1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

bài tập lớn kinh tế vĩ mô - tốc độ tăng trưởng ppt

40 1,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 586,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo cách tiếp cận hệ thống - gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô hệ thống này được đặc trưng bởi ba yếu tố: Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ mô Các yếu tố đầu vào bao gồm: - Những tác

Trang 1

việt Nam tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một đất nước

nghèo vừa thoát khỏi chiến tranh, nền kinh tế lạc hậu, cơ sở vật chất thiếu

thốn Đã có giai đoạn vấp phải những sai lầm do chủ quan nóng vội đưa

kinh tế đất nước xuống mức suy yếu và trì trệ nghiêm trọng Đảng và Nhà

nước đã kịp thời nhận ra những khuyết điểm sai lầm, tìm con đường đổi

mới để khôi phục kinh tế Thực tế đã khẳng định Việt Nam đã đạt được

rất nhiều thành quả do đổi mới mang lại thể hiện ở tốc độ tăng trưởng

kinh tế và quan trọng hơn sự phát triển đó là vì mục tiêu con người Tuy

nhiên làm thế nào để giữ cho sự phát triển đó được nhanh, bền vững, ổn

định? Đó là câu hỏi được đặt ra không phải chỉ đối với các nhà hoạch định

kinh tế mà đó là trách nhiệm của mỗi công dân, đặc biệt hơn là với sinh

viên - thế hệ trẻ và là tương lai của đất nước

Việc học tập nghiên cứu kinh tế học là việc cần thiết quan trọng trang

bị cho sinh viên những lý thuyết cơ bản về tình hình kinh tế của đất nước

nói riêng và thế giới nói chung Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của

kinh tế học, nghiên cứu về cách ứng xử nói chung của mọi thành phần

kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của các quyết định cá nhân trong

nền kinh tế đó Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm

nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, lạm phát, thất nghiệp, mức giá chung

và cán cân thương mại của một nền kinh tế…

Thế hệ trẻ, đặc biệt là một sinh viên khoa kinh tế cần nhận thức rõ

được tình hình kinh tế của đất nước, học tập và nắm vững những kiến

thức cơ bản để tương lai trở thành một nhà hoạch định kinh tế có tầm nhìn

và kiến thức sâu rộng để góp phần xây dựng đất nước

Năm 1995, Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN, năm 2006 gia nhập tổ

chức thương mại thế giới WTO Điều này đặt ra cho đất nước những cơ

hội lớn đồng thời đi kèm là những thách thức cần vựơt qua để hội nhập và

phát triển cùng với nền kinh tế thương mại thế giới

Bài tập lớn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên

Trường ĐHHH thầy giáo Nguyễn Phong Nhã

Bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu về tốc độ tăng trưởng kinh tế của

Việt Nam giai đoạn 2004-2010 ,những thuận lợi và khó khăn của nước

ta khi gia nhập WTO

Trang 2

Chương I:

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VỚI CHỈ TIÊU XUẤT NHẬP KHẨU

a)Giới thiệu môn học,vị trí của môn học trong chương trình học đại học

Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tàinguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hóa cần thiết và phân phối cho cácthành viên của xã hội

Kinh tế học thường được chia thành 2 phân ngành lớn: kinh tế học vĩ mô và kinh tếhọc vi mô

Kinh tế học vĩ mô - một phân ngành của kinh tế học – nghiên cứu sự vận động vànhững mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh

tế quốc dân.Loại hình này tương phản với kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu về cáchứng xử kinh tế của cá nhân người tiêu dùng, nhà máy, hoặc một loại hình công nghiệpnào đó

Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồmmức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của một nền kinh

tế Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều gì quyếtđịnh giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy định những thay đổi của cácbiến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Thực chất chúng ta khảo sát mỗi biến số nàytrong những khoảng thời gian khác nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài hạn Mỗi khoảngthời gian đòi hỏi chúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tốquyết định các biến kinh tế vĩ mô này

Tăng trưởng, ổn định, phân phối công bằng và các chính sách kinh tế vĩ mô đểthực hiện những mục tiêu đó Tổng cầu, tổng cung và sản lượng cân bằng, mức giáchung Thất nghiệp, lạm phát, và mối quan hệ giữa chúng cũng được đề cập Khôngchỉ nghiên cứu kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đóng mà ngày nay để phù hợp vớiđiều kiện mới còn phải nghiên cứu trong điều kiện mở Tất các vấn đề trên đềuđược đề cập trong môn học kinh tế vĩ mô

Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vĩ mô gồm:

+ Phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp

+ Tư duy trừu tượng

+ Phân tích thống kê số lớn

Trang 3

+ Mô hình hoá kinh tế

Hệ thống kinh tế vĩ mô

Có nhiều cách mô tả hoạt động của nền kinh tế Theo cách tiếp cận hệ thống - gọi

là hệ thống kinh tế vĩ mô hệ thống này được đặc trưng bởi ba yếu tố: Đầu vào, đầu ra

và hộp đen kinh tế vĩ mô

Các yếu tố đầu vào bao gồm:

- Những tác động từ bên ngoài bao gồm chủ yếu các biến tố phi kinh tế: thời tiết,dân số, chiến tranh…

-Những tác động chính sách bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm điều chỉnhhộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới các mục tiêu đã định trước

Các yếu tố đầu ra bao gồm: sản lượng, việc làm, giá cả, xuất-nhập khẩu

Yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, còn gọi là nền kinh tế vĩ

mô Hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng của các biến đầu ra.Hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổngcầu

Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô :

 Mục tiêu

- Mục tiêu sản lượng:

Đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng

Tốc độ tăng trưởng cao và bền vững

- Mục tiêu việc làm

Tạo đựoc nhiều việc làm tốt

Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp

- Mục tiêu ổn định giá cả

Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do

- Mục tiêu kinh tế đối ngoại:

Ổn định tỷ giá hối đoái

Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

- Phân phối công bằng: đây là một trong những mục tiêu quan trọng

Để đạt được những mục tiêu trên kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước có thể sử dụngnhiều công cụ chính sách khác nhau Mỗi chính sách lại có công cụ riêng biệt.Dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà chính phủ ở các nước cónền kinh tế thị trường phát triển thường sử dụng trong lịch sử lâu dài và đa dạngcủa họ

- Chính sách tài khoá: Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng

để tác động đến nền kinh tế hướng nền kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mongmuốn

Công cụ: chi tiêu của chính phủ (G)

Trang 4

thuế (T)Đối tượng: Quy mô của chi tiêu công cộng

Chi tiêu của khu vực tư nhân

Sản lượngMục tiêu: Ngắn hạn: ổn định nền kinh tế

Dài hạn : hướng nền kinh tế đến sự phát triển lâu dài

- Chính sách tiền tệ: tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức sản

lượng và việc làm mong muốn

Lãi suất (i)Đối tượng: Tác động đến đầu tư (I)

Chi tiêu của hộ gia đình (C)Tiết kiệm (S)

Tỷ giá hối đoái (e)Mục tiêu (giống chính sách tài khoá)

- Chính sách thu nhập: bao gồm các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm tác

động trực tiếp đến tiền công, giá cả và để kiềm chế lạm phát

Đối tượng: Chi tiêu của các hộ gia đình (C)

Tổng cung ngắn hạn

-Chính sách kinh tế đối ngoại: Nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, giữ cho thâm hụt cán

cân thanh toán quốc tế ở mức có thể chấp nhận được

Hạn ngạch

Tỷ giá hối đoáiĐối tượng Hoạt động xuất-nhập khẩu và đầu tư nước ngoài

Mục tiêu: Chống suy thoái, lạm phát

Ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế

Một số khái niệm và mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô c ơ bản

 Tổng sản phẩm quốc dân và sự t ă ng tr ư ởng kinh tế

Tổng sản phẩm quuốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ màmột quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định

Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế

Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa

Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế

Trang 5

 Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản l ư ợng

Nền kinh tế thị trường của các nước công nghiệp phát triển tiêu biểu thường phảichống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự đình trệsản xuất, thất nghiệp và lạm phát

Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lên củasản lượng tiềm năng

Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sảnlượng

Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế

 T ă ng tr ư ởng và thất nghiệp

Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhânquan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Như vậy tăng trưởng nhanhthì thất nghiệp có xu hướng giảm đi

 T ă ng tr ư ởng và lạm phát

Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăngtrưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại Song mối quan hệ giữatăng trưởng và lạm phát như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Vấn đềnày kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng

 Lạm phát và thất nghiệp

Các nhà kinh tế cho rằng, trong thời kỳ ngắn thì lạm phát càng cao, thất nghiệpcàng giảm Trong thời kỳ dài chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất nghiệp cómối quan hệ “ trao đổi” Trong thời kỳ dài tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc một cách cơbản vào tỷ lệ lạm phát trong suốt thời gian đó

Trong điều kiện nước ta, quá trình chuyển đổi kinh tế chưa hoàn tất, các yếu tố thịtrường còn non yếu và chưa phát triển đồng bộ, Nhà nước đóng vai trò quan trọngtrong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế Vì vậy khi nghiên cứu những mối quan

hệ này trong điều kiện nước ta cần chú ý những đặc điểm trong từng giai đoạn lịch

sử cụ thể, tránh rập khuôn máy móc

Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phạn hợp thành kinh tế học

Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng trong việctiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho sinh viên tầm nhìnkinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia với vai trò của một nhà hoạchđịnh kinh tế cho đất nước Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cầnthiết với tất cả sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là với sinh viên học kinh tế, để cómột kiến thức và tầm nhin tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhậphiện nay

