1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đo vẽ bản đồ địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn

50 2,2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đo vẽ bản đồ địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn
Tác giả Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Tiến Vinh, Hoàng Văn Tiệp, Bùi Sỹ Hoàng
Trường học Trường Đại học Mỏ Địa chất
Chuyên ngành Địa chất
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2008
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 133,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đo vẽ bản đồ địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn

Trang 1

CHƯƠNG I Lời mở đầu

Địa chất là môn khoa học chuyên nghiên cứu về trái đất, các vật liệu hình thành trái đất, cấu trúc của những vật liệu đó và các quá trình hoạt động của chúng, nó bao gồm các nghiên cứu về nguồn gốc sinh vật trên trái đất, địa chất học là môn nghiên cứu về thành phần, nguồn gốc của quá trình, cấu trúc của trái đất thay đổi theo thời gian Để không ngừng củng cố thêm kiến thức đá được học là làm quen với công việc địa chất sau này

Nhằm mục đích đào tạo chuyên môn Địa chất cho sinh viên Theo quyết định số: 3968/QD.MĐC - ĐH SDH của Bộ GD&ĐT Trường Đại học Mỏ Địa chất: ngày 14/11/2007 đã cho phép sinh viên lớp Địa Chất B - K50 đi thực tập môn học Địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ Địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn từ ngày 31/12/2007 đến ngày 16/02/2008

Thị xã Lạng Sơn là một vùng thực tập rất điển hình và đa dạng cho sinh viên địa chất, đặc biệt là sv ngành địa chất TKTDKS đi thực tập Với cấu trúc địa chất phong phú, các hiện tượng địa chất nội ngoại sinh rất rõ ràng, nên đi Lạng Sơn

là rất phù hợp với mục đích của nhà trường và khoa địa chất đề ra

Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức đã học từ giáo trình môn học; Địa chất Đại cương, Địa chất cấu tạo, Thạch Học, Lịch sử địa chất… Qua việc vận dụng lý luận thực tế, tìm tòi sáng tạo trong thực tập và làm tổng kết lý luận Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc sau này, giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong tương lai

Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập, phải đảm bảo thực tập đúng nội dung, đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như: Đảm bảo lộ trình, tuân thủ quy định lao động, đảm bảo việc thu thập mẫu, ghi chép đầy đủ cá nhân, bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt

Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn:

+ Phải nhận biết, nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến

lộ trình cũng như trong vùng nghiên cứu

+ Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất

+ Tăng khả năng nhận biết đất đá, sử dụng bản đồ địa hình, địa bàn địa chất,

Trang 2

búa và các dụng cụ khác trong khi thực tập.

Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địa chất như; các phương pháp địa mạo, viễn thám, môi trường… Nhằm phát hiện và làm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích Đệ Tứ

Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng, diễn ra trong 6 tuần từ tuần 21 đến tuần 27 tức là từ 31/12/2007 đến 16/02/2008 và được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Từ ngày 30/12/2007 đến ngày 03/01/2008 Đây là thời gian chuẩn bị dụng cụ học tập, tư trang, tài liệu địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất và các điều kiện về vật chất để tiến hành thực tập Giai đoạn này được thực hiện ở nhà và một phần ở Lạng Sơn

- Giai đoạn 2: Sau giai đoạn chuẩn bị đó là giai đoạn thực địa Giai đoạn này chúng tôI thực hiện tại khu vực TP Lạng Sơn gồm những lộ trình có sự hướng dẫn của thầy giáo và những lộ trình độc lập

Lộ trình 1: Đông Kinh – Nà Pàn

Lộ trình 2: Đông Kinh –Lộc Bình

Lộ trình 3: Đông Kinh – Bản Lỏng

Lộ trình 4: Đông Kinh – Cao Lộc

Lộ trình 5: Đông Kinh – Hữu Nghị - Tân Thanh

Lớp Địa Chất Thuỷ Văn K54 gồm 55 thành viên được chia ra làm 7 nhóm, mỗi nhóm có 7 thành viên, trong đó chúng tôI thuộc nhóm 2 đội II và bao gồm các thành viên sau:

1 NGUYỄN VĂN SÁNG (Nhóm trưởng)

2 NGUYỄN TIẾN VINH

3 HOÀNG VĂN TIỆP

Trang 3

đo vẽ bản đồ địa chất vùng thánh phố Lạng Sơn.

Báo cáo gồm 10 chương:

Chương 1: Mở đầu: Giới thiệu mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đợt thực tập,

cơ cấu đoàn thực tập, quá trình thực tập và những điểm chúng nhất về báo cáo của đợt thực tập này

Chương 2: Đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn vùng thành phố Lạng Sơn

Giới thiệu khái quát về địa lý, kinh tế - nhân văn và các hoạt động khác của vùng thực tập

Chương 3: Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu

sơ lược quá trình nghiên cứu địa chất của vùng

Chương 4: Địa tầng Giới thiệu và mô tả địa tầng trong vùng nghiên cứu Chương 5: Kiến tạo Chương này trình bày những điểm vấn về cơ bản nhất về

phân vùng kiến tạo, mô tả các nếp uốn, các đứt gãy và khe nứt trong vùng nghiên cứu

Chương 6: Địa mạo Trình bày những điểm chung nhất về địa mạo thực tập

và mối liên quan của chúng với cấu trúc địa chất, với khoáng sản, với địa chất công trình - địa chất thuỷ văn – TKTD khoáng sản và môi trường

Chương 7: Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình Giới thiệu các phức hệ,

các tầng nước dưới đất, đồng thời giới thiệu một số vấn đề chính về địa chất công trình của vùng nghiên cứu

Trang 4

Chương 8: Khoáng sản: Trình bày các khoáng sản chính và khả năng sử dụng

chúng trong kinh tế và đời sống ở vùng đã thực tập

Chương 9: Lịch sử phát triển địa chất vùng thành phố Lạng Sơn Căn cứ vào

các thành tạo địa chất, hiện tượng địa chất để đánh giá và phân tích lịch sử phát triển địa chất của vùng

Chương 10: Kết luận: Trình bày các kết quả thu được sau đợt thực tập, nêu

tóm tắt các vấn đề cần khắc phục và phương hướng phát triển

Báo cáo được hoàn thành là kết quả của sự đoàn kết và cố gắng của các thành viên trong nhóm, dưới sự hướng dẫn của các thầy giáo trong đoàn thực tập

Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Trường Đại học Mỏ - Địa chất, khoa Địa chất, bộ mộ Địa chất, các thầy giáo hướng dẫn thực tập và chính quyền, nhân dân thành phố Lạng Sơn, những cá nhân tập thể đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đợt thực tập này

Xin chân thành cảm ơn !

