Ý nghĩa về mặt khoa học - Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng các dân tộc tại xã Chế Cu Nha, xã Chế Tạo của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái - Xác định đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
HỜ A BÌNH
NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA NGƯỜI H'MÔNG HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Sinh Thái bảo tồn
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
HỜ A BÌNH
NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA NGƯỜI H'MÔNG HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Sinh Thái bảo tồn Lớp : K47 - STBTĐDSH
Giảng viên hướng dẫn: TS Hồ Ngọc Sơn
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người H'mông tại 2 xã Chế Cu Nha và xã Chế Tạo huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái” là công trình nghiên cứu của
bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy T.S Hồ Ngọc Sơn Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khỏa Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có
gì sai sót thì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Thái Nguyên, tháng năm 2019
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
TS Hồ Ngọc Sơn Hờ A Bình
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập và rèn luyện tại trường thì thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và quan trọng cho mỗi sinh viên Thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu, tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất, là cơ hội cho sinh viên tự hoàn thiện kiến thức của bản thân đã được học tập tại trường trong thời gian qua Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ
nhiệm Khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài “Nghiên
cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người H'mông tại huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái ”.Tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều tập thể
và cá nhân trong và ngoài nhà trường Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm
ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói chung và Khoa Lâm nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt những năm qua Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn người đã tận tình bảo ban hướng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của chính quyền tại địa phương và người dân tại 2 xã Chế Cu Nha và Chế Tạo đã huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Vì thời gian thực tập ngắn, trình độ bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
để bổ sung cho đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2019
Sinh viên
Hờ A Bình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới 4
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 6
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 8
2.3.1 Địa lý tự nhiên 8
2.3.2 Địa hình địa thế 8
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 10
3.3 Nội dung nghiên cứu 10
3.4 Phương pháp nghiên cứu 10
3.4.1 Tiêu chí chọn xã 10
3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa 12
3.4.3 Phương pháp định danh tên cây 14
3.4.4 Phương pháp thu thập mẫu 14
3.4.5 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 15
3.4.6 Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp 16
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
4.1 Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc 17
Trang 64.1.1 Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc 19
4.1.2 Đa dạng về môi trường sống của cây thuốc 20
4.1.3 Đa dạng về bộ phận sử dụng của nguồn cây thuốc 21
4.1.4 Đa dạng về cách chế biến cây thuốc 23
4.1.5 Đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc 23
4.3 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn 25
4.3 Hiện trạng khai thác cây thuốc 26
4.4 Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc 27
4.4.1 Giải pháp bảo tồn 27
4.4.2 Phát triển tài nguyên cây thuốc 27
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Tồn tại 29
5.3 Đề nghị 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 1 36
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Số loài cây thuốc đã phát hiện được ở khu vực nghiên cứu 17
