1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bản tin khoa học và ứng dụng quý 2 2013

28 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản tin khoa học và ứng dụng là tờ tin nhằm phổ biến những kiến thức về khoa học và ứng dụng t với các mục chính như tin tức sự kiện về khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, cuộc sống qanh ta hay mục vinh danh đất việt cho mọi người dân có nhu cầu

Trang 1

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

Ngày 08/4/2013 tại Trường

THPT Ngô Sỹ Liên, Liên

hiệp các Hội Khoa học kỹ

thuật phối hợp với Tỉnh Đoàn, Sở

Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa

học và Công nghệ tổ chức Tổng

kết và trao giải cuộc thi sáng tạo

thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh

lần thứ VIII, năm 2012 và phát

động Cuộc thi sáng tạo thanh

thiếu niên, nhi đồng lần thứ IX,

năm 2013

Đến dự có các đồng chí: Bùi

Văn Hạnh - Ủy viên Ban Thường

vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND

tỉnh; Nguyễn Văn Thi - Chủ tịch

Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ

thuật tỉnh, Trưởng Ban tổ chức;

Lương Văn Thành - Phó Giám

đốc Sở Khoa học và Công nghệ;

Ngô Thanh Sơn - Phó Giám đốc

Sở Giáo dục và Đào tạo; Trương

Quang Hải - Phó Bí thư Tỉnh

Đoàn

Tại Lễ trao giải cuộc thi, Bantổ chức đã trao giải cho 20 môhình, sản phẩm tiêu biểu, có ýtưởng sáng tạo, khả năng ápdụng vào thực tế, phù hợp với khảnăng tư duy sáng tạo của mọi lứatuổi (trong đó, có 01 giải nhất, 02giải nhì, 06 giải ba 09 giải khuyếnkhích và 02 giải dành cho tác giảnhỏ tuổi nhất, tác giả có mô hìnhsản phẩm đẹp nhất)

Nhằm tuyên dương, độngviên, khích lệ các em học sinh đạtgiải cao trong cuộc thi, Chủ tịchUBND tỉnh đã tặng Bằng khencho các tác giả đoạt giải Nhất,Nhì Cũng trong chương trình, đểbiểu dương nỗ lực phấn đấu vàtinh thần say mê sáng tạo củacác tác giả, Ban Thường vụ TỉnhĐoàn đã tặng Bằng khen cho emVũ Văn Thái, tác giả sản phẩm

“Thiết bị mạch bảo vệ thông minhtương tác qua điện thoại” - GiảiNhất; em Nguyễn Đức Thịnh, tác

giả sản phẩm “Robot phun thuốctrừ sâu” – Giải Nhì và nhóm tácgiả Lưu Quang Đông, NguyễnTiến Dương, Nguyễn Thái Cườngvới sản phẩm “Phần mềm học vàchơi" Ban Thường vụ Tỉnh Đoàncũng trao tặng Bằng khen choHuyện đoàn Lạng Giang, Huyệnđoàn Yên Thế vì đã có thành tíchxuất sắc trong việc triển khaicuộc thi sáng tạo lần thứ VIII.Tại Lễ trao giải, Ban tổ chứcđã phát động Cuộc thi sáng tạothanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ

IX, năm 2013 Thời gian phátđộng cuộc thi từ tháng 3/2013đến tháng 10/2013 Thời hạnnhận hồ sơ hết ngày 25/10/2013.Địa điểm nhận Hồ sơ: Tỉnh ĐoànBắc Giang hoặc Liên hiệp cácHội Khoa học và kỹ thuật, tỉnhBắc Giang (số 48 Ngô Gia Tự,thành phố Bắc Giang)

Phạm Hà Linh

TIN TỨC - SỰ KIỆN

THANH, THIẾU NIÊN, NHI ĐỒNG TỈNH BẮC GIANG LẦN THỨ VIII

LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG CUỘC THI SÁNG TẠO

Trang 2

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN

Phương hướng đột phá trong lĩnh vực

bảo quản, chế biến vải thiều tại Bắc Giang

Công nghệ CAS (viết tắt của

Cells Alive System, có

nghĩa là các cấu trúc tế

bào vẫn hoạt động, hay còn gọi là

công nghệ bảo quản tế bào) do

công ty ABI nghiên cứu, sáng

chế Đây là một công nghệ bảo

quản đông lạnh tiên tiến, luôn giữ

ở nhiệt độ lạnh từ -350C trở lên

nhưng vẫn không phá vỡ các

màng và thành tế bào, duy trì

được các yếu tố quan trọng cấu

thành hương vị trong thực phẩm,

nhờ đó giúp thực phẩm được bảo

quản tốt hơn, giữ được độ ngon,

tươi lâu hơn so với công nghệ

đông lạnh truyền thống

Sử dụng công nghệ CAS giúp

đảm bảo gần như tuyệt đối độ

tươi, ngon, an toàn vệ sinh thực

phẩm đối với nhiều loại nông

sản, thực phẩm với thời gian bảo

quản kéo dài tới 1 năm, thậm chí

là 10 năm

Hiện nay, công nghệ này đã

được ứng dụng rộng rãi không chỉ

trong ngành công nghiệp chế

biến nông sản thực phẩm mà còn

cả trong ngành chăn nuôi, ngành

y học

Sử dụng công nghệ CAS cũng

có một số đặc điểm ưu việt khác

như thân thiện môi trường, tiết

kiệm nhiều năng lượng (lượng

điện tiêu thụ)

Theo ông Owada Norio, Tổng

Giám đốc Công ty ABI (Nhật Bản)

, công nghệ này hoàn toàn có thể

được áp dụng để giúp bảo quản,

chế biến, nâng cao chất lượng

quả vải thiều cũng như các loại

rau quả, thực phẩm khác vốn có

sản lượng hàng năm lớn và là

tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Bắc

Giang

Sử dụng công nghệ CAS sẽ

giúp bảo quản quả vải thiều trong

thời gian từ 1-3 năm mà vẫn đảmbảo gần như toàn bộ sản phẩmgiữ nguyên được độ tươi ngon

Công nghệ này có thể được sửdụng để chế biến mứt vải và cácsản phẩm chế biến khác từ quảvải thiều, góp phần nâng cao giátrị và mở rộng thị trường tiêu thụcho vải thiều Bắc Giang

Ngoài ra, công nghệ CAS còncó thể được sử dụng trong bảoquản, chế biến, nâng cao giá trịcho các loại rau quả khác, cácsản phẩm chăn nuôi như lợn, gà,thủy sản của tỉnh Bắc Giang

Tại buổi làm việc với đoàncông tác của Bộ Khoa học vàCông nghệ, đại diện Công ty ABI,ông Bùi Văn Hạnh Phó Chủ tịchUBND tỉnh Bắc Giang cho biếtBắc Giang là địa phương có vùngsản xuất vải thiều lớn nhất nước,năm 2012 có tổng diện tích vảihơn 30.000 ha, sản lượng đạt trên120.000 tấn

Tuy nhiên, vải thiều có tínhmùa vụ cao, sản lượng lớn, thờigian thu hoạch ngắn nên rất khókhăn cho công tác bảo quản, chếbiến sau thu hoạch Tỉnh cũng códiện tích khoảng trên 20.000hasản xuất rau các loại hàng năm,có đàn lợn đứng thứ 5 cả nước,đàn gia cầm đứng thứ 3 cả nước

Do đó, tỉnh có nhu cầu rất lớn vềbảo quản, chế biến, tiêu thụ cácsản phẩm nói trên để nâng caogiá trị sản xuất, tăng thu nhập chongười nông dân

Ông Hạnh hy vọng trong thờigian tới (trước mắt vụ vải thiềunăm 2013) tỉnh sẽ phối hợp với BộKhoa học và Công nghệ, Công tyABI xây dựng được mô hìnhchuyển giao, ứng dụng công nghệCAS trong bảo quản, chế biến vảithiều, từ đó có thể nhân rộng ra ápdụng trong bảo quản, chế biến,nâng cao giá trị cho nhiều loạinông sản khác của tỉnh

Thành Nguyễn

lPhó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Bùi Văn Hạnh nghe Tổng Giám đốc Công ty ABI (nhật bản) Owada Norio giới thiệu một số nông sản đã được ứng dụng công nghệ CAS để bảo quản.