Trang 5

- Từ 10604320 đến 10604718 kinh độ Đông

- Từ 2104300 đến 2104944 kinh độ Bắc

2. Địa hình

Vùng thành phố Lạng Sơn thuộc địa hình miền núi có độ cao trung bình thấp

và ít phân cắt, độ cao tuyệt đối từ 250m đến 600m Thành phố Lạng Sơn nằm gọn trong một thung lũng có dạng hình thoi, kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam Với chiều dài khoảng 6km Trung tâm thung lũng là khu vực Kỳ Lừa được mở rộng 3 – 3,5 km, còn hai đầu thi hẹp lại chỉ còn 100 – 200m Bề mặt thung lũng tương đối bằng phẳng và hơi nghiêng về phía Đông Nam Trong thung lũng có các núi sót đá vôi phân bố phía Tây Kỳ Lừa như: Tam Thanh, Nhị Thanh và nằm rải rác như : núi Chùa Tiên , Đông Kinh, Phai Vệ với độ cao tuyệt đối thường trên 300m, vách dốc đứng, bề mặt phân cách hiểm trở Trong các núi đá vôi phát triển nhiều hang động karst với những kích thước khác nhau tạo nên những danh lam thắng cảnh như Tam Thanh Nhị Thanh, Chùa Tiên

a, địa hinh núi thấp

Đồi núi chiếm một phần lớn trong địa hình nghiên cứu, phân bố xung quanh khu vực thành phố Lặng Sơn Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu hết là đồi núi thấp phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi riêng biệt Xa trung tâm thành phố là các dãy đồi núi thấp có độ cao từ 280 đến 450m, kéo dài theo phương gần Bắc Nam, đỉnh núi có độ cao lớn nhất là 578m Các đồi thường có đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc từ 5 đến 15 độ với độ cao từ 280m tới 310m Các núi thấp thường có đỉnh nhọn, sường dốc từ 30- 350 có nơi

Trang 6

đến 450 với độ cao thay đổi từ 300 – 400m Đỉnh cao nhất nằm ở phía Tây Bắc thành phố, đạt độ cao 587m Cấu tạo nên địa hình này là các đá trầm tích lục nguyên và magme phun trào Phần lớn bề mặt các đá bị phong hoá mạnh và đang tiếp tục bị phong hoá Chính nhờ vào các đặc điểm này mà vỏ phong hoá khá dày, dễ gây các tai biến địa chất ở các sườn dốc của địa hình.

b, địa hình núi đá vôi

Một trong những đặc trung của địa hình khu vực Lạng Sơn là địa hình núi đá vôi Núi đá vôi ở đây là những núi không cao hoặc nằm đơn lẻ dạng núi sót

Về độ cao tuyệt đối, phần lớn các núi này đều có độ cao trên 290m, phổ biến trên 300m Mức độ phân cắt hay độ chênh cáo giữa các đỉnh núi và địa hình xung quanh không quá 200m Vì vậy, theo phân loại thì địa hình này chưa đặt tiêu chuẩn, tuy nhiên nếu dùng thuật ngữ “đồi” thì không phù hợp Về mặt bản chất và hình thái các núi có mức độ tập trung lớn ở khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh Các núi đá vôi ở đây có dạng thấp, sườn thoải, đỉnh tai mèo lởm chởm Một số khác có dạng nón như: Đông Kinh, Phai Lây.Trong khối đá vôi phát triển nhiều hang động, một số nơi có phong cảnh đẹp như các động Tam Thanh, Nhị Thanh, Chùa Tiên

c, địa hình đồng bằng, thung lũng

Địa hình đồng bằng và thung lũng phân bố ở phía Nam và một số nơi xung quanh thành phố Lạng Sơn Về nguồn địa hình này được tạo thành do các quá trình ngoại sinh như: quá trình hoà tan, bóc mòn và tích tụ

Thung lũng lớn nhất là thung lũng thành phố Lạng Sơn, ngoài ra còn xuất hiện thung lũng ở khu vực Mai Pha, dọc suối Na Sa, suối Ki Ket và thung lũng Nà Chuông Do địa hình bằng phẳng nên ở trung tâm thành phố giao thông khá thuận tiện, là nơi tập trung dân cư, kinh tế phát triển

Trang 7

d, sông suối

Các sông suối phân bố ở phần phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số nơi khác trong vùng Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông sang Tây

Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc đến vùng nghiên cứu sông uốn lượn rồi chảy theo các phương khác nhau đến Thất Khê, sông chảy vào sông Bằng Giang (Trung Quốc) Trong phạm vi vùng nghiên cứu Sông Kỳ Cùng có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua các đất đá và các địa tầng khác nhau, chịu ảnh hưởng của các cấu trúc khe nứt, đứt gãy, nên hướng dòng chảy thay đổi, chiều rộng và chiều sâu lòng sông khác nhau Đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn với địa hình tương đối bằng phẳng, phân bố đá hoà tan nên dòng được mở rộng khoảng 60-80m, có nơi đến gần 100m Dòng sông uốn khúc, nước chảy chậm, bờ sông là nơi tích tụ phù sa của sông Kỳ Cùng, có nơi là đá vôi hoặc đá trầm tích lục nguyên Lưu lượng của sông thay đổi từ 4,48m3/s về mùa khô, đến 7396m3/s về mùa mưa.Trong vùng nghiên cứu có ba con suối là các suối Na Sa, suối Lau Li và suối Ki Ket Các suối có chiều rộng từ 1m đến 20m Suối có nhiều nước vào mùa mưa

và ít nước và mùa khô

3. Khí hậu

Vùng thành phố Lạng Sơn nằm trong phạm vi của đới khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa trung bình thay đổi từ 1700 mm đến

1800mm Trong mùa mưa xuất hiện những trận lũ bất thương làm cho nhân dân thành phố và công tác nghiên cứu địa chất gặp không ít khó khăn Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa ít từ 100mm đến

