1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bản tin khoa học và ứng dụng quý 4 2011

28 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 7,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản tin khoa học và ứng dụng là tờ tin nhằm phổ biến những kiến thức về khoa học và ứng dụng t với các mục chính như tin tức sự kiện về khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, cuộc sống qanh ta hay mục vinh danh đất việt cho mọi người dân có nhu cầu

Trang 1

Thư ngỏ

Thế là một mùa xuân mới lại đến đem theo bao hương sắc cuộc đời Xuân đến, mỗi chúng ta có dịp suy ngẫm lại một năm công tác, lao động và học tập, rút ra cái ưu, cái khuyết để mà sống hay hơn.

Bản tin Khoa học và Ứng dụng cũng vậy, mặc dù tròn một tuổi, nhưng với sự cố gắng của Ban biên tập, sự động viên khích lệ của các cơ quan, đơn vị và trên hết là sự ủng hộ của bạn đọc nên 1.500 bản tin xuất bản năm 2010 thực sự là diễn đàn của tri thức Bắc Giang Có thể nói rằng, Bản tin là cầu nối tích cực của trí thức với cấp uỷ, chính quyền, nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của trí thức tham gia xây dựng quê hương, đất nước được cấp uỷ, chính quyền ghi nhận và đánh giá cao Bên cạnh đó, nhiều thông tin bổ ích về khoa học - kỹ thuật cũng được tuyên truyền, phổ biến, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh nhà.

Ban biên tập xin trân trọng tri ân sự quan tâm của bạn đọc trong năm qua đối với Bản tin Khoa học và Ứng dụng Đồng thời, mong muốn năm 2011, Bản tin tiếp tục nhận được sự quan tâm và đóng góp nhiều hơn nữa của cấp uỷ, chính quyền cũng như bạn đọc để Bản tin xứng đáng là diễn đàn của đội ngũ tri thức Bắc Giang.

Năm mới: SÁNG TẠO, TRÍ TUỆ VÀ THÀNH CÔNG MỚI

BAN BIÊN TẬP

Trang 2

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ngày 03 tháng

12 năm 2004;

Căn cứ Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ quy định hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; Thông tư số 27/2003/TT-BTC ngày 01/4/2003 của Bộ Tài chính quy định cơ chế tài chính hoạt động tư vấn, phản biện;

Theo đề nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh,

Điều 3 Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND tỉnh, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh, chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các tổ chức, cá nhân liên quan căn cứ Quyết định thi hành./

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành quy định hoạt động tư vấn, phản biện và giám định

xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Bắc Giang

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

TM UỶ BAN NHÂN DÂN

KT CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Bùi Văn Hạnh

Trang 3

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG TIN TỨC - SỰ KIỆN



UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CHƯƠNG IQUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1 Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

Quy định này áp dụng đối với cơ quan thực hiện

nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội; cơ

quan giao nhiệm vụ và cơ quan, đơn vị, tổ chức đề

nghị tư vấn, phản biện và giám định xã hội trên địa

bàn tỉnh Bắc Giang

Điều 2 Cơ quan thực hiện, cơ quan giao

nhiệm vụ, cơ quan đề nghị tư vấn, phản biện và

giám định xã hội

1 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh

(sau đây gọi tắt là Liên hiệp hội) là cơ quan thực hiện

nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội;

2 UBND là cơ quan giao nhiệm vụ tư vấn, phản

biện và giám định xã hội;

3 Các cơ quan thuộc tỉnh, UBND các huyện,

thành phố và các tổ chức khác là cơ quan đề nghị tư

vấn, phản biện và giám định xã hội

Điều 3 Đối tượng tư vấn, phản biện và giám

định xã hội

1 Đối tượng bắt buộc phải có tư vấn phản biện

và giám định xã hội

a) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

của tỉnh, của các huyện, thành phố; quy hoạch vùng;

quy hoạch chung phát triển đô thị; quy hoạch phát

triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu; quy hoạch

sử dụng đất của tỉnh và các huyện, thành phố;

b) Chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế

-xã hội có tính phức tạp, ảnh hưởng lớn đến phát triển

kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; các dự án

nhóm A,B,C có tính đặc thù, nhạy cảm về lịch sử,

văn hoá, tôn giáo, môi trường;

c) Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của

tỉnh và các huyện, thành phố;

2 Đối tượng không bắt buộc có tư vấn phản biện

và giám định xã hội

a) Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của

UBND tỉnh;

b) Các chương trình, dự án, đề án không thuộc

đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này

Điều 4 Phạm vi tư vấn, phản biện và giám

định xã hội

Phạm vi tư vấn, phản biện và giám định xã hội

thực hiện đúng quy định tại Hướng dẫn số 733/LHHngày 06/9/2002 của Liên hiệp các hội khoa học vàkỹ thuật Việt Nam hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ tưvấn, phản biện và giám định xã hội Cụ thể như sau:

1 Sự phù hợp, thống nhất với văn bản quy phạmpháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

2 Sự phù hợp tình hình kinh tế - xã hội của địaphương: Đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh; tínhkhả thi của văn bản, của chương trình, đề án; cácvấn đề phù hợp quy hoạch, cảnh quan; tác động môitrường; kỹ thuật công nghệ; hiệu quả kinh tế; lịch sử,văn hoá, xã hội, lao động, việc làm

Điều 5 Mục đích, yêu cầu của hoạt động tưvấn, phản biện và giám định xã hội

1 Cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước,các tổ chức khác có đề nghị hoặc chấp thuận đềxuất tư vấn, phản biện và giám định xã hội có thêm

cơ sở, luận cứ khoa học có tính độc lập, khách quankhi đề xuất, thẩm định phê duyệt hoặc thực hiện cácchương trình, đề án, dự thảo văn bản quy phạmpháp luật;

Tăng cường sự đoàn kết, hợp tác của đội ngũ tríthức, nâng cao vai trò, năng lực của Liên hiệp hộitrong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương

2 Yêu cầu khi tư vấn, phản biện và giám định xãhội phải có tính chuyên môn cao, đảm bảo tínhkhách quan và khoa học, thể hiện ở cách tiếp cậnđúng, phương pháp nghiên cứu thích hợp, biện pháptổ chức và cơ cấu đội ngũ chuyên gia có chọn lọc,hợp lý; các đề xuất, kiến nghị có nội dung xác địnhrõ ràng, dựa trên các dữ liệu đã được kiểm chứng vàphải chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung tư vấn,phản biện và giám định xã hội

Điều 6 Tính chất hoạt động tư vấn, phản biệnvà giám định xã hội

1 Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xãhội của Liên hiệp hội không vì lợi nhuận, không phảilà hoạt động nghề nghiệp mà là sự thể hiện tráchnhiệm của trí thức tham gia đóng góp trí tuệ vào cáchoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh BắcGiang;

2 Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xãhội không thay thế việc tư vấn, thẩm định, giám địnhcủa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền,

QUY ĐỊNH

Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học

và kỹ thuật tỉnh Bắc Giang

(Ban hành kèm theo Quyết định số 75 /2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2011

của Uỷ ban nhân dân tỉnh)

Trang 4

các tổ chức tư vấn hoạt động theo quy định của pháp

luật

Điều 7 Mức độ tư vấn, phản biện và giám

định xã hội

Tư vấn, phản biện và giám định xã hội được tiến

hành các mức độ:

1 Chia sẻ thông tin tham khảo về nội dung hoặc

phương pháp tiếp cận nguồn tư liệu, nguồn chuyên

gia;

2 Phân tích, đánh giá và đưa ra các ý kiến nhận

xét, bình luận hoặc kiến nghị hướng nghiên cứu

nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện hoặc bổ sung,

sửa đổi từng phần hoặc toàn bộ một chương trình, đề

án;

3 Phân tích, đánh giá nghiên cứu toàn diện và

đưa ra kiến nghị về giải pháp hoặc phương án bổ

sung, sửa đổi hoặc thay thế từng phần hoặc toàn bộ

một đề án, chương trình

CHƯƠNG IIQUY ĐỊNH CỤ THỂĐiều 8 Hình thức tư vấn, phản biện và giám

định xã hội

Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của

Liên hiệp hội được thực hiện theo các hình thức sau:

1 UBND tỉnh giao nhiệm vụ cho Liên hiệp hội

thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định

xã hội những đề án, chương trình thuộc thẩm quyền

của UBND tỉnh;

