1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Cây thuốc ppsx

27 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1990, Học viện Quân y 103 đã điều traphát hiện được 169 loài cây thuốc, phân thành 28 nhóm có tác dụng chữa bệnh.Tiếp đó, năm 1992, Trường Đại Học Dược Hà nội qua điều tra đã phát hi

Trang 1

Nhưng đến nay, nguồn dược liệu của chúng ta đang từng ngày tận khai tậndiệt Nhiều lương y Việt Nam phải thốt lên rằng, nước ta đang bị "chảy máu" câydược liệu nghiêm trọng, nhiều cây thuốc quý nay chỉ còn là tiêu bản trong phòng thínghiệm Cây dược liệu ở Việt Nam mang trong mình những hoạt chất có tính năng,công dụng có ích cho sức khỏe con người Nhưng nó lại đang chịu cảnh bị nhữngngười săn lùng "tận thu", và phần lớn xuất lậu qua biên giới Tình trạng này kéo dàihàng chục năm ở nhiều tỉnh biên giới phía Bắc, khiến không ít cây thuốc quý củaViệt Nam đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt

Trang 2

I Tài nguyên cây thuốc ở việt nam

TS Trần Văn Ơn cho biết qua nghiên cứu, hiện có khoảng 45 loại cây dượcliệu từng là thế mạnh của Việt Nam nay đang phải nhập khẩu trở lại như: Bạch biểnđậu, Binh lang, Hoắc hương, Xạ can, Hồng hoa, Bồ công anh, Cẩu tích… để phục

vụ sản xuất đông dược trong nước Thậm chí khi chúng ta nhập khẩu dược liệu trởlại, cơ quan chức năng đã phát hiện có không ít loại đã bị chiết xuất, hút hết hàmlượng thuốc, nguyên liệu chỉ còn là củi rác

Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở Việt Nam có khoảng 600 loài câythuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Sách đỏ cây thuốc Việt Nam ghinhận có tới 144 loài cây thuốc bị đe dọa cần được bảo vệ Trong đó, đang cực kỳnguy cấp có 18 loài; đang bị nguy cấp có 57 loài; sắp nguy cấp có 69 loài Điểnhình như cây Ba kích đã bị suy giảm tới 70% diện tích quần thể; cây Hoàng liênchân gà thuộc họ Mao hương quần thể đã bị suy giảm tới 90%, chỉ còn sót lại một ít

ở đỉnh các vách đá của núi Ngũ Chi Sơn trên dãy Hoàng Liên Sơn (Sapa, Lào Cai);Hoàng đàn, dây trầm, kim ngân (huyện Yên Định và Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn);

củ ba kích (Đô Lương, Nghệ An); đỗ trọng nam (Lương Sơn, Hòa Bình) Ngay đến

củ bình vôi, từ năm 2000 trở lại đây đã bị khai thác đến cạn kiệt với hàng ngàn tấnxuất qua biên giới mỗi năm

Ở Cao Bằng, từ năm 1969 - 1973 có trên 617 cây thuốc thuộc 211 họ thực vật

đã được phát hiện và đưa vào sử dụng Tuy nhiên, rất nhiều loại cây thuốc quý đangđứng trước nguy cơ tuyệt chủng bởi tình trạng “xuất khẩu” ồ ạt qua biên giới

Trang 3

2 Phân bố

Vườn Quốc Gia Yordon chứa đựng một hệ sinh thái rừng Khộp rộng lớn

( Đây là loại rừng cây thưa lá rộng nhiệt đới) , bảo tồn Vườn Quốc Gia Yordon làbảo tồn hệ sinh thái độc đáo điển hình cho cả 3 nước Đông Dương Đã thống kêđược 464 loài thực vật thuộc 97 họ, có nhiều loài cây thuốc quý, gồm lớp Ngọc la,lớp Hành, ngành Thông và ngành Dương xỉ Họ thực vật nhiều loài là họ Cỏ, họĐậu, họ Phong lan Trong số 464 loài có hai loài mới ghi nhận cho hệ thực vật ViệtNam là: Quao xẻ tua thuộc Họ Núc nác và Gạo lông len thuộc họ Gạo Hệ thực vậttại Vườn Quốc Gia Yordon có quan hệ nguồn gốc với hệ thực vật Malaixia,Inđônêsia thuộc họ Dầu, và hệ thực vật ấn Độ- Miến Điện họ Tử vi, họ Bàng Cóquan hệ gần gũi với hệ thực vật cận nhiệt đới