Bảng 4.2 Số lượng họ, loài, loài thuộc 2 lớp trong ngành Ngọc lan 17
Bảng 4.4 Số họ được sử dụng nhiều nhất trong các họ 19
Bảng 4.5 Đa dạng về dạng sống 19
Bảng 4.6 Đa dạng về môi trường sống của các loài cây thuốc 21
Bảng 4.7 Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc 21
Bảng 4.8 Đa dạng tần số các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc 22
Bảng 4.9 Các nhóm bệnh cụ thể 24
Bảng 4.10 Danh mục cây thuốc thuộc diện cần bảo vệ 25
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài 15 Hình 4.1 Một số loài cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của cộng đồng dân tộc H'mông 18
Trang 9Riêng về hệ thực vật, theo ước tính của nhà khoa học trong nước Việt Nam có khoảng 12000 loài thực vật bậc cao có mạch, 600 loài nấm, 800 loàirêu và hàng trăm loài tảo lớn Trong số này, mới có 10.500 loài được mô
tả (1996) riêng nhóm thực vật bậc cao có mạch đã có tới 10.073 loài thuộc 2.835 chi, 385 họ Thống kê về các nhóm cây cho biết có 749 loài cho gỗ và củi, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 600 loài có tannin, 260 loài cho dầu béo, 160 loài cho tinh dầu, 70 loài cho nhựa thơm và vài trăm loài khác là nhóm cây lương thực, thực phẩm Riêng cây thuốc, theo kết quả 20 năm điều tra của viện Dược liệu công bố năm 1985, ở Việt Nam có 1.863 loài phân bố trong 1.033 chi, 236 họ của 11 ngành thực vật Con số này đến nay đã được Viện Dược liệu bổ sung lên hơn 2.000 loài Võ Văn Chi (1997) đã tập hợp trong bộ từ điển cây thuốc của mình tới 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc ở Việt Nam
Như vậy, mặc dù thống kê chưa đầy đủ, song cũng có cơ sở để khẳng định rằng cây làm thuốc chiếm tỉ lệ rất cao so với các nhóm cây có ích khác trong nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam Tính phong phú này còn thể hiện rõ nét ở sự phân bố rộng rãi của cây thuốc Cây làm thuốc chính là những loài cây cỏ thường thấy trong vườn nhà, quanh nơi ở cũng nhưng trên các quần thể thực vật hoang dã ở đồi núi, đồng cỏ và đặc biệt trong các quần
Trang 10thể rừng từ ngàn xưa, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã biết sử dụng nguồn cây cỏ có sẵn để làm thuốc phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nền y học dân tộc đã hình thành và phát triển thành một nên y học thành văn với kinh nghiệm dùng cây thuốc trong nhân dân ngày càng phong phú
Ngày nay, trên thế giới đang có xu thế quan tâm trở lại với việc dùng các thuốc từ thảo mộc và hợp chất thiên nhiên để phòng chữa bệnh Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhu cầu dùng thuốc cổ truyền, thuốc từ thảo mộc cũng ngày càng tăng Người H’mông là một dân tộc có dân số tương đối đông Ở Việt Nam, người H’mông có tính đến năm 01/04/2009 là 1.068.189 chiếm khoảng 11.2443% so với dân số Việt Nam[18]
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc H’mông là một trong những dân tộc ít bị mai một hơn về bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay, để phát triển mà không bị hoà tan, mất bản sắc, thì việc bảo tồn văn hoá dân tộc đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, tâm huyết, bền bỉ, lâu dài Có như thế những giá trị văn hoá sẽ mãi mãi được gìn giữ và phát huy Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc khai thác và phát triển nguồn dược liệu trong nước là việc làm cần thiết Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Chế Cu Nha và xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, trong đó có dân tộc H'mông họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quýbáu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc H'mông Xuấtphát từ những yêu cầu thực tế trên
nghiên cứu " Nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người H'mông tại huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái" là rất cần thiết
Trang 11- Xác định xem người H'mông họ sử dụng các loài cây thuốc gì để chữa những bệnh gồm nhiều loài hai một loài
- Xác định xem họ sử những bộ phận nào của cây, thành phần nào của cây dùng cho các bài thuốc chữa bệnh của họ