200mm Nhiệt độ trung bình từ 10-200C, cá biệt có ngày đến dưới 00C, có hiện tượng tuyết rơi trên đỉnh nùi Mẫu Sơn Trong mùa khô có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa phùn Tuy nhiên về mùa này cơ bản về thời tiết khô ráo phù hợp với công tác nghiên cứu khảo sát địa chất

Trang 8

II Đặc điểm kinh tế

- Quốc lộ 1A: Hà Nội - Lạng Sơn

- Quốc lộ 1B: Lạng Sơn -Thái Nguyên

- Quốc lộ 4A: Lạng Sơn - Cao Bằng

- Quốc lộ 4B: Lạng Sơn - Quảng Ninh

Đặc biệt là tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn đã được nâng cấp, mở rộng rút ngắn thời gian đi lại giữa hai thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông giữa các khu vực nói trên Ngoài đường quốc lộ, trong vùng còn có các tuyến đường liên huyện từ thành phố đi các nơi trong tỉnh

Nhìn chung công nghiệp trong vùng chưa phát triển không có nhiều công trường và các công sở công nghiệp có quy mô lớn và hiện đại Khu cực thành phố chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu

tư sản xuất tại nơi đây Các cơ sở lớn nhất là Công ty Vật liệu Xây dựng Lạng Sơn

Đáng chú ý là nhà máy xi mang Lạng Sơn với công suất 6 vạn tấn/ năm nhưng hiện nay đá ngừng hoạt động và công ty gạch ngói Hợp Thành

Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao, một phần do điều kiện địa hình khí hậu không thuận lợi cho khai trồn các loại cây công nghiệp và phần cơ bản khác là phương thức canh tác còn lạc hậu Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu và rau có chất lượng cao Sản phẩm rau quả ở đây được ưa chuộng tại địa phương và các vùng xung quanh Trong những năm gần đây nông nghiệp và lâm nghiệp đã được chú ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã giảm đáng kể đồng thời nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế

Trang 9

4. Thương nghiệp

Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thương nghiệp Giao lưu hàng hóa giữa Lạng Sơn với Trung Quốc lưu thông hàng hóa tập trung tại các khu vực Kỳ Lừa, Đông Kinh, Tân Thanh, Đồng Đăng Hàng năm lưu lượng hàng hóa qua biên giới

Phần lớn trình độ văn hóa của người dân thành phố Lạng Sơn và vùng lân cận

ở mức trung bình Tuy nhiên trong vùng có khá nhiều trẻ em thất học đặc biệt

là con em dân tộc ít người

Vùng nghiên cứu là một trong những khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Thành Nhà Mạc - Động Tam Thanh, Nhị Thanh, chù Tam Thanh, cửa Nhị Thanh, Chùa Tiên Hàng năm lượng khách du lịch đến Lạng Sơn là khá đông Trên cơ sở đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn, chúng tôi thấy rằng vùng thành phố Lạng Sơn rất thuận lợi cho việc thực tập nghiên cứu địa chất Nơi này có nhiều đồi núi thấp cây cao và thưa dễ dàng phát hiện các đất đá và đặc điểm địa chất

Trang 10

CHƯƠNG III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT THÀNH PHỐ LẶNG SƠN

Lịch sử nghiên cứu vùng thành phố Lạng Sơn liên quan trực tiếp đến lịch

sử nghiên cứu địa chất vùng Đông Bắc Việt Nam, được chia làm 3 giai đoạn

I.Giai đoạn trước năm 1945

Từ cuối thế kỷ 19, Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp cho đến trước năm 1945 Do vậy công việc nghiên cứu vùng này đều do các nhà địa chất tiến hành với mục đích riêng của họ

Năm 1942 Baurret đã có công trình nghiên cứu vùng Đông Bắc Việt Nam Ông gọi các đá trầm tích sét kết, bột kết có hoá đá chân rùi ở Lạng Sơn là đá phiến Sông Hiến

Năm 1926, Patte đã nghiên cứu đá phun trào ở Bắc bộ và Lạng Sơn ông

đá xếp chúng vào tuổi Trias

II.Giai đoạn 1945 đến 1954

Trong thời kỳ này do điều kiện chiến tranh, công việc nghiên cứu địa chất

ở nước ta nói chung và ở vùng Lạng Sơn nói riêng hầu như chưa được tiến hành là bao nhiêu

III.Giai đoạn từ năm 1954 đến nay

Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam đã trở lại hoà bình và bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Việc thăm dò khoáng sản là một trong những nhu cầu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt nam đã thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1:500.000

Năm 1965 A.E.Dopjicop cùng các nhà Địa chất Việt Nam đã phân chia các đá vùng thành phố Lạng Sơn thành các phân vị địa tầng sau:

- Điệp Lạng Sơn (Tiils)

- Điệp Sông Hiến (T2ash)

- Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)

Năm 1962, Bùi Phú Mỹ, Gazenco và một số nhà Địa chất đã xếp Bauxit vùng Đồng Đăng vào tuổi Trias Trong công trình nghiên cứu trùng lỗ Paleozoi thượng của Nguyễn Văn Liêm năm 1966, ông đã xếp Bauxit ở khu vực này vào Điệp Đồng Đăng (P3 đđ) và xếp đá vôi khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh vào hệ tầng Bắc Sơn (C-P2 bs)

Năm 1972 Trần Văn Trị và một số nhà Địa chất khác đã thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1: 1.000.000 Trong đó đá phun trào ryolit ở khu vực thành phố Lạng Sơn được xếp vào bậc Anizi, trầm tích có hóa đá chân

Trang 11

rìu, chân đầu nằm trên đá phun trào xếp vào bậc Lađini.