Công nghệ CAS –

Trang 3

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN

Trong hai ngày 11 và 12 tháng

4 năm 2013 tại Đồ Sơn,

thành phố Hải Phòng, Liên

hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật

Việt Nam phối hợp với Liên hiệp

các hội Khoa học và Kỹ thuật

thành phố Hải Phòng tổ chức Hội

nghị giao ban Liên hiệp các hội

KH&KT các tỉnh, thành phố phía

Bắc; Dự hội nghị có GS.VS.TSKH

Đặng Vũ Minh, Bí thư Đảng Đoàn,

Chủ tịch Hội đồng Trung ương Liên

hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật

Việt Nam; TS Trần Việt Hùng, TS

Phan Tùng Mậu - Phó Chủ tịch

Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ

thuật Việt Nam; đồng chí Hoàng

Tuấn Nam - Phó Chủ tịch UBND

thành phố Hải Phòng và đại biểu

của 22 Liên hiệp các hội Khoa học

và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) các

tỉnh, thành phố phía Bắc

Tại hội nghị ngày thứ nhất đã

tổ chức Hội thảo các biện pháp

nâng cao hiệu quả hoạt động phổ

biến kiến thức trên cổng thông tin

điện tử pvusta.vn và cho ý kiến

đóng góp vào các dự thảo “Quy

chế về quản lý, sử dụng, cung cấp

và xử lý thông tin cho trang thông

tin điện tử tổng hợp của Liên hiệp

các hội KH&KT Việt Nam” và “Quy

chế về quản lý, sử dụng thư điện

tử công vụ”

Xác định hoạt động thông tin

phổ biến kiến thức trên trang

thông tin điện tử là hết sức quan

trọng vì vậy đa số các đại biểu cho

rằng cần phải có cổng thông tin

thống nhất trong toàn hệ thống

Liên hiệp hội, tập huấn nâng cao

năng lực cho Liên hiệp hội các

tỉnh, thành phố; cần phải có những

trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật

đáp ứng nhiệm vụ này; bên cạnh

đó các ý kiến cũng cho rằng phải

sớm hoàn thiện các Quy chế, cần

làm rõ trách nhiệm của người cung

cấp thông tin cũng như người đăng

tin và thời gian đăng tin; có cơ chế

ràng buộc giữa Ban biên tập Liên

hiệp hội Việt Nam với Liên hiệp

hội các địa phương

Trong ngày thứ hai, hội nghị

tập trung vào đánh giá kết quảhoạt động của Liên hiệp hội trongthời gian qua, thảo luận đóng góp

ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm hoạtđộng của các Liên hiệp hội địaphương; các ý kiến tập trung thảoluận sâu như công tác tổ chức bộmáy Liên hiệp hội từ Trung ươngđến địa phương, công tác tập hợptrí thức, hoạt động Tư vấn phảnbiện và giám định xã hội, hoạtđộng thông tin tuyên truyền phổbiến kiến thức, công tác tổ chứcHội thi, Cuộc thi…

Kết thúc hội nghị, các đại biểunhất trí với đánh giá trong thời gianqua với sự cố gắng nỗ lực của Liênhiệp hội Việt Nam và Liên hiệp hộicác tỉnh thành phố đã đạt đượcnhững kết quả hết sức quan trọng,dần khẳng định vị thế, vai trò củaLiên hiệp hội trong đời sống kinhtế-chính trị-xã hội; nhận thức củacác cấp ủy đảng, chính quyền về

vị trí, vai trò của Liên hiệp hội ngàycàng nâng lên; tổ chức bộ máyLiên hiệp các tỉnh, thành phố tiếptục được kiện toàn; hoạt động Tưvấn phản biện ngày càng rõ nét,có những đóng góp quan trọngtrong việc ban hành Chính sách,các Dự thảo Luật, các Chương

trình, Đề án phát triển kinh tế lớncủa quốc gia cũng như của tỉnh;hoạt động thông tin phổ biến kiếnthức, công tác tổ chức Hội thi,Cuộc thi ngày càng được đẩymạnh

Tuy nhiên bên cạnh những kếtquả đạt được, hoạt động của Liênhiệp hội nói chung còn nhiều khókhăn, vướng mắc như: Tổ chức bộmáy Liên hiệp hội còn chưa thốngnhất từ Trung ương đến tỉnh; chưathể chế hóa Nghị quyết của Đảngvề vị trí, chức năng nhiệm vụ củaLiên hiệp hội thành các văn bảncủa Nhà nước; hoạt động tư vấnphản biện còn gặp khó khăn, mộtsố hoạt động khác kết quả đạtđược chưa như mong muốn.Các đại biểu cho rằng, thờigian tới Liên hiệp hội các tỉnh,thành phố tiếp tục khắc phục khókhăn, phát huy những thế mạnh,tranh thủ sự ủng hộ của các cấpủy, chính quyền đẩy mạnh mọihoạt động dần khẳng định vị trí,vai trò của mình trong đời sốngkinh tế-chính trị địa phương

Ngô Văn Tâm – Chánh Văn phòng Liên hiệp hội

lĐồng chí Nguyễn Văn Thi – Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Giang phát biểu tham luận tại hội nghị.

GIAO BAN LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT CÁC TỈNH,THÀNH PHỐ PHÍA BẮC

Trang 4

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN

C ác nhà khoa học Việt

Nam và Nhật Bản nhất trí

cùng nghiên cứu ứng

dụng kỹ thuật biến đổi gene

nhằm tăng năng suất và chất

lượng ở cây sắn Việt Nam,

đồng thời giảm bớt các tác hại

gây xói mòn đất ở loài cây này.

Ngày 22/5, tại thành phố

Yokohama, Viện nghiên cứu lý

hóa Nhật Bản (RIKEN) đã ký kết

thỏa thuận hợp tác nghiên cứu

sắn biến đổi gene với Viện di

truyền nông nghiệp Việt Nam,nhằm tạo ra loại sắn có hiệuquả kinh tế cao RIKEN là mộttrong những viện nghiên cứuhàng đầu của Nhật Bản về hóahọc, vật lý, sinh học, y học vàcông nghệ

Phát biểu tại lễ ký kết, PhóThủ tướng Nguyễn Thiện Nhânbày tỏ hy vọng dự án sẽ thànhcông, tạo tiền đề quan trọngtrong hợp tác nghiên cứu trênlĩnh vực nông nghiệp giữa hai

nước trong tương lai

Ông Kenji Oeda, thành viênBan giám đốc RIKEN, nhấnmạnh Việt Nam là một đối tácquan trọng của viện ở ĐôngNam Á, và lĩnh vực nông nghiệplà lĩnh vực mà giới khoa học ở cảhai nước quan tâm

Viện trưởng Viện di truyềnnông nghiệp Việt Nam Lê HuyHàm cho biết, thời gian gần đây,cây sắn được xác định là loài cây

cùng nghiên cứu giống sắn biến đổi gene

Nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả thông tin

tuyên truyền các ấn

phẩm thông tin khoa học và kỹ

thuật, ngày 6/6/2013, Liên hiệp

các hội Khoa học và Kỹ thuật

tỉnh đã tổ chức Hội nghị Tập

huấn nghiệp vụ báo chí năm

2013 cho toàn thể cán bộ công

chức, viên chức, lao động của

Liên hiệp hội, các hội thành viên

và đội ngũ cộng tác viên

Liên hiệp Hội có 3 ấn phẩm

phát hành định kỳ: Bản tin Khoa

học & Ứng dụng với định kỳ 3

tháng 1 số; Bản tin Phổ biến

Kiến thức KH&KT 1 tháng 1 số

và Trang Thông tin Điện tử cập

nhật hàng ngày Đối tượng phục

vụ chủ yếu là đội ngũ trí thức,

các sở ban ngành các hội thành

viên, UBND các huyện, thành

phố và các xã trong tỉnh, các

Câu lạc bộ KH&KT Nhà nông

Tại Hội nghị, giảng viên Trần

Văn Đức, Phó Tổng biên tậpBáo Bắc Giang đã cung cấp,hướng dẫn các học viên nhữngkiến thức, phương pháp kỹ năng

cơ bản để viết tin, bài, chụp ảnh và đưa ra các ví dụ minh họađể các học viên có thể nắm rõ

Thông qua lớp tập huấn, các

học viên được bồi dưỡng thêmkỹ năng viết tin, bài, chụp ảnhđúng kỹ thuật Từ đó áp dụng đểnâng cao chất lượng tin, bàitrong lĩnh vực thông tin, tuyêntruyền về khoa học công nghệ

Tin: Hà Linh Ảnh: Văn Thành

Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Giang tập huấn nghiệp vụ báo chí tuyên truyền cho đội ngũ cộng tác viên năm 2013

Việt-Nhật

F

Trang 5

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN

Chiều 7/5, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức

Phát và Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu

Lúa Quốc tế (IRRI) Robert S.Zeigler đã ký Biên

bản ghi nhớ Hợp tác khoa học kỹ thuật để phát

triển ngành lúa gạo Việt Nam

Phát biểu tại lễ ký kết, Bộ trưởng Cao Đức

Phát nhấn mạnh việc hợp tác giữa Việt Nam và

IRRI sẽ đánh dấu bước phát triển mới giữa hai

bên trong lĩnh vực lúa gạo

Đây là lĩnh vực được Việt Nam hết sức coi

trọng phát triển, nhưng để tiếp tục phát huy thế

mạnh này cần phải giải quyết những thách thức

to lớn

Đó là phải nâng cao năng suất, chất lượng,

giá trị gia tăng trong ngành lúa gạo, đem lại thu

nhập cao hơn cho người trồng lúa trong điều kiện

diện tích ngày càng bị thu hẹp

Mặt khác, Việt Nam phải chuẩn bị thích ứng

với biến đổi khí hậu được dự báo sẽ ảnh hưởng

lớn tới các vùng trồng lúa trọng điểm, trước hết

là vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tổng Giám đốc IRRI Robert S.Zeigler bày tỏ

tự hào về đóng góp của IRRI đối với những

thành công trong sản xuất lúa gạo của Việt Nam,

đồng thời đánh giá kinh nghiệm của Việt Nam là

tấm gương cho nhiều quốc gia khác học tập

trong phát triển nông nghiệp

Thời gian tới, IRRI và Việt Nam sẽ liên kếtchặt chẽ, cùng nghiên cứu về biến đổi khí hậucho toàn khu vực Đông Nam Á