- Xác định được mức độ đa dạng của cây dược liệu có ở địa phương nghiên cứu
- Xác định nơi sống của loài cây dược liệu là trên địa hình thấp hay là cao
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở khu vực nghiên cứu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa về mặt khoa học
- Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng các dân tộc tại xã Chế Cu Nha, xã Chế Tạo của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao tại khu vực nghiên cứu
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng các dân tộc xã trong khu vực huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
- Qua việc điều tra có thểthấy được tầm quan trọng của cây thuốc từ đó
có thể nhân giống và bảo tồn các loài cây dược liệu quý hiếm và có nguy cơ
bị tuyệt chủng
- Những kết quả của đề tài là cơ sở để phát triển các ngành khoa học về giống cây rừng, giống cây trồng, công nghệ sau thu hoạch, dược liệu
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã
có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực khác nhau
như: “Nghiên cứu việc sử dụng truyền thống cây thuốc giữa các cộng đồng
của vùng Chhota Bhangal, phía Tây dãy Hymalaya”, theo nghiên cứu của
nhóm tác giả Sanjay Kr Uniyal, KN Singh, Pankaj Jamwal, Brij Lal năm
2006, đã tìm thấy 35 loài thực vật thường được người dân địa phương sử dụng
trong việc chữa các bệnh khác nhau [23] “Việc sử dụng cây thuốc của các
thầy lang ở Kancheepuram quận Tamil Nadu, Ấn Độ”, của nhóm tác giả
Chellaiah Muthu, Muniappan Ayyanar, Nagappan Raja, Savarimuthu Ignacimuthu năm 2006, đã tìm thấy 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau, các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa các bệnh về da, rắn độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh
[21] “Cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm dân tộc Yi, ở trung tâm Vân
Nam, Trung Quốc”, của các tác giả Chunlin Long, Sumei Li, Bo Long, Yana
Shi, Benxi Liu năm 2009, đã tìm thấy 116 loài cây thuốc thuộc 58 chi được người dân địa phương sử dụng trong việc điều trị các bệnh hoặc rối loạn khác nhau, đặc biệt là những bệnh liên quan đến chấn thương, rối loạn tiêu hóa và
cảm lạnh thông thường [18] “Cây thuốc được sử dụng bởi người Tây Tạng ở
Shangri-la, Vân Nam, Trung Quốc”, các tác giả Yanchun Liu, Zhiling Dao,
Chunyan Yang, Yitao Liu, Chunlin Dai năm 2009, đã ghi nhận và thu thập 68
Trang 13loài cây thuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa các bệnh khác nhau [24]
Harsha và cs (2002) nghiên cứu tri thức thực vật dân tộc tại huyện Uttara Kannada, bang Karnataka Ấn Độ [28] Kết quả cho thấy có 45 loài cây thuộc 26 họ được cộng đồng người Kunabis sử dụng làm thuốc Các loài được
sử dụng để chữa trị một số bệnh như sốt, ho, bệnh ngoài da, thấp khớp, rắn cắn, bệnh vàng da, kiết lỵ,
Parinitha và cs (2005) nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ [31] Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị
9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm Mười hai tuyên bố mới
về kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học
Muthu và cs (2006) nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi các thầy lang ở Kancheepuram, bang Tamil, Ấn độ [30] Kết quả cho thấy, những thầy lang sử dụng 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau Các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa trị các bệnh về da, rắn độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh
Uniyal và cs (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc của các bộ lạc ở khu vực phía Tây dãy Himalaya [33] Kết quả cho thấy, có 35 loài thực vật thường được sử dụng bởi người dân địa phương trong việc chữa các bệnh khác nhau Có đến 45% loài cây, người dân đã sử dụng phần dưới đất để làm thuốc
Sajem và Gosai (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của tộc người Jaintia ở Ấn độ [32] Kết quả cho thấy cộng đồng sử dụng 39 loài thuộc 27 họ và 35 chi Để trị nhiều loại bệnh, việc sử dụng các bộ phận của cây trên mặt đất chiếm tỷ lệ cao hơn (76,59%) so với các bộ phận dưới mặt đất (23,41%) Lá đã được sử dụng trong đa số các trường hợp (23 loài),