Vườn Quốc gia Hoàng Liên: tại đây các nhà khoa học đã phát hiện được

2.024 loài thực vật bậc cao, thuộc 200 họ, có 66 loài trong Sách đỏ Việt Nam, trong

đó cây thuốc chiếm khoảng 700 loài Đặc biệt cây Hoàng liên chân gà – một câythuốc quý, mọc tự nhiên đã được Sách đỏ Việt Nam năm 1996 và 2007 xếp vàohạng rất nguy cấp nhưng vẫn tiếp tục bị khai thác và người ta vẫn thấy chúng đượcbày bán ở chợ Sa Pa

Vườn Quốc Gia Ba Bể có 1268 loài thực vật bậc cao, trong đó có 26 loài

được ghi tên trong sách đỏ Việt nam và Thế giới, các loài cây gỗ quí, hiếm nhưĐinh, Nghiến, Lim, Trúc dây Trong đó Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba

Bể thường mọc tại các vách đá, thân của chúng thả mành mành xuống hồ tạo nênnhững bức mành xung quanh hồ Đây là khu vực được các nhà khoa học trong vàngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài Lan khôngchỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á Ở đây có 182 loài Lan, 1

số loài Lan là đặc hữu chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này

Vườn Quốc Gia Ba Vì có khoảng 1262 loài thực vật gồm các loài cây quý

hiếm cho gỗ và loài cây đặc hữu Ba Vì Năm 1990, Học viện Quân y 103 đã điều traphát hiện được 169 loài cây thuốc, phân thành 28 nhóm có tác dụng chữa bệnh.Tiếp đó, năm 1992, Trường Đại Học Dược Hà nội qua điều tra đã phát hiện được

250 cây làm thuốc chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau, nhiều loài câythuốc điển hình như Hoa tiên, Huyết đằng, Bát giác tiên, Râu hùm, Hoàng đằng, Củdờm, cây Thông đỏ…

Trang 4

Vườn Quốc Gia Tam đảo đã lập được Danh mục 64 loài thực vật quý hiếm cần

được bảo vệ và Danh mục 42 cây thuốc đặc hữu (phần lớn là những cây thuốc quýhiếm)

Gần đây các nhà khoa học đã phát hiện được gần 613 loài thực vật thuộc 308 chi,

121 họ, trong số này có 361 loài cây làm thuốc, Cây làm thuốc điển hình như: Bakích, Hoàng đằng, Chân chim, Cốt toái bổ, Vú hương, Quế, Trầm hương, Khôi tía,

Sa nhân, Sa nhân quả to, Chân chim núi, Kim ngân, Cẩu tích, Na rừng, Củ mài, Lõitiền, Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Bẩy lá một hoa, Bách bộ, Khúc khắc…

Vườn Quốc Gia Bạch Mã có tới 1406 loài thực vật, nhiều nhất là cây làm

thuốc (338 loài), cây cho gỗ (120 loài), cây ăn quả (22 loài), cây cho tinh dầu (33loài), hoa cây cảnh (35 loài), cây có sợi (26 loài).Nhiều cây thuốc quý hiếm như Alợi, Đỉnh tùng, Sa mộc, Bảy lá một hoa, Thông tre, Kim tuyến, Lá khôi, Ô dượcnam, Thổ phục linh, Vàng đắng, Ba gạc lá nhỏ, Cúc mai đã được ghi vào sách đỏViệt nam

Vườn Quốc gia Cát Bà: là khu rừng nguyên sinh có cả một hệ thống động

vật và thực vật rất quý hiếm Vườn có 620 loài thực vật với hàng trăm loài làm dượcliệu quý và hàng trăm loài động vật làm thuốc trong đó có cả các loài Voọc, Hươu,Mèo, Cầy hương, loài gặm nhấm, Dơi, Chim, Ong rừng tự nhiên Bà STENKE,Giám đốc Dự án bảo tồn Vườn Quốc Gia Cát Bà cho rằng: Đây là vùng ưu tiên bảotồn đa dạng sinh học không chỉ ở quy mô quốc gia, mà còn có thể mở rộng khu bảotồn biển của Vườn Quốc Gia Cát Bà ra phạm vi rộng lớn hơn

Vườn Quốc gia Cát tiên có thảm thực vật vô cùng phong phú, đã xác định

được 1.610 loài thực vật, gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, thựcvật phụ sinh, ký sinh Trong số này có nhiều loại cây thuốc quý hiếm Có nhiều cây

cổ thụ, cây ở độ tuổi 1.000 năm, có động vật làm thuốc như các loài thú, loài chim,linh trưởng, bò sát