2 Các cơ quan, đơn vị, tổ chức đề nghị Liên hiệp

hội thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội

những chương trình, đề án, dự án thuộc thẩm quyền

3 Liên hiệp hội chủ động đề xuất các cơ quan

chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội các

chương trình, đề án, dự án

Điều 9 Quy định thời gian thực hiện tư vấn,

phản biện và giám định xã hội

1 Thời gian thực hiện tư vấn, phản biện và giám

định xã hội do cơ quan giao nhiệm vụ ấn định hoặc

do cơ quan đề nghị tư vấn, phản biện và giám định

xã hội thống nhất với Liên hiệp hội

2 Trong quá trình tư vấn, phản biện và giám định

xã hội, Liên hiệp hội không được làm ảnh hưởng đến

thời gian, tiến độ xây dựng, thẩm định, phê duyệt

hoặc thực hiện đề án, dự án Báo cáo kết quả tư vấn,

phản biện và giám định xã hội phải trình cơ quan

thẩm quyền trước khi phê duyệt đề án, dự án

Điều 10 Nội dung tư vấn, phản biện và giám

định xã hội

1 Trường hợp UBND tỉnh giao cho Liên hiệp hội

tư vấn, phản biện và giám định xã hội;

Liên hiệp hội có trách nhiệm thực hiện tư vấn,

phản biện và giám định xã hội theo yêu cầu của

UBND;

2 Trường hợp cơ quan, tổ chức đề nghị Liên hiệp

hội tư vấn, phản biện và giám định xã hội:

Hai bên phải có biên bản thoả thuận hoặc hợpđồng gồm các nội dung:

a) Bối cảnh của đề án, chương trình;

b) Mục tiêu của đề án, chương trình;

c) Phạm vi tư vấn, phản biện và giám định xã hội;d) Các kết quả phải đạt được, các tiêu chí đểđánh giá kết quả;

e) Thời gian thực hiện;

g) Các thông tin được yêu cầu cung cấp và bảomật (nếu thấy cần thiết); các điều kiện (về quan hệ,chi phí, trang thiết bị…) do cơ quan, tổ chức đề nghịbảo đảm;

3 Trường hợp Liên hiệp hội đề xuất tư vấn, phảnbiện và giám định xã hội:

Liên hiệp hội xác định nội dung, phạm vi tư vấn,phản biện và giám định xã hội, gửi đề xuất đến cơquan chủ trì đối tượng tư vấn, phản biện và giámđịnh xã hội Khi được cơ quan, tổ chức chấp thuận,Liên hiệp hội tiến hành tư vấn, phản biện và giámđịnh xã hội theo nội dung khoản 2 Điều này

4 Trong trường hợp các cơ quan chức năngkhông đặt yêu cầu (hoặc không chấp thuận) nhưngkhi thấy cần thiết phải tư vấn, phản biện và giámđịnh xã hội thì Liên hiệp hội đề xuất và báo cáo Chủtịch UBND tỉnh xin ý kiến chỉ đạo

Trình tự tư vấn, phản biện và giám định xã hộithực hiện theo Hướng dẫn số 733/LHH ngày06/9/2002 của Liên hiệp các hội khoa học và kỹthuật Việt Nam

5 Trường hợp các cơ quan, tổ chức giao đíchdanh cho một cá nhân thực hiện tư vấn, phản biệnvà giám định xã hội, thì cá nhân đó tự chịu tráchnhiệm pháp lý về nội dung và kết quả thực hiện.Các kết luận, ý kiến, báo cáo cần ghi rõ tên của cánhân, không được nhân danh Liên hiệp hội

Điều 11 Kinh phí thực hiện nhiệm vụ tư vấn,phản biện và giám định xã hội

1 Nguyên tắc xác định kinh phí hoạt động tưvấn, phản biện và giám định xã hội là không vì lợinhuận; đảm bảo bù đắp các chi phí phục vụ trực tiếpcho các hoạt động này

2 Đối với các chương trình, đề án, dự án do Tỉnhủy, HĐND và UBND tỉnh giao (hoặc chấp nhận) thựchiện tư vấn phản biện và giám định xã hội thì Liênhiệp hội chủ động lập dự toán kinh phí, thống nhấtvới Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính trình Chủtịch UBND tỉnh phê duyệt vào kế hoạch ngân sáchhàng năm

3 Đối với đề án, dự án do các cơ quan, tổ chứcđề nghị (hoặc chấp nhận) thực hiện tư vấn, phảnbiện và giám định xã hội, kinh phí thực hiện nhiệmvụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội được thựchiện trên cơ sở hợp đồng do hai bên thoả thuận, phùhợp với quy định của Nhà nước Trường hợp các đềán, dự án không được bố trí nguồn kinh phí riêng chohoạt động tư vấn, phản biện giám định xã hội thì





Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

được sử dụng nguồn kinh phí hoạt động của cơ quan

đề nghị (hoặc chấp nhận), thanh toán trực tiếp cho

Liên hiệp hội theo hợp đồng

4 Nội dung, mức chi và công tác quản lý, cấp

phát, quyết toán kinh phí hoạt động tư vấn, phản biện

và giám định xã hội được thực hiện theo đúng mức

chi quy định tại Thông tư số 27/2003/TT-BTC ngày

01/4/2003 của Bộ Tài chính về cơ chế kinh phí chi

hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội của

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thụât Việt Nam

5 Hàng năm Liên hiệp hội căn cứ vào nội dung,

mức chi theo quy định lập dự toán ngân sách để chi

cho hoạt tư vấn, phản biện và giám định xã hội và

tổng hợp chung vào dự toán của đơn vị trình cấp có

thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật ngân

sách nhà nước

CHƯƠNG IIITỔ CHỨC THỰC HIỆNĐiều 12 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đề

nghị tư vấn, phản biện và giám định xã hội

1 Chủ động đề nghị Liên hiệp hội tư vấn, phản

biện và giám định xã hội đối với các đề án, chương

trình thuộc thẩm quyền

2 Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tư liệu, tài

liệu liên quan, đảm bảo các điều kiện thuận lợi, kịp

thời về kinh phí và sử dụng cơ sở vật chất (nếu có

thoả thuận) cho Liên hiệp hội thực hiện nhiệm vụ

3 Khuyến khích các cơ quan, đơn vị, các tổ chức

đề nghị Liên hiệp hội tư vấn, phản biện và giám định

xã hội đối với những chương trình, đề án, dự án

không thuộc đối tượng bắt buộc phải có tư vấn phản

biện quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy định này

Điều 13 Trách nhiệm của Liên hiệp hội

1 Tập hợp các chuyên gia trong và ngoài tỉnh am

hiểu tình hình kinh tế - xã hội của địa phương; xây

dựng dữ liệu chuyên gia để tham gia tư vấn, phản

biện và giám định xã hội bảo đảm chất lượng, hiệu

quả;

2 Thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám

định xã hội khi được giao, được đề nghị và khi đề

xuất;

3 Xây dựng kế hoạch tư vấn, phản biện và giám

định xã hội hàng năm; tham mưu trình UBND tỉnh

ban hành các văn bản pháp quy liên quan hoạt động

tư vấn, phản biện và giám định xã hội;

4 Hướng dẫn nghiệp vụ tư vấn, phản biện và

giám định xã hội đối với các hội thành viên, các

chuyên gia;

5 Xây dựng cơ sở dữ liệu các văn bản quy phạm

pháp luật, các chính sách, quy hoạch của tỉnh; cung

cấp các dữ liệu cho các hội thành viên;

7 Tập huấn nâng cao trình độ tư vấn, phản biện

và giám định xã hội đối với cán bộ, chuyên gia các

hội thành viên;

8 Đảm bảo yêu cầu về nội dung, tiến độ thực

hiện và tính độc lập, khách quan, trung thực của nội

dung báo cáo kết quả tư vấn, phản biện và giámđịnh xã hội;

9 Chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung tư vấn,phản biện và giám định xã hội; quản lý, bảo mật(nếu có yêu cầu) hồ sơ, tài liệu của đề án, chươngtrinh; bảo quản các phương tiện, kỹ thuật (nếu đượcgiao) và hoàn trả sau khi hoàn thành nhiệm vụ;

10 Định kỳ đánh giá rút kinh nghiệm hoạt động

tư vấn, phản biện và giám định xã hội, báo cáoUBND tỉnh

11 Chủ trì, phối hợp với các sở, cơ quan liênquan, UBND các huyện, thành phố triển khai thựchiện quy định này

Điều 14 Trách nhiệm của các sở, cơ quanthuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố

1 Hàng năm phối hợp với Liên hiệp hội xác địnhchọn đối tượng cần tư vấn, phản biện và giám địnhxã hội; phối hợp chặt chẽ với Liên hiệp hội trong quátrình Liên hiệp hội thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phảnbiện và giám định xã hội

2 Hàng năm Liên hiệp hội có trách nhiệm chủ trìphối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trình Chủ tịchUBND tỉnh những dự án, đề án, chương trình cụ thểtrên địa bàn tỉnh bắt buộc phải có tư vấn, phản biệnvà giám định xã hội của Liên hiệp hội

Điều 15 Điều khoản thi hành

1 Khi xây dựng chương trình, dự án, đề án thuộcđối tượng bắt buộc phải có tư vấn, phản biện củaLiên hiệp hội, các cơ quan, đơn vị, UBND các huyệnthành phố phải xây dựng hạng mục kinh phí chi hoạtđộng tư vấn, phản biện và giám định xã hội

2 Đối với các chương trình, dự án, đề án bắtbuộc phải có tư vấn, phản biện và giám định xã hội,các cơ quan có thẩm quyền chỉ phê duyệt khi có báocáo kết quả tư vấn phản biện và giám định xã hộicủa Liên hiệp hội

3 Báo cáo kết quả tư vấn, phản biện và giámđịnh xã hội được tập hợp trong hồ sơ đề án, dự ángửi trình cấp thẩm quyền phê duyệt

4 Hàng năm Sở Tài chính và Sở Kế hoạch vàĐầu tư trình UBND tỉnh bố trí kinh phí hạng mục tưvấn, phản biện và giám định xã hội đối với cácchương trình, dự án, đề án bắt buộc phải có tư vấnphản biện và giám định xã hội

5 Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu cóvướng mắc, Liên hiệp hội tổng hợp, báo cáo kịp thờiUBND tỉnh đề xem xét, sửa đổi bổ sung cho phùhợp

TM UỶ BAN NHÂN DÂN

KT CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký) Bùi Văn Hạnh



KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

Trang 6

"Quan tâm đào tạo, bồidưỡng trí thức, đẩy

mạnh phát triển giáo

dục và đào tạo, thực hiện tốt việc

đưa cán bộ, trí thức trẻ có triển

vọng đi đào tạo, bồi dưỡng nâng

cao trình độ ở trong nước và ở

nước ngoài Huy động các nguồn

lực xã hội, tham gia bồi dưỡng,

đào tạo lại để đội ngũ trí thức đáp

ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn của

công cuộc công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước và hội nhập

quốc tế hiện nay" Đó là ý kiến chỉ

đạo trong bài phát biểu của đồng

chí Bùi Văn Hạnh - Phó Chủ tịch

UBND tỉnh tại hội thảo Xây dựng,

phát triển đội ngũ trí thức Bắc

Giang giai đoạn 2010 - 2020 được

tổ chức vào ngày 30/10/2010 tại

nhà khách UBND tỉnh

Những năm qua, đội ngũ trí

thức của tỉnh Bắc Giang đã không

ngừng tăng về số lượng, nâng lên

về chất lượng và đã tham gia hoạt

động trên tất cả các lĩnh vực của

đời sống xã hội Đến nay, toàn

tỉnh có trên 15.000 người có trình

độ đại học trở lên chiếm khoảng

1%dân số, trong đó có 16 tiến sĩ

và gần 500 thạc sĩ Đội ngũ trí

thức đã tích cực trong hoạt động

nghiên cứu ứng dụng KHKT, có

nhiều đóng góp quan trọng góp

phần cùng Đảng bộ và nhân dân

trong tỉnh hoàn thành các nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm

bảo quốc phòng an ninh

Cấp uỷ, chính quyền các cấp

luôn quan tâm, tạo điều kiện cho

đội ngũ trí thức phát triển, Tỉnh ủy

đã ban hành Chương trình hành

động thực hiện các Nghị quyết

Trung ương khóa VIII và khóa IX

về phát triển giáo dục và đào tạo,

khoa học công nghệ Đặc biệt

sau khi Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa X) ban hànhNghị quyết số 27-NQ/TW (ngày06/8/2008) về xây dựng đội ngũtrí thức thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Tỉnh ủy đã ban hànhChương trình hành động xâydựng đội ngũ tri thức tỉnh BắcGiang trong đó xác định xây dựngđội ngũ trí thức là trách nhiệmchung của toàn xã hội, của cả hệthống chính trị UBND tỉnh đã banhành Quy chế xét tặng thưởnggiải thưởng khoa học và côngnghệ, giải thưởng sáng tạo khoahọc công nghệ, công nghệ dànhcho thanh, thiếu niên và nhi đồng;

xây dựng các chính sách đào tạođội ngũ tri thức, chương trìnhnâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo, phát triển nguồn nhânlực… Tuy nhiên, đội ngũ tri thứccủa tỉnh Bắc Giang vẫn còn hạnchế cả về số lượng và chất lượng,

chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế Nănglực thực tiễn, trình độ tin học,ngoại ngữ của đội ngũ tri thức cònhạn chế, thiếu trí thức giỏi trongkhoa học công nghệ Cơ sở vậtchất, điều kiện làm việc cho độngũ tri thức còn thiếu

Bắc Giang là một tỉnh nghèonông nghiệp là chủ yếu; để phấnđấu phát triển kinh tế - xã hội, rútngắn khoảng cách thu nhập bìnhquân đầu người với cả nước, BắcGiang đã xác định phải chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa,tập trung phát triển công nghiệpdịch vụ, nông nghiệp hàng hóa.Để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch,phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi cósự chuyển dịch căn bản trongphát triển nguồn nhân lực có chấtlượng, trình độ cao, đặc biệt là

(Xem tiếp trang 12)

QUAN TÊM XÊY DÛÅNG, PHẤT TRIÏÍN ÀƯÅI NGUÄ TRĐ THÛÁC LÂ ÀƯÅNG LÛÅC PHẤT TRIÏÍN KINH TÏË - XẬ HƯÅI CUÃA TĨNH

Đồng chí Bùi Văn Hạnh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại hội thảo Xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020

Trang 7

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Ở mọi xã hội, trí thức luôn

đóng vai trò quan trọng trong

việc sáng tạo, truyền bá tri

thức, thúc đẩy sự tiến bộ của

xã hội Đảng cầm quyền nào

cũng chăm lo tới việc xây dựng

đội ngũ trí thức cho đất nước

mình không chỉ ở giai đoạn

hiện tại mà đặc biệt chuẩn bị

cho tương lai.

Đảng ta đã nhận thấy điềuđó ngay từ khi giành được

chính quyền vào năm

1945 Đất nước ta từ chỗ chỉ có

vài chục trí thức có trình độ đại

học trở lên, cho tới nay đã có một

đội ngũ vài triệu người trong hầu

hết các ngành kinh tế - xã hội Đội

ngũ đó đã có đóng góp tích cực

trong hai cuộc kháng chiến bảo

vệ tổ quốc, trong công cuộc đổi

mới và đặc biệt trong việc xây

dựng luận cứ khoa học cho việc

hoạch định đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà

nước và trực tiếp tham gia công

tác đào tạo, lãnh đạo, quản lý ở

các cấp khác nhau

Từ chỗ Đảng ta chưa có nghị

quyết riêng, toàn diện về xây

dựng đội ngũ trí thức thì tới năm

2008 tại Hội nghị lần thứ 7 của

Ban Chấp hành Trung ương khóa

X đã có bản thảo, ban hành Nghị

quyết về xây dựng đội ngũ trí thức

trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước Nghị quyết này thể hiện rõ

quan điểm của Đảng ta, đánh giá

cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của

đội ngũ trí thức và trách nhiệm

của Đảng, Nhà nước, xã hội đối

với việc xây dựng đội ngũ này

Nghị quyết đã được trí thức rất

hoan nghênh, được xã hội đồng

tình ủng hộ Nghị quyết đã nêu

các nhiệm vụ và giải pháp khá cụ

thể Đặc biệt, gần đây Bộ Chínhtrị đã ban hành Chỉ thị số 42 -CT/TW đối với Liên hiệp các HộiKhoa học và Kỹ thuật Việt Nam,một tổ chức rộng lớn, đại diện chođội ngũ trí thức khoa học và côngnghệ nước nhà (đội ngũ trí thứckhoa học và công nghệ chiếmhơn 90% trí thức) Đó là một bướcthực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hànhTrung ương Liên hiệp các HộiKH&KT Việt Nam đã kiểm điểm

