các hội thành viên với nhau Nâng cao chất
lượng hoạt động tư vấn, phản biện và giám
định xã hội giúp UBND tỉnh có cơ sở khoa
học ban hành chính sách ở địa phương; đổi
mới hình thức tập hợp trí thức nhất là trí thức
là người Bắc Giang đang công tác tại Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phát
huy trí tuệ của trí thức đóng góp vào sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh
IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Cơ quan Thường trực Liên hiệp hội
thường xuyên tuyên truyền nội dung Nghị
quyết đến các hội thành viên, các hội viên,
đồng thời triển khai Chỉ thị số 42-CT/TW và
Kế hoạch số 06-KH/TU và Chương trình
hành động này đến lãnh đạo các hội thành
viên, các đồng chí uỷ viên Ban chấp hành
Liên hiệp hội;
2 Căn cứ Kế hoạch 06-KH/TU và
chương trình công tác hàng năm của UBND
tỉnh, Thường trực Liên hiệp hội phối hợp các
hội thành viên tham mưu UBND tỉnh ban
hành các chính sách cụ thể thực hiện nội
dung Kế hoạch;
3 Cơ quan thường trực Liên hiệp hội và
các hội thành viên tích cực triển khai thực
hiện Chương trình hành động này Thường
trực Liên hiệp hội theo dõi, đôn đốc, kiểm
tra thực hiện, hàng năm báo cáo Ban
Thường vụ Liên hiệp hội, Ban Tuyên giáo
Tỉnh uỷ
TM BAN CHẤP HÀNH
CHỦ TỊCH Nguyễn Đức Kiên
Cách mạng Tháng Tám là một sự kiện vĩ
đại, mở ra bước ngoặt lớn và ghi thêmvào lịch sử dân tộc những trang chói lọi.Nói như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bản đồ thếgiới phải được vẽ lại vì sự ra đời của một nhànước mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Bài học lớn của Cách mạng Tháng Tám là bàihọc Đại đoàn kết toàn dân Sự đoàn kết vĩ đạiđã làm hồi sinh cả một dân tộc
Năm 1941, trước tình hình biến chuyển maulẹ của thế giới, Bác Hồ đã trở về Pắc Bó trựctiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người chủtrì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng (5-1941) và xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộclà nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng ViệtNam lúc này Ngày 6-6-1941, trong bức thư
"Kính cáo đồng bào" với tên Nguyễn Ái Quốc,Bác viết: "Bảy tám mươi năm nay dưới quyềnthống trị của giặc Pháp, chúng ta luôn luôntranh đấu giành quyền tự do… Việc lớn chưathành không phải vì đế quốc mạnh, nhưng mộtlà vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệplực đồng tâm
Nay cơ hội giải phóng đến rồi… Hiện thời muốnđánh Pháp, Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dânđoàn kết"
Tháng 8-1945, trong "Thư kêu gọi Tổng khởinghĩa" Bác Hồ lại viết: "Hỡi Đồng bào yêu quý!Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào
ta đoàn kết, vì có đoàn kết mới có lực lượng, cólực lượng mới giành được Độc lập - Tự do".Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn vàkhông gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dânchúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hòa củamình" Và trong suốt cuộc cách mạng, nói đến
"Đại đoàn kết" là chúng ta lại nhớ ngay đến BácHồ kính yêu!