IRRI là một trong 16 tổ chức nghiên cứu nôngnghiệp quốc tế lớn trên thế giới Từ năm 1975đến nay, IRRI đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ

to lớn trong việc nghiên cứu và sản xuất lúa gạo Theo đánh giá của các nhà chuyên môn,những giống lúa của IRRI hoặc có nguồn gốc từIRRI đã được gieo cấy từ 60-70% diện tích lúatrên cả nước, góp phần vào việc nâng cao năngsuất, sản lượng và chất lượng lúa gạo của ViệtNam trong thời gian qua Hàng năm, IRRI cungcấp cho Việt Nam hàng ngàn dòng, giống lúamới là nguồn vật liệu quý phục vụ nghiên cứu, laitạo giống lúa Cùng với đó, hàng ngàn nghiêncứu sinh, thực tập sinh và cán bộ khoa học củaViệt Nam đã được IRRI đào tạo hoặc tài trợ đểđào tạo

IRRI cũng tạo điều kiện cho các Viện Nghiêncứu của Việt Nam tiếp cận với những nghiêncứu mới của thế giới trong lĩnh vực lúa gạo; thựchiện một số dự án trong các lĩnh vực mũi nhọnnhư sản xuất giống, bảo vệ thực vật, dinh dưỡngcây lúa

PV

Việt Nam và IRRI hợp tác phát triển ngành lúa gạo

nhiên liệu sinh học thích hợp duy

nhất đối với Việt Nam trong thời

gian tới và sắn đã trở thành một

trong mười mặt hàng xuất khẩu

quan trọng của Việt Nam với kim

ngạch năm 2012 đạt tới 1,2 tỷ

USD

Theo ông Hàm, trên thế giới,

để tạo ra một giống cây trồng

biến đổi gene phải cần đến chi

phí từ 50-100 triệu USD và mất

từ khoảng 7-10 năm

RIKEN và các nhà khoa học

Việt Nam cũng hy vọng kết quả

nghiên cứu sẽ mang lại thành

công, giúp người nông dân tăng

năng suất cây trồng

Sắn là loài cây mang lại hiệu

quả kinh tế, góp phần xoá đóigiảm nghèo nhưng lại chứa đựngnguy cơ tiềm ẩn gây xói mònđất, sa mạc hóa

Các quốc gia như TrungQuốc và Thái Lan vốn trước đâylà các nước có diện tích trồngsắn lớn nhất châu Á và cung cấpphần lớn bột sắn cho thế giới,song thời gian gần đây các nướcnày đã giảm dần việc trồng sắn

do những nhược điểm kể trên

Nếu nghiên cứu về sắn biếnđổi gene mang lại kết quả thànhcông, đây có thể là lời giải chobài toán hóc búa về cây sắn, từđó giảm thiểu tác hại gây bạcmàu đất và tăng năng suất cây

trồng

Trưởng nhóm nghiên cứuthuộc dự án, giáo sư KazuoShinozaki, cho biết các nhàkhoa học của hai viện sẽ nghiêncứu biến đổi gene ở cây sắnnhằm tăng cường khả năng tổnghợp tinh bột ở cây, tạo ra giốngcây chất lượng cao

Giáo sư Shinozaki thông báo,tới đây hai bên sẽ thành lập mộtphòng thí nghiệm chung ở ViệtNam và đây sẽ là cơ sở để cácnhà khoa học hai nước có điềukiện tăng cường hợp tác tronglĩnh vực nghiên cứu

BBT (st)

F

Trang 6

Kết luận số 51-KL/TW ngày

29-10-2012 Hội nghị Trung ương

lần thứ 6 khóa XI về Đề án “Đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo, đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hóa, hiện đại hóa

trong điều kiện kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa và

hội nhập quốc tế” chỉ rõ: “Giáo

dục và đào tạo nước ta vẫn chưa

thực sự là quốc sách hàng đầu,

động lực quan trọng nhất cho

phát triển Nhiều hạn chế, yếu

kém của giáo dục và đào tạo đã

được nêu từ Nghị quyết Trung

ương 2 khóa VIII vẫn chưa được

khắc phục cơ bản, có mặt nặng

nề hơn”

Sự bất cập trong giáo dục và

đào tạo còn thể hiện ở tính thiếu

ổn định về chương trình đào tạo,

thiếu thống nhất về sách giáo

khoa, giáo trình và các tiêu chí

đánh giá chất lượng giáo dục

Điều đó dẫn đến sự hụt hẫng rất

lớn nguồn nhân lực có chất

lượng cao và không đáp ứng

được yêu cầu phát triển kinh tế

-xã hội của đất nước Hiện nay,

chúng ta có 4,28 triệu người có

trình độ từ cao đẳng, đại học trở

lên, trong đó có 24.300 tiến sĩ,

101 nghìn thạc sĩ; độ tuổi bình

quân là 38,5 Tuy nhiên, hơn60% tiến sĩ đã ở độ tuổi trên 50;

trên 21% ở độ tuổi 40 - 49; độtuổi 30 - 39 là 16% và 2,8% là độtuổi 20 – 29

Như vậy, nếu trừ đi số tiến sĩđến tuổi nghỉ hưu thì đến năm

2020 cũng chỉ còn hơn 20.000người tức là vẫn như hiện nay

Trong khi Xin-ga-po có dân số là4,5 triệu người nhưng đã có tới27.300 người đạt trình độ tiến sĩlàm nghiên cứu khoa học; TháiLan có 20.500 người có trình độtiến sĩ làm nghiên cứu khoa học,trong khi Việt Nam chỉ có9.328/24.300 tiến sĩ tham giacác hoạt động nghiên cứu khoahọc

Đầu tư cho nghiên cứu khoahọc tính theo đầu người của ViệtNam là 3,1 USD trong khi củaXin-ga-po là 1.341USD, gấp 430lần của Việt Nam; Ma-lai-xi-a là71,1 USD, gấp 25,7 lần; TháiLan là 18 USD, gấp gần 6 lần;

riêng Phi-líp-pin chỉ đầu tư 3,4USD/người nhưng con số đó vẫncao hơn của Việt Nam

Xét về đào tạo nghề, laođộng giản đơn chưa qua đào tạovà lao động bậc 1, 2, 3 chiếm55%, bậc 4, 5 chiếm 23,9%, bậc

6, 7 chiếm 8,4%, trung cấpchiếm 11,1%, đại học và sau đạihọc chiếm 1,6% Điều này chothấy có sự mất cân đối nghiêmtrọng giữa lực lượng lao động cótay nghề cao và lao động có taynghề thấp Số công nhân cótrình độ tay nghề thấp chiếm tỷlệ quá cao (55%), trong khi sốcông nhân có trình độ cao ở mứcbậc 6, bậc 7 lại quá thấp (8,4%)

Qua đó, chúng ta thấy chủtrương công nhân hóa trí thức vàtrí thức hóa công nhân chưa đivào thực tế Nguyên nhân là dochúng ta chưa có chính sáchkhuyến khích đúng mức trong

học tập nâng cao trình độ và tâmlý “sĩ tử” còn đè nặng trong cộngđồng Chính điều đó đã tạo ramột áp lực rất lớn cho các giađình và bản thân thí sinh là bằngmọi giá phải tiến thân bằng conđường học hành Điều này vôhình trung đã tự làm suy yếunguồn nhân lực có chuyên mônkỹ thuật

Bên cạnh đó, cơ cấu ngànhnghề trong lĩnh vực giáo dục vàđào tạo đang có sự mất cân đốinghiêm trọng: trong hơn 1 triệucán bộ có trình độ đại học mớiđược đào tạo thời gian qua, có33,33% ngành sư phạm; khoahọc xã hội 17%; khoa học kỹthuật 25,5%; khoa học tự nhiên6,8%; y dược 9,3%; nông nghiệp8,1% Sự mất cân đối về cơ cấuđó đã làm biến dạng nhu cầuthực tế trong xã hội, khiến nước

ta lâm vào tình trạng “vừa thiếu,vừa thừa” nhân lực Những lĩnhvực mũi nhọn cần phải chú trọngđào tạo lại chưa có chính sáchhỗ trợ kịp thời; những lĩnh vựcthiết yếu trong cộng đồng nhưvấn đề nông nghiệp nông thônlại bị xem nhẹ nên hệ quả làchúng ta lãng phí rất nhiều tiềncủa, nhân lực cho giáo dục vàđào tạo nhưng lại không sử dụngđược hoặc sử dụng một cáchlãng phí Ngay trong đào tạo sauđại học cũng có sự mất cân đốinghiêm trọng khi mà tính ứngdụng của luận văn, luận ánkhông cao và phần nhiều là “đắpchiếu” trong các thư viện màkhông được hoặc không sử dụngđược

Mặc dù nước ta còn là mộtnước nghèo nhưng ngân sáchdành cho giáo dục và đào tạomỗi năm một tăng từ 11% tổngchi ngân sách năm 1996 lên15% năm 2000 và đến năm

2005 là 18% Gần nhất, theo

Một số ý kiến về đổi mới chính sách

giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức

Nhận thức rõ vai trò của

đội ngũ trí thức đối với

sự phát triển của một

quốc gia, Đảng Cộng

sản Việt Nam luôn quan

tâm tới đội ngũ trí thức

và có những chính sách

phù hợp nhằm đoàn kết,

tập hợp, thu hút sự

đóng góp của họ cho

đất nước.