Trang 6

b)Giới thiệu chung về nền kinh tế từ sau đổi mới đến nay

Sau khi thống nhất đất nước ,năm 1976 ,Việt Nam đã bước vào thời kì xây dựngđất nước theo định hướng XHCN Tuy nhiên phải đến thánh 12 năm 1986,với Nghịquyết Đại hội Đảng VI về đường lối đổi mới kinh tế và chính sách mở,nền kinh tếViệt Nam mới thực sự khởi sắc và bước đầu đạt được những thành tựu kinh tế quantrọng.Sau 23 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất vàthực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theohướng hiện đại Trong hai thập niên qua, kể từ khi áp dụng những chính sách cải cáchkinh tế toàn diện với nội dung cốt lõi là tự do hóa, ổn định hóa, thay đổi thể chế,chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa ra nền kinh

tế thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về tăng trưởng kinh

tế

Đ ất n ư ớc ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đ ạt tốc đ ộ t ă ng tr ư ởng nhanh và ổn định

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các chỉtiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoàn thànhvượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cầnthiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá

1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu pháttriển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá làthành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong chặng đường đầutiên Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới,thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất 1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được tốc

độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP bình quân năm tăng 8,2%.Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH - HĐH đấtnước

Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiêntai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy

Trang 7

nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trongnước 7%/năm.

Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bìnhquân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiệnhành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đươngvới 640 USD

Nền kinh tế nước ta năm 2006 vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao Hầu hếtcác chỉ tiêu kinh tế chủ yếu do Quốc hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch Tổng sảnphẩm trong nước (GDP) ước tăng gần 8,2% (kế hoạch 8%)

GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5 triệu đồng, tương đương 720 USD, tăng 80USD so năm 2005

Năm 2007, tốc độ tăng GDP của Việt nam là 8,46% đứng thứ 3 châu Á (sau TrungQuốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%

Năm 2008, nền kinh tế nước ta không chỉ chịu tác động bởi thiên tai, dịch bệnh liêntiếp xảy ra gây thiệt hại nhiều cho sản xuất và đời sống dân cư mà còn bị tác động bởinhững bất ổn của kinh tế thế giới, đặc biệt là khủng hoảng tài chính mang tính toàncầu kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời,quyết liệt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ như trên; sự nỗ lực cố gắng và chủ độngkhắc phục khó khăn của các Bộ, Ngành, địa phương, các tập đoàn, doanh nghiệp, các

cơ sở sản xuất và của toàn dân nên kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 từng bước vượtqua khó khăn, thách thức, kinh tế có bước tăng trưởng khá, lạm phát được kiềm chế.Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%;khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%

Tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 đạt 3,1% so với cùng kỳ năm 2008, là quý

có mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây, nhưng đến quý II/2009 đã tăng 4,5%

và quý III/2009 tăng 5,8% Tính chung 9 tháng, tổng sản phẩm trong nước tăng 4,6%

so với cùng kỳ năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,6%;khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,5% (công nghiệp tăng 3,3%, xây dựng tăngcao với 9,7%); khu vực dịch vụ tăng 5,9%

Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 8

C ơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo h ư ớng công nghiệp hoá, hiện đ ại hoá, gắn sản xuất với thị tr ư ờng

Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng

ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây.

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%,năm 2005 còn 20,9%,năm 2007 còn dưới 20,0% so với 20,81% năm 2006, Trong nội

bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến

bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm cógiá trị xuất khẩu.Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên Trong kếhoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giátrị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm., Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Trang 9

9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; bao gồmnông nghiệp tăng 2,3%; lâm nghiệp tăng 2,8%; thuỷ sản tăng 3,3%.

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là 21,6%, năm

2005 lên 41%,năm 2008 là khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,91% Sản xuấtcông nghiệp có chuyển biến tích cực và đạt mức tăng khá Giá trị sản xuất côngnghiệp tháng 9/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 13,8% so với cùng kỳ nămtrước, tính chung 9 tháng năm 2009 tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008 Giá trị sảnxuất của công nghiệp khai thác 9 tháng năm nay ước tính tăng 9,8%; công nghiệp chếbiến tăng 6,1%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 10,2% Từchỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác được khoảng gần 20 triệutấn quy ra dầu Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngàycàng hiện đại.Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trongnhững thị trường lớn

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm2005,và đến 2008 khu vực dịch vụ chiếm 38,1% Các ngành dịch vụ đã phát triển đadạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Ngành dulịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh Các ngành dịch vụ tài chính,ngân hàng, tư vấn pháp lý,vận tải có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả

Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trongcông nghiệp, xây dựng và dịch vụ Năm 1990, lao động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm73,02% trong tổng số lao động xã hội, năm 2000 còn 56,8%

Trong khi đó, tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1%năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương ứng từ19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005 Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển dịchngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị sảnxuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm

2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hộinông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôntheo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ;trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm

cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm

2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62%

so với năm 2000

Trang 10

Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tậptrung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Cơchế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướngxoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm củadoanh nghiệp trong kinh doanh.

Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực,đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội Trong đó,kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng, hoạt động ngày càng có hiệu quả

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềmnăng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triểnkinh tế

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thànhmột bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng vớithế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế

C ơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo h ư ớng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu

Tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ số mở cửa ngày cànglớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm 2005 là trên 50% Tổng kimngạch xuất khẩu 5 năm 2001 - 2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kếhoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đãđạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạtmức cao - 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ XK/GDPđạt khoảng 70%

Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản đã cósức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nhưđầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đềutăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từnăm 2004 đến nay Năm 2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm2002: 3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉUSD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồnvốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi

so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005,chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua

Năm 2008 , tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái, songđầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi năm

2007 Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầutháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1

Trang 11

chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD) Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉtiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD)

Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai Cácdoanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu ởAn-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào

Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế đặc biệt khi ViệtNam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới(tháng 11/2006) Gia nhập vào sân chơi toàn cầu này đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để pháttriển, để đuổi kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới nhưngcũng đem lại cho Việt Nam những thách thức không nhỏ Việt Nam hiện nay đượcđánh giá là một điểm đến cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi vì Việt Nam có một môitrường kinh doanh ổn đinh…

Thực hiện gắn kết phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đ ề xã hội, đ ời sống của đ ại bộ phận dân c ư đư ợc nâng lên rõ rệt.

Một thành công lớn đầy ấn tượng của nước ta qua hơn 20 năm đổi mới là đã giảiquyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội, các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thànhphần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dânđược nâng cao

Trước hết, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượtmục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Từ năm 2000 đến năm 2005, tạoviệc làm cho 7,5 triệu lao động Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%

Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 640USD năm 2005, thu nhập bình quân tính trên đầu người từ 835 USD của năm 2007tăng lên 960 USD vào năm 2008 (đạt hơn 90% so với kế hoạch) và đạt khoảng 1.100USD vào năm 2009

Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống dưới 7%năm 2005 Theo chuẩn quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam

đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002

Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứngdụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh Theothống kê của WHO, tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam là 75 tuổi, so với 72 tuổinăm 2000 và 68 tuổi của năm 1990 Tương tự, tuổi thọ trung bình của đàn ông ViệtNam cũng tăng từ 64, 68 lên 70 năm.Cũng theo thống kê của WHO, tuổi thọ trung

Trang 12

bình cho cả hai giới ở Việt Nam tăng từ 66 tuổi năm 1990 lên 70 tuổi năm 2000 vànay là 72 tuổi.

)

c)Giới thiệu về GDP và GNP

Khái niệm : Tổng sản phẩm trong nước là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền

của các hàng hoá, dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốcgia trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

Tổng sản phẩm quốc nội là tổng thu nhập kiếm được trong phạm vi lãnh thổ 1nước trong vòng 1 năm

Sơ đồ luân chuyển KTVM :

Để đơn giản, người ta chỉ xét một nền kinh tế gồm hai tác nhân:

- Các hộ gia đình: cung cấp dịch vụ các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp để cóthu nhập và dùng thu nhập đó để mua hàng hoá và dịch vụ

- Các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất do hộ gia đình cung cấp đế sảnxuất hàng hóa, dịch bán cho hộ gia đình

Theo sơ đồ sẽ có hai phương pháp xác định tổng sản phẩm quốc nội:

- Theo cung trên: Xác định GDP theo giá trị của hàng hoá và dịch vụ cuối cùng(theo luồng sản phẩm cuối cùng)

Chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ cuối cùng

Hàng hóa,dịch vụ cuối cùng

Dịch vụ các yếu tố sản xuất

Chi phí cho các yếu tố sản xuất

Trang 13

- Theo cung dưới: Xác định GDP theo thu nhập (theo luồng thu nhập hoặc chiphí).