Trang 14tiếp theo là quả (4 loài) Tổng cộng có 30 loại bệnh đã được báo cáo được chữa khỏi bằng cách sử dụng 39 loài cây thuốc
Koushalya Nandan Singh (2013) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn độ [29] Kết quả ghi nhận có 86 loài thực vật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc về các họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae Hầu hết các loại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái cây
và dịch triết Trong số các bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử dụng phổ biến, tiếp theo là hoa
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên thuốc Đây là điều kiện thuận lợi để phát triểnnguồndượcliệu , cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng thảo dược tự nhiên
Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 – 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo” nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị nữa Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008) [25] Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị
và dược liệu
Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763 Tập “Nam bang
Trang 15thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [11]
Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 590 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê Trần Đức, 1997) [11]
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam Năm 1976, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã
cho ra đời cuốn sách “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”[7] Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” giới
thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới được phát hiện[7] Viện
dược liệu đã cho xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong nhiều năm, cuốn “Danh lục cây
thuốc miền Bắc Việt Nam”; “Danh lục cây thuốc Việt Nam”; “Atlas – Bản đồ cây thuốc”, đã thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc từ năm 1961
– 1972 ở miền Bắc là 1.114 loài, từ năm 1977 – 1985 ở miền Nam là 1.119 loài [7] Theo kết luận của Viện Dược liệu, trong quá trình thu thập và nghiên cứu về cây thuốc cho thấy, các cây thuốc hiện nay ở Việt Nam biết đến chủ yếu được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian và trong số trên 2000 loài và dưới loài cây thuốc có tới gần 90% cây thuốc là các cây mọc tự nhiên và được phân bố chủ yếu trong các quần thể rừng với trữ lượng lớn, khoảng 10% là cây thuốc được đem về trồng ngay tại nhà [23]
Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan
tâm tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian
gia truyền” của Âu Anh Khâm [7]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa bệnh” (2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên khoa” (2006) [2]
Trang 16Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm
Cư và cộng sự (2004) [7] khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông
ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả Trong nhóm này cây làm thuốc đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [26] đã xây dựng các mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia đình Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc không những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn đóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
2.3.Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1.Địa lý tự nhiên
Huyện Mù Cang Chải có diện tích tự nhiên là 1.199,08km2; phía Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai; phía tây giáp huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu; phía nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La; phía đông giáp huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Văn Yên tỉnh Yên Bái
Đỉnh núi cao nhất là đinh Lùng Cúng (xã Nậm Có) cao hơn 2.900 m Trước đây vùng núi Mù Cang Chải có rừng trùng điệp, bốn mùa xanh tốt, có nhiều loại gồ quý như sến, táu, pơ mu, trầm hương, dổi, thông
2.3.2 Địa hình địa thế
Ở đây có một hệ thống khe, suối khá phong phú Chạy dọc theo quốc lộ