10 năm việc thực hiện Chỉ thị số45-CT/TW của Bộ Chính trị (khóaVIII), đã xây dựng Chương trìnhhành động thực hiện Nghị quyếtsố 27-NQ/TW và Chương trìnhhành động thực hiện Chỉ thị số42-CT/TW, đã tổ chức thành côngĐại hội lần thứ VI

Trước khí thế phấn khởi củađội ngũ trí thức và của Liên hiệpcác Hội KH&KT Việt Nam về sựquan tâm của Đảng đối với tríthức, mong rằng việc thể chế hóaNghị quyết, Chỉ thị của Đảng vềphí Nhà nước cần được đẩy mạnh

vì đã hai năm trôi qua từ khi có

Nghị quyết mà chưa có động tĩnh

gì lớn

Nhiều cơ chế, chính sách đốivới trí thức cần tháo gỡ để thoátkhỏi cảnh ràng buộc hành chínhlâu nay, cản trở sự phát huy sángtạo và giải tỏa được tâm lý phảiđối phó với những quy định ỡm ờ,bất hợp lý mà người trí thức khôngmuốn Muốn có một đội ngũ tríthức có chất lượng để giữa thế kỷnày chúng ta có thể bước vào nềnkinh tế tri thức thì cần phải đổimới cơ chế sử dụng, chính sáchđãi ngộ, tạo điều kiện tốt hơn nữacho trí thức làm việc

Nhân dịp 81 năm ngày thànhlập Đảng, chúng ta nhắc lạinhững sự kiện quan trọng thểhiện sự quan tâm của Đảng vớitrí thức Trí thức cách mạng lâunay gắn bó với Đảng và tin ởĐảng Niềm tin của trí thức đốivới Đảng và Nhà nước sẽ ngàycàng được nâng cao, những cơchế, chính sách, việc làm cụ thểtheo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW và Chỉ thị 42 - CT/TW trởthành hiện thực

 GS TSKH NGUYỄN HỮU TĂNG Đảng với việc xây dựng đội ngũ trí thức

Đội ngũ trí thức trẻ hôm nay

Trang 8

Bắc Giang là một tỉnh miềntrung du, vị trí địa lí thuận

lợi Sau chiến tranh, tỉnh

Bắc Giang tuy còn nhiều khó

khăn nhưng đã tạo được đà phát

triển tốt Là một tỉnh có bề dày

truyền thống văn hoá, giáo dục,

con người chịu khó, khéo léo,

ham học hỏi, có thể tạo nền vững

chắc cho chất lượng nguồn nhân

lực Địa hình của Bắc Giang

phong phú về cảnh quan, đất đai

có thể giúp cho việc phát triển

kinh tế- xã hội - văn hoá đa dạng

Giao thông ở Bắc Giang thuận

tiện, gần Thủ đô, gần sân bay

quốc tế, giao lưu trong nước,

ngoài nước thuận lợi Đó là những

lợi thế khá cơ bản để Bắc Giang

có thể vượt qua những khó khăn

về xuất phát điểm kinh tế thấp và

để Bắc Giang có thể vững vàng

tiến bước cùng các địa phương

khác trên con đường xây dựng xã

hội văn minh, hiện đại

Trên cơ sở những nội dung

nêu trên, chúng tôi thấy cần thiết

quan tâm hơn nữa những vấn đề

sau đây:

1 Coi trọng việc chuẩn bị

nguồn nhân lực cho phát triển

kinh tế - văn hoá - xã hội là việc

làm đặc biệt cần thiết, nhất là

nguồn nhân lực có đủ khả năng

tham gia vào quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, đủ sức

để tiếp thu tri thức tiên tiến, công

nghệ hiện đại, hợp tác quốc tế

Bài học lịch sử ở thế kỷ XVIII

khi làn sóng công nghiệp từ

phương tây tràn sang phương

đông, do tầm nhìn hạn hẹp và

điều kiện hạn chế, triều đình nhà

Nguyễn và kể cả triều đình nhà

Thanh Trung Quốc cũng khôngnắm được cơ hội phát triển kinhtế Trong khi đó Nhật Bản thờiMinh trị thiên Hoàng đã thực hiệncuộc cách mạng công nghiệp,mở cửa giao lưu hội nhập với thếgiới, tiếp thu tri thức công nghệtiên tiến, mở rộng thị trường, tìmđối tác làm ăn do đó chỉ trongmấy chục năm sau đã vươn lênthành một cường quốc trên thếgiới Do đó, trong điều kiện hiệnnay muốn phát triển xã hội cầnchuẩn bị kế hoạch sớm, cần xácđịnh rõ hướng phát triển, cần cócông tác dự báo tốt để có tiếntrình, mục tiêu đào tạo nhân lựcphù hợp

2 Để đào tạo nguồn nhân lựccó chất lượng cần phải xây dựngnguồn từ nền móng của giáo dục Thực tiễn trên thế giới chothấy không có một nước nàotrong số các nước công nghiệphoá hiện nay lại đạt được tăngtrưởng kinh tế đáng kể trước khi

đạt được phổ cập giáo dục tiểuhọc trong cả nước

Ở các nền kinh tế Đông Á,nguồn nhân lực đóng góp rấtđáng kể cho tăng trưởng, trongđó có các yếu tố liên quan đếnnhân lực như giáo dục tiểu học,giáo dục trung học sau đó là giáodục đại học có đóng góp nhiềunhất Giáo dục cũng là yếu tố lớnnhất giải thích sự khác biệt trongtăng trưởng kinh tế giữa khu vựcĐông Á và các khu vực khác.Sau chiến tranh thế giới thứ hai,vùng Đông Á nghèo và tụt hậu

so với thế giới, tỷ lệ người mùchữ cao, ít cơ hội phát triển so vớiMỹ - Latinh và châu Phi Sau đónhờ phát triển nguồn nhân lựcthông qua giáo dục - đào tạo màđến năm 1990 đã trở thànhnhững nước tăng trưởngGDP/đầu người cao nhất thếgiới Ở Hàn Quốc, tỷ lệ thanhthiếu niên học ở tiểu học và trunghọc cao hơn Braxin nên pháttriển kinh tế, xã hội nhanh hơn.Hàn Quốc và Nhật Bản do lựclượng lao động được đào tạo tốtvề kỹ năng kỹ xảo, trình độ quảnlí đã giúp công nghệ tiên tiếnnhanh chóng được du nhập, làmchủ rồi sau đó có khả năng tựphát triển công nghệ (ở nhữngnăm sau 1970 ở Nhật và sau

1980 ở Hàn Quốc) làm cho năngsuất, chất lượng sản phẩm tăngcao, ít tiêu tốn năng lượng tạolợi thế cạnh tranh trên thế giới Chính vì vậy muốn tạo nguồnnhân lực có chất lượng cần chútrọng phát triển giáo dục, bắt đầutừ giáo dục các cấp của phổthông để xây dựng nền móng về

 PGS.TS NGUYỄN VĂN MÃ

Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội 2

PGS.TS Nguyễn Văn Mã

Nguồn nhân lực YẾU TỐ QUAN TRỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG

Trang 9

-KHOA HỌC&ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

tri thức, văn hoá, đạo đức, nhân

cách, tư duy Vấn đề chỉ đạo,

xây dựng quy hoạch, kế hoạch,

đầu tư cơ sở vật chất, giáo viên,

tạo môi trường giáo dục là rất

quan trọng

Tuy nhiên, nhu cầu về nhân

lực trong quá trình phát triển xã

hội lại rất cụ thể và tuỳ thuộc vào

các giai đoạn phát triển của nền

kinh tế Ở các nước Đông Á gần

chúng ta thấy có 4 giai đoạn phát

triển đòi hỏi nguồn nhân lực khác

nhau Giai đoạn 1 là thời kỳ ổn

định và khôi phục kinh tế, tạo

nền tảng phát triển công nghiệp

nhẹ tạo tích luỹ ban đầu cho kinh

tế (khoảng những năm 1950

-1960) yêu cầu phổ cập giáo dục

tiểu học Giai đoạn 2 khi chuyển

đổi kinh tế theo hướng tăng tỷ

trọng công nghiệp, sự công

nghiệp hoá thu hút lao động từ

nông nghiệp, lao động có tay

nghề, đòi hỏi phát triển giáo dục

trung học Giai đoạn 3 phát triển

công nghiệp có giá trị gia tăng

cao, có kỹ thuật lớn (khoảng

1980 - 1990) đòi hỏi nguồn nhân

lực đại chúng chất lượng cao và

kỹ năng tốt nên cần phát triển

giáo dục trung học, giáo dục

nghề nghiệp sau trung học và

giáo dục đại học Giai đoạn 4 là

thời kỳ công nghiệp hoá đã thành

công (sau 1990), do phát triển

kinh tế tri thức nên đòi hỏi nguồn

nhân lực được đào tạo bậc cao,

có tri thức tốt, kỹ năng tốt, linh

hoạt, năng động, sáng tạo

Ở nước ta nói chung và tỉnh

Bắc Giang nói riêng, theo chúng

tôi nên nghiên cứu vị trí và điều

kiện thực tiễn của mình trong tiến

trình phát triển kinh tế - xã hội để

có chính sách phát triển giáo dục

- đào tạo phù hợp

3 Xây dựng chiến lược đào

tạo nguồn nhân lực là một vấn đề

cần thiết cho mỗi địa phương

Việc đào tạo nguồn nhân lực cho

quốc gia có nhiều điểm chung,

tuy nhiên đối với mỗi địa phương

có các điều kiện phát triển,

hướng phát triển và khả năng

hiện thực hoá riêng, vì thế việc

xây dựng chiến lược nguồn nhânlực là rất quan trọng Từ đó xâydựng kế hoạch để đào tạo trongphạm vi tỉnh, trong nước và nướcngoài Hiện nay không có nhiềutỉnh đưa ra được kế hoạch cửngười đi đào tạo nước ngoài, cáctrường đại học thì có kế hoạch đónhưng lại không phải trên cơ sởphối hợp với các địa phương

Chính vì vậy mà hiệu quả củahoạt động này giúp ích chungcho quốc gia nhiều hơn, cònriêng đối với từng địa phương thìhiệu quả thấp hơn Theo chúngtôi việc này chúng ta có thể phốihợp để tăng cường hiệu quả vàlợi ích cho địa phương hơn nữa

Việc cử cán bộ khoa học - kỹthuật đi đào tạo ở các nước tiêntiến là rất cần thiết để có dịp tiếpcận công nghệ tiên tiến, trau dồithêm kỹ năng nghề nghiệp, kỹnăng quản lí và khả năng sángtạo và kể cả tầm nhìn, trườngphái mới tiến bộ Chúng tôi đượcbiết một số tỉnh bên cạnh việcphối hợp với các trường đại họcđã chủ động cử người đi họcngoại ngữ trong và ngoài nướcđể tạo cơ hội đi học tập và bồidưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ởnước ngoài là việc làm rất bổ ích

4 Vấn đề đào tạo nguồnnhân lực trình độ cao và đào tạonhân tài

Trong thời đại hiện nay,nguồn nhân lực trình độ cao lànhu cầu bức thiết Để phục vụcho công nghiệp hoá - hiện đạihoá, cần có nhân lực làm chủcông nghệ mới, cần những ngườicó thể đưa tri thức trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp như Mácnói cho địa phương Do đó cầnchú trọng đào tạo nhân lực trìnhđộ cao, tay nghề giỏi, nắm vữngtri thức và có khả năng sáng tạotri thức mới

Hiện nay các trường đại họctrong nước đang đào tạo các thếhệ sinh viên có thể đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - văn hoá -xã hội của đất nước nói chung vàcác địa phương nói riêng Cần cósự phối hợp chặt chẽ giữa địa

phương và các trường đại học,học viện để có thể giúp địaphương một cách hiệu quả hơnnữa Bên cạnh đó tỉnh cũng cóthể chủ động kế hoạch đào tạocác ngành nghề, với các trình độkhác nhau phục vụ riêng chonhu cầu phát triển của tỉnh Việcđào tạo nghề ở các địa phương làrất quan trọng, nhất là việc đàotạo này gắn rất chặt chẽ với cơsở sản xuất, xí nghiệp, doanhnghiệp, công ty có thể giúp choviệc rút ngắn khoảng cách giữatri thức - công nghệ - thực tiễn

5 Vấn đề cuối cùng là đểđảm bảo cho việc đào tạo nguồnnhân lực chất lượng tốt cần có ítnhất 2 điều kiện: 1/đội ngũ giảngviên, giáo viên, cán bộ quản lí và2/cơ sở vật chất cùng với điềukiện làm việc của họ

Đội ngũ cán bộ nói ở đây làmột phần của nguồn nhân lực,họ chịu trách nhiệm trước xã hộitrong việc đào tạo các thế hệtương lai đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - văn hoá - xã hội.Làm thế nào để họ làm việc hiệuquả là vấn đề rất lớn mà các cấplãnh đạo, quản lí cần quan tâm.Những vấn đề như cơ sở vậtchất, điều kiện làm việc, môitrường làm việc, chính sách,tương lai phát triển chuyên mônnghiệp vụ, việc giao lưu hợptác là những vấn đề cần đượcquan tâm để giúp đội ngũ nàyphát huy tốt khả năng trong đàotạo, bồi dưỡng nguồn nhân lựcphục vụ cho phát triển kinh tế -văn hoá - xã hội của tỉnh Trên đây là một vài suy nghĩdựa trên cơ sở tham khảo tài liệuvà kinh nghiệm thực tiễn cá nhânvới mong muốn góp thêm ý kiếnphục vụ sự phát triển kinh tế -văn hoá - xã hội tỉnh Bắc Giangngày một tốt hơn Chúc sựnghiệp đào tạo nguồn nhân lựccủa tỉnh Bắc Giang thành côngtốt đẹp góp phần quan trọng vàoviệc thực hiện thành công cácmục tiêu phát triển của tỉnh giaiđoạn 2010-2015

NVM

Trang 10

Được thành lập ngày 22-3-2000 theo Quyết định số

71/2000/QĐ-UB của

UBND tỉnh, LHH có chức năng và

nhiệm vụ là tập hợp, đoàn kết trí

thức, điều hòa và phối hợp hoạt

động của các hội thành viên; vận

động các cán bộ khoa học, góp

phần tích cực vào sự nghiệp đổi

mới, CNH - HĐH đất nước; tuyên

truyền, phổ biến kiến thức khoa

học và kỹ thuật, nâng cao dân trí;

tư vấn, phản biện, giám định xã

hội về các vấn đề khoa học

-công nghệ, kinh tế - xã hội…

Mặc dù còn gặp nhiều khó

khăn kể từ khi thành lập cho tới

nay, nhưng LHH đã không ngừng

phát triển cả về số lượng và chấtlượng Tính đến nay, số hội viêngồm 18 hội thành viên với tổng sốgần 7 vạn hội viên được phân bốtừ cấp tỉnh đến cơ sở hoạt độngtrên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xãhội, văn hoá, an ninh, quốcphòng Cùng đó là hoạt động tưvấn, phản biện và giám định xãhội Trong năm qua, LHH sử dụngđội ngũ trí thức có kinh nghiệmnghề nghiệp thực hiện nhiệm vụ

tư vấn, phản biện và giám định xãhội Kết quả phản biện đã thểhiện trách nhiệm của trí thức BắcGiang với sự phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh, được UBND tỉnhđánh giá cao như: phản biện văn

bản quy phạm pháp luật, thamgia dự án luật, phản biện dự ánxây dựng đường cao tốc Hà Nội -Lạng Sơn đoạn qua tỉnh BắcGiang; Ba chương trình phát triểnkinh tế - xã hội…