3 Phân loại cây thuốc

a Phân loại theo tác dụng và độc tính của thuốc

Thuốc thượng phẩm là loại thuốc có tác dụng bổ dưỡng, không có độc gồm

120 vị như nhân sâm Sa sâm, cam thảo, thạch hộc, ba kích thiên, hoàng kỳ, cẩu kỷ,

a giao Thuốc trung phẩm là loại thuốc vừa có tác dụng bổ hư và tri bệnh có độc

Trang 5

hoặc có độc gồm 120 vị như can khương, ma hoàng, đương quy, thược dược, miếtgiáp… Thuốc hạ phẩm chuyên trị bệnh, phần lớn có độc, không được uống lâugồm 125 vị như phụ tử, bán hạ, đại hoàng, cam toại…

b Phân loại thuốc theo thuộc tính tự nhiên: Là phân loại theo cỏ hoang,loại dây leo, loại ngũ cốc, loại rau quả, …

c Phân loại theo tạng phủ kinh lạc

Sách tạng phủ tiêu bản dược thức (Trương nguyễn Tố) lấy tạng phủ làmcương lĩnh và bệnh lý làm mục sắp xếp thuốc theo bệnh lý Sách Bản Thảo PhânKinh thì lấy kinh lọc làm cương lấy dược phẩm làm mục, mỗi loại mục lại chia racác loại bổ, hòa, công, tán, hàn, nhiệt Sách Dược Phẩm Vâng Yến của Hải ThượngLão Ông chia theo bộ: bộ hỏa gồm nhục quế, phụ tử, ô đầu… bộ mộc gồm đươngquy, tân giao, câu đằng… bộ thổ gồm bạch truật, bạch linh, cam thảo… bộ kim gồmnhân sâm, sa sâm, hoàng kỳ… bộ thủy gồm sinh địa ,thục địa ,lộc nhung, hà thủ ô

d phân loại theo tác dụng của thuốc

Thuốc giải biểu (ma hoàng, quế chi, tô diệp…); Thuốc giải cảm phong hàn(bạc hà, tam điệp, cát căn, sài hồ… ); Thuốc giải cảm phong nhiệt, thuốc thanhnhiệt (thạch cao, tri mẫu, lô căn…); Thuốc lợi thấp (phục linh, trư linh, ý dĩ, đằngtâm ); Thuốc tiêu thực (sơn tra, mạch nha, thần khúc ) ; Thuốc cầm máu (đại kế,tiểu kế, bồ hoàng); Thuốc an thần (chu sa, long cố,viên chi, linh chi )

4 Thành phần hóa học

4.1 Xơ thực vật

Xơ thực vật bao gồm những chất thiên nhiên do thành các tế bào thực vật tạo

ra hầu hết là các chuỗi dài các chất cao phân tử khác nhau như cellulose, cellulose, pectin, mucilage (chất nhầy), lignin, gomme (gôm)… Chất gôm như nhựamận, nhựa đào Chất nhầy như sâm bố chính, bạch cập; pectin như cùi bưởi, ổi, khế,

hemi-là những dẫn xuất của acid uronic Tính chất chung của xơ thực vật hemi-là thườngkhông được hấp thụ, và có thể hợp với nước tạo thành chất đông (gel) lỏng, sánhhoặc đạc tùy theo từng loại, tính chất hiện nay được biết khá rõ

Trước đây người ta coi chất xơ thực vật không giữ vai trò gì quan trọng đốivới con người Nhưng gần đây, xuất phát từ nhận xét rằng từ thời cổ xưa dân châu

Âu chỉ sống bằng sản phẩm nông nghiệp Mỗi ngày những rau quả đã cung cấp cho

họ 60-100g xơ thực vật Nhưng khoảng hai thế kỷ trở lại đây nền công nghiệp thực

Trang 6

phẩm đã hoàn toàn thay đổi cách chế biến thức ăn, và mỗi ngày người dân chỉ còn

ăn vào không quá 20g xơ thực vật Và nếu so sánh thực phẩm của những người dân

ở các nước đang phát triển (trong đó ngũ cốc là chủ yếu ) thì người ta nhận thấy cácbệnh thướng gặp ở phương tây còn được mệnh danh là các nước văn minh như táobón, đái đường, béo phì, choles-terol cao, xơ vữa động mạch, viên kết ruột…rấthiếm thấy ở các nước chậm phát triển mà thức ăn rất giàu xơ thực vật Và người tathấy rằng xơ thực vật có một số tác dụng sau:

Xơ thực vật chống táo bón: xơ thực vật ăn vào giữ nước làm tăng khối lượngphân trong ruột, do đó kích thích sự co bóp của ruột và thải phân ra dễ dàng Tínhnhận hoạt, làm dịu niêm mạc còn đung chũa ho, cầm máu

Xơ thực vật giảm béo phì: những chất đông do xơ thực vật tạo thành giữnhững thức ăn trong các mắt lưới và giúp cho những thức ăn đó được tiêu thụ từ từvào máu, bảo đảm sự hấp thụ có chừng mực Do đó dẫn đến hai kết quả Hàm lượngđường trong máu khỏi tăng lên đột ngột Chất insulin vì vậy khỏi bị tê kiệt ra khỏi

bị tiết ra một cách đột ngột với lượng lớn Vì vậy, không làm cho lượng đườngđược tích trữ dưới dạng mỡ trong máu (hàm lượng chỉ xảy ra khi lượng đườngchuyển tới quá lớn) Hàm lượng cholesterrol trong máu hạ xuống Vì xơ thực vậtgữi những muối mật lại, và không cho số muối mật này trở lui vào máu Cơ thể do

đó phải tiếp tục sản xuất ra muối mật để bù lại số muối mật đã tiêu thụ hàng ngày

Mà nguyên liệu ban đầu đẻ chế biến muối mật là cholesterol trong máu Do đó xơthực vật gián tiếp làm hạ cholesterol trong máu Xơ thực vật trở thành một thứthuốc cần thiết hàng ngày

4.2 Acid hữu cơ

Acid hữu cơ rất phổ biến trong các bộ phận của cây như quả (chanh, cam,quýt, bưởi, me, mơ, sơn trà), trong lá( như lá chua me, lá sấu, lá bông) Những acidhữu cơ thường gặp như acid focmic, acid xittric, acid malic, acid tactric, acid axetic,acid oxalic… Những acid này có khi có thể tự do làm vị thuốc có vị chua nhưngcũng có khi ở dưới dạng muối như canxi oxalat(có rất nhiều ở cây) Một số acid đặcbiệt như acid xinamic (có trong quế), acid benzoic trong an tức hương(cánh kiếntrắng), acid aconitic trong phụ tử, ô đầu Tác dụng của những acid này không giốngnhau thường những loại acid benzoic có tác dụng giải nhiệt (mát) hay nhuận tràng(me), giúp sự tiêu hóa như sơn trà

Trang 7

4.3 Dầu béo

Dầu béo: những vị thuốc có chất dầu béo như hạnh nhân, đòa nhân, thầu dầu,

ba đậu, đại phong tử, máu chó, vừng Những vị thuốc có chất dầu béo, khi ta ép nóvào tờ giấy thì thấy trên tờ giấy có một vết mờ để lâu hay hơ nóng cũng không mấtđi( khác với tinh dầu)

Tác dụng của chất béo nhiều mặt: khi thì là chất bồi dưỡng như dầu lạc, dầuvừng, khi thì la thuốc tẩy như thầu dầu, dầu ba đậu, nhưng có khi là thuốc chữabệnh ngoài da như dầu máu chó, đại phong tử, hay dầu vừng dùng chế thuốc caodán nhọt

4.4 Tinh dầu

Tinh dầu là những chất béo làm cho vị thuốc có mùi thơm hay hắc những vị thuốc

có tinh dầu, khi ép giữa tờ giấy cũng để lại một vệt mơ nhưng để lâu hoặc hơ nòng thì bay mất Tinh dầu phần lớn là những thuộc chất của tecpen, nhưng cũng có khi không phải như tinh dầu trong xạ hương Thuốc có tinh đâu thường có tác dụng sát trùng, trị bệnh đường hô hấp (quế) hay giúp sự tiêu hóa, làm cho năn ngon miệng chống tiêu, chữa đau bụng, nôn nữa, hoặc có khi dùng chữa cảm sốt, nhức đầu

Những thuốc chứa tinh dầu thường dùng bột, hoặc sắc thì không nên sắc lâu,tinh dầu sẽ bay đi mất Hay nếu sắc chung với những vị thuốc khác thì cho vào saucùng, khi sắp được thuốc mới cho vào Đôi khi những vị thuốc có tinh dầu dùng đểxong giải cảm như đại bí, lá bưởi, long não người ta đun nồi nước cho sôi cho cácthứ lá đó vào rồi chùm chăn lên để hứng lấy những hơi tinh dầu bốc lên