Từ đầu năm 1969 đến nay các thầy giáo và sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã khảo sát khu vực này với mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học, phục vụ đời sống kinh tế quốc phòng đã làm rõ cấu trúc địa chất khu vực cùng những vấn đề liên quan, trong đó có địa chất được phân chia từ trẻ đến già như sau:

+ Thống trên, hệ tầng Mẫu Sơn (T3 c-ms)

+ Thống giữa, hệ tầng Nà Khuất (T2l nk); hệ tầng Sông Hiến (T2a sh)

+ Thống dưới, hệ tầng Kỳ Cùng (T1o kc); hệ tầng Lạng Sơn (T1i ls)

Giới Paleozoi (PZ)

- Hệ Pecmi

+ Thống trên, hệ tầng Đồng Đăng (P3 đđ)

- Hệ Cacbonm, hệ Pecmi thống giữa, hệ tầng Bắc Sơn (C-P2 bs)

Các công việc này đã góp phần đào tạo đội ngũ kỹ sư địa chất phục vục cho các ngành kinh tế của nước ta

Trang 12

CHƯƠNG IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ ĐO VẼ

BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT

Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất là công việc nhìn thấy toàn diện chính của địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất cấu tạo giúp cho sinh viên có cái nhìn khái quát về cấu trúc địa chất, kiến tạo, khoáng sản và các vấn đề khác, và từ đó thực hiện công việc một cách chi tiết hơn Do những mục đích trên các phương pháp tiến hành thực hiện theo quy trình khoa học kỹ thuật nhằm đặt hiệu quả tốt nhất

I.Chuẩn bị các tài liệu có trước

Đây là bước công tác quan trọng để thu nhập tài liệu địa hình, địa chất, môi trường có trước với vùng công tác

II.Chuẩn bị tài liệu mới

Như tài liệu ảnh chụp vệ tinh, từ máy bay, từ xa, các tài liệu địa chất vật

lý, khoan thăm dò, phân tích mẫu

III.Xây dựng tài liệu tổng hợp

Trên cơ sở các tài liệu nói trên tổng hợp như: tài liệu địa hình, địa chất môi trường, kiến tạo, khoáng sản, địa chất công trình , địa chất thuỷ văn

Tiến hành lộ trình nhằm bao quát toàn vùng, nhằm tạo cơ sở dữ liệu lập các lộ trình thực địa

Từ các tài liệu tổng hợp, tài liệu lộ trình bao quát, tài liệu điều kiện địa lý

tự nhiên vạch các lộ trình thực địa theo các chuyên môn

 Tổng hợp các tài liệu có trước với các tài liệu thực địa thành lập bản đồ tài liệu thực tế, bản đồ địa chất, địa mạo, địa chất khoáng sản, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, địa chất môi trường và các tài liệu khác

Trang 13

 Chi tiết hoá tài liệu viễn thám kết hợp các tài liệu địa lý, khoan khai đào, phân tích mẫu.

 Phân tích các diện tích, các khu vực, các đơn nguyên địa chất đến địa chất công trình trên cơ sở các tài liệu địa chất

Trong khi tiến hành các công tác nói trên, vận dụng hiệu quả các phương pháp trong nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất như: Lộ trình thực địa, theo dõi các công trình khoan và khai, đào, phân tích mẫu Đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển chú ý áp dụng các phương pháp phân tích viễn thám, kiến tạo vật lý, địa vật lý, và một số phương pháp phân tích viễn thám, kiến tạo địa lý, địa vật lý, và một số phương pháp hiện đại khác để kết quả công tác đạt được tốt hơn

Trang 14

CHƯƠNG V ĐỊA TẦNG

Khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau của 3 đới, đới Sông Hiến từ

Nà Pàn kéo đến Tây Bắc, đới An Châu từ Nà Chuông tới Đông Nam, đới Hạ Long

từ Lộc bình tới Đông Bắc Vì vậy địa tầng khu vực này chịu ảnh hưởng chung đặc điểm của 3 đới Khu vực thành phố Lạng Sơn đã trải qua lịch sử phát triển lâu dài Phần lớn các thành tạo cổ ở đây đã bị chìm xuống, sau đó hoạt động hạ vòng kiến tạo

Hiện nay trên bình đồ khu vực tồn tại các đá trầm tích phun trào có tuổi Cacbon đến Đệ Tứ Các thành tạo này được xếp vào các phân vị địa tầng địa phương

- Giới Paleozoi (PZ)

+ hệ cacbon- hệ pecmi thống dưới-hệ Bắc Sơn( C-P2 BS )

+ hệ pecmi thống trên - hệ tầng Đồng Đăng ( P3 ĐĐ)

- Giới mezozoi (MZ)

+ hệ triat thống dưới - bậc indi - hệ tầng Lạng Sơn ( T1i LS)

+ hệ triat thống giữa – bâc anizi -hệ tầng Khôn Làng ( T2a Kl )

+ hệ thống giữa- bậc ladini- hệ tầng Nà Khuất ( T2l-nk)

+ hệ triat thống trên- bậc Kacni- hệ tầng Mẫu Sơn ( T3cms)

1. Hệ cacbon-pecmi thống dưới- hệ tầng Bắc Sơn (P2BS)

Hệ tầng Bắc Sơn được nhà địa chất Pháp Fraurui nghiên cứu và đặt tên năm

1956 Đến năm 1965 nhà địa chất người Liên Xô thấy tình hình tương tự Phía trên là đá vôi nằm nghiêng, được cho là hệ tầng Đồng Đăng

Phía dưới là các lớp bauxit và than nằm từ độ sâu vài mét đến vài chục mét

Trang 15

Dưới cùng lại gặp đá vôi hệ tầng Bắc Sơn, ba tầng này nằm gần như song song với nhau.

Bauxit ở đây rõ ràng có nguồn gốc trầm tích, được tạo thành liên tục từ dưới lên Như vậy có thể xếp ba tập trên vào một hệ thống Bắc Sơn tuổi dự kiến C-P2

Vấn đề ở chỗ có thể xuất hiện hai tập bauxit

- Bauxit đạng vỉa như đã nói ở trên có tuổi đời pecmi giữa

Bauxit dạng vỉa do làm giàu thứ sinh phong hoá tập trung Al và Silic

tập này nằm trên đá vôi

Vậy thì hệ tầng Bắc Sơn kéo dài tới pecmin trung, trong đó có tập

Al, bauxit, than

Hệ tầng Đồng Đăng có tuổi pecmi muộn và chuyển tiếp dần lên triat sớn Vì vậy có thể xếp đá vôi quán long vào hệ tầng Bắc Sơn còn baixit quán long giống bauxit ở Tam Lung Đồng Én