F

Trang 7

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

Thông tư số 99/2012/TT-BTC

hướng dẫn xây dựng dự toán

ngân sách nhà nước năm 2013,

Bộ Tài chính yêu cầu các ban,

ngành liên quan bố trí dự toán

chi ngân sách nhà nước năm

2013 (bao gồm chi đầu tư phát

triển, chi thường xuyên, chi cải

cách tiền lương) đối với lĩnh vực

giáo dục, đào tạo và dạy nghề

đạt 20% tổng chi ngân sách nhà

nước Đây là sự cố gắng rất lớn

của Đảng, Nhà nước ta nhưng

đầu tư mà không đi kèm với cơ

chế kiểm tra, giám sát thì tất yếu

dẫn đến hiệu quả thấp

Việc sử dụng ngân sách

dành cho giáo dục và đào tạo

phải có kế hoạch hợp lý nhằm

đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí

thức bảo đảm về chất lượng, số

lượng và có cơ cấu đồng bộ

Tránh đầu tư dàn trải mà cần có

sự ưu tiên cho một số lĩnh vực

khoa học công nghệ mũi nhọn

và những ngành công nghệ cao

Sự điều chỉnh đầu tiên về chính

sách giáo dục và đào tạo đội

ngũ trí thức chính là quan tâm

xây dựng đội ngũ trí thức, giảng

viên ở các trung tâm giáo dục và

đào tạo Đây chính là tiền đề tạo

nên sự đột phá cho giáo dục và

đào tạo bởi họ chính là người

trực tiếp truyền đạt kiến thức

chuyên môn và góp phần tạo ra

diện mạo mới cho đội ngũ trí

thức trong tương lai Cần mạnh

dạn đưa các viện nghiên cứu,

nhất là về các lĩnh vực khoa học

cơ bản, về các trường đại học

Biện pháp này vừa đẩy mạnh

được nghiên cứu vừa nâng cao

được chất lượng giáo dục đào

tạo, lại tiết kiệm được kinh phí

mua sắm trang thiết bị phục vụ

cho công việc giảng dạy và

nghiên cứu khoa học

Trình độ giảng viên đại học

còn chênh lệch quá lớn Nhiều

trường hẫng hụt giảng viên khi

lớp cán bộ giỏi đến tuổi về hưu

Chính sách hướng tới đối tượng

này là tạo ra hành lang pháp lý

hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho họ

sáng tạo Đội ngũ trí thức trong

các trung tâm giáo dục và đào

tạo cần phải tự đổi mới mình,không rập khuôn, cứng nhắc

Muốn vậy, phải có chính sáchthực hiện dân chủ hóa trongsinh hoạt khoa học trên cơ sởcác nguyên tắc Trong quá trìnhnghiên cứu, các nhà khoa họcđược phép tự do về tư tưởngnhưng phải trong khuôn khổ,không tán phát những tài liệu, ýkiến còn trong giai đoạn nghiêncứu và chưa có kết luận cuốicùng Trong giảng dạy, cần hếtsức nghiêm túc, tránh tùy tiệntheo hướng chủ quan cá nhânmà vi phạm đạo đức nghềnghiệp cũng như quy chế của cơquan Chính sách cần hướng tớiviệc chống sự quy chụp về quanđiểm, lập trường đối với ngườilàm khoa học bởi đây là mộttrong những nguyên nhân làmhạn chế sự sáng tạo trongnghiên cứu Làm như vậy,chúng ta sẽ phát huy đượcnhững tư tưởng mới, khơi dậy sựsáng tạo để phục vụ cho sự pháttriển của đất nước Đối vớinhững ngành, nghề có tính độtphá và tính ứng dụng cao cần cóchính sách khuyến khích để thuhút những sinh viên giỏi

Đổi mới chính sách giáo dụcphải gắn với một cơ chế quản lýnăng động, mềm dẻo, coi trọnghiệu quả, mô hình đào tạo vừaphù hợp thực tiễn kinh tế - xã hộiđất nước, vừa có khả năng tiếpnhận tinh hoa giáo dục khu vựcvà thế giới Điều này không chỉđòi hỏi những người làm quản lýgiáo dục dũng cảm thừa nhậnkhiếm khuyết, “khuyết tật”,những thiếu hụt của lối tư duy cũgắn với cơ chế quản lý cũ, hànhchính, bao cấp, “cầm tay chỉviệc” cho cơ sở, mà còn đòi hỏihọ nhận thức và đón nhận được

“ngọn gió” đổi mới trí tuệ củathời đại, thời cuộc, xây dựngcung cách quản lý dựa trênnhững văn bản quy phạm phápluật, trên những tiêu chí khoahọc, bảo đảm thực hiện mục tiêugiáo dục, gắn với việc kiểm tra,thanh tra, giám sát việc thựchiện chủ trương, đường lối

Việc đổi mới chính sách giáodục và đào tạo cần hướng tớiloại hình giáo dục thường xuyênđể mọi người có khả năng tựhọc, tự đào tạo Trong nền kinhtế tri thức với sự phát triểnnhanh chóng của khoa học vàcông nghệ, việc giáo dục thườngxuyên là rất cần thiết để có thểthích ứng được với những yêucầu của cuộc sống Bên cạnhđó, cần kiên quyết giảm bớtnhững hình thức đào tạo khôngmang lại chất lượng thực sự.Trong xã hội còn đang bị chiphối bởi tư tưởng “bằng cấp” nhưhiện nay thì đây là công việc rấtkhó khăn nhưng lại là vấn đềcần phải thực hiện Chính sáchmới phải thực sự khuyến khíchđược người có thực tài và có cơchế đãi ngộ xứng đáng để họtận tâm cống hiến

Trong chính sách giáo dụcvà đào tạo cần chú trọng đếnviệc cập nhật kiến thức, nângcao trình độ cho cán bộ khoahọc đương chức bởi đó chính làphương tiện giúp họ nâng caohiệu suất làm việc Trong thờiđại thông tin, người trí thức cầnphải được tiếp cận với những trithức mới để đáp ứng yêu cầumà cuộc sống đặt ra Việc đàotạo có thể tiến hành cả trong vàngoài nước dưới nhiều nguồnkinh phí khác nhau Từ khi cóChỉ thị 53-CT/TW tháng 03-

1995 của Ban Bí thư, vấn đề nàyđã được chú trọng nhưng vẫnchưa đáp ứng được yêu cầuhiện nay Việc đào tạo ở nướcngoài do nguồn ngân sách nhànước cần phải được quản lý chặtchẽ và hướng vào những ngànhmà ta đang có nhu cầu cấp báchnhư công nghệ sinh học, dầukhí, điện tử viễn thông,… Bêncạnh đó, cần mở rộng loại hìnhđào tạo tại chỗ như mời chuyêngia đầu ngành của các nước đếnlàm việc hoặc giảng dạy tại các

cơ sở đào tạo trong nước Đóchính là cơ sở cho việc hìnhthành đội ngũ trí thức có chất

(Xem tiếp trang 10)

F

Trang 8

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

F

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC

Sau hơn hai năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang đã đạt bình quân 12,1 tiêu chí trên một xã, đã có 12 xã đạt và cơ bản đạt 14-18 tiêu chí Tuy nhiên thực tế triển khai thực hiện ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn, thánh thức.

n THẠC SỸ NGUYỄN VĂN THI

Chủ tịch Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh Bắc Giang

Kết quả nổi bật

Thực hiện Nghị quyết số

145-NQ/TU ngày 14/7/2011 của Ban

chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc

Giang về xây dựng nông thôn mới

đến năm 2020 với mục tiêu giai

đoạn 2011-2015 xây dựng 41/207

xã (bao gồm cả xã Tân Thịnh

-huyện Lạng Giang) đạt chuẩn

nông thôn mới, chiếm 20% tổng

số xã; giai đoạn 2016-2020 xây

dựng thêm 63 xã đạt chuẩn nông

thôn mới (để đạt được 50% tổng

số xã) Sau 02 năm triển khai

thực hiện Chương trình MTQG

xây dựng nông thôn mới, ở hầu

hết các xã đã tích cực triển khai,

Diện mạo nông thôn, nhất là

những địa phương đã triển khai

xây dựng nông thôn mới có nhiều

khởi sắc và thay đổi nhanh

Công tác lập quy hoạch và lập

Đề án nông thôn mới được coi

trọng, đến hết năm 2012 trên địa

bàn tỉnh Bắc Giang đã có

173/202 xã thực hiện xong việc

lập quy hoạch nông thôn mới;

ngoài 40 xã thực hiện xây dựng

nông thôn mới giai đoạn

2011-2015 đã hoàn thành việc rà soát,

điều chỉnh Đề án phù hợp với

thực tế của địa phương, đã có

thêm 19 xã của các huyện Tân

Yên, Lục Nam và Sơn Động đã

hoàn thành việc lập Đề án Kinh

phí thực hiện Đề án bình quân

khoảng trên 100 tỷ đồng/xã

Tổng nguồn lực huy động để

thực hiện Chương trình xây dựng

nông thôn mới trên địa bàn tỉnh

trong 2 năm là 340.876 triệu

đồng, Trong đó vốn ngân sách

Trung ương 83.422 triệu đồng(chiếm 24,5%); vốn ngân sáchtỉnh 47.550 triệu (chiếm 13,9%);

vốn ngân sách huyện 32.340triệu (chiếm 9,5%); vốn ngânsách xã 59.343 triệu (chiếm17,4%); vốn lồng ghép 15.768triệu (chiếm 4,6%); ngoài ra làvốn của các tổ chức, cá nhân,doanh nghiệp và người dân đónggóp bằng tiền mặt, ngày công laođộng, hiến đất làm đường khoảng102.453 triệu đồng (30,1%)

