ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN TRUNG KIÊN NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VỀ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VỀ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO,
TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VỀ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO,
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Ngọc Công
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ tại khoa Sinh
học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo
PGS TS Lê Ngọc Công người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức,
kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh
học, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng nghiê ̣p
đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật, hệ thực vật 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Ở Việt Nam 4
1.2 Nghiên cứu về dạng sống thực vật 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 10
1.3 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật 11
1.3.1 Trên Thế giới 11
1.3.2 Ở Việt Nam 11
1.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc 12
1.4.1 Trên Thế giới 12
1.4.2 Ở Việt Nam 14
1.5 Nghiên cứu cây thuốc ở tỉnh Tuyên Quang và KVNC 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Nội dung nghiên cứu 18
2.2.1 Các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 18
2.2.2 Đa dạng thực vật làm thuốc 18
Trang 62.3.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn 18
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 20
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lí, ranh giới 21
3.1.2 Địa hình 22
3.1.3 Khí hậu - thủy văn 22
3.1.4 Tài nguyên 23
3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 25
3.2.1 Đặc điểm về kinh tế 25
3.2.2 Đặc điểm về xã hội và cơ sở hạ tầng 26
3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội KVNC 28
3.3.1 Những yếu tố thuận lợi 28
3.3.2 Những yếu tố khó khăn 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đa dạng các kiểu thảm thực vật trong KVNC 30
4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên 30
4.1.2 Rừng trồng 34
4.2 Đa dạng các bậc taxon thực vật làm thuốc ở KVNC 34
4.3 Đa dạng thành phần loài cây thuốc trong các kiểu TTV nghiên cứu 38
4.3.1 Thành phần loài cây thuốc ở rừng nguyên sinh bị tác động 41
4.3.2 Thành phần loài cây thuốc ở rừng thứ sinh 45
4.3.3 Thành phần loài cây thuốc ở thảm cây bụi 50
4.3.4 Thành phần loài cây thuốc ở rừng Cọ 55
4.4 Đa dạng về dạng sống thực vật làm thuốc 58
4.4.1 Đa dạng về dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng nguyên sinh bị tác động 61
4.4.2 Đa dạng về dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng thứ sinh 63
Trang 74.4.3 Đa dạng về dạng sống thực vật làm thuốc ở thảm cây bụi 65
4.4.4 Đa dạng về dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng Cọ 67
4.5 Đa dạng về giá trị sử dụng cây thuốc chữa trị các nhóm bệnh 69
4.6 Đa dạng các bộ phận thực vật sử dụng làm thuốc 72
4.7 Đa da ̣ng các loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa trong các kiểu TTV nghiên cứu 75
4.7.1 Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) 76
4.7.2 Theo Nghị định 32/CP/2006 76
4.7.3 Theo danh lục đỏ cây thuốc (2004) 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 78
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHU ̣ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
SĐVN : Sách đỏ Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp quốc
Nxb : Nhà xuất bản
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Ph : Cây có chồi trên đất
Ch : Cây có chồi mặt đất
Cr : Cây có chồi dưới đất
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Phân bố cây thuốc trong các bậc taxon ở KVNC 34
Bảng 4.2 Số lượng họ, chi, loài trong 2 lớp của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 35
Bảng 4.3 So sánh tỉ lệ các họ, chi, loài cây thuốc với các họ, chi, loài thực vật ở khu vực nghiên cứu 36
Bảng 4.4 Các chi có từ 2 loài làm thuốc trở lên ở KVNC 37
Bảng 4.5 Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc trong các kiểu TTV tại KVNC 38
Bảng 4.6 Bảng so sánh sự phân bố các họ, chi, loài trong hệ thực vật và cây thuốc trong từng kiểu TTV tại KVNC 39
Bảng 4.7 Các họ có từ 4 loài cây thuốc trở lên trong các kiểu TTV tại KVNC 40
Bảng 4.8 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng nguyên sinh bị tác động 41
Bảng 4.9 Các chi có từ 2 loài trở lên ở Rừng nguyên sinh bị tác động 44
Bảng 4.10 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng thứ sinh 45
Bảng 4.11 Các chi có từ 2 loài trở lên ở rừng thứ sinh 49
Bảng 4.12 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở thảm cây bụi 50
Bảng 4.13 Các chi có từ 2 loài trở lên ở thảm cây bụi 54
Bảng 4.14 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng Cọ 55
Bảng 4.15 Các chi có từ 2 loài trở lên ở rừng Cọ tại KVNC 58
Bảng 4.16 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở KVNC 59
Bảng 4.17 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở Rừng nguyên sinh bị tác động của KVNC 61
Bảng 4.18 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở Rừng thứ sinh 63
Bảng 4.19 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở thảm cây bụi 65
Bảng 4.20 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng Cọ 67
Bảng 4.21 Giá trị sử dụng cây thuốc chữa trị các nhóm bệnh 69
Bảng 4.22 Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí OTC và ODB ở rừ ng nguyên sinh bi ̣ tác đô ̣ng, rừng thứ
sinh, rừ ng Co ̣ 19
Hình 4.1 Số lượng các họ, chi, loài cây thuốc trong các taxon thực vật 35
Hình 4.2 Số lượng họ, chi, loài thực vật làm thuốc trong các TTV 38
Hình 4.3 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng nguyên sinh bị tác động 42
Hình 4.4 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng thứ sinh 46
Hình 4.5 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở thảm cây bụi 51
Hình 4.6 Phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng Cọ 55
Hình 4.7 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở KVNC 59
Hình 4.8 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng nguyên sinh bị tác động 61
Hình 4.9 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng thứ sinh 63
Hình 4.10 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở thảm cây bụi 66
Hình 4.11 Thành phần dạng sống thực vật làm thuốc ở rừng Cọ 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, 3/4 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến
á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và
sự phong phú về các loài sinh vật Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam hệ sinh thái phong phú với tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc
Kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 của Viện Dược liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có 3.870 loài Những cây thuốc có giá trị sử dụng cao, có khả năng khai thác trong tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế cũng như những cây thuốc đang được thị trường dược liệu quan tâm gồm có 206 loài cây thuốc có khả năng khai thác [52]
Dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều công ty, nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu… từ dược liệu Chính vì vậy, dược liệu
đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc Theo kết quả điều tra đánh giá tại một số vùng trong cả nước, nuôi trồng sản xuất dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có thể thu nhận trên
100 triệu đồng/ha Phát triển trồng cây thuốc đã giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường
UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 06/9/2013, phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013 - 2020 và định hướng đến năm 2030 [53], với mu ̣c tiêu bảo tồn đa da ̣ng sinh học, đa dạng các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, có giá tri ̣ kinh tế, ta ̣o cảnh quan và xây dựng vùng trồng cây dược liê ̣u có giá tri ̣ vào phu ̣c vu ̣ thực tiễn
Trang 12Khu vực nghiên cứu là 2 xã Tân Trào và Trung Yên (huyện Sơn Dương) thuộc Khu Di tích lịch sử Tân Trào Từ ngày 10 tháng 5 năm 2012 đã trở thành Khu
Di tích Quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Khu Di tích lịch sử Tân Trào có diện tích 6.633 ha, gồm 10 xã của 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn, bao gồm 183 di tích lớn, nhỏ Tám tháng đầu năm 2016, nơi đây đã đón 518.000 lượt khách đến tham quan, du lịch Do đó, các hoạt động khai thác tài nguyên rừng (cây thuốc, cây cảnh, rau rừng ) để bán cho khách tham quan của nhân dân địa phương diễn ra rất gay gắt trong thời gian dài Điều đó dẫn đến đa dạng sinh học nói chung và nguồn tài nguyên thực vật rừng nói riêng bị giảm sút, nhiều loài có nguy cơ bị đe dọa cao
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành cho ̣n đề tài: “Nghiên cứu tính đa da ̣ng về tài nguyên cây thuốc trong một số kiểu thảm thực vật tại khu di
ti ́ch li ̣ch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang” nhằm nghiên cứu, bảo tồn và phát triển
nguồn cây thuốc ta ̣i đi ̣a bàn khu di tích li ̣ch sử Tân Trào
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác đi ̣nh tính đa da ̣ng của hệ thực vật, thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu
- Xác định tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc trong một số kiểu thảm thực vâ ̣t: Rừng nguyên sinh bi ̣ tác đô ̣ng, rừng thứ sinh, thảm cây bu ̣i, rừng Co ̣
3 Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu sự đa dạng về thành phần cây thuốc trong một số kiểu thảm thực vật: Rừng nguyên sinh bị tác đô ̣ng, rừng thứ sinh, thảm cây bu ̣i, rừng Co ̣ thuộc khu di tích li ̣ch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Các kiểu thảm thực vật được nghiên cứu trên địa bàn 2 xã là Tân Trào (rừng Cọ) và Trung Yên (rừng nguyên sinh bị tác động, rừng thứ sinh và thảm cây bụi) thuộc huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật, hệ thực vật
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu thảm thực vật được các nhà khoa học quan tâm tiến hành từ khá sớm Phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà các nhà khoa học sử dụng để phân loại là dựa trên những đặc trưng của thảm thực vật: phân loại dựa trên hình thái thảm thực vật, phân loại dựa trên động thái thảm thực vật hoặc xã hợp hoặc đơn vị thảm thực vật Có thể dựa trên môi trường vật lí quyết định các đặc trưng của thảm thực vật: phương pháp phân loại khí hậu, phương pháp phân loại địa lí
tự nhiên Với cách phân loại này, các nhà khoa học đã công bố một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật
Warming (1896) với quan điểm dựa vào điều kiện sinh thái đã phân chia thảm thực vật thành các kiểu thảm thực vật thủy sinh, hạn sinh, ẩm sinh và trung sinh Sennhicov (1941, 1964) đưa ra quan điểm phân loại rừng theo nơi sống của quần xã thực vật (theo Hoàng Chung, 1980 [12])
Braun-Blanquet (1928) là nhà khoa học tiêu biểu cho trường phái phân loại thảm thực vật theo thành phần thực vật và lấy đơn vị phân loại cơ bản là quần hợp (Association)
Humboldt (1804-1859), Grisebach, Schimper (1898), Rubel (1926), Clements (1928), Schmithusen (1939), Walter (1960) và nhiều nhà nghiên cứu khác đã lấy hình dạng bề ngoài của quần thể thực vật là nhân tố cơ bản để phân loại thảm thực vật Theo các tác giả, đặc điểm ngoại mạo được thể hiện tập trung
ở dạng sống, bởi vì dạng sống không chỉ nói lên vẻ bề ngoài mà nó là kết quả của quá trình tác động qua lại lâu dài giữa cơ thể thực vật và môi trường
Schimper (1898), đã chia thảm thực vật rừng nhiệt đới thành 3 quần hệ: quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi (theo Thái Văn Trừng, 1970 [52])
Champion H G (1936) đã chia các kiểu rừng ở Ấn Độ - Miến Điện thành 4 kiểu thảm thực vật theo nhiệt độ là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao [58]
Trang 14Beard J (1938), đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ, loạt quần hệ) Ông đã chia rừng nhiệt đới ra làm 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng thường xanh mưa mùa, loạt quần hệ khô thường xanh, loạt quần hệ miền núi, loạt quần hệ từng mùa, loạt quần hệ ngập quanh năm (theo Hoàng Thị Thanh Thuỷ [49])
Maurand (1943), kỹ sư lâm nghiệp người Pháp đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Theo bảng phân loại này vùng Đông Dương có 8 kiểu rừng [61]
Trong thời kì Pháp thuộc, thực vật vù ng Đông Dương được Lecomte M H (1907 -1942) là nhà thực vật học người Pháp đã liệt kê được 7.004 loài thực vật bậc cao thuộc 1.850 chi, 289 họ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia trong bộ sách
“Thực vật chí Đông Dương” [59]
UNESCO (1973) dựa trên cơ sở lí thuyết các kiểu thực vật đỉnh cực hoặc gần đỉnh cực, trên cơ sở các tiêu chuẩn về cấu trúc ngoại mạo kết hợp với các điều kiện sinh thái để đưa ra một hệ thống phân loại chung về thảm thực vật cho thế giới Hệ thống này sắp xếp theo thứ bậc từ cấp cao tới cấp thấp, từ lớp cho tới quần hệ là cấp đơn vị cơ bản của thảm thực vật Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính nhân tạo nhưng lại cần thiết theo yêu cầu thực tế hiện nay [32],[39]
Ramakrisnan (1981- 1992) khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây Bắc Ấn Độ đã khẳng đi ̣nh chỉ số đa da ̣ng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đa ̣t cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ
hó a (Phạm Hồng Ban, 1999 [1])
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vâ ̣t ở hê ̣ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhâ ̣n xét khi nương rẫy bỏ hóa được 3 năm thì có 17 ho ̣, 21 chi, 21 loài; bỏ hóa 19 năm thì có
60 họ, 134 chi và 167 loài (Pha ̣m Hồng Ban, 1999 [1])
1.1.2 Ở Việt Nam
Trước năm 1960, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài như: Chevalier (1918) [56], Maurand (1943), Dương Hàm Hy (1956); Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958), trong
đó Chevalier (1918) đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc Bộ Việt Nam với 10 kiểu (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004 [46])
Trang 15Từ năm 1960, Loschau đã đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái sau:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên đất này cần phải trồng rừng
Loại II: những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây và tỉa cây Loại III: gồm tất cả các loại hình bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lí
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này để phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng Tuy nhiên bảng phân loại này có nhược điểm không phân biệt được kiểu rừng nguyên sinh với kiểu phụ thứ sinh và các giai đoạn diễn thế [46], [49]
Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam, ông chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [36]
Năm 1970, Thái Văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái Đây được xem là bảng phân loại rừng Việt Nam phù hợp nhất cho đến nay [52] Theo bảng phân loại này, rừng Việt Nam được chia thành 14 kiểu Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ
đó, tùy theo độ ưu thế của các loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp
và quần hợp tự nhiên khác nhau Như vậy, bức tranh hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phong phú và bảng phân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng được các nhà khoa học sử dụng trong các hoạt động nghiên cứu của mình
Trang 16Hoàng Chung (1980), khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ Trong công trình này tác giả đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại đồng cỏ, savan, thảo nguyên và đề ra những biện pháp sử dụng hợp lí [12]
Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân cùng tập thể tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên trong công trình “Danh mục thực vật Tây Nguyên” đã thống kê được 3000 loài, chiếm ½ số loài đã biết ở Đông Dương [4]
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) trong cuốn Cây cỏ Việt Nam đã thống kê được
số loài hiện có của thực vật Việt Nam là 10.500 loài [23]
Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, cho thấy thảm phục hồi 1-2 tuổi có
76 loài thuộc 36 họ, 3-5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5-10 tuổi có 56 loài thuộc 36
họ, 11-15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [55]
Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và đề xuất một số biện pháp kĩ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, đã kết luận quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như: nguồn giống, địa hình, thoái hóa đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật, cây
gỗ trên đất tốt nhiều nhất từ 11-25 loài, trên đất xấu từ 8-12 loài [49]
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã xếp thảm thực vật tỉnh Thái Nguyên vào 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần
hệ cây bụi, lớp quần hệ cây cỏ Thành phần thực vật ở đây thống kê được 654 loài thuộc 468 chi và 160 họ [14]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu thành phần loài trong một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ [32]
Trần Đình Lý (2006), dựa theo cách phân loại của UNESCO, đã phân loại thảm thực vật các tỉnh Bắc Trung Bộ thành 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ thảm cỏ Tác giả thống kê thực vật vùng này có 1750 loài thực vật bậc cao có mạch [35]
Trang 17Theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) nhiều tác giả khác
đã áp dụng trong các công trình nghiên cứu của mình như: Phan Kế Lộc (1985) [33], Nguyễn Nghĩa Thìn (2005) [43], Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (2007) [434, Lê Đồng Tấn (2000) [41], Đỗ Khắc Hùng, Lê Ngọc Công (2013) [26]
Ma Thị Ngọc Mai, Lê Đồng Tấn (2009) khi nghiên cứu thành phần cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc đã thống
kê được 33 loài cây tái sinh, trong đó có 7 loài đạt hệ số tổ thành trên 5% [36]
Sỹ Danh Thường (2009) đã có nhận định họ Màn màn ở Việt Nam là họ không lớn, chỉ có khoảng 55 loài nhưng lại có giá trị về nhiều mặt: làm thuốc, rau
ăn, lấy gỗ, làm cảnh và có giá trị nghiên cứu khoa học [50]
Lê Đức Chiến (2012) [10], khi nghiên cứu khu hệ thực vật Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ đã công bố có 1217 loài thực vật thuộc 680 chi, 180 họ của
6 ngành thực vật
Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Nhật Như Thuỷ (2013) [24] khi nghiên cứu hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm thuỷ triều tỉnh Khánh Hoà đã cho thấy thành phần loài cây khá nghèo nàn với 26 loài được xác định, trong đó có 16 loài cây ngập mặn thực sự và 10 loài cây tham gia rừng ngập mặn Thành phần cỏ biển trong đầm đa dạng với 8 loài được xác định, có mật độ và độ phủ cao tạo môi trường thuận lợi cho nhiều loài thuỷ sinh vật có giá trị đến cư trú và sinh sản
Nguyễn Anh Hùng (2014), khi điều tra đánh giá nguồn tài nguyên thực vật tại vùng ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã thống kê được 636 loài thuộc 401 chi, 126 họ của 5 ngành thực vật; thống kê được 10 nhóm giá trị sử dụng của các loài thực vật và phát hiện 50 loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007)
Từ đó làm căn cứ đề xuất giải pháp sử dụng hợp lí và phát triển bền vững tài nguyên thực vật trong khu vực nghiên cứu [27]
Tóm lại, trên Thế giới cũng như ở Việt Nam việc nghiên cứu phân loại thảm thực vật, hệ thực vật được các nhà khoa học quan tâm tiến hành từ khá sớm Có nhiều bảng phân loại các kiểu thảm thực vật cũng như nhiều công bố số liệu về thành phần loài thực vật ở các khu vực khác nhau trên thế giới Đặc biệt khung phân loại của
Trang 18UNESCO (1973) được đánh giá là rất cần thiết, có thể áp dụng để phân loại thảm thực vật trên phạm vi rộng (toàn thế giới) hoặc phạm vi hẹp (một vùng, một tỉnh) và
có thể thể hiện trên bản đồ có tỷ lệ 1:1.000.000 hay bé hơn Vì vậy nó được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng
1.2 Nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống là kết quả thích nghi của thực vật với môi trường sống của chúng
Sự đa dạng trong các hệ sinh thái không chỉ thể hiện ở tổ hợp thành phần loài mà còn tổ hợp về dạng sống Vì vậy nghiên cứu dạng sống thực vật là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá đặc điểm sinh thái từng vùng
1.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu về thành phần dạng sống thực vật được tiến hành khá sớm Raunkiaer- nhà thực vật học Đan Mạch là người đầu tiên đưa ra khái niệm dạng sống, ông đã tiến hành đánh giá sự đa dạng của các khu hệ thực vật ở các vùng miền khác nhau của toàn thế giới thông qua tổ hợp dạng sống của tất cả các loài cây trong đó và gọi là phổ dạng sống (SB= Spectrum Biology) Bản thảo đầu tiên xuất hiện năm 1907 và đến 1934 được tác giả và cộng sự hoàn chỉnh và dịch ra tiếng Anh Raunkiaer đã phân chia dạng sống dựa vào những đặc điểm cơ bản của thực vật: đặc điểm cấu tạo, phương thức sống, hình dạng ngoài, sinh sản….Đây là bảng phân loại tương đối dễ làm nên được nhiều người sử dụng trong công tác phân loại dạng sống thực vật của các vùng nghiên cứu [7], [40]
Trong bảng phân loại này Raunkiaer dùng vị trí chồi so với mặt đất và đặc điểm của nó trong thời kì khó khăn nhất cho sự sinh trưởng ở thực vật làm cơ sở phân loại, bảng này bao gồm 5 dạng sống chính:
1 Nhóm cây chồi trên (Ph)
Thường là những cây gỗ nhiều năm, có chồi búp cao trên 25 cm so với mặt đất Dạng sống của cây chồi trên được mô tả chi tiết hơn:
Cây gỗ lớn (Mg): gồm các cây gỗ to lớn chiều cao trên 30m
Cây gỗ vừa (Me): gồm những cây có chiều cao trung bình từ 8- 30m
Cây gỗ vừa và lớn (MM): những cây gỗ có chiều cao trên 8m
Cây gỗ nhỏ (Mi): cây có chiều cao từ 2- 8m
Trang 19Cây bụi hoặc cây thân gỗ (Na): gồm những cây có chiều cao từ 25cm- 8m Khi nghiên cứu ở khu vực nhiệt đới ẩm, ông còn bổ sung thêm dạng khác: Cây chồi trên leo quấn (Lp): thân thảo hoặc gỗ nhưng phải dựa trên giá thể
để leo lên
Cây bì sinh, phụ sinh (Ep): thân thảo, gỗ sống bám, sống nhờ vào cây khác Cây chồi trên thân thảo (Hp): chồi trên không có chất gỗ, sống nhiều năm Cây chồi trên mọng nước (Sp): thân thảo, không chất gỗ, tích nhiều chất dinh dưỡng trong thân, mọng nước
2 Nhóm cây chồi sát đất (Ch)
Bao gồm cây chồi búp trên và chồi non lan sát mặt đất, những cây gỗ nhiều năm mọc sát mặt đất, cao không quá 25 cm
3 Nhóm cây chồi nửa ẩn (He)
Cây thảo sống lâu năm, chồi được tạo thành nằm sát mặt đất
1 Kiểu cây gỗ: cây gỗ lớn hay nhỡ, hệ rễ cái phát triển
2 Kiểu cây bụi: cây thuộc mộc, phân cành mạnh, chiều cao tối đa 4,5m, hệ rễ cái phát triển
3 Kiểu cây bụi thân bò: thân thuộc mộc nhỏ, thấp, hệ rễ cái phát triển
4 Kiểu cây bụi nhỏ: thân thuộc mộc nhỏ, thấp, hệ rễ bên phát triển
5 Kiểu cây bụi nhỏ bò: thân thuộc mộc, mảnh và dài, rễ bên phát triển
Trang 20triển mạnh
7 Kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ
8 Kiểu cây thảo hệ rễ cái, sống lâu năm
9 Nhóm kiểu cây thảo, hệ rễ chùm, sống lâu năm
10 Nhóm kiểu cây thảo sống một năm
Xerebriacov (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer (1934) Ngoài những dấu hiệu sinh thái, Xerebriacov sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả một lần hay nhiều lần trong cả đời của cá thể (theo Hoàng Chung, 2008 [12])
Nhiều tác giả khác chia làm 4 dạng sống cơ bản: thân gỗ, thân thảo, thân bụi, thân leo (Lê Ngọc Công, 2004 [14]; Phạm Hồng Ban, 1999 [1])
Vũ Thị Liên (2005) [32] khi phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La đã lập được công thức phổ dạng sống:
SB= 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Đỗ Ngọc Đài (2009) [18], với công trình nghiên cứu Vườn Quốc gia Bến En
- Thanh Hóa đã đưa ra công thức phổ dạng sống theo Raunkiaer như sau:
SB= 82,40Ph + 6,70Ch + 1,04He + 7,54Cr + 1,96Th
Lê Đức Chiến (2012) [10], khi nghiên cứu dạng sống khu hệ thực vật Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ đã xếp chúng vào bốn nhóm: gỗ, bụi, thảo, leo Trong đó, nhóm cây thân gỗ với 388 loài chiếm tỉ lệ 31,88%; dạng thân leo với 184 loài chiếm tỉ lệ 15,12%; dạng thân bụi với 115 loài chiếm tỉ lệ 9,4% và thân thảo chiếm ưu thế với 530 loài chiếm 43,55%
Trang 21Hoàng Thị Thuý Hằng, Trần Đình Lý (2013) [20], đã xây dựng phổ dạng sống của thực vật bậc cao có mạch ở hai huyện Chợ Mới và Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn: SB= 70,88Ph + 5,61Ch + 1,04He + 5,26Cr + 10,53Th
Đậu Bá Thìn, Phạm Hồng Ban, Nguyễn Nghĩa Thìn (2013) [45] đã xác định được đa dạng về dạng sống của thực vật bậc cao có mạch ở khu Bảo tồn thiên nhiên
Pú Luông, Thanh Hoá đã xây dựng phổ dạng sống:
SB= 83,62Ph + 8,50Ch + 2,88He + 1,78Cr + 3,22Th
Tóm lại, nghiên cứu về dạng sống thực vật được các nhà khoa học trên thế giới tiến hành những năm đầu thế kỷ XX, bởi vì dạng sống thực vật là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá đặc điểm sinh thái của từng vùng Dạng sống không chỉ phản ánh vẻ bề ngoài mà nó là kết quả của quá trình tác động qua lại lâu dài giữa
cơ thể thực vật và môi trường
1.3 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật
1.3.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu các giá trị của thực vật ở Việt Nam đã được tiến hành từ khá sớm bởi các nhà khoa học Pháp từ cuối thế kỷ XVIII Trong đó phải kể đến các công trình như:
Trang 22Thực vật Nam Bộ của Loureiro (1793), Thực vật rừng Nam Bộ của Pierre (1880), Thực vật chí đại cương Đông Dương do Lecomter chủ biên (1907-1952), Cây cỏ thường thấy
ở Việt Nam (6 tập) của Lê Khả Kế và cs (1969-1976), Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây gỗ rừng Việt Nam của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1971-1988), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1995), 1.900 loài cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và cs, 1993), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2011)
đã mô tả 3.107 loài; Trần Hợp (2002) đã giới thiệu 433 loài cây gỗ có giá trị sử dụng, Viện Dược liệu đã thống kê được 3.948 loài thực vật bậc thấp, bậc cao và nấm lớn có giá trị làm thuốc; Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân
và cs, 2003 - 2005) ; (dẫn theo Vũ Anh Tài, 2015 [40])
Đây thực sự là những công trình lớn nghiên cứu tính đa dạng về giá trị sử dụng của thực vật ở nước ta Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học cũng đề cập đến vấn đề này
1.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc
1.4.1 Trên Thế giới
Trong các xã hội tối cổ, bệnh tật được cho rằng là do sự trừng phạt của trời hoặc do các thế lực siêu nhiên gây ra Thầy lang đã chữa bệnh bằng những lời cầu nguyện và nghi lễ có sử dụng cây cỏ Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dạng hay sự hiếm của chúng Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình
mò mẫm, học tập, trải qua nhiều thế hệ
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng cây cỏ làm thuốc như Cỏ thi, Cúc bạc,… Người dân bản xứ Mexico từ nhiều năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay người
ta biết chứa các chất gây ảo giác, kháng sinh [16]
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3600 năm trước với 800 bài thuốc và trên 700 bài thuốc có Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu…Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc Châu Phi có ít nhất từ 3000 năm trước [51]
Trang 23Vào giữa thế kỉ XIII, nhà thực vật học El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề
y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc từ Bắc Phi Gần đây nhiều tác giả công bố công trình nghiên cứu thực vật ở Châu Phi, tiêu biểu là công trình “An ethnobotanical and flonistical study of mdicinal plants among the bakepygmies in the periphery of the Ipassa- Biosphere Reserve, Gabon” của nhóm tác giả Jean lagarde Betti và cộng
sự trên tạp chí thực vật làm thuốc Châu Âu đã thống kê được 71 loài thực vật ghi nhận điều trị 24 nhóm bệnh khác nhau (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương [28])
Ở Trung Quốc, dược thảo phát triển là một phần của văn hóa Trung Hoa Năm 273 trước công nguyên, Hoàng đế Trung Quốc Sheng Nung đã viết về việc sử dụng các loài thảo dược làm thuốc Cuốn “Kinh Thần Nông” vào thế kỉ I sau công nguyên đã mô tả 364 vị thuốc Chính cuốn sách này đã tạo nền tảng cho sự phát triển y học dược thảo tới ngày nay
Vào năm 1595, đời nhà Lý, Lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản Thảo Cương Mục”, đây là bộ sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về cây thuốc [51]
Nằm trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu các tài liệu về thực vật và dược học đã tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á “Medicinal plants of East and Southeast Asia” Ngày nay, ước lượng có từ 35.000 đến 70.000 loài trong số 25.000 đến 300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh khắp nơi trên thế giới Trong đó, Trung Quốc có hơn 10.000 loài, Ấn Độ 7.500 loài, Indonesia 7.500 loài, Malaysia 2.000 loài, Nepal hơn 700 loài, Srilanka có khoảng
từ 550 tới 700 loài Nhiều loài cây thuốc đã được thuần dưỡng và trồng trọt lâu đời tại các trung tâm đa dạng sinh học cây trồng trên thế giới như: Gai dầu, Thuốc phiện, Nhân sâm, Đinh hương, Bạc hà…[17]
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới WHO, ngày nay có khoảng 80% dân
số ở các nước đang phát triển với 3,5 đến 4 tỷ người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào nền y học cổ truyền, phần lớn phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc chất chiết xuất từ dược liệu Ở Trung Quốc, nhu cầu cây thuốc là 1.000.000 tấn/năm, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD và thống kê được
Trang 24thuốc dược liệu của Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004) Tính trên toàn thế giới, hàng năm doanh thu ước đạt trên 80 tỷ USD Điều này chứng tỏ dược liệu từ cây thuốc có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kì cây lương thực, thực phẩm nào Đã có 119 chất tinh khiết được tách chiết từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng trên toàn thế giới trong đó có 74% chất có mối quan hệ hay càng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng như Theophylin từ Chè, Reserpon từ cây Ba gạc, Rotudin từ Bình vôi [17]
Ở Trung Quốc từ 1979 -1990 đã có 42 chế phẩm từ cây thuốc đưa ra thị trường, trong đó có 11 chế phẩm chữa bệnh tim mạch, 5 chế phẩm chữa bệnh ung thư, 6 chế phẩm chữa bệnh đường tiêu hóa Dự đoán phát triển cây cỏ từ các nước nhiệt đới có thể làm ra 900 tỉ USD mỗi năm cho các nước thế giới thứ 3 [16]