Chiều dày của hệ tầng Bắc Sơn trên 1000m

2. Hệ pecmi thống trên - hệ tầng Đồng Đăng (P3 ĐĐ)

Năm 1956 nhà địa chất người Pháp E.Saurui đã nghiên cứu trầm tích silic bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn và đã xác định tuổi pecmi sớm Sau đó năm 1962 một số nhà địa chất như Gazenco, Trepotaricop, Bùi Phúc Mỹ

đã nghiên cứu đá trầm tích lục nguyên siclic, bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn và chúng vào triat sớm

Năm 1966 Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu trầm tích silic, bauxit,

đá vôi nối trên và xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng tuồi pecmi muộn (P3ĐĐ)

Từ 1969 đến nay, các giáo viên của bộ môn địa chất trường đại học

Mỏ Địa Chất Hà Nội đã nghiên cứu các trầm tích Đồng Đăng Phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đã nhất trí xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng tuổi P3ĐĐ như hiện nay

Trang 16

Ở khu vực thành phố Lạng Sơn trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng

mở rộng ở khu vực chùa Tiên, rộng vài trăm mét

Một số nơi khác, trầm tích này nằm độc lập, xung quanh là trầm tích trẻ hơn như khu vực quán long

Mặt cắt hệ tầng Đồng Đăng quan sát tốt ở khu vực Quán Lóng, Phai Lây hệ tầng Đồng Đăng từ dưới lên trên gồm các phần:

- Phần dưới gồm cuội sỏi kết, cát kết, bột kết, sét kết, đá silic chứa hoá

đá fusullina… Các lớp cấu tạo phân lớp mỏng đến vừa Các trầm tích này thường đóng vai trò phân nếp lồi như: Quán long, Chùa Tiên…

- Phần giữa chủ yếu là đá vôi màu xám sáng, xám đen, đen, đá vôi dăm kết, vôi silic Phần lớn chúng có cấu tạo phân lớp dày, cấu tạo khối Trong các lớp đá vôi ở Quán Long có hoá đá tay cuộn, san hô, trùng lỗ

Phần trên là đá vôi phân lớp mỏng, nhiều tập chất sét, sét kết,đá silic dạng khối, cát bột sét kết silic

Tuy nhiên không phải chỗ nào cũng có mặt cắt ba phần đã nêu Điều này được giải thích bằng tính không đồng nhất, tính cục bộ trong quá trình thành tạo trầm tích nói trên cũng như hoạt động đứt gãy, xói mòn, bóc mòn dần của một số nơi trầm tích hệ tâng Đồng Đăng ngay trong quá trình thành tạo

Về thành phần của trầm tích hệ tầng Đồng Đăng có một số đặc điểm lớn:

- Tập đới cùng và trên cùng đều là trầm tích lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết

- Phần trên của tập dưới có lớp bauxit

- Tập trên chủ yếu là đá vôi

Đến nay phản ánh quá trình thay đổi môi trường trầm tích và điều kiện cổ địa lý tướng đá trong quá trình thành tạo Ban đầu mới hạ võng, trầm tích ven

hồ, môi trường Ph thấp Sau đó biển tiến mạnh hơn, đáy trầm tích sâu hơn, nhiệt độ nóng ẩm hơn, trầm tích các sản phẩm cacbonat canxi Cuội pecmi muộn có hiện tượng biển lùi, đáy nâng nông dần, trầm tích các sản phẩm vụn

cơ học, vụn thô lẫn silic

Trang 17

Về cấu trúc, phần lớn hệ tầng Đồng Đăng nằm ở cánh nếp lồi với phân là

đá già hơn thuộc hệ tầng Bắc Sơn Một số nơi chúng phát triển hoàn chỉnh dạng nếp lồi, nếp lõm với biên độ đứng không đáng kể

Trên cở sở tuổi của các hoá đá trong tầng này trong khu vực Lạng Sơn, xem xét các khu vực xung quanh và căn cứ các thành tạo khác già hơn, xếp các

đá trên vào tuổi hệ tầng Đồng Đăng (P3 đđ)

Quan hệ phía dưới là quan hệ bất chỉnh hợp trên các đá hệ tầng Bắc Sơn Bất chỉnh hợp này khá lớn, dạng song song

Quan hệ phía trên là quan hệ chỉnh hợp, được các đá cát kệt, bột kết, sét kết của hệ tầng Lạng Sơn phủ chỉnh lên trên Các vết lộ gần cầu Quán Lóng đá chứng minh điều đó

Xác minh được đúng quan hệ này là điều mấu chốt để giải quyết vấn đề cấu trúc vùng TP Lạng Sơn

A.E Dopficop trong loạt bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ

1:500,000 do ông chủ biên đã xác định các đá vôi vùng Bắc Sơn thành phố Lạng Sơn có tuổi cacbon trong – pecmi sớm (C-P2 bs) năm 1977, Trần Văn Trì và một

số tác giả xếp các đá vôi nói trên vào loạt cacbon-pecmi ( C-P2 bs) Trên bản đồ địa chất vùng này, hệ tầng Bắc Sơn có diện tích phân bố khá rộng, diện tích này chiếm toàn bộ thành phố Lạng Sơn, có đạng quả trám phình to ở giữa, thu hẹp

và thắt chặt hẳn ở hai đầu Tây Bắc và Đông Nam

Nghiên cứu mặt cặt hệ tầng Bắc Sơn từ Đôgn Kinh qua Nhị Thanh, Tam Thanh, khu vực Cò Lèng và một số nơi lân cận địa tầng giữa hai phần

Phần dưới là đá vôi dạng khối màu xám xanh, xám sáng kết tinh yếu khá đông nhất

Phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám đen, cấu tạo lớp vừa đến dày trong đá vôi có nhiều hoá đá trùng lỗ, san hô, các hoá đá điển hình là

Verbeekina misellina, compretsa…

Về dạng nằm và cấu trúc, các đá của hệ tầng Bắc Sơn nằm ở phần dưới cùng trong cột địa tầng Vùng nghiên cứu chưa thấy đá nào già hơn Các lớp đá vôi ở đây thường nằm nghiêng trong cấu tạo uốn nếp thoải dạng vung, chảo, uốn nếp ngắn với góc dốc hay gặp từ 200 – 400.