Thuở sinh thời, Bác đi tới đâu là ở đó vanglên bài "Kết đoàn": Kết đoàn chúng ta là sứcmạnh Kết đoàn chúng ta là sắt gang… Nóichuyện với các cụ phụ lão, với thanh niên, vớicác cán bộ, đảng viên, với quân đội, công an,
Cách mạng Tháng 8
Thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân Á
Á
Trang 7KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
với phụ nữ và cả các em nhi đồng…, ở tầng lớp
nào, lứa tuổi nào, Bác cũng đều dặn dò: Phải
đoàn kết, yêu thương lẫn nhau… Rất nhiều lần,
Người nói với chúng ta: Đoàn kết là truyền
thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Rất
nhiều lần, trong những bài thơ vận động cách
mạng của mình, Bác đều nói đến chữ "đồng":
"Khuyên ai nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh"
"Nước nhà giành lại nhờ tài sắt
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng"
Và có lẽ, không một người dân Việt Nam
nào lại không thuộc câu thơ của Bác:
"Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết
Thành công, Thành công, Đại thành công"
Trong suốt cuộc đời đấu tranh cho nền
độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm đúng theo câu
thơ của mình, và Người đã trở thành biểu
tượng đẹp đẽ nhất của khối Đại đoàn kết toàn
dân Đọc những tác phẩm, bài viết, bài nói
quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
suốt 50 năm, từ năm 1919 đến 1969 trong Hồ
Chí Minh toàn tập, các nhà nghiên cứu cho
biết các bài viết đề cập đến vấn đề Đại đoàn
kết dân tộc của Bác chiếm tới trên 40% Hai
chữ "đoàn kết" luôn xuất hiện trong những bài
viết, bài nói của Bác Có thể nói, Đại đoàn kết
là một tư tưởng lớn, một nội dung xuyên suốt
trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh
Đoàn kết không phải là điều mới đối với
dân tộc Việt Nam Bác Hồ đã nói: "Đó là
truyền thống cự kỳ quý báu của dân tộc ta"
Chính nhờ sức mạnh Đại đoàn kết to lớn đó,
mà Cách mạng Tháng Tám đã thành công và
dân tộc Việt Nam đã giành được thắng lợi vĩ
đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược
Nước ta là một cộng đồng gồm 54 dân tộc anh
em Ngay từ những ngày đầu Cách mạng
Tháng Tám, Bác Hồ đã nói: "Đồng bào Kinh
hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê,
Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số
khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau,
sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…
Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và
Chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất
cả chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn
nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta"
Chính sách Đại đoàn kết của Chủ tịch HồChí Minh đã thu hút được nhiều nhân tài chođất nước Những trí thức bậc cao, những nhân
sĩ yêu nước, những khâm sai đại thần của chếđộ phong kiến, những người làm việc bêncạnh nhà vua của chế độ phong kiến… cũng tựnguyện đi theo Cụ Hồ, đi theo cách mạng CụPhan Kế Toại đã nói: Cụ Hồ đúng là một ngọnnúi nam châm khổng lồ! Cái sức hút vĩ đại ấycủa Bác chính là chính sách Đại đoàn kết toàndân của Đảng và Nhà nước ta, mà Hồ Chủtịch là người tiêu biểu
Với chính sách Đại đoàn kết của Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Việt Namđã viết nên những trang sử vẻ vang Không aingờ rằng, Bản Tuyên ngôn độc lập mà Bácđọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử lại đượcBác viết trong căn nhà của một nhà tư sảnyêu nước Trịnh Văn Bô Và năm 1946 khisang thăm Pháp, Bác Hồ đã trao lại quyềnChủ tịch nước cho một nhân sĩ yêu nước ngoàiĐảng là cụ Huỳnh Thúc Kháng với niềm tintưởng tuyệt đối và với lời dặn "Dĩ bất biến, ứngvạn biến"…
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đấtnước, chính sách Đại đoàn kết của Đảng vàNhà nước ta đang tiếp tục được thực thi Hơn
80 triệu đồng bào trong nước, hàng triệu đồngbào đang sống và làm việc ở ngoài nước cũngmong muốn góp phần xây dựng nước nhà Tưtưởng Đại đoàn kết là bài học lớn của Cáchmạng Tháng Tám, là một sản phẩm trí tuệ,một bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng HồChí Minh đã trở thành ngọn cờ chỉ đạo chocông tác vận động Cách mạng Việt Nam.Trước khi đi xa, trong Di chúc của mình, trongkhi nói đến rất nhiều công việc quan trọng,Bác đã viết 8 chữ Đoàn kết: Đoàn kết chặtchẽ, Đoàn kết nhất trí, Đoàn kết và thốngnhất, Đoàn kết phấn đấu… Đặc biệt, trongphần nói về Đảng, Bác đã nhắc đến 5 chữ Đoànkết, bởi vì Đoàn kết toàn Đảng chính là nền tảngđể Đoàn kết toàn dân
Bá Dương (Bt)
Á
Trang 8KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
Chiến lược phát triển Khoa
học và Công nghệ
(KH&CN) Việt Nam giai
đoạn 2011-2020 có nhiệm vụ
quan trọng là góp phần cùng cả
nước tạo ra lực lượng sản xuất
mới, tiên tiến, quan hệ sản xuất
tiến bộ, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
và tính bền vững của phát triển
kinh tế; bảo đảm đưa nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại vào năm
2020
Đột phá đầu tiên trong Chiến
lược phát triển KH&CN Việt Nam
giai đoạn 2011-2020, theo chúng
tôi, chính là khâu xác định đúng
những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra
cho hoạt động nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ ở các
ngành, các cấp, các địa phương.