Nhằm phổ biến kiến thức khoahọc kỹ thuật trong nhân dân, giúpnhân dân ứng dụng vào trong đờisống và sản xuất Trong nămqua, LHH tích cực đẩy mạnh hoạtđộng tuyên truyền, tổ chức nhiềuhình thức thông tin, tuyên truyền,phổ biến kiến thức đến đông đảoquần chúng nhân dân Qua cáclớp hội thảo, tập huấn và bản tinnhiều nông dân được tiếp thu kiếnthức khoa học, kỹ thuật về trồngtrọt, chăn nuôi gia súc, gia cầmvà kiến thức về bảo vệ môitrường Công tác phổ biến kiếnthức pháp luật cho người dân ởvùng sâu, vùng xa được LHHquan tâm Bên cạnh đó còn tăngcường công tác hướng dẫn cáchchăm sóc sức khoẻ cộng đồng;huy động đội ngũ các nhà khoahọc tham gia thực hiện nhiệm vụnghiên cứu khoa học, phát triểncông nghệ và bảo vệ môi trường.Năm 2010, LHH đã triển khai mộtsố đề tài cấp tỉnh và cấp cơ sởnhư: "Nghiên cứu đánh giá thựctrạng và đề xuất giải pháp pháttriển bền vững nghề mỳ Kế thànhphố Bắc Giang"; đề tài "Đánh giákhả năng sinh trưởng và tình hìnhsâu bệnh hại giống cam V2 đượctrồng tại huyện Yên Thế, tỉnh BắcGiang" và đề tài "Nghiên cứu quytrình xử lý ô nhiễm nước hồ tạicông viên Ngô Gia Tự thành phốBắc Giang "

Với nhiệm vụ tập hợp đội ngũtrí thức khoa học và công nghệBắc Giang tham gia đóng góp

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

Núi hưåi tuå àưåi nguä trđ thûác cuãa tĩnh

 NGUYỄN ĐỨC KIÊN

Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT

Với vai trò là cầu nối trí thức với cấp uỷ đảng, chính quyền tỉnh

Bắc Giang, những năm qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ

thuật Bắc Giang (LHH) đã thực sự trở thành mái nhà chung của

giới trí thức, khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Thông qua

những hoạt động tích cực của mình, LHH đã có những đóng góp

tích cực trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội

của địa phương

(Xem tiếp trang 12)

Trang 11

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

Hội Cựu giáo chức tỉnh BắcGiang được thành lập

trong thời kỳ đất nước đổi

mới, là niềm vui, phấn khởi, tự

hào của nhà giáo Hội động viên

khích lệ nhà giáo nghỉ hưu tiếp

tục phát huy trí tuệ, năng lực đóng

góp vào sự nghiệp giáo dục đào

tạo Đến nay, Hội Cựu giáo chức

tỉnh Bắc Giang vừa tròn 5 tuổi

(2006 - 2010) Tuy mới thành lập

nhưng Hội có những bước phát

triển sâu rộïng, khá toàn diện

Trên địa bàn tỉnh có 202 hội, xã,

phường, thị trấn, 10 hội huyện,

thành phố, 4 Chi hội trực thuộc

với 6.964 hội viên chiếm 96% số

cán bộ giáo viên đang nghỉ hưu ở

địa phương

Nhằm đưa hội hoạt động có

nền nếp, chất lượng, hiệu quả,

Ban Thường vụ Tỉnh hội xây dựng

tiêu chuẩn hội cơ sở, hội huyện,

thành phố vững mạnh Phấn đấu

hội vững mạnh là mục tiêu thi đua

của hội cơ sở, hội huyện, thành

phố Kết quả 77,6% hội cơ sở,

80% hội huyện, thành phố đạt

vững mạnh Hội Cựu giáo chức

tỉnh Bắc Giang là tỉnh khởi đầu

toàn quốc xây dựng hội vững

mạnh Những kinh nghiệm xây

dựng hội vững mạnh của tỉnh Bắc

Giang được TW Hội Cựu giáo

chức Việt Nam phổ biến tới các

hội trong cả nước

Trong nhiệm kỳ đầu, hội các

cấp trong tỉnh có nhiều hình thức

hoạt động phong phú, thiết thực

chăm sóc đời sống tinh thần, vật

chất cho hội viên, giúp đỡ nhau

nâng cao chất lượng cuộc sống

Quỹ "Ấm tình đồng nghiệp" giúp

gia đình hội viên khó khăn trong

cuộc sống góp phần xóa đói giảm

nghèo Kết quả Tỉnh hội tặng 560

suất quà trị giá 70,6 triệu đồng

Hội huyện, thành phố, xã, phườngtặng 6.080 suất trị giá 301 triệuđồng Hoạt động văn hóa, vănnghệ, thể thao và du lịch sôiđộng, hấp dẫn Hoạt động đờisống tinh thần tạo cơ cơ hội chohội viên gắn bó làm đẹp thêm tìnhcảm đồng chí, đồng nghiệp

Hội tham gia đóng góp tíchcực vào sự nghiệp giáo dục - đàotạo là nâng cao vị thế, uy tín củahộâi trong xã hội Các cấp hội cóviệc làm thiết thực, hiệu quả đónggóp vào các lĩnh vực hoạt độngcủa giáo dục - đào tạo Hội thamgia tích cực vào cuộc vận độngchống tiêu cực trong thi cử, bệnhthành tích trong giáo dục Cuộcvận động xây dựng nhà trườngthân thiện, học sinh tích cực, đổimới công tác quản lý nâng caochất lượng giáo dục - đào tạo…

Thường trực Tỉnh hội tổ chứccác hội nghị chuyên đề Hội thamgia xây dựng xã hội học tập, phổcập THPT, chương trình sáchgiáo khoa, chiến lược phát triểngiáo dục- đào tạo (2010 - 2020)

Hội cựu giáo chức cơ sở lựa chọnnhận với các trường học 416 côngviệc: Viết lịch sử nhà trường, củngcố phòng đồ dùng dạy học, thưviện, tu bổ vườn hoa, cây cảnh,vậân động học sinh bỏ học trở lạitrường,… 400 hội viên có năng lựcchuyên môn, sức khỏe tốt thamgia giảng dạy ở trường tư thụcdân lập, trung tâm học tập cộngđồng

Hội viên thực hiện tốt cuộcvận độâng "Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

Việc làm theo tấm gương đạo đứcHồ Chí Minh thể hiện bằng phongtrào thi đua thực hiện tiêu chuẩngia đình cựu giáo chức 4 tốt,91,7% gia đình cựu giáo chức đạt

tiêu chuẩn 4 tốt, 1300 hội viênđược cấp ủy, chính quyền, nhândân tín nhiệm giao trọng tráchtham gia công tác Đảng, chínhquyền, đoàn thể chính trị xã hội ởđịa phương Nhiều hội viên trởthành những tấm gương tiêu biểutrong công tác, Các cấp hội cónhiều hình thức hoạt động củaHội Trong chỉ đạo các cấp hội coitrọng khâu động viên khích lệ thiđua Trong nhiệm kỳ đầu 36 tậpthể, 34 cá nhân được TW hội,UBND tỉnh, MTTQ tỉnh tặng bằngkhen, nhiều hội xã và hội viênđược UBND huyện, thành phốkhen thưởng biểu dương, TW HộiCựu giáo chức Việt Nam tặng HộiCựu giáo chức tỉnh Bắc Giang cờthi đua đơn vị xuất sắc toàn diện.Phát huy kết quả hoạt độngtrong nhiệm kỳ đầu 2006 - 2010tiếp tục phấn đấu nâng cao chấtlượng hoạt động hội nhiệm kỳ

2010 - 2015, trước hết các cấphội làm thật tốt công tác tuyêntruyền sâu rộng trong xã hội vềvai trò, vị trí và kết quả hoạt độngcủa Hội nhằm nâng cao vị thế củaHội Các cấp hội tập trung xâydựng hội vững mạnh Hội vữngmạnh là động lực thúc đẩy cácmặt hoạt động của Hội Cùng vớiviệc xây dựng hội vững mạnh,quan tâm nâng cao chất lượnghoạt động của hội viên Xác địnhhội viên là trung tâm bật phá, chấtlượng hiệu quả hoạt động của hội.Các cấp hội khắc phục khó khăn,sáng tạo, có những giải pháp đadạng, thiết thức chăm lo đời sốngtinh thần và vật chất cho hội viên.Động viên hội tích cực tham gia,hưởng ứng các phong trào củađịa phương Phấn đấu gia đình

HỘI CỰU GIÁO CHỨC TỈNH

Đoàn kết -sáng tạo - phát triển

 NGUYỄN NGỌC SƠN

Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh

(Xem tiếp trang 22)

Trang 12

đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội

ngũ trí thức của tỉnh Để xây

dựng, phát triển đội ngũ trí thức

thời gian tới Tỉnh ủy, UBND tỉnh

tiếp tục quan tâm, chỉ đạo:

Nâng cao chất lượng công tác

lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ

trí thức, trước hết là nâng cao

nhận thức của cấp ủy, chính

quyền các cấp về những quan

điểm, chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước trong việc xây

dựng đội ngũ trí thức, về vai trò, vị

trí của trí thức trong sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nhất là với thực tế tỉnh Bắc Giang

Làm tốt công tác tư tưởng để một

mặt làm cho toàn xã hội mà trước

hết là đội ngũ cán bộ (đặc biệt là

cán bộ chủ chốt), đảng viên hiểu

đúng về vai trò của trí thức và

nhiệm vụ của mình Mặt khác,

nhằm nâng cao nhận thức, trách

nhiệm của đội ngũ trí thức đối với

đất nước, với chế độ, với quêhương Quan tâm đào tạo, bồidưỡng trí thức, đẩy mạnh pháttriển giáo dục và đào tạo, thựchiện tốt việc đưa cán bộ, trí thứctrẻ có triển vọng đi đào tạo, bồidưỡng nâng cao trình độ ở trongnước và ở nước ngoài Huy độngcác nguồn lực xã hội, tham gia bồidưỡng, đào tạo lại để đội ngũ tríthức đáp ứng kịp thời yêu cầuthực tiễn của công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcvà hội nhập quốc tế hiện nay

Xây dựng chính sách thu hút,

ưu đãi và tôn vinh trí thức phù hợpvới điều kiện và tình hình của tỉnh,trong đó quy định rõ trách nhiệmcho từng cấp, từng ngành trongviệc đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng cóhiệu quả đội ngũ trí thức đặc biệtlà đối với các nhà khoa học, cácchuyên gia đầu ngành nhữngngười có trình độ chuyên môn kỹthuật cao Củng cố và phát huy

vai trò của Liên hiệp các hộiKH&KT nhằm nâng cao vai tròcủa Liên hiệp hội trong việc tậphợp, đoàn kết, góp phần phát huynăng lực chuyên môn, khoa học,nâng cao và cập nhật tri thức,giáo dục lòng yêu nước, ý thứctrách nhiệm công dân của đội ngũtrí thức Tạo điều liện và cơ chếđể các hội thành viên thực hiệntốt vai trò giám sát, phản biện vàgiám định xã hội, tham gia tíchcực vào quá trình hoạch địnhchính sách của địa phương.Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Giangmong muốn các đại biểu tại Hộithảo hôm nay cũng như sau nàythường xuyên quan tâm, dành trítuệ đóng góp ý kiến giúp tỉnh BắcGiang có những giải pháp đúngđắn, phù hợp trong xây dựng,phát triển đội ngũ trí thức; gópphần thức hiện tốt nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội mà nghịquyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứXVII đã đề ra: "Sớm đưa BắcGiang ra khỏi tình trạng nghèokém phát triển"

QUAN TÂM XÂY DỰNG

(Tiếp theo trang 6)

tiềm năng trí tuệ vào sự phát triển

kinh tế - xã hội, LHH Bắc Giang

đã làm tốt công tác vận động đội

ngũ trí thức Bắc Giang tham gia

phong trào phát huy sáng tạo kỹ

thuật do Liên hiệp các Hội khoa

học và kỹ thuật Việt Nam, Quỹ Hỗ

trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam

(VIFOTEC) tổ chức và phát động

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng

Chính phủ về tổ chức Hội thi

Sáng tạo Kỹ thuật, hàng năm

UBND tỉnh đã giao LHH chủ trì,

phối hợp với Sở Khoa học và

Công nghệ, Liên đoàn Lao động

tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo,

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ

Chí Minh tỉnh tổ chức, triển khai

cuộc thi Sáng tạo Kỹ thuật tại Bắc

Giang Qua đó có hàng ngàn giải

pháp kỹ thuật tham dự, trên 100giải pháp được trao giải, nhiều tácgiả được nhận Bằng khen củacác cơ quan Trung ương và Chủtịch UBND tỉnh Nhiều sáng kiếnđược đánh giá cao, áp dụng vàothực tiễn phục vụ phát triển kinhtế - xã hội, góp phần thực hiệnchủ trương đi tắt đón đầu trongphát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà

Cũng trong năm 2010, LHHđã tổ chức thành công hai cuộchội thảo: "Công nghệ chế tạo cácloại thiết bị bê tông cốt thépthành mỏng dùng trong lĩnh vựchệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuậtvà bảo vệ môi trường" và hội thảo

"Xây dựng, phát triển đội ngũ tríthức Bắc Giang giai đoạn 2010 -2020" Qua các hội thảo, nhiều ýkiến của các nhà khoa học thamgia cố vấn về tính ưu việt khidùng sản phẩm bê tông cốt thép

thành mỏng áp dụng trong quátrình đô thị hóa, về chính sáchthu hút và phát triển trí thức trongnhững năm tới Đây là cơ sởquan trọng để tỉnh ban hànhchính sách phát triển nguồn nhânlực của tỉnh phục vụ chương trìnhphát triển kinh tế- xã hội giaiđoạn 2011 - 2015

Thời gian tới LHH và các hộithành viên phấn đấu bám sát cácyêu cầu, nhiệm vụ chính trị củatỉnh Bắc Giang nói riêng và cảnước nói chung, tiếp tục xây dựngcủng cố đội ngũ trí thức ngàycàng vững mạnh, thường xuyênđổi mới nội dung và phương thứchoạt động, làm tốt các chức năngnâng cao dân trí, tư vấn phản biệnvà giám định xã hội các vấn đềkhoa học kỹ thuật trên địa bàntỉnh Bắc Giang Qua đó góp phầnphát triển kinh tế - xã hội, xâydựng quê hương ngày một giàuđẹp hơn

NĐK

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC

(Tiếp theo trang 10)

Trang 13

KHOA HỌC&ỨNG DỤNG

Dưới sự lãnh đạo của các cấp

uỷ Đảng, thực hiện Chỉ thị số

56 - CT/TW ngày 18/8/2000

của Bộ Chính trị về "Tăng cường sự

lãnh đạo của Đảng đối với công tác

Hội luật gia Việt Nam", Chỉ thị số

06/2001/ CT - TTg của Thủ tướng

Chính phủ ngày 9/4/2001 về việc

thực hiện các biện pháp nhằm đẩy

mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt

động của Hội Luật gia Việt Nam

Các cấp Hội Luật gia tỉnh Bắc

Giang đã nỗ lực phấn đấu thực hiện

có hiệu quả các Nghị quyết Đại hội

nhiệm kỳ của Hội luật gia Tổ chức

Hội luật gia tỉnh Bắc Giang từ chỗ

chỉ có 25 hội viên với 4 Chi hội luật

gia cơ sở ở 4 cơ quan cấp tỉnh, đến

nay tổ chức Hội đã phát triển ở 05

đơn vị cấp huyện, thành phố và 09

Chi hội luật gia trực thuộc 9 cơ quan

cấp tỉnh với tổng số hội viên đến

nay là 507 hội viên Các cấp hội đã

phát huy được trí tuệ tập thể và kinh

nghiệm nghề nghiệp của hội viên

góp phần tích cực vào việc xây

dựng hoàn thiện hệ thống pháp

luật, xây dựng Nhà nước pháp

quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Với nhiều hình thức hoạt động cụ

thể, thiết thực, nổi bật là các hoạt

động tham gia xây dựng pháp luật;

Tuyên truyền phổ biến giáo dục

pháp luật; Tham gia tư vấn pháp

luật, trợ giúp pháp lý cho hội viên,

người nghèo, đối tượng chính sách;