Công tác bố trí, quản lý và xâydựng kết cấu hạ tầng nông thônngày càng đi vào nền nếp và cóhiệu quả hơn Nhiều địa phươngđã có những chính sách hỗ trợphù hợp để cùng với cơ chế hỗ trợcủa tỉnh giúp các xã xây dựngnông thôn mới triển khai thực hiệnđảm bảo tiến độ và mục tiêu củaChương trình đề ra nên đã huyđộng được nhiều hơn sự tham giacủa người dân và cộng đồng nhưhuyện Việt Yên (hỗ trợ 500 tấn ximăng/xã), Hiệp Hòa (hỗ trợ bìnhquân 500 triệu đồng/xã đầu tưxây dựng cơ sở vật chất trườnghọc), Lạng Giang (hỗ trợ bằngcông trình giá trị 1.000 triệuđồng/xã), vì vậy đã tạo chuyểnbiến mạnh mẽ về phát triển giaothông nông thôn và các công trìnhthiết yếu khác

Phong trào chung sức xâydựng nông thôn mới được đôngđảo cán bộ, đảng viên, các đoànthể, các tổ chức chính trị xã hội vànhân dân đồng tình hưởng ứng,đã thu hút được sự tham gia củacả hệ thống chính trị, tạo sự đồngthuận giữa cấp ủy Đảng, chính

quyền và nhân dân, đã trở thànhphong trào chung và sâu rộngđến tất cả các địa phương, ngườidân đã nhận thức rõ hơn về mụcđích, ý nghĩa của chương trình vàvai trò chủ thể của mình, từ đó tựnguyện hiến đất, tháo rỡ tườngrào để làm đường giao thôngnông thôn, đóng góp sức người,sức của tham gia xây dựng nôngthôn mới Kết quả sau 2 năm,người dân nông thôn trên địa bàntỉnh đã hiến trên 700.000 m2 đấtcác loại, tháo dỡ gần 20.000 mtường rào, thực hiện gần 40.000ngày công lao động để mở rộngđường giao thông nông thôn Đãbước đầu huy động được nhữngnguồn lực xã hội hóa tham giaxây dựng nông thôn mới với tổngkinh phí trên 102 tỷ đồng (bằngtiền mặt, ngày công lao động,hiến đất) của người dân địaphương, của các doanh nghiệp vàcủa con em địa phương thànhđạt Đã xuất hiện một số phongtrào thi đua nổi bật như: Phongtrào “hiến đất làm đường", Phongtrào “cứng hóa đường giao thôngnông thôn”; Phong trào “dồn điềnđổi thửa”, vv… Các phong trào thiđua đã tạo bước đột phá trongxây dựng nông thôn mới và đẩynhanh tiến độ xây dựng nôngthôn mới

Đã xây dựng và triển khai thựchiện có hiệu quả bước đầu cácchương trình, đề án, chính sáchphát triển sản xuất nông nghiệp.Ngoài nguồn vốn ngân sách, cácđịa phương đã huy động đượcgần 6 tỷ đồng xây dựng được gần

100 mô hình phát triển sản xuất

Trang 9

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

F

F

nhằm tăng thu nhập cho người

dân như mô hình trồng khoai tây

chế biến Atlantic ở Yên Dũng,

Hiệp Hòa; mô hình rau chế biến ở

Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên,

mô hình Gà lai Mía huyện Yên

Thế Đặc biệt, đã xây dựng thành

công 2 “cánh đồng mẫu lớn” tại

huyện Yên Dũng với quy mô 100

ha Ngoài ra đã xây dựng được

hàng chục mô hình phát triển sản

xuất có sự liên kết giữa doanh

nghiệp và nông dân đảm bảo sản

xuất hàng hóa ổn định góp phần

tăng thu nhập và nâng cao đời

sống của người dân nông thôn

Từ những kết quả trên, phong

trào thi đua “Bắc Giang chung

sức xây dựng nông thôn mới” đã

có sự chuyển biến rõ nét Đến

nay đã có12 xã đạt và cơ bản đạt

14-18 tiêu chí; 62 xã đạt 9-13 tiêu

chí; 115 xã đạt 5-8 tiêu chí; số xã

đạt dưới 5 tiêu chí là 13 xã Đối

với 40 xã xây dựng nông thôn mới

giai đoạn 2011-2015, có 12 xã

đạt và cơ bản đạt 14-18 tiêu chí;

27 xã đạt 9-13 tiêu chí

Xây dựng nông thôn mới

còn nhiều thách thức

Thứ nhất, nhận thức của một

bộ phận cán bộ coi chương trình

xây dựng nông thôn mới đơn

thuần chỉ là dự án xây dựng cơ sở

hạ tầng, là dự án do nhà nước

đầu tư xây dựng nên còn có tâm lí

trông chờ, ỷ lại; ở một số địa

phương thì người dân mặc nhiên

coi việc xây dựng nông thôn mới

chỉ là sự đầu tư của cấp trên về

phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

nông thôn, chủ yếu là việc xây

dựng “điện, đường, trường, trạm”

Trong khi đó, đây chỉ là một trong

5 nhóm của chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

mới theo Bộ tiêu chí xây dựng

nông thôn mới mà trung ương qui

định Xây dựng nông thôn mới, về

nguyên tắc trước tiên đó là sự

nghiệp của toàn dân, là trách

nhiệm và quyền lợi thiết thực của

mỗi người dân nông thôn, trong

đó Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần

kinh phí Đây là chương trình

phục vụ chính người dân nên

người dân phải là chủ thể xây

dựng

Thứ hai, nhiều địa phương

đang gặp khó khăn trong thực

hiện xây dựng cơ sở hạ tầng, nhấtlà đường giao thông nông thôn dohai nguyên nhân: Một là do vốnđối ứng từ ngân sách huyện và xãhạn chế, nguồn thu từ chuyểnquyền sử dụng đất bị giảm sút - từnăm 2013 cấp xã chỉ còn 30%

tiền thu từ chuyển quyền sử dụngđất, mặt khác việc thực hiện Nghịđịnh số 42/2012/NĐ-CP củaChính phủ về quản lý đất lúa thìviệc chuyển quyền sử dụng đấtsẽ hạn chế rất nhiều - trong khinhiều địa phương mật độ dân cư

ở thưa, tổng chiều dài đườngGTNT cần phải cứng hóa lớn dođó khó khăn để thực hiện hoànthành tiêu chí này; Hai là một sốxã miền núi đang gặp khó khănbởi địa bàn rộng, tỷ lệ hộ nghèocao thì một số xã khác lại đau đầuvới bài toán giao thông theohướng ngược lại bởi mật độ dânsố cao, đường làng ngõ xóm hầuhết đã cứng hóa nhưng chiềurộng mặt đường hẹp, không thểmở rộng thêm để đạt chuẩn

Thứ ba, suy giảm kinh tế tácđộng đến việc chuyển dịch cơcấu lao động do các doanhnghiệp giảm quy mô sản xuất,giảm sử dụng lao động Mặt kháccũng do suy giảm kinh tế nên việchuy động vốn của các doanhnghiệp và các thành phần kinh tếkhác để xây dựng nông thôn mớikhó khăn

Thứ tư, Hầu hết các địaphương chưa quan tâm đúng mứcđến chỉ tiêu phát triển kinh tế thểhiện bằng việc kinh phí đầu tưcho xây dựng cơ sở hạ tầng cònchiếm phần lớn trong tổng vốnđầu tư xây dựng nông thôn mới tạicác địa phương Theo Văn phòngđiều phối xây dựng nông thôn mớitỉnh, năm 2012 tổng kinh phí đầu

tư xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn là 277.588 triệu đồng thìkinh phí đầu tư xây dựng cơ bản246.147 triệu đồng chiếm 95,2%,kinh phí đầu tư xây dựng các môhình phát triển sản xuất chỉ có13.442 triệu đồng, chiếm 4,8%

Mặc dù hạ tầng kinh tế - xã hội lànhững điều kiện thiết yếu đểnâng cao đời sống vật chất tinhthần của người dân nhưng nếukhông quan tâm đúng mức đếnviệc xây dựng các mô hình phát

triển kinh tế thì không thể nângcao thu nhập cho nông dân, giúpngười dân nông thôn có cuộcsống tốt hơn

Thứ năm, trong 19 tiêu chí, cómột số tiêu chí được coi là khóthực hiện hoàn thành mà địaphương nào cũng gặp phải nhưtiêu chí Giao thông, Thủy lợi, Cơsở vật chất văn hóa, Chợ nôngthôn, Chuyển dịch cơ cấu laođộng và đặc biệt là tiêu chí Môitrường Trong 40 xã thực hiện xâydựng nông thôn mới của tỉnh giaiđoạn 2010-2015 đến 31/12/2012chưa có xã nào hoàn thành tiêuchí môi trường; tiêu chí Cơ sở vậtchất văn hóa có 37 xã chưa hoànthành; tương tự tiêu chí Giaothông là 32 xã, Thủy lợi 28 xã,Chợ nông thôn 30 xã và tiêu chíChuyển dịch cơ cấu lao động có

22 xã chưa hoàn thành Thựchiện tiêu chí Môi trường khó khănvướng mắc lớn nhất mà các địaphương gặp phải là vấn đề xâydựng nghĩa trang theo quy hoạchvà khu xử lý rác thải tập trung bởivừa khó khăn về quỹ đất, vừa khókhăn vì phong tục, tập quán vàphản ứng của người dân xungquanh khu vực có đất được quyhoạch Tiêu chí Giao thông, Thủylợi chủ yếu khó khăn do nhu cầuvốn đầu tư lớn, khả năng đối ứngcủa địa phương và sức huy độngtừ người dân hạn chế Tiêu chí vềchuyển dịch cơ cấu lao động thìquá trình thực hiện phải có lộ trìnhvừa kết hợp đào tạo nghề cho laođộng nông thôn với thu hút côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ về địa phương, không thểtrong thời gian ngắn chuyển dịchđược số lượng lớn đáp ứng tỷ lệtheo yêu cầu