Cần tập trung nỗ lực và đưa ra cơ
chế bảo đảm khả năng xác định
trúng các nhiệm vụ, đồng thời
sàng lọc, hạn chế thấp nhất
những nhiệm vụ bị xác định sai,
không đúng tầm Bên cạnh một
số kết quả nổi bật, hiệu quả hoạt
động KH&CN chưa cao đang là
một trong những tồn tại từ nhiều
năm nay mà xã hội và bản thân
cộng đồng KH&CN nhìn chung
chưa hài lòng Nguyên nhân của
thực trạng này có nhiều, nhưng
trước hết và chủ yếu là do khâu
xác định nhiệm vụ còn nhiều hạn
chế và bất cập Bản thân lãnh
đạo các cấp cũng chưa quan tâm,
chủ động đặt ra và đặt trúng các
vấn đề thực tiễn trước mắt và
trong tương lai cần thiết phải tiến
hành nghiên cứu Trong điều kiện
như vậy, cần tạo ra cơ chế, quy
trình bảo đảm xác định đúng tầm
và đúng những vấn đề trọng tâm
cho nghiên cứu để không lãng
phí các nguồn lực, thời gian và
công sức của đội ngũ các nhà
KH&CN.
Đột phá thứ hai là, cần tập trung cho các giải pháp về nhân lực và đầu tư tài chính cho KH&CN Đây là hai điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi các nhiệm vụ KH&CN Về nhân lực, cần tập trung cho một số loại nhân lực nhất định Các chính sách này sẽ nhanh chóng mang lại hiệu quả, ít tốn kém tiền bạc và thời gian hơn là đổi mới công tác đào tạo nhân lực mà thông thường chỉ phát huy tác dụng trong tương lai xa (ít nhất 10 đến 15 năm sau) Chính sách đầu tư và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN mặc dù đã được đổi mới, nhưng cho đến nay vẫn còn là khâu yếu trong hệ thống bảo đảm nguồn lực và môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Kinh phí đầu tư cho các hoạt động KH&CN cần được quản lý thống nhất, phân bổ theo
cơ cấu hợp lý giữa các nhiệm vụ bảo đảm hạ tầng (đầu tư phát triển), nghiên cứu và phát triển (theo các kênh chương trình, đề tài trọng điểm cấp nhà nước và hệ thống các quỹ), và các khoản chi thường xuyên
Đột phá thứ ba là, tập trung xây dựng và tạo cơ chế để phát huy vai trò của các doanh nghiệp KH&CN, bên cạnh cơ chế chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Các doanh nghiệp KH&CN sẽ là nơi gắn kết hoạt động nghiên cứu và phát triển với hoạt động sản xuất, kinh doanh Thực chất, các doanh nghiệp KH&CN sẽ trở thành một lực lượng sản xuất mới đi tiên phong trong sản xuất các sản phẩm và dịch vụ mới, tạo ra các ngành sản xuất mới dựa trên tri thức và công nghệ mới, có khả năng cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng cao, lợi nhuận cao, từ đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo ra nhiều việc làm và phát triển bền vững nền kinh tế Cơ chế, chính sách đầu tư phát triển KH&CN trong giai đoạn 2011-2020 do vậy sẽ cần tập trung cho mục tiêu xây dựng và phát huy vai trò của các doanh nghiệp KH&CN, coi đây là khâu đột phá quan trọng trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Nguyễn Mạnh Quân
Ba khêu àưåt phấ trong Chiïën lûúåc phất triïín
Khoa hổc & cưng nghïå Viïåt Nam giai àoẩn 2011-2020
Trang 9KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN
Á
Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt
Nam giai đoạn 2011-2020 thì trong 10 năm
tới sẽ có khoảng 30,5 triệu lao động qua
đào tạo; dự báo tổng nhu cầu vốn đầu tư cho
phát triển nhân lực ước tính khoảng 2.135
nghìn tỷ đồng, chiếm 12% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội.