Trang 18

Căn cứ vào hoá đá, vị trí địa tầng, liên hệ so với các vùng lân cận xếp các

đá vôi ở trên vào hệ tầng Bắc Sơn với hệ tầng già hơn chưa quan sát được Một

số nơi ở Cao Bằng và miền Bắc Nước ta thấy chúng phủ bất chỉnh hợp lên các

đá già hơn Còn quan hệ phía trên là bị các trầm tích hệ tầng Đồng Đăng phủ bất chỉnh hợp lên trên

Nghiên cứu các mặt cắt tìm bauxit ở khu vực Tam Thanh

Trang 19

CHƯƠNG VI KIẾN TẠO

Khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi có hoạt động kiến tạo đối mạnh, nhất là trong giai đoạn Paleozoi muộn - Mezozoi và Kainozoi

Một số nhà Địa chất theo thuyết địa máng xếp vùng thành phố Lạng Sơn vào nơi giao nhau của ba đới tướng cấu trúc: đới Sông Hiến, đới Hạ Long và đới An Châu, thuộc miền hoạt hóa kiến tạo Paleozoi muộn - Mezozoi

Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ vũ trụ và các phương pháp địa vật lý trong thời gian gần đây đã đi đến nhận định cấu trúc cơ bản của Trái Đất Trong đó, phần ngoài cùng là thạch quyển gồm phần trên của Manti và vỏ Trái Đất là các thành tạo cứng có thành phần chủ yếu là các silicat chuyển dịch về các phía khác nhau trên quyển mềm của Manti trên

Do chuyển động quay của Trái Đất, các dòng đối lưu, các tác động va chạm hành tinh và mối quan hệ hấp dẫn giữa các hành tinh mà từng phần của thạch quyển chuyển dịch về các phía khác nhau, trượt trên quyển mềm tạo thành các mảng Quan hệ giữa các mảng cùng với các đột biến về va chạm hành tinh là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và phần lớn cấu trúc ở nước ta…

Ở đây các đá già nhất có tuổi Cacbon- Pecmi trung Đồng thời có phổ biến các thành tạo lục nguyên, cacbonat, phun trào tuổi Mezozoi - Kainozoi Tuy nhiên về mặt cấu trúc, chưa quan sát thấy hiện tượng hút chìm và các cấu tạo nên tăng trưởng cũng như đặc trưng của các cấu trúc trên

Cấu trúc của khu vực mang tính cấu trúc vùng rift - địa hào cạnh khu vực hoạt động mạnh như Lai Châu - Sơn La - Ninh Bình và liên quan với đột biến chảy vỏ phun trào magma có nguyên nhân là các vụ va chạm hành tinh vào cuối Pecmi muộn đầu Trias sớm Trên cơ sở khoa học đã nêu phân tích cấu trúc và lịch sử hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và sát thực tế hơn

Theo các tài liệu của thế giới và Việt Nam, thì khu vực thực tế ở Đông Nam của mảnh Đông á Một số tác giả xếp khu vực này vào phần Nam của mảng Dương tử hoặc mảng Việt Trung Một vài tác giả phân chia ra rìa thụ động, rìa tích cực…

Trên cơ sở phân tích các tài liệu đã có căn cứ vào tài liệu thực địa và tổng

Trang 20

hợp chúng tôi sắp xếp chương kiến tạo gồm ba phần:

- Các đới kiến tạo

- Các nếp uốn

- Các đứt gãy và khe nứt

1. Các đới kiến tạo

Trên bình đồ cấu trúc hiện đại, nước Việt Nam nằm trong mảng Đông á Trong thời gian Paleozoi muộn phần Đông Bắc Việt Nam trong đó có vùng Lạng Sơn là phần mảng lục địa đã nêu

Cuối Pecmi đầu Trias có sự va chạm của mảng Đông Dương với mảng Đông á với các hoạt động tách giãn, phun trào bazan khá mạnh mẽ dọc tuyến sông Đà-Thanh Hoá-Ninh Bình Hiện tượng nói trên đã tác động mạnh đến khu vực Hà Giang - Cao Bằng - Lạng Sơn - Quảng Ninh - Bắc Giang - Thái Nguyên và các vùng lân cận Kết quả đầu tiên là hình thành các đới đứt gãy sâu các địa hào mà khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau cảu chúng với các phương chính

là Tây Bắc - Đông Nam và á kinh tuyến tạo nên cấu trúc lớn dạng chữ nhân hoặc chặc ba

Với cấu trúc đã nêu, phân chia các đơn vị kiến tạo từ lớn đến nhỏ như sau: + Mảng Đông á

+ Khu vực Đông Bắc Việt Nam

+ Vùng phát triển và các đứt gãy sâu vòm nhiệt thành phố Lạng Sơn

Trong vùng thành phố Lạng Sơn có các đới kiện tạo:

- Đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu

- Đới hạ võng và trầm tích Pecmi muộn - Trias sớm ven các nhánh đứt gãy sâu

- Đới phát triển magma ven các đứt gãy sâu Trias trung

- Đới hạ võng trầm tích ven các đứt gãy sâu Trias trung và Trias muộn

- Đới hạ võng trầm tích kế thừa ven các đứt gãy sâu và phát triển magma dạng vòm nhiệt vào Jura muộn - Poleogen

- Đới tách giãn kiến tạo và hạ võng trầm tích Kainozoi giữa - muộn

Dưới đây chúng toi trình bày những đặc điểm chính của các đới kiến tạo trên

a. Đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu

Đới có phương kéo dài Tây Bắc - Đông Nam từ Đồng én qua Kỳ Lừa đến Mai Pha bao gồm chủ yếu phân bố trầm tích hệ tầng Bắc Sơn

Trang 21

Các thành tạo chính của đới là đá vôi, đá vôi vi hạt có cấu tạo từ phân lớp vừa đến phân kớp dày với cấu trúc phức nếp uốn mà phần lớn các nếp uốn thành viền có vòm cong cánh cánh thoải, bình đồ có dạng vung, chảo, dạng nếp uốn ngắn.