Ngày nay, các sản phẩm từ cây cỏ không chỉ dừng lại làm thuốc chữa bệnh
mà nhiều công ty, nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu…
1.4.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, công tác điều tra cây thuốc được tiến hành khá muộn Ở miền Bắc bắt đầu từ năm 1961 do Viện Dược liệu chủ trì Ở miền Nam, do phân Viện dược liệu thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với các trạm dược liệu tỉnh thực hiện từ 1980 -
1985 ở hầu hết các tỉnh thành phía Nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào Kết quả ghi nhận được cho đến năm 2005 trong cả nước có 3.948 loài cây thuốc thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật Trong số đó có trên 90% là cây hoang dại [54]
Bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1962- 1965, 1969-1970) [34], đã giới thiệu gần 1.000 cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam Bộ sách
“Cây thuốc Việt Nam” của Lê Trần Đức (1995) [19] có ghi 830 loài cây thuốc, mô
tả đầy đủ hình thái, phân bố, cách trồng và thu hái cũng như bộ phận sử dụng Võ Văn Chi, tác giả cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1996) [8] đã thống kê khoảng 3.200 loài cây thuốc kể cả Nấm Đến năm 2012, Võ Văn Chi [9] đã công bố loài cây làm thuốc Việt Nam là gần 4.700 loài Điều này cho thấy tiềm năng cây thuốc ở nước ta là rất phong phú Các nhà nghiên cứu đã ước lượng số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể lên đến 6.000 loài
Trong nền y học chính thống đã thống kê được có khoảng 700 loài cây thường được nhắc tới trong các sách Đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc
Trang 25được sử dụng ở các bệnh viện y học cổ truyền và hiện nay đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyền của 12.531 lương y Nhiều dược phẩm được phát triển dựa trên tri thức sử dụng cộng đồng như Ampelop dựa trên sử dụng cây Chè dây để chữa bệnh của người Tày Cao Bằng, cây Tật dê của người Chăm Hoạt chất Antioxyclant của Cà gai leo, Saponin của Sâm Ngọc Linh [15], [16]
Một hướng nghiên cứu mới để tăng hiệu quả sử dụng của hoạt chất chiết xuất
từ thảo dược là ứng dụng công nghệ nano vào sản xuất chế phẩm thảo dược Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam đã sản xuất thành công Nano curcumin
từ nguồn curcumin chiết xuất từ cây Nghệ vàng trồng trong nước Nano curcumin được nghiên cứu trên một số dòng tế bào ung thư tại Đại học Quốc gia Hà Nội cho kết quả tiêu diệt tế bào ung thư vú, ung thư phổi và ung thư trực tràng
Trong các nền y học nhân dân, mỗi cộng đồng miền núi thường biết sử dụng
300 đến 500 loài cây thuốc Các bộ phận của cây cỏ được người dân sử dụng có thể là
lá, thân, rễ hoặc cả cây tùy theo mục đích chữa bệnh Cách sử dụng cây thuốc của người dân cũng đa dạng như dùng tươi, giã nát rồi đắp, sắc nước uống, đun nước tắm, phơi khô ngâm rượu hoặc nấu cao Theo Nguyễn Thượng Dong (2006) “Danh lục cây làm thuốc thiết yếu”, lần thứ IV, có quy định 188 vị thuốc y học cổ truyền thiết yếu và
60 loài cây cỏ làm thuốc cần trồng tại tuyến xã gọi là thuốc nam thiết yếu [17]
Các công trình nghiên cứu về đa dạng cây thuốc đã được công bố:
Nguyễn Nghĩa Thìn (2001) đã công bố hệ thực vật Vườn Quốc gia Con Cuông, Nghệ An có 551 loài cây thuốc thuộc 364 chi, 120 họ thực vật [47]
Theo kết quả thống kê của Viện Dược liệu (2006) ước tính tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin có thể có tới 400 loài cây thuốc, đã thu thập được 10 loài cây có tên trong Sách đỏ Việt Nam (1996) và danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2001) [54]
Năm 2005, nhóm nghiên cứu Lưu Đàm Cư, Trương Anh Thư, Hà Tuấn Anh khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc Mông ở vùng núi cao phía Bắc đã thống
kê được 657 loài thuộc 118 họ [16]
Lê Ngọc Công, Nguyễn Văn Hoàn (2006), nghiên cứu đa dạng các loài cây thuốc ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) đã thống kê được 152 loài, 133 chi và 72 họ, có tác dụng chữa trị 19 nhóm bệnh khác nhau [15]
Trang 26Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Thuận (2010) đã công bố 136 loài cây thuốc thuộc 122 chi và 63 họ của 3 ngành thực vật được đồng bào dân tộc Cao Lan
xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên sử dụng [29]
Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Phượng và cs (2012) đã công bố nghiên cứu về “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Sán Chí huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” Kết quả thu được 132 loài thực vật làm thuốc [30]
Phạm Hồng Ban, Nguyễn Thượng Hải (2013) [2] đã xác định được 287 loài cây thuốc thuộc 204 chi và 87 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp và Quế Phong tỉnh Nghệ An sử dụng Trong đó dạng thân cây thuốc được người dân sử dụng nhiều nhất là thân thảo với
93 loài chiếm 32,4% tổng số loài xác định được Bộ phận sử dụng nhiều nhất là lá
có tới 140 loài chiếm 37,94% so với tổng các bộ phận sử dụng
Ninh Khắc Bản và nhóm tác giả (2013) [3] khi nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ Tu và Vân Kiều tại vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã đã ghi nhận có 294 loài cây thuốc thuộc 82 họ và 178 chi được người Cơ Tu sử dụng Người Vân Kiều chiếm tỉ lệ thấp trong các cộng đồng, số loài cây thuốc được sử dụng là 27 loài thuộc 21 họ Bộ phận cây thuốc người Cơ Tu sử dụng chủ yếu là cành lá với 77 loài, người Vân Kiều sử dụng rễ
củ là chủ yếu với 13 loài
Lê Thị Thanh Hương (2013) trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp đại học đã thống kê được 224 loài cây thuốc thuộc 173 chi, 87 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch; định tính coumarin trong 9 loài cây thuốc thuộc họ Rutaceae (họ Cam), Rubiaceae (họ Cà phê), Fabaceae (họ Đậu), Asteraceae (họ Cúc) được sử dụng trong cộng đồng dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên [28]
Trịnh Xuân Huy và cô ̣ng sự (2013) tại Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5 đã công bố 508 loài thực vật làm thuốc thuộc
131 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 22 loài thuộc diện cần bảo tồn theo tiêu chí của Sách đỏ Việt Nam (2007) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò, tỉnh Hòa Bình [31]
Trang 27Tóm lại, có thể thấy trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay việc điều tra, nghiên cứu các loài thực vật làm thuốc chữa bệnh đang được quan tâm đặc biệt Điều đó nói lên tầm quan trọng của thực vật nói chung, của cây thuốc nói riêng trong đời sống của con người Chúng ta cần phải giữ gìn, phát triển nguồn tài nguyên quý báu này cho thế
hệ hiện tại và cho tương lai
1.5 Nghiên cứu cây thuốc ở tỉnh Tuyên Quang và KVNC
Những nghiên cứu về cây thuốc ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và KVNC nói riêng còn khá ít và chỉ tiến hành trong thời gian gần đây
Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) khi điều tra tại Khu BTTN Na Hang (Tuyên Quang), đã ghi nhận 1.162 loài thực vật, trong đó có 558 loài cây thuốc chiếm 48,02% tổng số loài của toàn hệ [48]
Nguyễn Thị Hải và cộng sự (2015), điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) đã ghi nhận 275 loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Tày và Dao sử dụng, thuộc 96 họ, 204 chi của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 10 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam và Nghị Định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Đã xác định được 15 loài cây thuốc có tiềm năng phát triển kinh tế cao cho khu vực nghiên cứu [21]