Mục tiêu của Quy hoạch là tăng nhanh tỷ lệ
nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các
hình thức, trình độ khác nhau từ mức 40% năm
2010 lên mức 70% năm 2020, trong đó tỷ lệ nhân
lực qua đào tạo ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng
tương ứng từ 15,5% lên 50%; ngành công nghiệp
từ 78% lên 92%, ngành xây dựng từ 41% lên
56%; ngành dịch vụ tăng từ 67% lên 88%
Đồng thời, phát triển đồng bộ đội ngũ nhân
lực với chất lượng ngày càng cao, đủ mạnh ở mọi
lĩnh vực, tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt
Nam có lợi thế cạnh tranh Xây dựng được đội
ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân
lực có trình độ cho đất nước
Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015
khoảng 30,5 triệu người
Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai
đoạn 2011-2020 đã xác định nhu cầu nhân lực về
mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề
cho từng ngành kinh tế
Cụ thể, về phát triển nhân lực theo bậc đào
tạo, phấn đấu tổng số nhân lực qua đào tạo năm
2015 khoảng 30,5 triệu người (chiếm khoảng 55%
trong tổng số 55 triệu người làm việc trong nền
kinh tế) và năm 2020 tăng lên gần 44 triệu người
(chiếm khoảng 70% trong tổng số gần 63 triệu
người làm việc trong nền kinh tế)
Về phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực,
quy hoạch xác định nhân lực trong lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng tăng từ mức 10,8 triệu người
năm 2010 (bằng 22% tổng số nhân lực trong nền
kinh tế) lên khoảng 15 triệu năm 2015 (27%) và
khoảng 20 triệu năm 2020 (31%)
Trong khu vực dịch vụ, nhân lực tăng từ mức
trên 13 triệu người năm 2010 (chiếm 26,8% tổng
nhân lực trong nền kinh tế) lên khoảng 15-16 triệu
năm 2015 và khoảng 17-19 triệu người năm 2020
(bằng khoảng 27-29%) Còn nhân lực trong lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp năm 2010 là 24,9 triệu
người (chiếm 51% tổng nhân lực trong nền kinh
tế), năm 2015 là trên 24-25 triệu (45-46%) và
năm 2020 khoảng 22-24 triệu người (35-38%)
Ngoài ra, Quy hoạch cũng đề cập đến nhân
lực của một số ngành/lĩnh vực kinh tế đặc thù
như: Giao thông vận tải; tài nguyên, môi trường;
du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin;năng lượng hạt nhân; nhân lực đi làm việc ở nướcngoài
Bên cạnh việc xác định nhu cầu nhân lực theotừng ngành kinh tế, bản Quy hoạch cũng xác địnhnhu cầu nhân lực cho từng vùng kinh tế (Vùngtrung du và miền núi phía Bắc, vùng đồng bằngsông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hảimiền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông NamBộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long)
Dự kiến đến 2020 có 573 trường ĐH, CĐ
Cũng theo quy hoạch này, dự kiến mạng lướitrường Đại học (ĐH) và Cao đẳng (CĐ) vào năm
2020 sẽ có tổng cộng 573 trường, trong đó 259trường ĐH và 314 trường CĐ; trong giai đoạn2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70trường ĐH và 88 trường CĐ)
Đối với mạng lưới các cơ sở dạy nghề, đếnnăm 2015, có 190 trường CĐ nghề (60 trườngngoài công lập), 300 trường trung cấp nghề (100trường ngoài công lập) và 920 trung tâm dạy nghề(320 trung tâm ngoài công lập) Đến năm 2020,có 230 trường CĐ nghề (80 trường ngoài cônglập), 310 trường trung cấp nghề (120 trường ngoàicông lập) và 1.050 trung tâm dạy nghề (350 trungtâm ngoài công lập)
Quy hoạch cũng đưa ra dự báo sơ bộ tổng nhucầu vốn đầu tư cho phát triển nhân lực (bao gồmcả giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế-chăm sócsức khỏe và các chi phí khác dành cho phát triểnnhân lực) cả giai đoạn 2011-2020 ước tínhkhoảng 2.135 nghìn tỷ đồng, chiếm 12% tổng vốnđầu tư toàn xã hội Trong đó, tổng vốn đầu tư trựctiếp cho giáo dục - đào tạo và dạy nghề dự kiếnkhoảng 1.225-1.300 nghìn tỷ đồng
Theo Báo Điện tử Chính phủ và TTXVN, 7/2011
Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Trang 10KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về
nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài Họ
có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung,
có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực,
đã được kiểm nghiệm qua thực tế.
Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách
mạng Tháng Tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình
Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di,
Tôn Thất Tùng đều là nhân tài Việt Nam được đào
tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất
nước Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh
nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay Có người
Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có
người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.
Bác cũng dành những công việc phù hợp cho
từng "hiền sĩ" Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu
nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính
phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại
Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều
trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ
trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ
Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ
ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.
Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời
bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự
nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến
họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc Và thực tế,
sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất
nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ
bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài "chiêu
hiền đãi sĩ" của Người.Tôi nhớ một câu nói về Bác,
đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai "Con mắt tương lai" của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.
Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theo hệ thống "chức quyền" Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.
Bác Hồ đã nói: "Dụng nhân như dụng mộc", dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, "đồng lương" tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.
Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ
Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài
Nguyễn Hoa Thịnh
Nhên cấch cuãa Bấc Hưì khưng chĩ thu huát trđ thûác kiïìu bâo vïì nûúác xêy dûång qụ hûúng mâ côn àưång viïn hổ mưåt lông mưåt dẩ phuång sûå Tưí quưëc
TÀI CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ CỦA BÁC HỒ
Trang 11NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Trong chiến lược phát
triển nguồn nhân lực
tỉnh Bắc Giang, bên
cạnh việc quan tâm tập hợp
sử dụng nguồn nhân lực nội
tại của tỉnh và đội ngũ trí thức
ngoài tỉnh cần phải chú trọng
phát triển nguồn nhân lực nội
tại của tỉnh, chính lực lượng
này là yếu tố quyết định trước
mắt và lâu dài đến sự bền
vững của tỉnh nhà.
Để góp phần đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực của tỉnh
trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế, tôi xin đề xuất
một số giải pháp sau:
1.Xây dựng chiến lược đào
tạo, phát triển nguồn nhân
lực, làm căn cứ tổ chức triển
khai thực hiện có hiệu quả
công tác đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực.
Nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của Bắc Giang hiện nay là
phải tập trung xây dựng chiến
lược, kế hoạch đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực của tỉnh
đến năm 2020 và hướng tới
năm 2030 làm căn cứ cho tổ
chức đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển nhanh kinh tế - xã hội của
tỉnh Chiến lược đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực Bắc Giang
phải dựa trên chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội của tỉnh,
của huyện và nhu cầu nguồn
nhân lực của tỉnh trong từng
thời kỳ Trong đó tỉnh cần tập
trung làm rõ nhu cầu về số
lượng, cơ cấu trình độ đào tạo,
tỷ lệ nguồn nhân lực đào tạo
trong nước, ngoài nước, trong
tỉnh, ngoài tỉnh
2 Phải phấn đấu phổ cập trung học phổ thông và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông.
Cần chỉ đạo đổi mới mạnhmẽ nội dung phương pháp dạyhọc, hệ thống giáo dục vàphương thức tổ chức quản lí giáodục đào tạo, nhằm nâng caochất lượng hiệu quả giáo dục,đào tạo nguồn nhân lực
Thực hiện chủ trương luânchuyển đội ngũ giáo viên từtrường điểm đến các trườngchưa đạt điểm để nâng cao chấtlượng các trường trong tỉnh
3 Tập trung xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo nghề.
Cần đầu tư xây dựng ít nhấtmột trường đại học, xây dựngcác trung tâm đào tạo chuyểngiao công nghệ của tỉnh Đầu tưnâng cấp trường Cao đẳng NgôGia Tự, 3 trường trung cấp kinhtế- kỹ thuật; trung cấp văn hóa-thể thao và du lịch; Trung cấp Y
tế của tỉnh thành trường đạtchuẩn quốc gia
4 Phát triển mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại nghề cho lực lượng lao động, nhất là đào tạo nghề cho thanh niên, cho nông dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Cần tiến hành quy hoạchphát triển hệ thống các cơ sởdạy nghề, xây dựng đội ngũgiáo viên dạy nghề chuyênnghiệp đủ về số lượng, đồng bộvề cơ cấu, đảm bảo về chấtlượng đáp ứng được yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa.Tỉnh cần đầu tư ngân sách,
ưu tiên cấp đất và có chính sáchhỗ trợ công tác dạy nghề Đẩymạnh xã hội hóa công tác dạynghề, nhằm phát huy tráchnhiệm xã hội của các cơ sở sảnxuất kinh doanh, của các tổchức và cá nhân trong công tácđào taọ nghề
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
tỉnh Bắc Giang hiện nay
PGS.TS Dương Văn Sao - Hiệu trưởng trường ĐH Công đoàn
(Xem tiếp trang 13)
Trang 12KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Trí thức trong lĩnh vực
khoa học công nghệ có
vai trò quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Để
phát huy vai trò đó, cần có
sự đánh giá chính xác thực
trạng đội ngũ này, xác định
đúng vị trí và thấu hiểu ước
mong của họ.