Thứ sáu, muốn nâng cao năngsuất và hiệu quả lao động nôngnghiệp thì ngoài việc ứng dụngcác TBKT mới về giống, quy trìnhchăm sóc, thâm canh thì cần đẩymạnh việc đưa cơ giới hóa vàosản xuất Viêc này đang gặp phảitrở ngại do quỹ đất nông nghiệpbình quân trên hộ thấp, phân tán,việc thực hiện dồn điền đổi thửacũng đang gặp nhiều khó khăn

Do đó cần phải coi việc dồn điềnđổi thửa là khâu đột phá làm cơsở để xây dựng các cánh đồng

Trang 10

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế Cách làm này cũng phù hợphơn việc thi đua nâng cấp các cơ sở đào tạo lên “đẳng cấpquốc tế” với những tên gọi rất “kêu” nhưng chất lượng đàotạo như thế nào thì vẫn còn là điều nghi vấn

Một vấn đề rất quan trọng trong giáo dục và đào tạo độingũ trí thức là cần phải có được đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý thực sự có trí tuệ để lãnh đạo, điều hành đất nước.Đổi mới chính sách giáo dục và đào tạo cần khắc phục sựmất cân đối về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức giữa cácvùng, miền trong cả nước Chính sách hiện nay chưa thu hútđược nhân tài đến với vùng sâu, vùng xa hoặc các tỉnh đangcó nhiều khó khăn Cần có kế hoạch điều chuyển một số tríthức có trình độ cao cho những nơi chưa có hoặc có ít cánbộ có trình độ nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của địaphương cũng như để họ ứng dụng những hiểu biết của mìnhvào thực tiễn Muốn vậy, phải có chính sách đãi ngộ xứngđáng để họ yên tâm công tác và cống hiến cho sự nghiệpchung Thực tế đã chứng minh sau khi Hà Nội, Bình Dương,Đồng Nai công bố chính sách đón người giỏi từ các nơi vềlàm việc, các tỉnh, thành đồng loạt ban hành chính sách

“chiêu hiền đãi sĩ” thu hút người tài Nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, cửnhân tốt nghiệp loại khá, giỏi được các lãnh đạo của địaphương mở rộng vòng tay đón nhận, phân về các đơn vị.Phải có cách nhìn mới về vai trò của tiền lương, vị trí, điềukiện công tác như là động lực thúc đẩy chính sách giáo dụcvà đào tạo

Một vấn đề khác cũng đáng lưu ý là cần quan tâm đếnviệc giáo dục lập trường, tư tưởng chính trị cho đội ngũ tríthức Trí thức được đào tạo đầy đủ phải là người vừa “hồng”,vừa “chuyên” Họ cần nắm vững chủ nghĩa Mác –Lê-nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong côngcuộc đổi mới, hiểu rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội củadân tộc ta Chính sách trong lĩnh vực này phải bảo đảm tínhkhách quan, hướng về trí thức để hoạt động của họ phục vụcho đường lối chính trị, cung cấp luận cứ khoa học cho sựphát triển của đất nước chứ không phải mang tính áp đặt.Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức pháthuy khả năng của mình trong việc tham gia và xây dựng chủtrương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bảo đảm tínhĐảng trong nghiên cứu khoa học

Trí thức là tài sản vô giá của quốc gia Giáo dục và đàotạo trí thức phải được xây dựng trên nền tảng tư duy cáchmạng và khoa học Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong thờigian qua nhưng vấn đề đổi mới chính sách giáo dục và đàotạo đội ngũ trí thức vẫn là thách thức của nước ta trong giaiđoạn hiện nay Với những chủ trương, chính sách đúng đắncủa Đảng và Nhà nước ta nhằm đoàn kết, tập hợp đội ngũtrí thức, tin rằng đội ngũ trí thức nước nhà sẽ xứng đáng làlực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam, góp phầnđưa đất nước phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Hồng Minh

Một số ý kiến về đổi mới

(Tiếp theo trang 7)

mẫu, đưa cơ giới hóa và áp dụng đồng bộ

các tiến bộ khoa học công nghệ để tăng

năng xuất, chất lượng nông sản

Để nông thôn mới phát triển bền vững

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lâu

dài, khó khăn nhưng rất hợp với lòng dân, do

người dân nông thôn là chủ thể do đó cần

đẩy mạnh thực hiện dân chủ trong tổ chức

thực hiện Phải tránh tư tưởng nóng vội, chạy

theo thành tích và duy ý chí; phải xác định

Nhà nước đóng vai trò tổ chức, khuyến

khích, hỗ trợ Mọi hoạt động trong xây dựng

nông thôn mới phải dựa trên cơ sở nguyện

vọng chính đáng của nhân dân, phát huy tinh

thần dân chủ của nhân dân, phát huy cao

nhất cộng đồng trách nhiệm tham gia xây

dựng nông thôn mới, thực hiện triệt để

nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra và dân hưởng lợi”

Quan tâm đầu tư xây dựng các mô hình

phát triển kinh tế bởi phát triển kinh tế, xóa

đói giảm nghèo là mục tiêu lớn nhất và có

tính bền vững trong việc nâng cao đời sống

vật chất, tinh thần của người dân trong

chương trình xây dựng nông thôn mới Mỗi

địa phương phải xây dựng được mô hình

phát triển kinh tế phù hợp trên cơ sở phát

huy được những tiềm năng, thế mạnh của

địa phương mình Tuy nhiên, quá trình triển

khai, các địa phương vẫn ưu tiên nguồn lực,

tập trung đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế- xã

hội hơn là đầu tư cho phát triển kinh tế Thực

tế, để hoàn thành tiêu chí về hạ tầng kinh

tế-xã hội, có thể chỉ cần vài ba năm Nhưng với

việc đào tạo nghề, phát triển sản xuất,

chuyển đổi cơ cấu lao động lại cần nhiều thời

gian và có tính kế hoạch hơn, nên cần sớm

được quan tâm, đầu tư

Xây dựng nông thôn mới cần coi trọng

việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nét đẹp cổ

truyền vốn có của các làng quê Để xây

dựng nông thôn mới, việc mở rộng và cứng

hóa đường giao thông thôn xóm là hết sức

cần thiết Tuy nhiên trong quá trình thực hiện

cần cố gắng gìn giữ những nét đẹp truyền

thống ở nông thôn như những công trình kiến

trúc cổ, những bờ rào bằng cây xanh đẹp,

những bức tường cổ, cây cổ thụ bóng mát

Thiết nghĩ song song với việc xây dựng một

nông thôn mới hiện đại cũng cần hết sức lưu

tâm bảo tồn những nét đẹp truyền thống,

những "cây đa, bến nước, sân đình" để giữ

được nét đẹp thanh bình của làng quê nông

thôn Những giá trị văn hoá cả vật thể và phi

vật thể hình thành bao đời nay ở các miền

quê nông thôn cần gìn giữ, tôn tạo, phục

dựng để chính những giá trị văn hoá ấy trở

thành động lực trong công cuộc xây dựng

nông thôn mới

F

Trang 11

Chỉ số Hiệu quả Quản trị và

Hành chính công cấp tỉnh

ở Việt Nam (PAPI) là sản

phẩm của hoạt động hợp tác

nghiên cứu giữa Trung tâm

Nghiên cứu Phát triển-Hỗ trợ

Cộng đồng (CECODES) thuộc

Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ

thuật Việt Nam và Chương trình

Phát triển Liên Hợp quốc

(UNDP) tại Việt Nam từ năm

2009 cho tới nay

Năm 2011, nghiên cứu PAPI

lần đầu tiên được triển khai trên

toàn quốc với sự tham gia của

toàn bộ 63 tỉnh/thành phố và từ

đó các chỉ báo chính được cố

định để phục vụ việc so sánh kết

quả qua các năm Kể từ năm

2011 tới nay, PAPI không chỉ là

một bộ chỉ báo hữu dụng phản

ánh năng lực và hiệu quả quản

trị ở cấp trung ương và cấp tỉnh,

mà còn là công cụ đánh giá mức

độ chuyển biến qua thời gian

PAPI đo lường trải nghiệm

của người dân với việc thực thi

chính sách, pháp luật, quy định

của các cấp chính quyền địa

phương ở sáu nội dung chính

(hay còn gọi là trục nội dung):

Trục nội dung 1 Tham gia

của người dân ở cấp cơ sở: Trục

nội dung thứ nhất tập trung tìm

hiểu mức độ hiệu quả của các

cấp chính quyền địa phương

trong việc huy động sự tham gia

của người dân ở cấp cơ sở, qua

đó đánh giá các cơ chế tạo điều

kiện cho người dân tham gia vào

các quy trình quản trị và hành

chính công cấp tỉnh Các vấn đề

chính được đề cập ở đây là hiểu

biết của người dân về cơ hộitham gia của mình, kinh nghiệmtrong bầu trưởng thôn/tổ trưởngdân phố và mức độ hài lòng vớichất lượng bầu cử vị trí trưởngthôn/tổ trưởng dân phố và huyđộng đóng góp tự nguyện củangười dân cho các dự án côngtrình công cộng của xã/phường