4.5 Chất nhựa

Chất nhựa như nhựa thông, a ngùy, an tức hương, một dược là những chấtđược tạo thành do sự oxy hóa các tinh dầu Có thứ nhựa còn lẫn cả tinh dầu chưa bịoxy hóa, người ta gọi là nhựa dầu Có những thứ nhựa chứa acid thơm hay an tứchương, (có acid benzoic, xinamic) Những thuốc chất có chất nhựa không tan trongnước, cho nên ta không dùng dưới dạng thuốc sắc mà dùng dưới dạng rượu thuốc(ngâm trong rượu) Những vị thuốc có chất nhựa thường có tác dụng sát trùngđường hô hấp, đường tiểu tiện hay chữa giun

4.6 Những chất glucozit hay heterozit

Trang 8

Những chất glucozit hay heterozit rất hay gặp trong các vị thuốc Nhưng cơbản thân glucozit là những chât không đơn thần Khi đun các chất glucozit với nướcacid loãng hay kiềm loãng, thường glucozit tách ra làm hai phần, phần chất đường(glucoza, ramnora ) và một phần không phải là đường (gọi là genin) Tùy theo phầnkhông đường này có tác dụng của vị thuốc có, glucozit lại chia thành nhiều chấtkhác nhau nũa Ta có thể kể một số glucozit chính sau đây:

a) Glucozit chữa tim có trong vị trúc đào, thông thiên, hạt đay, loại vạn niênthanh Những vị thuốc có chứa glucozit tim có vị rất đắng, thường rất độc

b) Glucozit đắng là những chất có vị đắng mà không phải là ancaloit Ta thấychất đắng trong bồ công anh, trong lòng đởm thảo, thạch xương bổ, trong vỏ quýt.Những vị thuốc có chất đắng thường làm cho ăn ngon miệng, chóng tiêu, bổ dạ dày

c) Saponin hay Saponoit là những glucozit có tính chất gây bọt, phá huyết.những vị thuốc có chất saponin khi tán nhỏ, lắc với một nước thì sẽ gây rất nhiềubọt như bọt xà phòng trong ống thí nghiệm Bọt này rất lâu mới tan Những vịthuốc có saponin rất nhiều như bồ kết, viễn chí, cact cành, cam thảo, tri mẫu…Thuốc có chứa saponin thường là những thuốc chữa ho, long đờm, thông tiểu …

d) Antraglucozit là những chất glucozit có tính chất kích thích sự co bóp củaruột Khi dùng liều nhỏ thì nó làm cho ăn ngon cơm, tiêu hóa dễ dàng; liều vừa phảithì nhuận tràng, liều cao hơn nữa thì gây tẩy mạnh Khi dụng ngoài da , thì nhữngchất này có tác dụng sát trùng, thường dùng chữa hắc lào, chống một số bệnh ngoại

da Những vị thuốc cí antraglucozit thường gặp như đại hoàng phan tả diệp, lô hôi,chút chít, muồng trâu, thảo quyết minh…

e) chất tanin cũng là một loại glucozit có vị chát và chua Nhưng tác dụngcủa nó thì ngược lại với antraglucozit Uống những thuốc có tanin thì thường gâytáo bón dùng chữa những trường hợp đau bụng đi ỉa lỏng Những thuốc có tanin haygặp như bội tử, búp ổi, búp sim, củ nâu, hạt vải Ngoài công dụng cầm ỉa lỏng,tanin còn có tác dụng cầm máu và bổ Trong hạt sen, kas sen, kim anh, lá chè đều cótanin

Những vị thuốc có tanin khi dùng dao sắt hay nấu sắc bằng nồi sắt hay nồigang thì sẽ có màu đen Cho nên một số vị thuốc có chất tanin thường được ông chadặn là không được dùng dao sắt mà thái thuốc Còn việc sắc thuốc thì nhất thiết phải

Trang 9

dùng ấm đất rôi Nếu không có ấm đất thì dùng nôi nhôm, nồi đồng, không thể dùngnồi sắt được.

g) Flavon là những chất glucozit có màu sắc Flavon có màu vàng, antoxyan

có màu tím (nếu môi trường trung tính) hay đỏ (môi trường acid hoặc xanh (nếumôi trướng kiềm) Những chất này có liên quan chặt chẽ với chất tanin Ta thườngthấy chất flavon trong hoa hòe, trong vỏ cam, bồ hoàng, hoàng cầm, chi tử Mộtchất flavon rất quý gọi là ruyin hay rutozit có trong hoa hòe có tác dụng giảm huyết