Các thành tạo trầm tích nói trên được hình thành vào Cacbon-Pecmi trung trong điều kiện môi trường biển nóng ẩm, trong, ở điều kiện kiến tạo khá bình

ổn Quá trình uốn nếp với các trầm tích đã nêu xảy ra vào cuối Pecmi trung đưa diện tích trầm đọng trước đây thành lục địa hình thành mảng Việt Trung

(Dương Tử) trong mảng lớn Đông á

Tất nhiên theo phân tích kiến tạo vào các giai đoạn trước thì còn có các mảng hoặc vi mảng (terrane) ở các vị trí trước và thời gian khác nhau

Trong thời kỳ cuối Paleozoi đầu Mezozoi đới này và phần lớn cấu trúc tương

tự ở Việt Nam bị tác động bởi hoạt động va chạm hút chìm, hạ võng của mảng Đông Dương với mảng Việt Trung Trong bối cảnh hoạt động này dẫn đến quá trình hạ võng theo phương Tây Bắc - Đông Nam, biến đổi từ rìa của đới, dần dần tiến đến trung tâm của đới, hình thành miền ven biển, biển nông, trầm tích các thành tạo lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết, sét than, bauxit…và trầm tích sau hơn là silic và đá vôi Đồng én, Hoàng Đồng, Kỳ Lừa, Khôn Sào, Bản Lóng, Mai Pha…là các khu vực đã xuất hiện các hiện tượng hạ võng như đã nêu trên Tuy nhiên, một số nơi trung tâm vùng nghiên cứu (Nhị Thanh, Pha Vệ…) chưa phát hiện các trầm tích nói trên chứng tỏ ở những vị trí này hiện tượng hạ võng xảy ra sau khu vực nói trên, thậm trí là đột biến, sụt võng đột ngột nên không có điều kiện trầm tích khoáng sản bauxit

Đặc điểm kiến tạo trong đới sau quá trình uốn nếp rõ nhất là các cấu tạo theo phương Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông Nam, á kinh tuyến, á vĩ tuyến nhưng chưa gặp các thể magma phun trào với quy mô lớn, vì vậy có thể xác định rằng đây là đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu, trung gian giữa các dải hoạt động mạnh nên hoạt động kiến tạo bình ổn hơn so với xung quanh Trong số các cấu tạo dạng phá huỷ thuộc giai đoạn trước, đáng kể là đứt gãy Tây Kỳ Lừa, hình thành đới ép đạp vỡ milonit

Sau đó các cấu trúc cơ bản gặp trong các đới này là cấu trúc đứt gãy có quy mô

và phương khác nhau, nhưng chưa gặp đá phun trào

Vì vậy có thể coi đây là đới trung gian nằm ở nơi giao hoà cân bằng tương đối các lực kiến tạo tấc động bởi nhánh đứt gãy sâu

Trang 22

b. Đới hạ võng và trầm tíc Pecmi muộn - Trias sớm ven các nhánh đứt gãy sâu

Đới này bao gồm các dải phía Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Nam vùng nghiên cứu Các đá cấu thành đới kiến tạo này là trầm tích ven bờ và biển nông như cát kết, bột kết, sét kết, sét than, bauxit, silic thành tạo trong điều kiện hạ võng khu vực ở mức độ trung bình thuộc giai đoạn đầu biển tiến Pecmi muộn - Trias sớm

Các thành tạo nói trên thuộc các hệ tầng: Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ cùng, với các phương chính là Đông Bắc - Tay Nam, Tây Bắc - Đông Nam

Vào cuối Pecmi, tiếp theo quá trình hạ võng chung, một số nơi ven rìa đới thứ nhất xuất hiện các đứt gãy thuận toác căng võng, hạ lún thay đổi thế nằm

và góc dốc của trầm tích hạ tầng Đồng Đăng và hệ tầng Lạng Sơn, sau đó ở một

số nơi nói trên có hoạt động dồn ép, hình thành các đứt gãy trượt nghịch làm các trầm tích đá vôi bị biến dạng khá mạnh

Các uốn nếp trong đới này phần lớn ở dạng nếp lồi nhỏ hoặc dạng nếp uốn ngắn không có các nếp uốn dạng tuyến

Các biến dạng phá huỷ trong đới thuộc b loại sau:

- Đới thứ nhất là biến dạng phá huỷ liên quan đến phá huỷ ở móng thuộc

Ở dạng thứ hai có thể gặp các đới trượt chờm và các nếp uốn đảo, chúc đầu như ở phía Nam và phía Tây Bắc Nà Pàn, bờ trái sông Kỳ Cùng, ở phía Nam Nà Sen, phía Đông Mai Pha…

Ở dạng thứ ba hình thành các nếp uốn có góc dốc nhỏ như ở quãng đền thờ Trần Hưng Đạo, Thác Trà, phía Bắc Nà Chuông…nhưng ở phía trên xuất hiện các nếp uốn đảo, chúc đầu, dạng mào gà như ở Đông Bắc Bản Lóng, phía Đông Pò Mơ…

Trên cơ sở phân tích như đã trình bày thấy rằng vào cuối Trias sớm một số

Trang 23

nơi trong vùng đã trở thành lục địa có mặt các phun trào magma axit dạng đảo

và cung đảo

c. Đới magma phun trào Trias trung ven nhánh đứt gãy sâu

Trong khu vực nghiên cứu chúng tôi thấy các đới này phân bố các dải ở phía Tây, phía Đông bắc và Đông Nam

Dải phía Tây nó các phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam

Dải phía Đông Bắc có các phương Tây Bắc - Đông Nam chuyển thành Đông Bắc - Tây Nam rồi thu hẹp dần và mất hẳn

Những điều trình bày đã xác định rằng phần phía tây có hoạt động magma khá mạnh, trong khi đó ở phần phía Đông và Đông Bắc hoạt động magma cũng tương đối, còn lại phần Đông Nam thì hoạt động trên yếu hẳn, chứng tỏ hoạt động đứt gãy ở hai khu vực nói trên, nhất là đứt gãy thuận - toác là khá mạnh Đồng thời điều kiện môi trường lục địa và biển đã cho khả năng khác nhau với thành tạo magma phun trào axit

Magma phun trào axit chủ yếu là ryolit, thể hiện là loại magma có lò tương đối nông, liên quan đến hiện tương tách vỏ ở mức đột thật không mạnh mẽ, dung dịch magma xuyên chậm lên vỏ và đồng hoá phần đá già silic và tạo magma phun trào axit

Điều nữa cho thấy, ngoài việc magma nói trên xuyên quan các đá cổ hơn chúng còn phủ chính hợp lên trên cá đá trầm tích ở đây chứng tỏ chúng được lắng đọng ở các trũng sâu cung hoặc giữa cung khi trầm tích biển nông đang được hình thành như ở phía Tây Nam Nà Pàn