Trục nội dung 2 Công khai, minh bạch: Trục nội dung thứ hai

đánh giá mức độ công khai, minhbạch trong cung cấp thông tin kịpthời và tin cậy của chính quyềnđịa phương tới người dân Đặcbiệt, trục nội dung này tập trungvào vấn đề nhận thức của ngườidân từ kết quả cung cấp thôngtin của chính quyền cũng nhưmức độ công khai thông tin vềcác chính sách xã hội cho ngườinghèo, về các quy định pháp luậtảnh hưởng đến đời sống hàngngày của người dân, về thu chi

ngân sách cấp xã/phường và vềquy hoạch, kế hoạch sử dụngđất và khung giá đền bù đất bịthu hồi

Trục nội dung 3 Trách nhiệm giải trình với người dân: Trục nội

dung thứ ba về trách nhiệm giảitrình với người dân tập trungđánh giá hiệu quả giải trình củacán bộ chính quyền về các hoạtđộng tại địa phương với cấp cơsở Trục nội dung này xem xétmức độ và hiệu quả tiếp xúc củangười dân với các cá nhân và cơquan có thẩm quyền để giảiquyết các vấn đề cá nhân, giađình, hàng xóm, hoặc liên quantới chính quyền địa phương; vềkhiếu nại, tố cáo của người dân;về mức độ phổ biến và hiệu quảcủa các cơ chế dân cử để yêucầu chính quyền địa phương chịutrách nhiệm trước các chươngtrình và dự án triển khai ở cấp

Công cụ đánh giá mức độ hiệu quả và năng lực điều hành của chính quyền địa phương

Chỉ số PAPI

-n VŨ TẤN PHÚ

Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh

lHội thảo trao đổi kết quả khảo sát PAPI năm 2012 các tỉnh Đông Bắc, tổ chức tại Bắc Giang

F

Trang 12

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

xã/phường (như Ban Thanh tra nhân dân và Ban

Giám sát đầu tư cộng đồng)

Trục nội dung 4 Kiểm soát tham nhũng: Trục

nội dung thứ tư đề cập đến một vấn đề đã trở nên

phổ biến và mang tính hệ thống ở Việt Nam, đó là

tệ tham nhũng Trục nội dung này đánh giá mức độ

tham nhũng, và động cơ của người dân trong việc

tố cáo các hành vi tham nhũng Mặc dù tham

nhũng là một vấn đề rộng, song để thuận lợi cho

phân tích, báo cáo tập trung phân tích vấn đề lạm

dụng ngân sách nhà nước vì mục đích tư lợi, hối lộ,

tầm quan trọng của việc thân quen (vị thân) khi xin

hoặc thi vào làm việc trong khu vực nhà nước, lạm

dụng chức quyền trong xử lý các thủ tục hành chính

và cung ứng dịch vụ y tế và giáo dục, nhận thức

của người dân về quy định của pháp luật về phòng

chống tham nhũng và cảm nhận về hiệu quả của

những nỗ lực chống tham nhũng của các cơ quan

nhà nước

Trục nội dung 5 Thủ tục hành chính công: Tâm

điểm của trục nội dung thứ năm là đánh giá một số

dịch vụ và thủ tục hành chính công được lựa chọn

Trục nội dung này xem xét việc thực hiện và hiệu

quả của việc cung ứng dịch vụ và xử lý thủ tục

hành chính của các cơ quan hành chính địa phương

dựa trên trải nghiệm thực tế của người dân khi đi

làm các thủ tục hành chính như xin cấp giấy phép

xây dựng, cấp mới, cấp đổi hoặc sang tên giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất ở cấp huyện/quận

và xã/phường và mức độ hài lòng của người dân khi

sử dụng dịch vụ chứng thực, xác nhận của các cấpchính quyền địa phương

Trục nội dung 6 Cung ứng dịch vụ công: Trục

nội dung thứ sáu đề cập tới các dịch vụ công đượccoi là đóng vai trò then chốt trong việc cải thiệnđiều kiện sống của người dân như y tế, giáo dục,nước sạch và tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn khudân cư

Nội dung đánh giá của PAPI dựa trên 3 quátrình có tác động lẫn nhau, đó là: xây dựng chínhsách, thực thi chính sách và giám sát việc cung ứngcác dịch vụ công Các trục nội dung được đượcthiết kế đặc biệt cho bối cảnh Việt Nam cả tầmquốc gia và cấp địa phương.PAPI là công cụ giámsát thực thi chính sách, được xây dựng trên triết lýcoi người dân như “người sử dụng" (hay “kháchhàng”) của cơ quan công quyền (hay “bên cungứng dịch vụ”), có đủ năng lực giám sát và đánh giátính hiệu quả của quản trị và hành chính công ở địaphương Kết quả của các chu trình nghiên cứuPAPI là những bộ dữ liệu đánh giá khách quan vềchất lượng quản trị quốc gia dựa trên trải nghiệmcủa người dân đầu tiên ở Việt Nam và được chia sẻrộng rãi Dựa trên kiến thức và trải nghiệm củakhách hàng đối với các sản phẩm của toàn bộ quátrình sản xuất của bộ máy nhà nước, PAPI cungcấp hệ thống chỉ báo khách quan góp phần đánhgiá hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh,tạo động lực để lãnh đạo các cấp tại địa phươngngày càng nâng cao hiệu quả quản lý của mình

Chỉ số tổng hợp PAPI năm 2011-2012 tỉnh Bắc Giang

F

Trang 13

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

“Việc bảo vệ sở hữu trí tuệ là

chìa khóa cho sự thành công”

Để bảo vệ ý tưởng hiện tại và

khuyến khích sự phát triển của

các ý tưởng mới, chúng ta cần

phải bảo vệ sở hữu trí tuệ(SHTT)

Việc bảo vệ các ý tưởng và phát

minh của con người cũng như

việc xây dựng một môi trường

lành mạnh nuôi dưỡng các ý

tưởng mới sẽ khuyến khích sự đổi

mới bén rễ và phát triển

Tôn trọng sở hữu trí tuệ là việc

tôn trọng công sức lao động của

con người, giống như cách chúng

ta vẫn tôn trọng bất kỳ tài sản nào

trên thế giới Điều quan trọng là

giúp mọi người biết tôn trọng và

tìm cách sử dụng các sở hữu trí

tuệ một cách hợp pháp

Vai trò và ý nghĩa của Sở

hữu trí tuệ đối với sự phát triển

nền kinh tế và xã hội.

Thứ nhất, SHTT là nhân tố

đem lại sự tăng trưởng kinh tế cho

chủ thể sở hữu và xã hội

Trên thực tế các quốc gia,

nhất là các nước công nghiệp

phát triển, SHTT được đánh giá là

loại tài sản chiếm vị trí quan trọng

nhất đối với sự tăng trưởng của

đất nước

Thứ hai, SHTT là công cụ

cạnh tranh hữu hiệu cho doanh

nghiệp cũng như nền kinh tế quốc

gia trong hội nhập

Hiện nay, với mỗi quốc gia,

doanh nghiệp, năng lực SHTT là

một trong những năng lực nội sinh

quan trọng hàng đầu để phát

triển bền vững Quốc gia, doanh

nghiệp nào có được càng nhiều

quyền SHTT thì năng lực cạnh

tranh của quốc gia, doanh nghiệp

đó càng cao

Với các nước đang phát triển,

năng lực cạnh tranh thường thấp,

khả năng tiếp cận thị trường hạn

chế, cho nên để có thể phát triển

bền vững và hội nhập hiệu quả,

cần thiết phải đánh giá đúng vị trí

quan trọng của SHTT

Thứ ba, SHTT là phương tiệnđảm bảo sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia cũng như từngdoanh nghiệp

Bất kỳ tài sản hữu hình nàocũng đều có giới hạn và cùng vớithời gian, không gian khối lượngvà giá trị của các tài sản hữu hìnhnày không chỉ bị thu hẹp về quymô, số lượng mà còn có khả năng

bị thay thế bởi các sản phẩm mới

do tri thức tạo ra Do đó, sở hữucác tài sản hữu hình là sở hữu cáicó giới hạn, còn sở hữu tri thức, trítuệ của nhân loại là sở hữu cái vôhạn, vì vậy sẽ là vô cùng bềnvững nếu chúng ta biết khai thácvà sử dụng một cách hiệu quả

Thứ tư, tuân thủ hệ thốngquản lý SHTT là cách thức để cácnước đang phát triển tiếp cận bềnvững hơn với các hoạt động đầu

tư, chuyển giao công nghệ và hộinhập hiệu quả

Việc tạo dựng và củng cố giátrị của mọi đối tượng SHTT là mộtquá trình đầu tư tốn kém về vậtchất và trí tuệ Do vậy, việc saochép, mô phỏng, thậm chí đánhcắp nguyên vẹn các thành quảsáng tạo kỹ thuật – kinh doanhcủa đối thủ cạnh tranh là biệnpháp hấp dẫn nhất để đạt mụctiêu lợi nhuận và chiến thắng

Nguy cơ chiếm đoạt các sảnphẩm trí tuệ là nguy cơ thườngxuyên và ngày càng nghiêmtrọng trong các nền kinh tế côngnghiệp hoá Bởi vậy, việc ngănchặn nguy cơ này là vấn đề ámảnh đối với các nhà đầu tư nướcngoài, họ sẽ chỉ chấp nhậnchuyển giao công nghệ và thựchiện các biện pháp đầu tư, nếu họnhận thấy đủ cơ hội khai thác antoàn, hiệu quả công nghệ đó ởquốc gia dự định đầu tư