Đất nước trải qua cuộc
chiến tranh lâu dài và cực kỳ
ác liệt để hàn gắn vết thương
chiến tranh, những năm quan
liêu bao cấp và bước vào thời
kỳ mở cửa và hội nhập, Đảng
và Nhà nước ta đã xây dựng
được đội ngũ trí thức trong lĩnh
vực khoa học và công nghệ
(KH- CN) với hơn 2 triệu người
tốt nghiệp đại học, hơn 15.000
tiến sỹ, trên 15.000 GS/PGS
Đánh giá năng lực và chất
lượng đội ngũ này một cách
chính xác là vấn đề lớn Đây là
một vấn đề đang được dư luận
xã hội quan tâm, các phương
tiện thông tin đại chúng đăng
tải nhiều luồng ý kiến tráingược Công bằng mà nói, độingũ trí thức KH-CN chúng tađã làm được nhiều việc cho đấtnước, tuy còn nhiều mặt yếu
Nguyên nhân của những mặtyếu có nhiều
Về mặt lịch sử, đội ngũ nàycòn non trẻ Trong khi, nềnkhoa học phương Tây đã qua 4thế kỷ (không kể đến văn minhcổ đại), còn chúng ta mới cómấy thập kỷ Về mặt xã hội, tacòn là nước nông nghiệp, thậmchí có khi thêm cả tính từ "lạchậu" nữa, phân công lao độngcòn chịu ảnh hưởng của kinhtế tiểu nông Về mặt tâm lý,trong xã hội còn nặng nề tìnhtrạng theo đuổi nền học khoacử, quan trường, hư văn, hànlâm Hơn nữa, điều kiện làmviệc quá thiếu thốn
Trong thời kỳ đổi mới, Đảngvà nhà nước ta có đường lối
"Coi giáo dục - đào tạo và khoahọc - công nghệ là quốc sáchhàng đầu".Tuy nhiên, hơn 20
năm sau nhìn lại, việc thựchiện đường lối đó vẫn còn hạnchế Vì sao như vậy? Có nhiềunguyên nhân, nhưng có mộtnguyên nhân cốt lõi là: Nhànước ta coi giáo dục và đàotạo, KH-CN là quốc sách hàngđầu, đường lối quá đúng đắn,việc thực hiện đường lối đó chủyếu là những con người, thếmà những người làm giáo dục-đào tạo và KH- CN đâu cóđược "hàng đầu" Thêm vàođó, họ phải làm việc trong môitrường không thuận lợi: môitrường giáo dục không lànhmạnh, môi trường khoa họccòn nặng về kinh nghiệm chủnghĩa "cảm tính, cảm tình"…
Mong mỏi được "tin dùng"
Những năm trước, BanKhoa giáo Trung ương đượcgiao một đề tài KH-CN cấpNhà nước về đội ngũ cán bộKH-CN nước nhà Kết quả điềutra - khảo sát lấy ý kiến của đềtài này cho biết, ở hầu hết cácđịa phương đều có chính sáchthu hút trí thức về tỉnh, thànhmình, có chương trình đào tạo,kể cả chi phí rất cao cho mộtkhoá học ở nước ngoài Nhưng tốt nghiệp tiến sĩ, thạc
sĩ từ các nước có nền giáo dụcrất hiện đại, có người về chỉđược giao làm công việc củangười phiên dịch Có ngườithan thở: thấy các nhà doanhnghiệp lên mây xanh, các báckhoa học ngậm ngùi, thậtphiền lòng, có cả đáng thương.Nói khái quát, nhiều người chorằng anh em trí thức ở ta khôngđược trọng dụng Bản thân cán
Trí thức Khoa học và Công nghệ
Mong được tin dùng
Á
Trang 13bộ khoa học phát biểu với Đảng và Nhà
nước chỉ có một mong mỏi duy nhất là
được tin dùng Theo chiết tự, có người
nói, "trọng dụng" là có "tin dùng rồi";
đúng vậy, nhưng để rõ ý và người nghe
dễ tiếp thu, cứ xin được nói theo các bác
nông dân "nói toạc móng heo": mong
được "tin" và được "dùng", sau tiến lên
một bước là "trọng dụng" Có người nói
lại: các cấp lãnh đạo, quản lý đều có
các trí thức tham gia là gì Đáp lại: vâng,
có, nhưng phần nhiều mới để "làm
cảnh", "làm ví dụ" thôi! Đâu đã chú ý
thực tài, tâm đức, hiệu quả!