Các phương pháp xác định GDP

 Xác định theo luồng sản phẩm cuối cùng

Theo phương pháp này, GDP được chia thành bốn thành tố bao gồm tiêu dùng(Consumption - C), đầu tư (Investment - I), chi tiêu chính phủ mua hàng hoá và dịch

vụ (Government purchases – G) và xuất khẩu ròng (Net Exports – NX)

GDP = C + I + G + NX Trong đó:

- Tiêu dùng là chi tiêu mua hàng hoá và dịch vụ bởi các hộ gia đình Đó là cáckhoản chi tiêu mà các cá nhân thực hiện hàng ngày cho lương thực, thực phẩm, quần

áo, xem phim, tủ lạnh, xe máy… Thực phẩm, quần áo và các hàng hoá khác sử dụngtrong một thời gian ngắn được phân loại là những hàng hoá không lâu bền, trong khi

tủ lạnh, xe máy, và các hàng hoá tương tự được xếp vào nhóm hàng hoá lâu bền.Đồng thời cũng có một nhóm tiêu dùng thứ ba, là dịch vụ: đây là việc mua hoạt độngcủa các cá nhân, chẳng hạn như bác sĩ, luật sư và nhà môi giới

- Đầu tư chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp vào nhà xưởng, máy móc;được gọi là đầu tư cố định cho kinh doanh Các hàng hoá được giữ trong kho bởi cácdoanh nghiệp cũng được tính là một phần của chi tiêu và được gọi là đầu tư vào hàngtồn kho Khoản mục này có thể mang giá trị âm nếu các doanh nghiệp giảm lượnghàng trong kho chứ không tăng chúng Thành phần thứ ba của đầu tư trên thực tế docác hộ gia đình và chủ cho thuê nhà thực hiên – đầu tư cố định vào nhà ở Đây là việcmua nhà ở, văn phòng mới được xây dựng

- Loại chi tiêu thứ ba tương ứng với mua hàng của chính phủ (ở tất cả các cấp –chính phủ trung ương và chính quyền địa phương) Nó bao gồm chủ yếu là chi tiêucho quốc phòng, cũng như chi tiêu vào đường cao tốc, cầu cống, bến cảng… Điềuquan trọng cần nhận thức là nó chỉ tính các khoản chính phủ chi cho hàng hoá và dịch

vụ vào GDP Điều này có nghĩa là nó không tính các khoản chi trả bảo hiểm thấtnghiệp, bảo hiểm xã hội, và các khoản chuyển giao thu nhập khác Khi chính phủ chỉchuyển giao thu nhập cho các cá nhân, hoạt động này không ảnh hưởng trực tiếp,nhưng lại tác động gián tiếp đến GDP thông qua ảnh hưởng đến tiêu dùng của các hộgia đình

- Cuối cùng, một số hàng hoá mà chúng ta sản xuất được người nước ngoài mua

Do đó, thành phần khác của chi tiêu – xuất khẩu (Export – X) cần được cộng thêmvào Ngược lại, chi tiêu của các tác nhân trong nước cho hàng hoá được sản xuất ở

Trang 14

nước ngoài không phản ánh mức sản xuất trong nước Do đó, nhập khẩu (Import –IM) cần phải khấu trừ khỏi tổng chi tiêu để tính GDP với tư cách là thước đo mức sảnphẩm trong nước Xuất khẩu ròng được tính bằng cách lấy xuất khẩu trừ nhập khẩu.

NX = X – IM

 Xác định theo luồng thu nhập hoặc chi phí

Theo phương pháp này, GDP bao gồm toàn bộ chi phí cho các yếu tố sản xuất màdoanh nghiệp phải thanh toán Tổng chi phí mà doanh nghiệp phải trả trở thành thunhập của các hộ gia đình

- Nếu xét trong nền kinh tế hai khu vực GDP bao gồm:

Khấu hao tài sản cố định (KH): khấu hao là một trong những khoản chi phí củadoanh nghiệp nhằm bù đắp các hao mòn tài sản cố định Chi phí khấu hao khôngtương ứng với bất kỳ khoản thu nhập nào của các hộ gia đình

 Như vậy, ta có công thức tính GDP như sau:

GDPWir  T eKH

 Xác định GDP theo giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá trị tổng sản lượng của một doanhnghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác mà đãđược dùng hết để sản xuất ra sản lượng đó

Giá trị gia tăng = Tổng giá trị sản lượng – Chi phí trung gian

GDP = Tổng giá trị gia tăng

Một số khía cạnh cần quan tâm khi tính GDP :

- GDP chỉ bao gồm hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ở hiện tại Nó là một thước

đo mức sản xuất trong từng thời kỳ, ví dụ một quý hay một năm, và chỉ bao gồmnhững hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong khoảng thời gian đó Những giao dịchthị trường như trao đổi hàng hoá được sản xuất từ trước, như nhà ở, ô tô, hoặc nhàmáy sẽ không được tính vào GDP Trao đổi các tài sản, như cổ phiếu hay trái phiếu, là

ví dụ của những giao dịch thị trường khác không liên quan trực tiếp đến sản xuất hànghoá và dịch vụ ở hiện tại, và do đó không được tính vào GDP