Thứ năm, một hệ thống bảohộ quyền SHTT hiệu quả là mộtyếu tố để chống lại nguy cơ tụt

hậu và phát triển đất nướcMột quốc gia hoàn toàn có thểphát triển mạnh mẽ mà khôngnhất thiết phải có nguồn lực vậtchất dồi dào, mà vấn đề là nhậnthức được giá trị thực sự của tàisản trí tuệ và việc bảo hộ các tàisản trí tuệ đó Cựu Thủ tướngNhật Bản Tanzan Ishibashi đãtừng nói: “Tôi tin chắc rằng, đây là

bí quyết phát triển công nghiệpcủa chúng tôi từ thời Meiji Chỉtrong một nước đã nhận ra giá trịthực sự của hệ thống bảo hộ sángchế và quyết tâm dùng mọi sứclực của nó để xây dựng hệ thốngđó, người ta mới có thể hy vọngcông nghiệp phát triển”

Một khi cơ sở hạ tầng và khảnăng kỹ thuật cho việc cải tiếncông nghệ đã được thiết lập ở mộtnước, nhất là ở các nước đangphát triển, hệ thống bảo hộ sángchế sẽ thành một yếu tố thúc đẩysự nghiệp cải tiến kỹ thuật Bởivậy, câu hỏi đặt ra cho các nướcđang phát triển không phải là cóthiết lập hệ thống bảo hộ SHTThay không, mà phải là thiết lậpnhư thế nào và vào lúc nào trongquá trình phát triển kinh tế, kỹthuật của đất nước sẽ là phù hợpcho việc áp dụng một hệ thốngbảo hộ toàn diện và hiệu quả

Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Các căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ và đối tượng bảo vệ

quyền SHTT ở Việt Nam về cơbản, đã được quy định rõ trongLuật SHTT và các văn bản phápquy khác Tuy nhiên, có thể thấyrõ các căn cứ để xác lập quyềnsở hữu trí tuệ cũng như đối tượngcủa bảo vệ quyền SHTT đều căncứ theo quy định trong các điềuluật về SHTT của WTO

Việc tổ chức thực hiện và giải quyết tranh chấp về quyền

SHTT ở Việt Nam mặc dù đã cónhững bước đi cụ thể, song thực

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

ở Việt Nam hiện nay

F

Trang 14

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

tế những năm qua cho thấy đây là

khâu yếu nhất, và cũng chính là

sự áp dụng không thành công

Luật SHTT ở Việt Nam Có thể

chỉ ra một số những vấn đề nổi

cộm sau đây:

- Các doanh nghiêp, chủ yếu

là doanh nghiệp trong nước chưa

thực hiện nghiêm chỉnh Luật

SHTT Việc đánh mất thương

hiệu của mình vào tay các đối tác,

các doanh nghiệp nước ngoài đã

thể hiện khả năng bảo vệ quyền

SHTT của chúng ta còn quá yếu

Có rất nhiều thương hiệu lớn của

ta bị mất thương hiệu, thậm chí

ngay cả những quyền rất cơ bản,

lẽ ra không thể đánh mất như

thương hiệu Cà phê Buôn Mê

Thuột (thuộc đối tượng được bảo

hộ vào loại chặt chẽ nhất), là chỉ

dẫn địa lý mà vẫn để rơi vào tay

đối tác Trung Quốc…

- Việc bảo vệ các quyền

SHTT khác như các sáng tác văn

học, các nhạc phẩm, các phát

minh sáng chế cũng không được

thực hiện tốt, để xảy ra hiện

tượng mất bản quyền vào tay

nước ngoài Ngược lại, các doanh

nghiệp trong nước vì thiếu hiểu

biết đã tiếp tay cho các doanh

nghiệp nước ngoài hoặc trực tiếp

vi phạm bản quyền của các

doanh nghiệp khác, ảnh hưởng

xấu đến uy tín của Việt Nam trong

cộng đồng quốc tế Những vi

phạm mắc phải phần lớn trong

các lĩnh vực như may mặc, thời

trang, đồng hồ, kính mắt, hoá mỹ

phẩm…

- Với các quyền sở hữu công

nghiệp là khâu mà chúng ta là

những người vi phạm hoặc tiếp tay

cho các hành vi vi phạm ở mức độ

phổ biến hơn cả Biểu hiện rõ nét

nhất của sự vi phạm là việc sản

xuất và tiêu thụ hàng nhái kiểu

dáng công nghiệp, sử dụng các ký

hiệu, cụm từ gây nhầm lẫn với các

hãng nổi tiếng, nhằm lừa dối

khách hàng, thu lợi bất chính và

gây thiệt hại lớn cho các doanh

nghiệp làm ăn chân chính

Việc xử lý các tranh chấp về

quyền SHTT ở Việt Nam những

năm qua cũng đã bộc lộ những

yếu kém cơ bản, cụ thể là chưa

giải quyết dứt điểm những khiếu

kiện kéo dài về quyền SHTT,

nhất là quyền tác giả trong các

lĩnh vực văn học, nghệ thuật, vềquyền sở hữu công nghiệp,quyền sở hữu về chỉ dẫn địa lý,hỗ trợ trong việc đăng ký các phátminh, sáng chế…

Những hạn chế tại Việt Nam

Những hạn chế, yếu kém của Việt Nam phổ biến ở những vấn đề như: không biết tự bảo vệ

quyền SHTT của chính mìnhcũng như việc vô tình hay hữu ý viphạm quyền SHTT của các đốitác, doanh nghiệp khác ở nhiềukhía cạnh khác nhau Bởi vậy,những yếu kém này cũng gây ảnhhưởng không tốt đến hiệu quảsản xuất – kinh doanh cũng như

uy tín của Việt Nam trên trườngquốc tế, gây phương hại trước hếtđến người tiêu dùng trong nước,giảm sức mạnh cạnh tranh và làmgiảm giá trị thương hiệu quốc gia

Bởi vậy, đã nảy sinh nhữnghạn chế cần được khắc phục sớmvà triệt để như sau:

Trước mắt, cần phải xác địnhcho được các mục tiêu cơ bảncần đạt được trong ngắn hạn,càng sớm càng tốt, xây dựng mốiquan hệ tốt và chặt chẽ với các tổchức thực thi luật về bảo vệquyền SHTT quốc tế, đặc biệt làWTO;

Về lâu dài, cần có quan điểm,định hướng rõ rệt giúp mọi tổchức, cá nhân dù là cơ quan quảnlý, doanh nghiệp hay người tiêudùng nhận thức rõ về quyền lợi vànghĩa vụ của mỗi thành viên trongviệc bảo vệ quyền SHTT

Bên cạnh đó là sự cố tình viphạm của các công ty về quyềnSHTT đối với hàng hoá hay sảnphẩm bán chạy cùng loại

Qua đây, có thể thấy tài sản trítuệ của doanh nghiệp có vị tríkhông nhỏ trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanhnghiệp Khi được chú trọng vàkhai thác một cách tối ưu, tài sản

“vô hình” này sẽ giúp các doanhnghiệp tăng cường sức mạnh,nâng cao vị thế, uy tín và khảnăng cạnh tranh để nâng caodoanh thu và lợi nhuận

Thực tiễn cho thấy, nhiềucông ty, nhiều doanh nghiệp trênthế giới đã rất thành công và trởnên nổi tiếng nhờ khai thác cóhiệu quả quyền SHTT Đối với

các doanh nghiệp nước ta, quyềnSHTT cũng đóng một vai trò quantrọng, đặc biệt trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay

Một số khuyến nghị về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay

Bảo vệ quyền SHTT vừa làquyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗithành viên WTO Sở dĩ có thểkhẳng định như vậy là vì mỗi quốcgia thành viên trong tổ chức kinhtế lớn nhất hành tinh này đều cónhững quyền lợi và nghĩa vụ cóliên quan mật thiết và đan xen lẫnnhau Nói một cách chung nhất,mỗi thành viên đều vừa được thụhưởng quyền được bảo vệ, vừaphải thực hiện nghĩa vụ với cácthành viên khác trong cùng khối,cùng hướng tới mục tiêu chung làthúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế chung một cách lànhmạnh và bền vững

Với những nhận thức hiện có,tác giả mạnh dạn đưa ra một sốkhuyến nghị sau đây, nhằm gópphần thúc đẩy và tăng cường việcthực hiện các quyền lợi và nghĩavụ đối với việc bảo vệ quyền sởhữu trí tuệ ở nước ta hiện nay:Hoàn thiện hơn nữa hệ thốngcác văn bản pháp quy về bảo vệquyền SHTT, áp dụng trong điềukiện hiện nay, phù hợp với thônglệ và luật quốc tế về bảo vệquyền SHTT

Tổ chức vận động, tuyêntruyền sâu rộng trong dân chúngvề quyền lợi và nghĩa vụ trongviệc bảo hộ quyền SHTT

Phải có các chế tài đủ mạnhđể quản lý và điều tiết các hành vi

vi phạm quyền SHTT, cụ thể làphải xử lý quyết liệt mọi hành vi viphạm quyền SHTT, nhằm thuthập thông tin để ngăn chặn kịpthời từ trong trứng nước mọi hành

vi nghi ngờ có vi phạm quyềnSHTT

Xây dựng các bộ tiêu chuẩnchất lượng cụ thể, lập hàng rào kỹthuật để ngăn chặn hàng hoá,dịch vụ vi phạm quyền SHTT tạicác biên giới, cửa khẩu, đặc biệtlà vùng biên giới phía Bắc

Diệu Nhung

F

Ngày đăng: 14/08/2014, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w