Như vậy sự có mặt của đới magma phun trào đã thể hiện hoạt động kiến tạo magma khá mạnh ở đây nhưng liên quan chủ yếu với các đứt gãy sâu (phần nào giống dạng Bâicn), và một số nơi khác với magma thuộc đới tách giữa sông Đà

Các biến dạng phá huỷ tương đối hình thành vào các giai đoạn khác nhau nhưng liên quan nhiều đến giai đoạn cuối Trias và giai đoạn Jura - Neogen Chúng chia cắt các đá trong đới, hình thành các dải dập vỡ và bị phong hoá mạnh, phong hó dạng đường

Trang 24

d. Đới hạ võng trầm tích Trias trung -Trias muộn ven các đứt gãy sâu

Vào giữa Trias hoạt động đứt gãy mạnh lên ở dạng đứt gãy sâu - địa hào hình thành các dải biển phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam

ở phía Đông Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu

Giới hạn của phạm vi này về phía Đông Bắc có thể là đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên, phía Đông Nam là đứt gãy Na Sa - Nà Chuông - Đồng Mỏ - Chi Lăng - Sông Thương, trong đới đứt gãy theo phương này

Quá trình hạ võng hình thành đới biển nông với các trầm tích các - bột kết, sét kết và sét vôi

Tuy nhiên, do quá trình phun trào magma với thời tiết nóng và khô, do hiện tượng chuyển dịch về phía Đông Bắc và Đông Nam nên đã xuất hiện các biển nông dạng vũng vịnh và sau đó là các vũng biên có khí hậu khô nóng

Trong các điều kiện ở trên đã hình thành trầm tích thuộc môi trường oxy hoá với các lớp trầm tích có màu sắc sặc sỡ như tím gan gàn, nâu, nâu đỏ

Trong điều kiệnnhw thế đã hình thành cấu trúc dạng võng địa hoà hệ thống Mẫu Sơn lên hệ tầng Nà Khuất Trong điều kiện võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khối mang tính chất cục bộ rõ rệt

Cấu trúc nếp uốn đặc trưng là phức hệ nếp võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khối mang tính chất cục bộ rõ rệt

Cấu trúc nếp uốn đặc trưng là phức hệ nếp lõm có biên độ rộng, thuộc loại nếp uốn ngắn ít thấy các biến dạng phức tạp và cường độ cao

Các biến dạng phá huỷ mạnh thuộc vào giai đoạn sau uốn nếp, khép kín bồn trầm tích Các đứt gãy này phần nhiều là đứt gãy nghịch và trượt ngang, khả năng liên quan đến biến dạng ở khu vực giao nhau của đứt gãy dạng chạc ba

mà một trong các tác động là khối nâng Mẫu Sơn

Hoạt động kiến tạo cảu khu vực, hoạt động của khối này và sự hình thành magma dưới khối là một trong những nguyên nhân chính hình thành các đứt gãy nghịch đã nêu

e. Đới hạ võng trầm tích kế thừa ven các đứt gãy sâu và phun trào magma dạng vòm nhiệt Jura muộn - Paleogen

Trang 25

Sau quá trình khép kín bồn trầm tích vào giai đoạn cuối Trias, trong vùng còn tàn dư lại một số võng dạng bồn địa ở phía Tây Bắc thuộc Hoàng Đồng và Hợp Thành Các dòng magma ở dưới sâu có thành phần mafic vễn tiếp tục di

chuyển

Vào cuối Jura đầu Kreta hoạt động kiến tạo mạnh lên, dẫn đến chảy vỏ, sụt võng, trầm tích thành tạo lục địa dạng vũng vịnh như cuội, sạn, cát và phun trào ryolit Đặc tính thành tạo như trên phần nào giống dạng hố võng chồng ở

Tú Lệ

Dòng magma sâu tiếp tục đi vào phía Tây Bắc vùng nghiên cứu, gặp các đứt gãy mở thuận lợi nhất là giao nhau giữa chúng, bazan được đưa lên vòm nhịêt gồm chủ yếu các dung nham magma sâu, mafic và phá vỡ vỏ trào ra phủ trên một diện tích khá rộng ở phía Tây Bắc Nông Đồng

Những điều nói trên chứng tỏ phần Tây Bắc của vùng có hiện tượng kế thừa mạnh mẽ sụt vòm trầm tích và phun trào magma dạng vòm nhiệt

Cấu trúc đặc trưng trong đới là cấu trúc xuyên cắt cảu các thân magma có tuổi muộn hơn có trầm tích magma có trước Cùng vào đó là các đứt gãy mà một pha là tách giãn, căng đứt, góp phần mở đường cho dung nham mafic lên nhanh vào trào ra dưới dạng núi lửa bazan

f. Đới tách kiến tạo và hạ võng trầm tích Kainozoi giữa - muộn

Sau Paleogen vỏ Trái Đất khu vực nghiên cứu ở giai đoạn bình ổn bóc mòn san bằng cho đến đầu Neogen

Vào đầu Mioxen, do hoạt động dồn ép, trượt toác của đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên, do tác dụng các lực kiến tạo từ phía Hymalaya - Vân Nam - Trung Quốc và các lực khác ở đây cấu trúc trượt toác tạo nên các địa hào dọc thung lũng NaSa Trong các địa hào bắt đầu quá trình trầm tích dạng vũng vịnh của sông với độ chênh cao khá lớn

Trầm tích gồm các các lớp khấu kính cuội, sạn, cát, bột, sét và sét than

Nguồn vật liệu chủ yếu từ bên hồ địa hoà nên rất giày felspat thuộc các hệ tầng Khôn Làng, Tam Danh, Tam Lung

Cuối Mioxen ngừng quá trình tách giãn, sụt võng giảm hẳn thay vào đó là quá trình dồn ép theo các hướng từ Đông Nam xuống Tây Bắc, từ Tây Nam về Đông Nam Tuy nhiên hướng của lực có những giai đoạn thay đổi và trượt ngược lại Quá trình nói trên đã hình thành các nếp uốn, đứt gãy nghịch có mặt trượt nghiêng về phía Tây Bắc

Ngày đăng: 22/03/2013, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w