áp, giúp cho cơ thể chống lại nhũng trường hợp đứt mạch máu nhỏ khi huyết áptăng cao

4.7 Antoxyan

Antoxyan có trong vỏ hạt đậu đên, trong nhiều loại hoa như hoa dâm bụt, hoaphù dung Vài trò của antoxyan hiện nay chưa xác định rõ rệt về mặt điều trị.Ancaloit đóng một vai trò quan trọng trong điều trị Nó còn đòng vài trò quan trọngtrong nông nghiện vì có thể dùng làm thuốc trừ sâu

Ancaloit là những chất hưu cơ, có tính chất kiềm tìm thấy trong thực vật.Ancaloit thường có vị rất đắng và có một số tính chất chung làm cho chúng ta có thểphát hiện nó trong câu một cách tương đối dễ dàng Ancaloit cũng thường có tácdụng rất mạnh trên cơ thể và thường dùng với liều rất nhỏ, nếu dùng liều quá cao cóthể ngộ độc

Cũng như các chất khác thường thấy trong cây, tỷ lệ ancoloit thay đổi tùytheo thời kỳ thu hái, cách chế biến, do dó có tác dụng thay đổi Vậy cần chú ý thuhái chế biến cho đúng phép Những vị thuốc có chứa ancoloit rât nhiều có kể cảphụ tử, ô đầu, cà độc dược, ma hoàng, ớt, mã tiền, hoàng nàn, thuốc phiện…

4.8 Vitamin hay sinh tố

Vitamin hay sinh tố là những hợp chất tác dụng trên cơ thể với liều rất nhỏ,nhưng thiếu nó thì phát sinh nhiều bệnh phức tạp Tùy theo thứ tự A,B, C, nhưngsau trong mỗi thứ vitamin người ta nhận thấy nhiều thứ khác cho nên phải thên con

số vào chữ cái ví dụ B1 ,b2, B3….hoặc có khi người ta dùng tác dụng chữa bệnhchủ yếu của vitamin đặt tên ví dụ vitantm antiberiberic (chữa phù bằng vitamin B1),vitamin antiscobutic (vitamin C) Hiện nay người ta đã tổng hợp được nhiều thứvitamin, khỏi phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Mặc dầu vitamin cần thiết cho cơ thểnhưng dùng quá nhiều có thể phát sinh ra bệnh thừa vitamin

Trang 10

4.9 Các chất nội tiết tố

Các chất nội tiết tố thướng gặp trong các vị thuốc nguồn gốc động vật như tử

hà sa, kê nội kim, lộc nhung, hải cẩu thận…Cơ thể cũng chỉ cần những liều rất nhỏcủa nội tiết tố Dùng quá liều cũng sẽ gây tai biến rối loạn

5 Tình hình khai thác cây thuốc

Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh học rất đa dạng và phong phú, được xếpthứ 16 trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới; trong đó cóhàng ngàn loại cây, cỏ được dùng làm thuốc chữa bệnh cùng nhiều bài thuốc dângian rất đặc biệt Tuy nhiên, do khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch bảo tồn, cùng vớiviệc xuất lậu cây thuốc tràn lan nên nguồn dược liệu thiên nhiên quý nước ta đangngày càng cạn kiệt Tốc độ khai thác luôn luôn lớn hơn tốc độ tái sinh, do đó khảnăng cung cấp dược liệu giảm sút rõ rệt so với trước đây, khiến cho cây thuốc bịkiệt quệ, làm thu hẹp dần diện tích phân bố của nhiều cây thuốc

Theo báo cáo của Hội Đông y Cao Bằng ngày 10/6/2010 (Hội thảo về “Thựctrạng khai thác, giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn Tài nguyên câythuốc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”) và ngày 24-25/3/2011 (Hội thảo về “Bảo tồn vàPhát triển bền vững nguồn Tài nguyên cây thuốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc ViệtNam”), tại các cửa khẩu Tà Lùng, Sóc Giang, Trà Lĩnh… mỗi ngày có hàng chụctấn dược liệu các loại được đưa qua biên giới Mỗi năm ước tính ít nhất có khoảng300.000 đến 500.000 tấn dược liệu bị khai thác để bán sang Trung Quốc Chỉ tínhtrong 20 năm qua, số dược liệu của tỉnh Cao Bằng bị bán qua biên giới ít nhấtkhoảng trên dưới 10 triệu tấn, với giá trị kinh tế khoảng vài nghìn tỷ đồng Trong

đó, những cây thuốc bị khai thác nhiều trong mấy năm gần đây là Sói rừng (giá năm