Mong mỏi của anh em là được làm
việc phục vụ sự nghiệp, phục vụ nhân
dân, phục vụ dân tộc Đằng sau chữ
"trọng dụng", "tin dùng" là một loạt chính
sách, chế độ, như chính sách dùng
người, chính sách phát triển giáo dục,
phát triển khoa học rồi cụ thể như chế
độ lương, điều kiện làm việc
Tất nhiên, không theo bao cấp, hành
chính, mà vận dụng linh hoạt cơ chế thị
trường định hướng XHCN, như làm việc
theo chế độ khoán sản phẩm, cho cạnh
tranh, đặc biệt coi trọng hiệu quả Cũng
nên cảnh báo không để "thị trường hoá",
"thương mại hoá", "cổ phần hoá" giáo
dục - đào tạo Còn đối với khoa học cơ
bản, khoa học xã hội, nhân văn, cách
vận dụng cơ chế thị trường như thế nào
mới đúng Và với công nghệ lại phải có
một cách đối xử khác, phải tính toán rất
cẩn thận Gốc rễ của việc thay đổi các
chính sách, chế độ này là làm sao có
thái độ thực sự khoa học, khách quan
đối với giáo dục và khoa học Cũng
trong đầu thế kỷ XXI Liên hợp quốc phát
động Thập kỷ "Giáo dục vì phát triển
bền vững", trong đó trí thức phải là đầu
tàu của đội ngũ nhân lực Còn ở ta, một
số nhà trí thức đã phát biểu: nước nào
không có đường lối theo cách suy nghĩ
đó, thì lại làm thuê, có khi lại nô lệ, dĩ
nhiên, nô lệ kiểu mới
Phạm Minh Hạc
KHOA HỌC&ỨNG DỤNG
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Á
(Tiếp theo trang 11)
Khuyến khích các nhà khoa học tổ chức dạy nghềđến từng thôn xóm, nhất là hướng dẫn nông dân ápdụng KHKT vào chăn nuôi, trồng trọt, chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi
Cần chỉ đạo công tác day nghề gắn với sản xuất,đáp ứng được yêu cầu của xã hội Mời chuyên gia giỏingoài tỉnh, nước ngoài về dạy nghề cho người laođộng của tỉnh
5 Quan tâm đào tạo, đào tạo lại cán bộ quản lí, cán bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo nhân tài cho tỉnh.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, tỉnh cần có một cuộccách mạng mạnh mẽ, toàn diện sâu sắc, trước tiêntrong tư duy của các cấp, các ngành nghề về công tácđào tạo cán bộ quản lý
Lựa chọn một số cán bộ trẻ, nằm trong diện quyhoạch đưa đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài.Khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần cán bộ đihọc theo hình thức vừa làm vừa học để thực hiệnchuẩn hóa cán bộ Cử cán bộ đi đào tạo bồi dưỡngngắn hạn, bổ sung kiến thức mới ở trong và ngoàinước về những vấn đề liên quan đến công việc Thường xuyên tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học,mời các nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước thamgia nhằm tranh thủ trí tuệ và khuyến khích cán bộ củatỉnh học tập nghiên cứu
6 Quan tâm sử dụng các nguồn nhân lực được đàotạo, nhất là nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ cao.Tỉnh phải tạo điều kiện, môi trường làm việc thuậnlợi, dân chủ bình đẳng cho cán bộ, cần tin, lắng nghevà trân trọng những ý kiến tâm huyết của cán bộ giỏi,có chính sách cụ thể thu hút nhân tài về quê hươnglàm việc
7 Phát huy truyền thống hiếu học của người dân,coi đây là động lực, là điều kiện để phát triển đào tạonguồn nhân lực
Tỉnh cần tập trung nghiên cứu đề ra các chínhsách, giải pháp thiết thực, cụ thể, phát huy mạnh mẽvai trò của dòng họ, làng xóm, thôn xã, cộng đồng củatoàn xã hội trong việc động viên khuyến khích con emnỗ lực học tập
