Chủ trị: + Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, sinh cơ nhục, đại tiện bí dùng sống hay tẩm rượu.. - Thiếu máu, kinh nguyệt không đều: Dùng Đương quy
Trang 1ĐƯƠNG QUI
Tên thuốc: Radix Angelicae Sinensis
Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.)Diels
Họ Hoa Tán (Umbelliferae)
Bộ phận dùng: rễ (vẫn gọi là củ)
Thứ có thân và cả rễ gọi là Đương quy hay Toàn quy
Thứ không có rễ gọi là Độc quy Xuyên quy là quy mọc ở tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) là loại tốt hơn cả
Lai quy: quy không thật giống
Toàn quy thường chia ra:
+ Quy đầu (lấy một phần về phía đầu)
+ Quy thân (trừ đầu và đuôi)
+ Quy vĩ (lấy riêng phần rễ nhánh)
Quy có thịt chắc, trắng, hồng, củ to, nhiều dầu thơm không mốc mọt là tốt
Trang 2Thành phần hoá học: có tinh dầu (0,2%), chất đường và sinh tố B12
Tính vị: vị cay, hơi ngọt, đắng, thơm, tính ấm
Quy kinh: Vào ba kinh Tâm, Can và Tỳ
Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường
Chủ trị:
+ Kinh nguyệt không đều, đau bụng, chấn thương, ứ huyết, tê nhức, huyết hư, sinh
cơ nhục, đại tiện bí (dùng sống hay tẩm rượu)
+ Tỳ táo, Tỳ hàn, ăn ít, băng huyết (tẩm rượu sao):
+ Quy đầu: chỉ huyết, bổ
+ Quy thân: dưỡng huyết
+ Quy vĩ: hành huyết
- Thiếu máu, kinh nguyệt không đều: Dùng Đương quy với Bạch thược, Thục địa hoàng và Xuyên khung trong bài Tứ Vật Thang
- Kinh nguyệt ít: Dùng Đương qui với Hương phụ, Diên hồ sách và Ích mẫu thảo
- Vô kinh: Dùng Đương qui với Đào nhân và Hồng hoa
Trang 3- Chảy máu tử cung: Dùng Đương qui với A giao, Ngải diệp và Sinh địa hoàng
Đau do chấn thương ngoài: Dùng Đương qui với Hồng hoa, Táo nhân, Nhũ hương và Một dược
Đau do nhọt và hậu bối: Dùng Đương qui với Mẫu đơn bì, Xích thược, Kim ngân hoa và Liên kiều
Đau bụng sau đẻ: Dùng Đương qui với Ích mẫu thảo, Táo nhân và Xuyên khung
Ứ trệ phong thấp (đau khớp): Dùng Đương qui với Quế chi, Kê huyết đằng và Bạch thược
- Táo bón do khô ruột: Dùng Đương qui với Nhục thục dung và Hoả ma nhân
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 28g
Cách Bào chế:
Theo Trung Y: Rửa sạch bằng rượu, cắt bỏ đầu, thái mỏng, tẩm rượu một đêm
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Rửa qua bằng rượu, nếu không có rượu rửa bằng ít nước cho nhanh, vẩy ráo nước
ủ một đêm cho mềm, thường đem bào mỏng một ly (dùng sống), cách này thường dùng
Trang 4- Nếu rửa bằng nước và muốn để lâu, phải sấy nhẹ qua diêm sinh để chống mốc Nếu bị mốc thì lấy rượu tẩy đi Nếu quy bé, đồ qua cho mềm, xếp vào nhau, đập bẹp, ép thành miếng to rồi bào, sẽ được miếng quy to và đẹp
- Có thể bào mỏng rồi đem tẩm rượu và nếu cần thì sấy nhẹ lửa Có người pha rượu với mật ong (1/5) để làm dịu tính cay rồi tẩm
- Có thể sau khi tẩm rượu thì sao qua (vi sao) để trị băng huyết
Bảo quản: để nơi khô ráo, đựng trong hòm gỗ, có lót ít vôi sống, khi trời ẩm nên
mở hòm cho thoáng gió Khi sấy, phơi không dùng sức nóng quá là mất tinh dầu
Chú ý: Đầu rễ có tác dụng bổ máu hơn Phần cuối rễ tốt cho hoạt huyết Phần thân rễ: hoạt huyết và bổ máu
Khi dùng phối hợp Đương qui với rượu có thể làm tăngtác dụng bổ máu
Kiêng ky: Tỳ thấp, tiêu chảykhông nên dùng
ĐỞM NAM TINH
Khi Thiên nam tinh được nghiền thành bột và trộn lẫn với mật thì được gọi là Đảm nam tinh
Trang 5Tinh vị: vị đắng và mát
Tác dụng: thanh nhiệt và trừ đờm, trừ phong và chống co giật Dùng để điều trị co giật, trúng gió và động kinh
Liều dùng: 2-5g
Xem thêm vị Nam Tinh