Trang 15

- Chỉ có việc sản xuất những hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mới được tính vàoGDP Hàng hoá được sử dụng trong quá trình sản xuất một hàng hoá khác chứ khôngphải được bán cho người mua cuối cùng, được gọi là hàng hoá trung gian, thì khôngđược tính riêng biệt vào GDP Những hàng hoá như vậy đã có mặt trong GDP bởi vìchúng đóng góp vào giá trị hàng hoá cuối cùng – những hàng hoá trong quá trình sảnxuất đã sử dụng chúng Tính toán chúng một cách riêng biệt sẽ dẫn đến việc tính trùnglặp Ví dụ, chúng ta không thể tính giá trị của cà phê hạt được sử dụng khi chế tạo càphê bột một cách riêng biệt, sau đó lại tính chúng lần nữa khi cà phê bột được bán ra Tuy nhiên, có hai loại hàng hoá được sử dụng trong quá trình sản xuất được tínhvào GDP Thứ nhất là hàng hoá tư bản được sản xuất trong hiện tại – tức là việc muacác thiết bị và nhà máy để kinh doanh Những hàng hoá như vậy cuối cùng cũng được

sử dụng hết trong quá trình sản xuất, nhưng trong khoảng thời gian hiện tại thì chỉ mộtphần giá trị của nó được sử dụng trong sản xuất phần này được gọi là khấu hao, cóthể được cho rằng đã năm trong giá trị của hàng hoá cuối cùng được bán ra Nếu GDPkhông bao gồm hàng hoá tư bản một cách tách biệt, nó tương đương với việc cho rằngchúng đã được khấu hao toàn bộ trong hiện tại Tổng sản phẩm trong nước bao gồmtoàn bộ giá trị của hàng hoá tư bản như một danh mục tách biệt (điều này được thểhiện trong cách xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí)

Một danh mục khác, bao gồm chủ yếu là các hàng hoá trung gian, được gọi là đầu

tư hàng tồn kho cũng là một thành phần của GDP – sự thay đổi ròng trong hàng tồnkho của hàng hoá cuối cùng chờ bán và nguyên liệu được sử dụng trong quá trình sảnxuất Sự bổ sung của lượng hàng hoá cuối cùng trong kho cũng thuộc GDP vì chúng

là những hàng hoá được sản xuất trong hiện tại Để xác định chính xác sản phẩm quốcdân về mặt thời gian, người ta nên tính sự gia tăng của lượng hàng hoá cuối cùngtrong kho vào thời kỳ hiện tại, chứ không nên tính chúng vào thời kỳ sau khi chúngđược bán cho người mua cuối cùng Tương tự, đầu tư hàng tồn kho vào nguyên vậtliệu cũng nằm trong GDP bởi vì chúng là những sản phẩm được sản xuất trong hiệntại mà giá trị của chúng không nằm trong hàng hoá cuối cùng được bán ra trong hiệntại Lưu ý rằng đầu tư vào hàng tồn kho có thể mang giá trị âm hoặc dương

- GDP là giá trị cùa hàng hoá vào dịch vụ được tính theo thước đo chung là giá cảthị trường Đây là cách để có thể tổng hợp được giá trị của hàng triệu các sản phẩm vàdịch vụ khác nhau Nhưng cách tính này cũng sẽ loại trừ ra khỏi GDP những hàng hoákhông được bán trên thị trường, như là dịch vụ của những người nội trợ hay công việclàm vườn của chủ nhà, cũng như các hoạt động phi pháp như ma tuý, đánh bạc, haymại dâm…

Bởi vì đây là thước đo định lượng, do đó GDP sẽ nhạy cảm với những thay đổitrong mức giá chung Một mức sản lượng hiện vật giống nhau có thể tương ứng vớicác mức giá khác nhau khi mà mức giá thị trường chung thay đổi Để khắc phục điềunày, bên cạnh việc tính toán tổng sản phẩm trong nước theo giá thị trường hiện tại,

Trang 16

được gọi là GDP danh nghĩa, cỏc nhà hạch toỏn thu nhập quốc dõn cũng tớnh GDPthực tế, là giỏ trị của sản phẩm quốc nội theo giỏ cố định của một năm cơ sở

Khỏi niệm: Tổng sản phẩm quốc dõn là chỉ tiờu đo lường tổng giỏ trị bằng tiền

của cỏc hàng húa và dịch vụ cuối cựng mà một quốc gia sản xuất được bằng cỏc yếu

tố sản xuất của mỡnh trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

Phương phỏp xỏc định GNP

GNP = GDP + Thu nhập rũng từ tài sản nước ngoài

 GNP danh nghĩa (GNPn – Nominal )

GNP danh nghĩa (GNPn) là tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và

dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất đợc tính theo giá hiện hành trên thị trờng 

n i

t i

t i

t i

o i

GNP

D 

GDP là kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế xảy ra bên tronglãnh thổ đất nớc Những hoạt động này có thể do công ty, doanh nghiệp của nớc đó haycông dân nớc ngoài sản xuất tại nớc đó Nhng GDP không bao gồm kết quả hoạt động

Thu nhập của cụng dõn nước đú tại nước ngoài

nước ngoài ở nước ta

Trang 17

của công dân nớc sở tại tiến hành ở nớc ngoài.