Chú trọng khuyến khích các tổ chức, cá nhân xâydựng quỹ khuyến học, khuyến tài ở mọi cấp, cần cónhiều hình thức tôn vinh người tài đóng góp nhiều choquê hương đất nước
PGS.TS Dương Văn Sao Hiệu trưởng trường ĐH Công đoàn
GIẢI PHÁP
Trang 14KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Được đánh giá là một trong
những tổ chức hội hoạt
động hiệu quả, nhiều
năm qua, Hội Làm vườn (HLV)
Bắc Giang đã khẳng định được
vị trí tiên phong trong phong
trào phát triển kinh tế VAC, góp
phần đưa sản xuất nông nghiệp
của tỉnh sang trang mới Hội
luôn chú trọng công tác khuyến
viên, chương trình khuyến
nông Theo đó, mỗi năm Hội lại
xây dựng kế hoạch hoạt động,
chương trình làm việc cụ thể
thông qua sự phối hợp với các
sở, ban ngành tổ chức các lớp
tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật cho hội viên, nông dân
Hội đã tổ chức được nhiều lớp
học kỹ thuật làm VAC cho hội
viên tham dự, đặc biệt, phối hợp
với Trung tâm Huấn luyện và
Chuyển giao kỹ thuật
VACV-INA, trường Cao đẳng Thuỷ sản
tổ chức tổng kết cấp bằng trung
cấp công nhân kỹ thuật nuôi
trồng thuỷ sản cho các học viên
tại xã Nghĩa Hưng và Tân Hưng
huyện Lạng Giang Nhìn chung
các buổi tập huấn, thăm quan
học tập mô hình đều đạt kết quảtốt, đáp ứng nguyện vọng vàyêu cầu trực tiếp của cán bộ hộiviên trong vực VAC Nhờ đó,phong trào làm kinh tế VAC,trang trại ngày càng phát triển
HLV các cấp đã tập trunghướng dẫn hội viên và nông dâncải tạo vườn tạp, ao hồ, xâychuồng trại, đưa giống mới chonăng suất, chất lượng cao vàosản xuất để dần thay thế nhữngcây trồng, vật nuôi năng suất,chất lượng thấp Một số trangtrại còn kết hợp trồng cây ănquả với cây cảnh để phục vụnhu cầu trong các ngày lễ tết,đem lại thu nhập cao
Để hướng tới cách làm hiệuquả hơn, lãnh đạo Hội đề ramục tiêu tiếp tục đổi mới nộidung, phương thức hoạt động,xây dựng tổ chức Hội phát triểnvững mạnh toàn diện; chăm lo,bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của cán bộ, hội viên HLVcác cấp; đặc biệt là đẩy mạnhviệc tuyên truyền, vận động cácchủ trang trại, các hộ làm VACgiỏi vào Hội Với hoạt động của
tổ chức Hội và hội viên, phongtrào chuyển dịch cơ cấu câytrồng, vật nuôi ở nhiều địaphương có chuyển biến tíchcực, mặc dù gặp rất nhiều khókhăn về biên chế, kinh phí,nhưng hoạt động của Hội Làmvườn tỉnh đã được cấp uỷ, chínhquyền nhiều địa phương đánhgiá có vai trò rất quan trọngtrong công tác chuyển dịch cơcấu cây trồng, vật nuôi, bởi vậyđến nay, nhiều vùng núi caotrong tỉnh đã được đưa một sốloại cây ăn quả (Nhãn muộn,bưởi diễn, cam đường canh, mítthái, bưởi da xanh) cùng cáccây lâm sản: bạch đàn cao sản,keo, trám… vào trồng thử vàcho năng suất cao Các loại câytrồng chủ yếu được trồng ở cáchuyện: Lục Nam, Hiệp Hòa, LụcNgạn, Sơn Động, Yên Dũng,Yên Thế với diện tích 46.968
ha Bên cạnh đó viêc xây dựngnhững mô hình, trang trại chănnuôi các động vật quý hiếm: Ba
ba, Nhím, mô hình chăn nuôidế, lơn rừng, ong mật… pháttriển mạnh Từ những mô hìnhnày nhiều chủ trang trại đã trởthành tỉ phú chỉ trong vòng vàinăm trở lại đây
Chính hiệu quả hoạt độngcủa Hội Làm vườn đã thu hútđược nhiều người tham gia vàotổ chức Hội Hội tiếp tục mởrộng hội thành viên ở các cơ sởnhằm phát huy thế mạnh vàkhẳng định vai trò quan trọngcủa hội trong giai đoạn hiệnnay HLV thực sự trở thành
"điểm tựa" an toàn, vững chắccho kinh tế VAC kinh tế trangtrại phát triển nở rộ
Thu HaØ
Hội Làm vườn tỉnh Bắc Giang
Hướng tới cách làm hiệu quả