Nguyễn Thị Hải và cộng sự (2015), điều tra loài cây thuốc do người dân tộc Cao Lan khai thác và sử dụng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) đã thống kê được 209 loài, thuộc 85 họ, 168 chi của 03 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong số 168 chi, có 4 chi có số lượng loài được sử dụng làm thuốc
nhiều nhất là chi Piper, Ficus, Elastostema và Clerodendrum Dạng sống của các
loài cây thuốc được người dân tộc Cao Lan sử dụng chủ yếu là cây thân thảo (41,63%) và cây bụi (22,01%) [22]
Như vậy, có thể thấy tại KVNC chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về cây thuốc được công bố Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
về đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây
Trang 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là các thảm thực vật, hệ thực vật và những loài
cây thuốc trong các kiểu thảm thực vâ ̣t: Rừng nguyên sinh bi ̣ tác đô ̣ng, rừng thứ sinh (sau khai thác), thảm cây bu ̣i và rừng Co ̣
- Địa điểm nghiên cứu: Khu di tích li ̣ch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nội dung đã đề ra, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn
Tiến hành điều tra các loài thực vật làm thuốc trong các kiểu thảm thực vâ ̣t:
Rừ ng nguyên sinh bi ̣ tác đô ̣ng, rừng thứ sinh, thảm cây bu ̣i, rừng Co ̣
Tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC) được thực hiện theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [42] và Hoàng Chung (2008)[13]: căn cứ vào địa hình cụ thể của khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra TĐT vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu, chiều rộng mỗi tuyến là
Trang 294m Khoảng cách giữa các tuyến là 50m -100m và số lượng tuyến tùy loại địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo các tuyến điều tra bố trí các OTC và ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu
Đối với rừng nguyên sinh bi ̣ tác đô ̣ng, rừng thứ sinh, rừng Co ̣: Trên các tuyến điều tra đặt các ô tiêu chuẩn, mỗi quần xã lập 5 OTC diện tích 100 m2 (10m x 10m)
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí OTC và ODB ở rừng nguyên sinh bi ̣ tác động,
rư ̀ ng thứ sinh, rừng Cọ
Trong mỗi OTC lập 5 ODB có diện tích 4m2 (2m x 2m) được bố trí ở 4 góc
và ở trung tâm để thu thập số liệu
Đối với Thảm cây bụi, cũng lập 5 OTC, mỗi ô diện tích 16m2 (4m x 4m) Trong mỗi OTC thống kê thành phần loài, chiều cao cây bụi
Ranh giới các OTC và các ODB được đánh dấu bằng các dây nilon màu đỏ Trong OTC và ODB thống kê toàn bộ các loài thực vật
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Thu thập số liệu theo tuyến điều tra
Trên tuyến điều tra thống kê tất cả các loài thực vật đã gặp như tên loài (tên khoa học hay tên địa phương) Những loài chưa biết tên tiến hành lấy mẫu về định loại tại phòng thí nghiệm
2.3.2.1 Thu thập số liệu theo ô tiêu chuẩn (OTC)
Trong mỗi OTC, ODB thu thập các thông tin về thành phần loài, xác định thành phần dạng sống theo tài liệu “Tên cây rừng Việt Nam” (2000)[5] Đếm số lượng loài, đo chiều cao vút ngọn (Hvn-m) của các loài có chiều cao 4m trở lên bằng máy đo Blumess (đo theo nguyên tắc lượng giác), các loài cao dưới 4m được
đo bằng thước sào có chia vạch đến cm
10 m
2 m
Trang 302.3.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật
2.3.3.1 Phương pháp phân tích mẫu, xác định tên khoa học và xây dựng danh lục
- Xác định tên Việt Nam, tên khoa học các loài thực vật theo các tài liệu: + Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003, 2005) của Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cộng sự [4]
+ Tên cây rừng Việt Nam (2000) của Bộ Nông nghiệp và PTNT [5] + Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2003) [23]
- Xác định tên Việt Nam, tên khoa học và công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc theo:
+ Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (1996), (2012) [8], [9]
+ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2005) [34]
- Thành lập danh lục thực vật, thực vật làm thuốc KVNC theo Brummitt (1992) [60] Mỗi loài cây thuốc được mô tả công dụng chữa bệnh, tên khoa học các loài được sắp xếp theo vần ABC)
- Xác định các loài thực vật có nguy cơ bị suy giảm số lượng cần được bảo tồn dựa vào Sách đỏ Việt Nam, 2007 (phần Thực vật) [6], Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2004), Nghị định 32/2006/NĐ- CP (2006) của Chính Phủ [11]
2.3.3.2 Phương pháp xác định công dụng làm thuốc theo nhóm chữa bệnh
Sử dụng tài liệu Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi [34], Cây thuốc Việt Nam của Lê Trần Đức [19] để phân loại cây thuốc vào 12 nhóm chữa bệnh: 1 Bệnh ngoài da: nhiễm trùng, lở, mụn nhọt; 2 Bệnh tiêu hoá: tả,
lị, tiêu chảy; 3 Bệnh về thận: sỏi thận, viêm thận, lợi tiểu; 4 Bệnh về xương khớp: gãy xương, bong gân; 5 Bệnh về sinh sản của phụ nữ: lợi sữa, điều kinh; 6 Bệnh về
hô hấp: cảm, sốt, ho; 7 Bệnh về gan: thanh nhiệt, giải độc gan, viêm gan; 8 Bệnh
về tim mạch: giảm huyết áp, xơ vữa động mạch, cầm máu; 9 Bệnh rối loạn do chuyển hóa (tiểu đường); 10 Thuốc bồi bổ sức khỏe; 11 Thuốc chữa rắn cắn;12 Thuốc tẩy giun
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học Sử dụng phần mềm Excel để xử lý và mô hình hoá các số liệu
Trang 31Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lí, ranh giới
Khu di tích lịch sử Tân Trào có diện tích 6.633 ha thuộc địa bàn 10 xã là: Tân Trào, Trung Yên, Minh Thanh, Bình Yên và Lương Thiện (huyện Sơn Dương) và Kim Quan, Phú Thịnh, Đạo Viện, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh (huyện Yên Sơn), tỉnh Tuyên Quang Khu di tích có ranh giới địa lý từ 21043'54" đến 210 50' 52"
vĩ độ Bắc; từ 1050 23' 56" đến 1050 31' 23'' kinh độ Đông, có ranh giới hành chính như sau:
- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Tây giáp xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương;
- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương;
- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Hình 3.1: Bản đồ vị trí KVNC
Ghi chu ́ : Khu vực nghiên cứu: Xã Trung Yên Xã Tân Trào
1
1
Trang 323.1.2 Địa hình
Khu di tích lịch sử Tân Trào nằm trong kiểu địa hình núi trung bình thấp (dưới 700m); độ cao trung bình toàn khu vực là 400m Địa hình khu vực nghiên cứu chia thành một số kiểu sau:
- Kiểu địa hình vùng núi trung bình và núi thấp: Phân bố ở phía Đông của
các xã: Tân Trào, Trung Yên, phía Đông Bắc xã Lương Thiện và khu vực tiếp giáp với huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Địa hình chia cắt phức tạp với các đỉnh cao từ 500m đến xấp xỉ 700m, độ dốc lớn, trên 250, cao nhất là đỉnh núi Khau Nhì (độ cao 686m) thuộc địa phận các xã Trung Yên và Tân Trào huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Kiểu địa hình vùng núi đá và lẫn đá lộ đầu: Phân bố ở các xã: Tân Trào,
Trung Yên, có độ dốc trung bình trên 300, càng lên đỉnh độ dốc càng lớn; độ cao phổ biến khoảng 250m đến 300m, chạy dọc bờ sông Phó đáy; địa hình cực kỳ hiểm trở nhưng cũng rất hùng vĩ Hướng sử dụng là bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng trên núi
từ 22 - 240C Nhiệt độ trung bình các tháng mùa Đông là 160C, nhiệt độ trung bình các tháng mùa Hè là 280C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.800mm, phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, lượng mưa chiếm khoảng 86% lượng mưa của cả năm; mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 14% lượng mưa của cả năm Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500 giờ Các tháng mùa đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 - 60 giờ/tháng Các tháng mùa hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140 - 160 giờ Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 85 đến 87% Có 2 hướng gió chính: Mùa đông là hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc; mùa hè là hướng Đông Nam hoặc Nam; tốc độ của các hướng gió đạt 1m/s Sương muối thường xuất hiện ở các thung lũng vào tháng