2010 là 1.000đ/kg tươi cả gốc, năm 2011 do khan hiếm nên giá bán từ 3.500đ/kg tươi), Bòng bong, Si đỏ, Na rừng, Cỏ nhung, vv

Trang 11

3.000-Tại các huyện Văn Quan, Bắc Sơn, Bình Gia, Lộc Bình, Tràng Định… (LạngSơn) người dân đua nhau đi thu hái một loại cây mọc trên rừng màu xanh sẫm, hìnhdáng giống như cành Si nhưng mảnh dẻ hơn, gọi là Chè dại, hoặc Duối dại để báncho khách Trung Quốc đặt mua, với giá 1.000 đồng/kg khô, còn cả rễ Ở thị trấnĐiềm He (huyện Văn Quan), trung bình mỗi ngày có tới 60 tấn cây Chè dại bị nhổbán Đây là một loại cây thuốc quý, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, có thể chữacác bệnh đường ruột và rửa vết thương

Ông Ngô Quốc Luật, Viện Dược liệu, cho biết, ngay cả ở các khu bảo tồnthiên nhiên, tình trạng khai thác cây thuốc cũng rất tùy tiện Chẳng hạn, tại khu bảotồn thiên nhiên Bình Châu, Phước Bửu (Bà Rịa - Vũng Tàu), từ năm 1998, hằngngày có khoảng 5-10 người tự do vào rừng lấy dây ký ninh (trị sốt rét) và vậnchuyển ra khỏi rừng một cách công khai với số lượng khoảng 80-100 kg dâytươi/người Tại khu bảo tồn thiên nhiên Ta Kou (Bình Thuận), thần xạ (một dượcliệu có công dụng chính là trị viêm xoang) bị khai thác với số lượng lớn, bán côngkhai cho khách thập phương

Các loại cây thuốc được khai thác dưới nhiều hình thức, tùy thuộc vào bộphận thu mua, như đào lấy củ, nhổ cả gốc rễ, có khi lấy toàn bộ kể cả khi cây đang

có hoa, nên cây thuốc không còn khả năng phát tán để bảo tồn tự nhiên Trước đâycác lương y có thể hái được nguyên liệu làm thuốc xung quanh nhà, cây thuốc quýmọc rất nhiều, nhưng đến nay tìm khắp vùng, cả rừng cũng chẳng còn nữa

II Các nhóm thuốc chữa bệnh

Theo kết quả điều tra, nghiên cứu đã công bố của viện dược liệu nước ta trên

1800 loài cây thuốc, chủ yếu là mọc tự nhiên Nhiều loài cây đã được sử dụng cáchđây đã được sử dụng cách đây mấy nghìn năm để chữa bệnh, làm thuốc bổ Hiệnnay các loài cây đã và đang nghiên cứu thành phần các chất để chế ra các loại thuốc

có nguồn gốc từ thực vật, sử dụng an toàn có hiệu quả Các loại làm thuốc bổ điểnhình như: tam thất, nhân sâm, ba kích, ngũ gia bì, hà thủ ô, hoài sơn ý dĩ…

 Các loại cây thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa: ổi, sim, măng cụt, trầmhương, kha tử, gưng, đơn đỏ, vôi, đùm đũm …

 Các loại cây chữa bệnh dạ dày: lá khôi, dạ cẩm, nghệ…

 Các loại có tác dụng cầm máu: cỏ nhọ nồi, nghể, cỏ nến, long nha thảo,trắc bách diệp, tam thất, mào gà, thiên thảo, vạn tuế…

Trang 12

 Các loại chữa tê thất: cẩu tích, cốt toaus bổ, dây đau xương, hàm ếch, hythiêm, sung, thiên niên kiện, chia vôi, lá lốt, gối hạc, vuốt hùm, chay…

 Các loại chữa rắn cắn: cây bời lời nhớt, mỏ quạ, cà dại hoa trắng, bông ối,bát giác liên, phèn đen, xoan nhừ…

 Các loại chữa tai mũi họng: cúc táo, tế tân, xương rồng, đơn chau chấu,mía dò, củ gió, sao đen…

 Các loại chữa đau tim: mướp sát, sừng dê, thông thiên, vạn niên thanh,trúc đào…

 Các loại chữa bệnh cảm cúm, sôt: bạc hà, rau má, tía tô, thường sơn, cốixay, đài bi, dây ninh ký, thạch hộc, xuyên khung, gắm, hườn nhu, bồ kết, hồng bì,