Tham gia hoà giải tranh chấp nhỏ ở

cơ sở; Tham gia vào chương chình

quốc gia phòng chống tội phạm, một

số đơn vị Hội đã có hoạt động tham

gia nghiên cứu khoa học pháp lý,

thực hiện giám định, phản biện xã

hội trong lĩnh vực tư pháp bước đầu

có hiệu quả

Hội luật gia tỉnh luôn xác định

công tác tham gia xây dựng pháp

luật là nhiệm vụ trọng tâm của Tỉnh

Hội và là một thế mạnh của Hội luật

gia, trong năm 2010 Thường trực

Tỉnh Hội đã chỉ đạo các cấp Hội vận

động hội viên tích cực tham gia góp

ý kiến vào các văn bản QPPL của

Quốc hội, UBTV Quốc hội và các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền Kết

quả trong năm 2010 các cấp hội

luật gia tỉnh Bắc Giang đã tham gia

góp ý vào 165 dự thảo luật văn bản

QPPL ở cả hai cấp Trung ương và

địa phương Trong hoạt động này,

Tỉnh hội đã quy tụ được một đội ngũ

luật gia có trình độ chuyên môn sâuvề pháp luật ở các chi hội trựcthuộc, các huyện, thành hội làmnòng cốt trong công tác tham giaxây dựng pháp luật Các huyện,thành hội, chi hội luật gia trực thuộcđã cử luật gia tham gia góp ý vàocác dự thảo luật như: Dự thảo Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều củaBộ Luật hình sự năm 1999, LuậtThuế bảo vệ môi trường, LuậtKhoáng sản, Bộ Luật tố tụng hànhchính, Luật Thanh tra sửa đổi, LuậtViên chức, Luật Bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng, Luật Nuôi connuôi, Luật Tần số vô tuyến điện,Luật Bưu chính, Luật Sử dụng nănglượng tiết kiệm và hiệu qủa, LuậtThuế nhà đất, Luật Khoáng sản, BộLuật Tố tụng dân sự sửa đổi bổsung vv Những ý kiến của luật giađược chuẩn bị kỹ càng, có chấtlượng và được cơ quan chủ trì soạnthảo dự án tiếp thu, chỉnh lý vàđánh giá cao Qua đó đã khẳngđịnh được vai trò và vị thế của Hộiluật gia trong hoạt động tham giaxây dựng pháp luật

Theo chỉ đạo của Trung ươngHội, năm 2010 Thường trực Tỉnh Hộiđã tổ chức được hai cuộc hội thảotheo chức năng của Hội: Hội thảo ràsoát 5 văn bản QPPL hiện hànhđang còn hiệu lực, được áp dụngrộng rãi trong đời sống xã hội nhằmđưa ra những đề xuất, kiến nghị sửađổi những vấn đề không còn phù hợpđối với cơ quan soạn thảo để gópphần đưa các quy định của pháp luậtđược thực thi trong thực tế cuộc sống

Hội thảo tham gia đóng góp ý kiếnsửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội Luật giaViệt Nam hiện hành trình Đại hội toànquốc Hội Luật gia Việt Nam lần thứ

XI Tất cả các ý kiến đóng góp, thảoluận đều được Tỉnh Hội tổng hợp gửiTrung ương Hội Luật gia Việt Namtheo đúng yêu cầu về thời gian, đảmbảo chất lượng

Hoạt động nghiên cứu khoahọc, rà soát văn bản quy phạmpháp luật của các cấp hội luật giatoàn tỉnh năm 2010 đã được triểnkhai thực hiện tại một số đơn vị hội:Thường trực Tỉnh hội đã phối hợpvới Sở Tư pháp, Đoàn đại biểuQuốc hội tỉnh, Hội Liên Hiệp phụ nữtỉnh, tổ chức được 05 Hội thảo ràsoát được 20 văn bản QPPL đangcó hiệu lực thi hành và có ảnhhưởng sâu rộng trong đời sống xãhội để tìm ra những quy định bấtcập, không hợp lý trong quá trìnhtriển khai thực hiện và có văn bảnkiến nghị tới cơ quan chủ quản banhành văn bản QPPL để tiếp thu,chỉnh lý cho phù hợp với tình hìnhthực tế của đời sống xã hội Chi hộiluật gia Công an tỉnh đã tham mưucho Hội đồng khoa học Công antỉnh chỉ đạo thực hiện 03 đề tài khoahọc cấp tỉnh và 02 đề tài khoa họccấp cơ sở (các đề tài đều có hộiviên là luật gia tham gia) Chi hộiluật gia VKSND tỉnh đã tổ chức hộithảo, lấy ý kiến đóng góp của cácluật gia vào báo cáo tổng kết 5 nămthực hiện Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2004, Hội thảo khoa học về tổchức thực hiện Luật Tương trợ tưpháp

Với nhứng kết quả cơ bản đãđạt được trong thời gian qua, năm

2011 song song với việc thực hiệncác nhiệm vụ theo Nghị quyết Đạihội đại biểu Hội Luật gia Việt namkhoá XI, Nghị quyết Hội nghị BCHHội luật gia tỉnh lần thứ X Thườngtrực Tỉnh hội tiếp tục chỉ đạo cáccấp hội luật gia toàn tỉnh tiếp tụcđẩy mạnh hoạt động tham gia xâydựng pháp luật; tham gia nghiêncứu khoa học và thực hiện nhiệmvụ phản biện, giám định xã hội trên

cơ sở bám sát các nhiệm vụ chínhtrị của địa phương, đơn vị theo từnggiai đoạn cụ thể

HỘI LUẬT GIA TỈNH ĐIỂM SÁNG THAM GIA XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

 ĐỨC TUÂN

Hội Luật gia tỉnh

Trang 14

Trung tướng, GS.TS ĐỒNG

MINH TẠI - Giám đốc Học

viện Hậu cần

Tỉnh ta chưa có nhiều nhàkhoa học có tên tuổi làm

trụ cột dẫn dắt, bồi dưỡng

thế hệ kế tiếp và quy tụ đội ngũ

trí thức, vì vậy cần quan tâm

xây dựng các nhà khoa học tiêu

biểu, vừa có tâm, vừa có tài và

cán bộ khoa học đầu ngành

Bên cạnh đó, cần tiến hànhđiều tra xã hội học để đánh giáđúng vị trí, vai trò và thực trạngđội ngũ trí thức của tỉnh, gồm cảtrí thức trong doanh nghiệp, tríthức là những người con củaquê hương Bắc Giang đang làmviệc ngoài tỉnh và đánh giá hiệuquả sử dụng, bố trí đội ngũ tríthức trong những năm qua Tạomôi trường thuận lợi cho độingũ trí thức làm việc và cốânghiến tài năng

Tuyển dụng công khai minhbạch để thu hút được nhữngngười tài thực sự vào các cơquan nhà nước, các cơ quanquản lý khoa học Coi trọng chấtlượng đào tạo và đào tạo liên tụccông chức, viên chức cho dù đãđạt được học vị nhất định Thituyển, sát hạch một cáchnghiêm túc; bố trí sử dụng cánbộ, công chức, viên chức theothực tài và tính chuyên nghiệp

Kịp thời biểu dương khenthưởng, nhân điển hình gương trí

thức tiêu biểu có nhiều đónggóp cho xã hội; gắn việc xâydựng và phát huy năng lực độingũ trí thức với việc xây dựng xãhội học tập, đề cao tinh thần họctập, tự nghiên cứu, trao đổi kinhnghiệm trong đội ngũ trí thức; đadạng hoá các loại hình học tập,liên kết trí thức trên các lĩnh vựcgắn với nâng cao chất lượnghoạt động của trí thức trên cáclĩnh vực gắn với chất lượng hoạtđộng của các hội trí thức, tạosân chơi để trí thức bộc lộ vàphát triển tài năng

GS.TS DƯƠNG XUÂN NGỌC nguyên Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền

-Tăng cường công tác tuyêntruyền, giáo dục truyềnthống văn hiến của quêhương, khơi dậïy lòng tự hào, tựtôn và quyết tâm xây dựng BắcGiang trí tuệ, hội nhập, giàumạnh, hiện đại Tập trung đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý đủ tầm, sâutầm và cao ý chí, quyết tâm đưa

Phát triển đội ngũ trí thức

trong thời kỳ mới

Hiện nay, lực lượng trí thức của tỉnh ta còn hạn chế cả về số

lượng và chất lượng Toàn tỉnh hiện có gần 15.000 người có

trình độ từ đại học trở lên, chiếm 1% dân số và chiếm 57,6%

số công chức, viên chức của tỉnh Trong đó có 466 thạc sĩ, 16

tiến sĩ Để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức tỉnh Bắc

Giang đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, cần có những giải

pháp đồng bộ và mạnh mẽ nhằm tạo chuyển biến căn bản

trong đào tạo bồi dưỡng trí thức của tỉnh Tại Hội thảo khoa

học "Xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Giang giai

đoạn 2010-2020" diễn ra ngày sáng 30/11/2010, nhiều đại

biểu đã đóng góp những ý kiến sâu sắc về chiến lược xây dựng,

phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới

 BÁ DƯƠNG

Ngày đăng: 14/08/2014, 09:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w