32 là suối Nậm Kim bắt nguồn từ đinh Nả Háng Tâu (giáp Cao Phạ) chảy qua các xã Púng Luông, La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Chế Cu Nha, Mồ Dề Kim
Trang 17Nọi, Lao Chải, Khao Mang, Hồ Bốn xuống Than Uyên Đây là con suối dài
và lớn nhất huyện Suối Nậm Kim cung cấp nguồn nước lớn cho sản xuất, sinh hoạt Thời điểm năm 2017, trên dòng suối Nậm Kim có 04 công trình thủy điện hoà vào điện lưới quốc gia (thủy điện Khao Mang thượng, Khao Mang hạ công suất 54MW; thủy điện Hồ Bốn 18 MW; thủy điện Mường Kim 13,5 MW)
2.3.3 Khí hậu, thủy văn
Nằm khuất bên sườn tây của dãy Hoàng Liên Sơn, lại ở vị trí xa biển, khí hậu ở Mù Cang Chải có những đặc điểm riêng biệt của khí hậu vùng Tây Bắc Nhiệt độ trung bình cả năm là 19,6°C, mùa hè cao nhất là 33°C, mùa đông thấp nhất là 00C Ở vị trí sâu trong nội địa nên Mù Cang Chải chịu ảnh hưởng của thời tiết khô nóng Vào thời kỳ đầu mùa hạ, trong các thung lũng hình thành do hiệu ứng “fơn” (còn gọi là gió Lào) của các dãy núi vùng biên giới Việt - Lào đến với luồng gió từ phía Tây thổi sang Bình quân 1 năm có
trên 40 ngày khô nóng, trong đó có 10 ngày khô nóng đặc biệt
Lượng mưa trung bình ở Mù Cang Chải là 1.990mm/năm Mùa mưa ở đây bắt đầu sớm, từ tháng tư và kết thúc vào tháng chín Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 90% lượng mưa cả năm
Độ ẩm Mù Cang Chải trung bình năm là 55%, vùng rẻo cao là 70 - 75% Sương mù là một hiện tượng khá phổ biến ở Mù Cang Chải trong suốt mùa đông Do độ ẩm không cao, ít mây nên Mù Cang Chải có nhiều nắng Số giờ nắng một năm là gần 1.800giờ Thời kỳ nhiều nắng nhất trong năm là cuối mùa đông và đầu mùa hạ
2.3.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Đất đai ờ Mù Cang Chải được chia làm 4 loại chính, chủ yếu là đất Feralit vàng đỏ phân bổ ở độ cao 900m trở lên Đất đai, thổ nhưỡng ở đây thích hợp cho nhiều loại cây sinh trưởng và phát triển
Trang 18PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:Các loài thực vật được cộng đồng người H'mông tại 2 xã Chế Cu Nha, xã Chế Tạo sử dụng làm chuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng người H'mông tại huyện Mù Cang Chải
- Địa điểm nghiên cứu:Xã Chế Cu Nha và Xã Chế Tạo thuộc huyện Mù
Cang Chải, tỉnh Yên Bái
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
-Địa điểm: Xã Chế Cu Nha và Xã Chế Tạo thuộc huyện Mù Cang Chải,
tỉnh Yên Bái
- Thời gian nghiên cứu:Từ tháng 1 đến tháng 5/2019
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
2 Hiện trạng khái thác tài nguyên cây thuốc: Phỏng vấn và quan sát
3 Xác định những cây thuốc quý thuộc diện cần bảo tồn: đánh giá mức
độ quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu
4 Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Xã Chế Cu Nha các thôn đều là người H’mông sinh sống với nhau Chế
Cu Nha nằm ở vùng thấp của huyện Mù Cang Chải chủ yếu là đồi núi thấp
Trang 19ítcây gỗ to Xã cách thị trấn 5km và không thuộc trong khu bảo tồn của các loài sinh cảnh của huyện
Về địa hình là núi là chủ yếu với mật độ rừng hiện nay còn ít chủ yếu
là rừng trồng và rừng tự nhiên bị khai thác nhiều, mà đông người dân sinh sống nên việc khai thác các loại cây dược liệu sẽ nhiều, mức độ khai thác cây dược liệu gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm các cây dược liệu về chữa bệnh và việc khai thác cây dược liệu không đúng cách sẽ làm mất đi tính đa dạng của cây và các cây dược liệu quý hiếm có khả năng cạn kiệt và khó tái tạo được như cũ vì mức độ khai thác quá nhiều
2 Xã Chế Tạo có diện tích 235,4 km², dân số năm 2018 là 1.531 người, mật độ dân số đạt 7 người/km²
Xã Chế Tạo cách trung tâm huyện Mù Cang Chải 30km về địa lý giữa
2 xã cách nhau khoản 35km
Xã Chế Tạo là một xã nằm trong bên trong vùng đệm và vùng lõi của khu bảo tồn các loài sinh cảnh của huyện Mù Cang Chải, vì nằm trong khu bảo tồn nên việc bảo về rừng rất tốt và chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng già nên việc sử dụng cây dượcliệu sẽ nhiều hơn vì trong đấy đi lại xa nên người dân ốm đau họ sẽ tự dùng cây dược liệu để chữa bệnh cho bản thân mình và người nhà Nằm trong khu bảo tồn nên việc hái và lấy cây dược liệu sẽ dễ dàng hơn và sẽ đa dạng về cây dược liệu hơn