Trên đây mới giới thiệu đại diện một số loài dùng chữa một số nhóm bệnh,còn rất nhiều loại cây dùng để chữa bệnh khác nữa Nhìn chung các bộ phận sửdụng cũng khác nhau có thể là thân, rể, lá, hoa, quả, hay túy từng loài, cũng có loài

sử dụng tất cả các bộ phận củ cây, để chữa bệnh, cách thu hoạch, sao tẩm khác nhaucũng có công dụng khác nhau

III Một số cây thuốc quý

3.1 Nhân sâm

Nhân sâm thuộc họ Ngũ gia bì (araliaceae) Cây thân thảo sống nhiều năm.Đông y coi là vị thuốc hàng đầu trong các vị thuốc bổ theo thứ tự Sâm, Nhung, Quế,Phụ Chữ ginseng là phiên âm của chữ nhân sâm, thuốc bổ có rễ giống hình người,chữ panax là từ gốc Hy lạp: Pan là tất cả; Acox là chữ ý nói vị thuốc chữa được mọibệnh Theo sách cổ đông y, Nhân sâm bổ cả 5 tạng tâm, can, tỳ, phế, thận Trướckia Nhân sâm có xuất xứ từ Triều tiên, nay các nước Nga, Mỹ, Nhật, Trung quốcđều trồng Nhân sâm đặc biệt ở Trung Quốc có năm sản lượng lên tới 750 tấn củkhô Thị trường Việt Nam hiện có bán rộng rãi Nhân sâm, nhiều nhất là Nhân sâmHàn Quốc và Trung Quốc

Trang 13

III.2 Nhân sâm Việt Nam

Tên khác: Sâm K5, Sâm Ngọc linh, Panax vietnamensis Hà et Gusk, thuộc họNgũ gia bì (araliaceae), Cây thân thảo, sống nhiều năm do DS Đào Kim Long,Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Châu Giang phát hiện đầu tiên tại rừng Ngọc Linh (KonTum) năm 1973 Đến năm 1985, Hà và Grushvisky đã nghiên cứu và đặt tên nhưtrên Theo Nguyễn Thới Nhâm (1990) và Nguyễn Minh Đức (1994) thì xét theo cáchoạt chất tiêu biểu của chi Panax: những arasaponin đặc biệt là Damaran saponin vàOcotillol saponin thì Sâm Ngọc Linh có hàm lượng cao hơn Nhân sâm Mỹ, TrungQuốc và nhất là đến nay người ta chưa tìm thấy Ocotillol saponin trong Nhân sâmTriều Tiên Điều đó cho thấy chất lượng của Sâm Ngọc Linh ưu việt hơn nhiều loạiNhân sâm trên thế giới Nhiều tỉnh phía Nam đang tích cực khôi phục Sâm NgọcLinh và đẩy mạnh trồng trọt để có sản lượng cao và chiếm thị phần trên thế giới

3.3 Tam thất

Tên khác: Sâm tam thất, Nhân sâm Tam thất, Kim bất hoán, Panaxnotoginseng Burk, họ Ngũ gia bì (araliaceae), cây thân thảo, sống lâu năm; gọiNhân sâm Tam thất vì nó bổ như Nhân sâm; gọi Kim bất hoán vì là vị thuốc quý,vàng không đổi, còn chữ Tam thất có thể hiểu là lá kép có từ 3 đến 7 lá chét hoặc 3năm ra hoa, 7 năm thu hoạch mới được củ tốt Theo các công trình nghiên cứu vàkinh nghiệm nhân dân, Tam thất là vị thuốc bổ không kém gì Nhân sâm, dùng nhiềuTam thất không bị tăng huyết áp như khi dùng nhiều Nhân sâm Tam thất lại có tácdụng cầm máu và tạo huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, phụ nữ sau sinh đẻ mausạch kinh, người bị đòn đau tổn thương mau bình phục

3.4 Cây chân chim

Tên khác: Nam sâm, Sâm nam, Ngũ gia bì chân chim

Schefflera octophylla Lour thuộc họ Ngũ gia bì (araliaceae) Cây thân gỗ cao

từ 2m đến 8m, có lá kép hình chân vịt mọc so le trên cành; lá và rễ cây chân chim

có tác dụng tăng lực, kích thích thần kinh và hạ đường huyết (Nguyễn Văn Đàn vàcộng sự, Kỷ yếu công trình nghiên cứu Viện Dược liệu 1961-1971) Nhân dânthường lấy rễ về phơi khô, sắc uống làm thuốc bổ tăng lực và thông tiểu tiện

Ngày đăng: 11/08/2014, 17:21

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w