Trong thực tế, hãng kinh doanh của nớc ngoài sở hữu một nhà máy ở ta dới hìnhthức bỏ vốn đẩu t hay liên doanh với các công ty nớc ta thì một phần lợi nhuận của họ

sẽ chuyển về nớc họ để họ chi tiêu hay tích luỹ Ngợc lại, công dân nớc ta sinh sông vàlàm việc ở nớc ngoài cũng gửi một phần thu nhập về nớc Khi hạch toán tài sản quốcdân, ngời ta thờng dùng

thuật ngữ “thu nhập ròng tài sản từ nớc ngoài” để chỉ phần chênh lệch giữa thu nhậpcủa công dân nớc ta ở nớc ngoài và công dân nớc ngoài ở nớc ta

ta có mối liên hệ giữa GNP và GDP nh sau:

GNP = GDP + thu nhập ròng tài sản từ nớc ngoài

Thu nhập ròng tài sản từ nớc ngoài = ( Khoản thu - Khoản chi) từ nớc ngoài.

 GNP và GDP là những thước đo tốt nhất để đỏnh giỏ thành tựu kinh tế củamột đất nước GNP và GDP thường được sử dụng để phõn tớch những biến động vềsản lượng của một quốc gia trong cỏc khoảng thời gian khỏc nhau

 GNP và GDP được sử dụng để phõn tớch sự thay đổi cuộc sống của dõn cư

Chương 2:

TèM HIỂU TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT

NAM GIAI ĐOẠN 2004-2010

Trang 18

a ) Tìm hiểu số liệu về GDP & GNP của nước ta trong giai đoạn 2010

2004-Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2004 đạt 7,79%, năm 2005 đạt8,84%, năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007 đạt 8,46%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009đạt 5,32% và năm 2010 ước tính đạt 6,78% Bình quân thời kỳ 2006-2010, tăngtrưởng kinh tế đạt 7,01%/năm, trong đó bình quân giai đoạn 2004-2005 đạt 8,32%;bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 6,14%

do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế thế giới Tăng trưởng ba khuvực kinh tế như sau:

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,34%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đógiai đoạn 2006-2007 tăng 3,72%; giai đoạn 2008-2010 tăng 3,09%

- Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,94%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đó giaiđoạn 2006-2007 tăng 10,30%; giai đoạn 2008-2010 tăng 6,40%

- Khu vực dịch vụ tăng 7,73%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đó giai đoạn 2006-2007tăng 8,57%; giai đoạn 2008-2010 tăng 7,17%

Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người đồng năm 2006 lên 22778 nghìnđồng năm 2010, gấp gần 2 lần, tương đương 11084 tăng từ 11694 nghìn nghìn đồng.Nếu tính theo USD (Theo tỷ giá hối đoái bình quân năm), tổng sản phẩm trong nướcbình quân đầu người tăng từ 730 USD năm 2006 lên 1168 USD năm 2010, gấp 1,6lần, tương đương 438 USD

Theo báo cáo hàng năm về tình hình kinh tế xã hội trên báo điện tử chính phủ ta có

số liệu GDP chi tiết cho từng năm như sau:

Năm 2004 :

Năm 2004, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 361,4 nghìn tỷ đồng (giá 1994),ước tăng 7,6% so với năm 2003 (kế hoạch đề ra tăng từ 7,5% đến 8%), trong đó khuvực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,3%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng10,3%; khu vực dịch vụ tăng 7,3% Xu hướng tăng trưởng khá ổn định: quý sau caohơn quý trước; quý I tăng 7%; sáu tháng tăng 7%; chín tháng tăng 7,4% và cả năm

Trang 19

tăng 7,6% Đó là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng bảy năm qua (năm 1998 tăng5,76%; năm 1999 tăng 4,77%; năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng 6,89%; năm

2002 tăng 7,08% và năm 2003 tăng 7,26%) Trong bối cảnh khó khăn về nhiều mặt,tốc độ tăng trưởng của năm 2004 là thành tựu đáng ghi nhận Cơ cấu kinh tế tiếp tụcchuyển dịch theo hướng tiến bộ: Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăngdần, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần

Năm 2006

Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng 8,17% so vớicùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khuvực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29% Khu vựcnông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2005, chủyếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưởng của thờitiết bất thường và dịch bệnh Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng thấp hơnmức tăng của năm ngoái do sản xuất công nghiệp giảm (dầu thô khai thác đạt 17 triệutấn, thấp hơn mức 18,5 triệu tấn của năm 2005; công nghiệp chế biến và điện, nước,

ga cũng giảm so với mức tăng trưởng năm trước Khu vực dịch vụ tăng cao hơn mứctăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn duy trì đượcmức độ tăng cao như thương nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch; kháchsạn, nhà hàng; tài chính ngân hàng, bảo hiểm

Năm 2007:

Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ là thành tựunổi bật nhất, cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam năm 2007 Tổng sản phẩm trongnước ước tăng 8,46%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 - 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và

là mức cao nhất trong vòng 11 năm gần đây Với tốc độ này, Việt Nam đứng vị trí thứ

3 về tốc độ tăng GDP năm 2007 của các nước châu Á sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn

Trang 20

Độ (khoảng 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%) Tốc độ tăng trưởngGDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá: Khu vực nông - lâm nghiệp vàthủy sản ước tăng 3,0%/ so với mức 3,32% cùng kỳ 2006, khu vực công nghiệp vàxây dựng tăng 10,33% (riêng công nghiệp tăng 10,32%)/ so với mức 10,4% và10,32% cùng kỳ và khu vực dịch vụ tăng 8,5%/ so với mức 8,29% của năm 2006.(tính theo giá so sánh năm 1994).

Năm 2008

Tổng sản phẩm quốc nội năm 2008 chỉ tăng 6,23% so với năm ngoái, thay vì mục tiêu6,5-6,7% vừa được Quốc hội điều chỉnh tại kỳ họp cuối tháng 10 đầu tháng 11 Năm

2009, mục tiêu tăng trưởng kinh tế VN đạt mức 6,5%

Phiên họp báo cuối tháng 12 của Chính phủ được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòngChính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá là kỳ họp lịch sử, bởi lần đầu tiên có mặt 6 bộtrưởng bao gồm Văn phòng Chính phủ, các bộ Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Côngthương, Thông tin Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước; để công bố những thông tinquan trọng liên quan đến tình hình kinh tế, xã hội VN năm 2008

Năm nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN đạt 6,23% so với năm 2007, chỉ số lạmphát 19,9% Theo Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Võ Hồng Phúc, đây là những con số rất

ấn tượng mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt như kế hoạch ban đầu (7%), chỉ

số lạm phát có thời điểm được dự báo có thể lên đến 29% Tuy nhiên trong điều kiệnsuy thoái kinh tế toàn cầu, rất ít quốc gia đạt được mức tăng trưởng kinh tế hơn 5%.Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 62,9 tỷ USD, song nhập siêu khoảng 17 tỷUSD

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch đầu tư, 2008 kinh tế VN đối mặt với những khó khăn,thách thức rất lớn do bị ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ vàsuy thoái kinh tế thế giới, cũng như hậu quả nặng nề của thiên tai, lũ lụt

Đặc biệt ngành sản xuất công nghiệp và xây dựng gặp nhiều khó khăn do giá đầu vàotăng cao cho cả nhập khẩu và nguyên vật liệu trong nước, lẫn lãi suất đi vay Ước giátrị gia tăng ngành xây dựng năm 2008 chỉ tăng 0,02% so với 2007 Tổng mức bán lẻhàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm ước tăng khoảng 31%, nhưng vì lạmphát nên nếu loại trừ yếu tố trượt giá thì chỉ tăng khoảng 10%

Các nhà tài trợ vốn ODA hồi đầu tháng 12 tại hội nghị CG đã cam kết hỗ trợ VN hơn

5 tỷ USD, giải ngân năm nay khoảng 2,2 tỷ USD Vốn đầu tư nước ngoài kể cả dự án

Ngày đăng: 10/08/2014, 17:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 – Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế từ năm 2004-2010 (đơn vị: %) Năm Tỷ lệ tăng - bài tập lớn kinh tế vĩ mô - tốc độ tăng trưởng ppt
Bảng 2 – Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế từ năm 2004-2010 (đơn vị: %) Năm Tỷ lệ tăng (Trang 24)
Bảng 1 - Số liệu về GDP từ năm 2004-2010 (đơn vị: nghìn tỷ đồng) - bài tập lớn kinh tế vĩ mô - tốc độ tăng trưởng ppt
Bảng 1 Số liệu về GDP từ năm 2004-2010 (đơn vị: nghìn tỷ đồng) (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w