* Lý do chọn tiêu chí xã:
- Xã Chế Cu Nha Nằm ở phía Bắc của huyện Mù Cang Chải, xã Chế
Cu Nha không nằm trong khu vực bảo tồn, diện tích rừng hiện nay còn ít và không phải rừng già, và mật độ dân số đông hơn so với xã Chế tạo, gần trung tâm huyện nên hiện trạng khai thác các loài cây dược liệu quý hiếm mang đi bán còn rất thường xuyên diễn ra, vì lực lượng và công tác bảo tồn còn hạn chế Do gần huyện nên người dân chủ yếu dùng thuốc Bắc là nhiều nên ít dùng thuốc Nam
Trang 20- Xã Chế Tạo nằm ở Phía Nam của huyện Mù Cang Chải, cách trung tâm huyên 35 km, xã Chế Tạo nằm trong khu vực bảo tồn các loài sinh cảnh của huyện Mù Cang Chải, vì nằm trong khu bảo tồn nên với diện tích rừng nhiều và còn nhiều rừng già hơn so với xã Chế Cu Nha, vì nằm trong khu vực bảo tồn nên đa dạng về các loài cây dược liệu khá là phong phú có thể nói xã Chế tạo với diện tích rừng lớn nhất của huyện Mù Cang Chải và dân số ít nhất
so với các số còn lại vì nằm trong khu vực bảo tồn nên người dân ít khai thác cây dược liệu mang đi bán vì vậy xã này còn đa dạng về cây dược liệu và còn bảo tồn được các loài cây dược liệu quý hiếm Do nằm trong khu vực bảo tồn nên đi lại khó khăn nên người dân chủ yếu là lấy thuốc chính tại địa phương mình sinh sống chủ yếu là các loài cây dược liệu có tại địa phương
- Để so sánhnhận biết được xã nào sẽ nhiều người biết sử dụng cây dược liệu cho việc điều trị và chữa bệnh, mức độ sử dụng cây ra làm sao,mức
độ khai thác của 2 xã nhiều hay ít, điều tra được chỗ nào sẽ có nhiều dược liệu hơn, và phương pháp sử dụng của 2 xã có giống nhau không và phương pháp lấy thuốc có giống nhau, vv
3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa
*Phương pháp điều tra cây thuốc trên tuyến:
Tuyến điều tra có thể được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, người ta lấy trung tâm cộng đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau.Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực sẵn có Trên các tuyến thống kê, mô tả các loài thực vật sử dụng làm thuốc, cụ thể chia làm 6 tuyến với chiều dài gần 33 km chia ra như sau:
Tuyến 1:UBND xã Chế Cu Nha - bảnThào Chua Chảidài6km
Tuyến 2: UBND xã Chế Cu Nha - bản Chế Cu Nha dài 5km
Tuyến 3: UBND xã Chế Cu Nha - bản Dề Thàng dài 3
Trang 21Tuyến 4: UBND xã Chế Tạo - bản Tà Dôngdài 6km
Tuyến 5: UBND xã Chế Tạo - bản Chế Tạo dài 3km
Tuyến 6: UBND xã Chế Tạo - bản Nả Háng km 10km
Đối tượng phỏng vẫn là nhưng ông lang, bà mế có kinh nghiệm sử dụng cây dược liêu làm thuốc Trong một thôn tiến hành điều tra các hộ đại diện để tiến hành phỏng vấn (ưu tiên các hộ có nhiều kinh nghiệm trong việc
sử dụng cây dược liệu )
* Phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình:trong phạm vi 1 xã một xã sẽ
chia theo từng tuyến mà lựa chọn một số hộ gia đình có kinh nghiện sử dụng cây thuốc đặc biệt là các ông lang, bà mế của cộng đồng các dân tộc H'mông
và những người dân có kinh nghiệm về sử dụng cây thuốc,những người biết các bài thuốc gia truyền để chữa bệnh sẽ tiến hành phỏng vẫn các hộ gia đình
đó Phỏng vẫn như sau:
*Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp: Trong quá trình điều tra cây dược liệu
đã trao đổi và phỏng vẫn được 31 người
Khi đã xác định được các hộ gia đình biết sử dụng cây thuốc chữa bệnh
sẽ tiến hành việc phỏng vẫn đồng thời với việc ghi chép và ghi nhận thông tin
về các bài thuốc, các cây thuốc của đồng bào vẫn sử dụng chữa bệnh, có cây thuốc ở đấy thì sẽ tiến hành chụp hình, thu mẫu, có mẫu thì sẽ tiến hành thu mẫu bao gồm mẫu tiêu bản thực vật, một số mẫu dược liệu điển hình
+ Điều tra theo phiếu điều tra: Sẽ tiến hành điều tra bằng 1 phiếu
Bên cạnh phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp có thể xây dựng một bộ phiếu điều tra để nắm bắt các thông tin:
Trang 22Bảng điều tra cây thuốc của đồng bào người H'mông
tại khu vực nghiên cứu
Số
hiệu mẫu/ả
nh
Dạng cây
Môi trường sống
Bộ phận
sử dụng
Cách
sử dụng
Công dụng
Cách chế
biến thuốc
Loài quý hiế
m
Người được phỏng vấn
Họ tên
Địa chỉ
Điện thoại
(1
…… …… … … …… …… … … … … …
3.4.3 Phương pháp định danh tên cây