12 hàng năm, với tần suất xuất hiện 1-5 lần/năm Đây là yếu tố bất lợi đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi [53]
Trang 333.1.3.2 Thủy văn
Trong khu vực có 3 sông chính: Sông Phó Đáy chảy qua địa phận từ xã Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên; hướng chảy từ Đông Bắc xuống Tây Nam, chiều dài gần 7 km Ngòi Thia hợp lưu từ suối núi Khau Nhì và Tống Thinh, tại Nà Lừa rồi đổ ra sông Phó Đáy Suối Vực Vầm chảy từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam qua địa phận xã Minh Thanh rồi đổ ra sông Phó Đáy Hệ thống sông suối đều có nước chảy quanh năm, cung cấp đủ nước cho sản xuất nông, lâm nghiệp
Ngoài ra, diện tích nuôi trồng thủy sản trong khu vực có khoảng 80 ha tại các
ao hồ, suối, đập, đây là nguồn dự trữ nước cần thiết cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô hạn [53]
3.1.4 Tài nguyên
3.1.4.1 Tài nguyên đất
Tại Tuyên Quang và KVNC đất khá đa dạng: Nhìn chung, tầng đất tương đối dày, hàm lượng dinh dưỡng thuộc loại trung bình và khá Với 17 loại đất khác nhau Tuyên Quang có khả năng phát triển mạnh kinh tế nông - lâm nghiệp
Ở vùng núi cao, gồm huyện Na Hang và phía bắc các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, đất được hình thành trên các loại đá mẹ là đá biến chất và đá trầm tích Tiêu biểu cho vùng này là nhóm đất đỏ vàng và vàng nhạt
Ở vùng núi thấp bao gồm phần phía nam của các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, phía bắc các huyện Yên Sơn, Sơn Dương và một phần thị xã Tuyên Quang, đất được hình thành chủ yếu từ các loại đá mẹ là đá biến chất mà tiêu biểu là nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thấp Đây là nhóm đất có giá trị đối với sản xuất nông, lâm nghiệp của cả tỉnh Vì thế khi khai thác, cần phải làm ruộng bậc thang, luân canh hợp lý các loại cây trồng và trồng rừng ở những nơi còn đất trống, đồi núi trọc
Ở các vùng còn lại có đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, các loại đất phù sa sông suối, chủ yếu ở phía nam các huyện Yên Sơn, Sơn Dương và rải rác ở một số nơi khác Nhóm đất này có khả năng trồng các loại cây lương thực (lúa, màu) cho
Trang 34Hiện nay đất sử dụng trong nông nghiệp mới chỉ chiếm 10,7% tổng diện tích
tự nhiên của tỉnh Trong khi đó, diện tích đất chưa sử dụng 177.328 ha, chiếm tới 30,5% tổng diện tích và tập trung ở các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Sơn Dương Do vậy, cần tiếp tục phủ xanh đất trống, đồi trọc, biến các vùng đất hoang hoá thành vùng sản xuất nông, lâm nghiệp [53]
3.4.1.2 Tài nguyên rừng
Theo số liệu điều tra, cho đến ngày 31 tháng 12 năm 1999 trên lãnh thổ tỉnh Tuyên Quang có 256,2 nghìn ha rừng, bao gồm 201,2 nghìn ha rừng tự nhiên và 55 nghìn ha rừng trồng Độ che phủ đạt mức trên 44%
Rừng gỗ có trữ lượng lớn hiện nay chỉ còn tập trung ở vùng núi Chạm Chu, huyện Hàm Yên và một số khu rừng thuộc huỵên Na Hang Ở các khu rừng tự nhiên khác còn lại trong tỉnh, trữ lượng gỗ không nhiều
Rừng trồng ở Tuyên Quang chủ yếu là các loại cây như mỡ, keo, lát hoa, bồ
đề, bạch đàn Một phần trong số này được sử dụng vào mục đích kinh tế (nguyên liệu cho công nghiệp giấy) [53]
3.4.1.3 Tài nguyên khoáng sản
Tỉnh Tuyên Quang nói chung và KVNC nói riêng có nhiều loại khoáng sản, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán và điều kiện khai thác khó khăn Một số loại có giá trị kinh tế, đã và đang được khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
Thiếc phân bố ở Sơn Dương có trữ lượng gần 3 vạn tấn (đã phát hiện được
9 điểm có quặng thiếc, mức khai thác trung bình năm hiện nay là 500 tấn quặng
sa khoáng)
Borit tập trung ở các huyện Sơn Dương (Ao Sen, Hang Lương, Tân Trào, Ngòi Thia…), Yên Sơn (Làng Chanh, xóm Hoắc, xóm Húc), Chiêm Hoá (Hạ Vi) với trữ lượng 2 triệu tấn Sản lượng hàng năm hiện nay khoảng 1 vạn tấn quặng, để làm chất trợ dung cho ngành khoan (dầu khí) và làm sơn tổng hợp
Đá vôi có trữ lượng hàng tỉ m3 phân bố ở phía bắc huyện Na Hang, Chiêm Hóa và một số nơi thuộc các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương
Trang 35Đất sét được phát hiện ở nhiều nơi thuộc các huyện Yên Sơn, Chiêm Hoá, Sơn Dương, thành phố Tuyên Quang Đất sét cùng với đá vôi là nguyên liệu được dùng để sản xuất xi măng [53]
3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
3.2.1 Đặc điểm về kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp có tăng trưởng ổn định trong những năm qua và chuyển đổi mạnh về cơ cấu trong nội bộ ngành, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Trồng trọt: Theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2011 diện tích gieo trồng không tăng nhưng sản lượng các loại cây trồng liên tục tăng Cây lương thực chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, năm 2011 diện tích gieo trồng cây lương thực là 1.164,4 ha, tổng sản lượng đạt 9.340 tấn, tăng 9,5% so với năm
2005 Lương thực bình quân đầu người đạt 469 kg/người, về cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực và có dự trữ
- Chăn nuôi: Chăn nuôi có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua, các cấp chính quyền đã quan tâm chú trọng đến giống gia súc, gia cầm mới, có năng suất và chất lượng cao; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng chống rét và tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm nên chăn nuôi trong vùng có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, tạo tiền đề để phát triển kinh tế Đến nay, đàn trâu có 4.224 con, đàn bò 2.131 con, đàn lợn 15.993 con, đàn gia cầm 152,3 nghìn con Diện tích ao hồ thả cá 86,9 ha [53]
- Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn chủ yếu là quản lý bảo vệ tài nguyên rừng hiện có; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên; trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng của chương trình 327, Dự án 661 và trồng rừng sản xuất bằng vốn tự có và vốn hỗ trợ của Nhà nước Công ty lâm nghiệp Sơn Dương thực hiện trồng, chăm sóc bảo vệ
và khai thác rừng trồng trên diện tích đất được giao (đất quy hoạch rừng sản xuất); liên doanh với các hộ gia đình cá nhân trên địa bàn huyện Sơn Dương trồng rừng sản xuất Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Dương được giao thực hiện nhiệm vụ của Ban quản lý dự án Bảo vệ và phát triển rừng cơ sở (Dự án cơ sở) của huyện Sơn Dương
Trang 36Các đơn vị, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng sản xuất (trồng rừng kinh tế) thâm canh thuần loại bằng các loài cây bản địa: Lát hoa, mỡ, xoan, tre, luồng , các loài cây nhập nội: Keo tai tượng, keo lá tràm, keo lai theo quy hoạch vùng nguyên liệu của các cơ sở chế biến lâm sản; thực hiện đúng biện pháp kỹ thuật trồng chăm sóc, bảo vệ rừng trồng theo hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng theo từng loài cây của
Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang và Quy trình kỹ thuật trồng rừng của Bộ Nông nghiệp và PTNT
Trong những năm gần đây sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo, tuy nhiên quy mô còn nhỏ
Từ năm 2012, Khu di tích lịch sử Tân Trào được xếp hạng khu di tích Quốc gia đặc biệt, đồng thời cũng là khu du lịch nổi tiếng Do đó, chiến lược phát triển kinh tế gắn với phát triển dịch vụ du lịch đã được tỉnh Tuyên Quang đặt ra Nhiều
hộ gia đình tham gia làm dịch vụ bán hàng lưu niệm cũng như các loại lâm sản khai thác từ rừng cho khách du lịch để tăng nguồn thu nhập cải thiện đời sống Tuy nhiên, nếu không có các biện pháp quản lý chặt chẽ thì các hoạt động này có nguy
cơ làm cạn kiệt tài nguyên rừng
3.2.2 Đặc điểm về xã hội và cơ sở hạ tầng
3.2.2.1 Dân tộc
Các xã thuộc khu di tích lịch sử Tân Trào có các dân tộc: Tày, Kinh, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Hoa, Mông cùng chung sống hoà thuận, các dân tộc có nhiều người là: Tày 8.462 người (chiếm 42,0%), Kinh 3.984 người (chiếm 19,8%), Dao 3.744 người (chiếm 18,6%), người Mông có tỷ lệ thấp nhất (chiếm 0,1%) [53]
3.2.2.2 Dân cư
Theo số liệu năm 2013, khu di tích lịch sử Tân Trào có 5.012 hộ, 20.152 khẩu,
tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,16% Dân cư phân bố không đều, các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, nơi có địa hình bằng phẳng, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường giao thông Dân cư các xã phân bố chủ yếu ở ngoài khu di tích lịch sử Tân Trào, nhưng hiện tại xã Tân Trào (xã trung tâm của khu di tích) có người dân đang sinh sống và sản xuất trong khu di tích, với
308 hộ, 1.326 khẩu Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã là 187,3 ha, trong đó đất trồng lúa bình quân 530 m2/người [53]
Trang 373.2.2.3 Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới thông tin, văn hoá của các xã trong vùng tương đối hoàn thiện; 100% số xã đều có điểm Bưu điện văn hoá xã, được phủ sóng điện thoại di động, sóng phát thanh và truyền hình Nhìn chung thông tin văn hoá của các xã đang được củng cố và nâng cao chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận kịp thời với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân luôn được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm Trong khu có 1 Phòng khám đa khoa khu vực với 30 giường bệnh đặt tại xã Tân Trào, mỗi xã đều có Trạm y tế có 5 giường bệnh, các thôn đều có cán bộ y tế thôn bản Tuy nhiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trình độ chuyên môn còn hạn chế nên chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân địa phương
Công tác giáo dục - đào tạo của các xã trong vùng có bước chuyển biến rõ rệt cả về chất và lượng trên tất cả các bậc học; trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên luôn được nâng cao; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học đạt 99,9%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 96,47% Toàn khu có 01 trường Phổ thông dân tộc nội trú; các xã đều có các trường từ Mầm non đến THCS Tuy nhiên
cơ sở vật chất trường học còn thiếu nhất là trường Mầm non nên việc huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp còn khó khăn; tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp THCS tiếp tục học tại các trường THPT còn thấp do ở xa trường, điều kiện kinh tế của các gia đình còn khó khăn
Giao thông các xã thuộc khu di tích lịch sử Tân Trào có Quốc lộ 2C chạy qua, nối liền khu vực này với các huyện của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Cạn, Thái Nguyên Ngoài quốc lộ 2C còn có đường liên xã, đường trục thôn, đường ngõ xóm và đường nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên hầu hết các tuyến đường đều xấu, cần nâng cấp
Thủy lợi các xã thuộc khu di tích lịch sử Tân Trào có 23 hồ chứa, 23 đập tràn, 6 đập va, 8 phai tạm, với tổng số kênh mương dài 114,9 km, đảm bảo tưới cho 8.472 ha, đạt 74% diện tích lúa cả năm Tuy đã có hệ thống thủy lợi phục vụ sản
Trang 38xuất nông nghiệp nhưng chất lượng các công trình đang bị xuống cấp, 50% hệ thống kênh mương chưa được kiên cố hóa vì vậy hiệu suất sử dụng không cao, thường chỉ đạt 60% - 70% công suất thiết kế; cần đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình thuỷ lợi để đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
Tất cả các xã đều có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện là 99,44%,
số còn lại sống phân tán, xa trung tâm, điều kiện kinh tế khó khăn nên không có khả năng kéo đường dây điện về nhà; một số hộ ở gần nguồn nước sử dụng máy thủy điện nhỏ
Nguồn nước sinh hoạt của nhân dân chủ yếu là nước giếng và nước khe, suối Trong những năm gần đây chương trình 135, chương trình nước sạch nông thôn đã đầu tư xây dựng được một số công trình cấp nước sinh hoạt cho nhân dân như công trình nước tự chảy, giếng khoan Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh là 3.638
hộ (đạt 72%), số hộ còn lại sử dụng nước chưa đảm tiêu chuẩn vệ sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người cao tuổi và trẻ em [53]
3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội KVNC
3.3.1 Những yếu tố thuận lợi
- Khu di tích lịch sử Tân Trào có vị trí, có tiềm năng, lợi thế về giá trị lịch sử cách mạng của dân tộc Do đó được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm đầu tư, giúp đỡ để phát triển kinh tế theo hướng phát triển du lịch,
đi đôi với bảo tồn cảnh quan và các khu rừng đặc dụng
- Những tiến bộ về nhận thức, về khoa học của quốc tế và Việt Nam góp phần quan trọng vào bảo tồn và phát triển bền vững
- Có khí hậu, đất đai tương đối thuận lợi cho các thảm thực vật rừng phát triển, phù hợp với các loài cây trồng nông, lâm nghiệp và cây công nghiệp
- Người dân cần cù, chịu khó, tích cực lao động và sản xuất
3.3.2 Những yếu tố khó khăn
- Là khu di tích lịch sử nổi tiếng của cả nước nên hàng năm có hàng ngàn lượt khách du lịch đến thăm viếng Đây cũng là yếu tố làm gia tăng hoạt động khai thác tài nguyên rừng (mật ong rừng, cây thuốc, vị thuốc, cây cảnh, rau rừng và hoa quả rừng ) để bán cho du khách, dẫn đến tài nguyên rừng bị khai thác cạn kiệt
Trang 39- Địa bàn quản lý rộng, địa hình phức tạp và giáp ranh với nhiều xã, huyện, tỉnh bạn nên công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra gặp nhiều khó khăn, trong khi lực lượng cán bộ bảo vệ rừng của khu di tích chưa đủ biên chế theo đúng quy định và chưa có cán bộ đào tạo chuyên sâu về công tác bảo tồn
- Trình độ nhận thức và dân trí còn thấp, đa phần là các xã vùng sâu, vùng xa đời sống còn gặp nhiều khó khăn, dân số tăng nhanh nên tài nguyên rừng luôn có nguy cơ bị xâm hại gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái
Do đó, vấn đề quản lý, khai thác khu di tích lịch sử Tân Trào để phát triển kinh tế, xã hội là cần thiết, nhưng phải đi đôi với việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững là nhiệm vụ hết sức nặng
nề của chính quyền và nhân dân tỉnh Tuyên Quang
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đa dạng các kiểu thảm thực vật trong KVNC
Thảm thực vật rừng trong KVNC hiện có thảm thực vật tự nhiên và thảm thực vật rừng trồng
I.A.1.1.1 Phân quần hệ cây lá rộng
* Rừng nguyên sinh bị tác động: Kiểu rừng này phân bố chủ yếu trên núi đất,
một số ít ở núi đá Mặc dù đã bị khai thác một số loài cây gỗ quý hiếm, nhưng cơ
bản kiểu rừng này vẫn giữ được tính nguyên sinh Cấu trúc tầng thứ của rừng được chia thành 5 tầng:
Tầng vượt tán (A1) có chiều cao trung bình 25 - 30m, đường kính trung bình
25 - 30 cm và độ che phủ 20 - 25% Tầng này gồm các loài như: Chò nâu
(Dipterocarpus retusus), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Đinh (Markhamia stipulata),
Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum), Táu muối
(Vatica diospyroides), Mý (Lysidice rhodostegia), Trai lý (Garcinia fragraeoides)
Tầng tán rừng (A2) có rất nhiều loài tham gia tạo thành một tầng tán khá liên tục, chiều cao trung bình 15 - 20m, đường kính đạt 20- 25cm và độ che phủ 50 - 60%
Tầng này gồm các loài như: Dẻ gai (Castanopsis armata), Mò lông (Litsea umbellata), Trám trắng (Canarium album), Giổi lông (Michelia balansae), Kháo vàng (Machilus bonii),