- Định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tại thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tài liệu tin cậy đã
công bố giám định lại
+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi
chú để kiểm định lại ở bước sau Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá,
hoa, quả, ) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2, để giám định
+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và
nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ,
2000) [13], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi 2012) [2], Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [15] Danh sách tên cây thuốc
sẽ được hoàn thiện ở bước này
3.4.4 Phương pháp thu thập mẫu
- Phương pháp thu mẫu: tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc
và phương pháp thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997,
2007) [18], [23]
- Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt cây, giấy báo, giây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy ảnh (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1997) [18]
Trang 23- Nguyên tắc thu mẫu: mỗi cây thuốc thu từ 3 – 10 mẫu và được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm và người thu mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng một số hiệu mẫu) Mẫu thu thập sẽ được
xử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) như sau:
+ Bước 1: sau mỗi ngày thu mẫu, mẫu vật sẽ được mang về nơi ở, xếp mẫu ngay ngắn vào một tờ báo cỡ 28 x 42 cm, để mẫu ở trạng thái tự nhiên,
có lá sấp – lá ngửa, vuốt cho thẳng mẫu và đeo etyket cho mẫu
+ Bước 2: xếp khoảng 15 – 20 mẫu thành một chồng, dùng dây dứa buộc lại
+ Bước 3: cho mẫu vào túi nilon và tẩm cồn cho chồng mẫu để bảo quản
Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài
3.4.5 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng các dân tộc tại khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [23]
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài
- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối
- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa, cả cây
- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi
Trang 24- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày, gan, giải độc, xương,…
3.4.6 Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007), Nghị định06/2019/NĐ-CP(Chính phủ nước Việt Nam, 2019), (Nguyễn Tập, 2007) Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam
Trang 25PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Trên cơ sở điều tra nghiên cứu, thu thập thông tin đã thống kê được một
số loài thực vật được cộng đồng dân tộc khai thác và sử dụng làm thuốc, các loài cây thuốc được xác định theo tiếng địa phương và tên phổ thông Qua xác định tên phổ thông, tên khoa học, ngành và họ thực vật của từng loài cây thuốc Kết quả đã xác định được 86 loài cây thuốc trong tổng số 53 họ Kết
quả nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 4.1:
Bảng 4.1 Số loài cây thuốc đã phát hiện được ở khu vực nghiên cứu
1 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 50 83
1.1 Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) 37 51
Bảng 4.2 Số lượng họ, loài, loài thuộc 2 lớp trong ngành Ngọc lan
Magnoliophyta (Ngành Ngọc lan)
Trang 26Bảng 4.2 cho thấy, các loài cây trong ngành Ngọc lan, nhất là các loài thuộc lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm tỷ lệ lớn trong các loài thực vật làm thuốc được đồng bào dân tộc H'mông ở tại địa phương sử dụng, cụ thể như sau:
Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) có số họ, loài được dung làm thuốc
ưu thế hơn hẳn so với lớp Một lá mầm Lớp Hai lá mầm có 51 loài, chiếm tỷ
lệ 61,44%; và 37 họ, chiếm tỷ lệ 74 so với tổng số loài, họ trong ngành Lớp Một lá mầm (Liliopsida) có 32 loài (chiếm 38,56% so với tổng số họ trong ngành Ngọc lan), 13 họ (chiếm 26 %)
Hình 4.1 Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu
Trong quá trình điều tra về nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đã thu được những loài cây thuốc nằm trong những họ có nhiều ở Việt Nam Số lượng thống kê ở bảng 4.3
Trang 27Bảng 4.3 Số họ được sử dụng nhiều nhất trong các họ
STT Họ nhiều loài
1 Poaceae - Họ Hòa thảo
2 Asteraceae - Họ Cúc
3 Euphorbiaceae - Họ Thầu dầu
4 Rutaceae - Hoa Môi
5 Zingiberaceae - Họ Gừng
6 Polygonaceae - Họ Rau răm
Kết quả bảng 4.3 cho thấy, có 6 họ có nhiều loài được cộng đồng dân tộc H'môngsử dụng làm thuốc phòng và chữa trị bệnh Tỷ lệ số loài trong cùng một họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc tại khu vực nghiên cứu so với tổng số loài trong cùng họ đó có tại Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn với họ
có nhiều loài được sử dung làm thuốc nhất là Hòa thảo (Poaceae) họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Hoa môi họ Rau răm (Polygonaceae) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiêncứu
Như vậy, số loài được sử dụng làm thuốc còn chiếm tỷ lệ rất thấp so với
số lượng loài trong cùng một họ đó có tại Việt Nam, nên khả năng phát hiện
ra thêm nhiều loài có thể sử dụng làm thuốc là rất lớn
4.1.1 Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc
Bảng 4.4 Đa dạng về dạng sống
Trang 28Kết quả bảng 4.4 cho thấy, phần lớn các cây thuốc được cộng đồng dân tộc H'mông ở xã Chế Cu Nha và Xã Chế Tạo sử dụng là dạng cây thân thảo (cỏ), với 48/86 loài (chiếm tỷ lệ55.81% so với tổng số các loài cây thuốc thu
được) và tập trung chủ yếu trong họ Hòa thảo (Poaceae) được dùng để chữa
các bệnh tiểu đường, tiểu buốt, thận, chữa ho, mỏi mệt Ngoài da còn có họ Gừng (Zingiberaceae) dùng để chữa các bệnh về dạ dày, xương khớp Đứng thứ hai là dạng sống cây bụi với 14/86 loài (chiếm 16.27%), dạng cây này tập trung chủ yếu các loài thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Cúc (Asteraceae) Đứng thứ ba là dạng sống Dây leo với 10/86loài (chiếm 11.62%), dạng sống này tập trung chủ yếu các loài cây thuộc lớp Hai lá mầm, đại diện là họ Tiết Dê - (Menispermaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae)… Dạng cây gỗ nhỏ có 8/86 loài, chiếm tỷ lệ 9.3% so với tổng số loài cây thuốc, dạng này tập trung chủ yếu trong các cây thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Chè (Theaceae) được dùng để chữa các bệnh như: Ngữa, gãy xương,… Còn lại là các cây gỗ trung bình, cây nhỡ, chiếm 7% Vấn đề sử dụng các dạng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của người H'mông tại khu vực nghiên cứu khá đa dạng và phong phú
4.1.2 Đa dạng về môi trường sống của cây thuốc
Để phục vụ cho công tác bảo tồn các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu nên đã tiến hành đánh giá sự đa dạng về môi trường sống của các loài cây thuốc Việc phân chia các loại môi trường sống được căn cứ vào địa hình, đất đai, khí hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển Có các dạng môi trường sau: (i) Sống ở đồi: cây sống ở đồi, đồi hoang, trảng bụi, chân đồi; (ii) Sống ở vườn: cây sống ở vườn, bờ ao, quanh làng bản; (iii) Sống ở rừng: cây sống ở rừng rậm, rừng thứ sinh, ven rừng; (iv) Sống ở ven sông, ven suối, nơi
ẩm ướt: cây sống ở gần nơi nước chảy, ven khe suối, sông, nơi ẩm ướt, ven sông, ao
Trang 29Bảng 4.5 Đa dạng về môi trường sống của các loài cây thuốc
Kết quả bảng 4.5 cho thấy số lượng chiếm nhiều nhất là trồng ở vườn là
35 loài (chiếm 40,69%) chủ yếu là dạng cây thân thảo
Số lượng các loài cây thuốc phân bố trong rừng chiếm tương đối nhiều với 17 loài (chiếm 19.76% so với tổng số loài thu được) nhưng phần lớn chúng đều là những cây có giá trị chữa bệnh được bà con đồng bào dân tộc H'mông nơi đây sử dụng làm thuốc
Môi trường sống ở đồi có 16 loài cây thuốc phân bố và chiếm 18.60% so với tổng số loài cây thuốc phát hiện được ở khu vực nghiên cứu
Số lượng các loài cây phân bố trong môi trường sống ven sông, ven suối, ao chiếm tương đối ít chỉ đạt 10 cây (chiếm 11.62%) và mọc hoang là 8 cây (chiếm 9,3%) Đây chủ yếu là các loài ưa ẩm
4.1.3 Đa dạng về bộ phận sử dụng của nguồn cây thuốc
Đa dạng về việc sử dụng các bộ phận khác nhau của cây để chữa bệnh của người dân tộc H'mông ở khu vực nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.6
Bảng 4.6 Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc