Tuy nhiên, với NĐT theo trường phái "tăng trưởng", P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng LN E cao › Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi
Trang 2Offline: 219B Ng Đình Chiểu Q3
• Nguồn: Các trang web về Ck trong và ngoài
nước Các nguồn khác
Trang 3 Nhóm hệ số giá trị: Chỉ số EPS, P/E, P/B, chỉ số nợ D/E (Debt to Equity Ratio)
Nhóm các hệ số tài chính ROE, ROA, …
Cách phân tích các hệ số từ báo cáo tài chính và các bút toán tiểu xảo trong BCTC.
Cách tính dòng tiền và giá trị nội tại CP
Lựa chọn CP theo PP CANSLIM
Bí quyết đầu tư theo PP Benjamin Graham
Trang 4 EPS – Thu nhập trên một CP.
Tổng thu nhập sau thuế - tổng số cổ tức của CP ưu đãi
Trang 5 Thị giá hiện tại của CP
P/E =
Thu nhập của CP (EPS)
Nhận xét: PE cho biết NĐT sẵn sàng trả giá cho mỗi CP cao hơn mức thu nhập hiện tại bao nhiêu lần
› PE là chỉ số cho biết giá CP đang ở mức được đánh giá cao hay thấp
› Theo quan điểm "bảo thủ", P/E dưới 10 thì nên mua Nếu đang nắm giữ
CP có mức P/E từ 10 - 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp
P/E 12 - 18 có thể mua được khi thị trường đang trong giai đoạn ổn
định theo hướng tốt P/E từ 18 trở lên xem xét bán CP Tuy nhiên, với NĐT theo trường phái "tăng trưởng", P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu tốc độ tăng LN (E) cao
› Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi dụng tâm lý yếu của NĐT VN khi tung ra các báo cáo xoay quanh chỉ
số này nhằm đánh đổ thị trường cho các NĐT của mình mua vào.
Trang 6Chỉ số Giá/Giá trị sổ sách (Price-to-Book ratio, P/B Ratio)
Giá hiện tại của CP (stock price)
là 25 tỷ Nếu hiện tại Cty có 10 triệu CP đang lưu hành, mỗi
CP sẽ đại diện cho 2.5k giá trị ghi sổ của Cty Nếu mỗi CP này
có giá thị trường là 50k, như vậy tỉ lệ P/B là 2=5/2.5.
› P/B là công cụ giúp có thể tìm kiếm được các CP có giá thấp
mà phần lớn thị trường bỏ qua Nếu một Cty đang bán cổ
phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của Cty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của Cty là quá thấp.
Trang 7› Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi xem xét các Cty có mức độ tập trung vốn cao hoặc các Cty tài chính bởi giá trị tài sản của các Cty này tương đối lớn Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của TS hoàn toàn không tính tới các TSVH như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do Cty tạo ra
Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các Cty dịch vụ
vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn
› Ví dụ: Microsoft là Cty mà phần lớn tài sản của Cty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác Cổ phần của Cty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.
Trang 8 D/E : Debt to Equity Ratio - Nợ trên vốn CSH
Nợ phải trả
D/E =
Nguồn vốn chủ sở hữu
› DE là chỉ số cho biết tài sản của Cty được hình thành chủ yếu
là do nguồn nào, nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu
› Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu được dung để phân tích tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu Tuy nhiên
có một số điều cần lưu ý khi sử dụng chỉ số này:
Giá trị của nợ phải trả trên báo cáo gần với giá trị thực tế hơn so với vốn chủ sở hữu.
Tùy thuộc vào quan điểm về nợ phải trả có bao gồm thuế thu nhập hoãn lại phải trả hay LN phải chuyển về cho Cty mẹ hay không mà chỉ số này mang lại những kết quả khác nhau.
› .
Trang 9› Thông thường thì một Cty tốt thì cần phải có ROE cao hơn mức trung bình của các Cty cùng ngành vì điều này cũng đồng nghĩa với việc Cty kiếm được nhiều tiền hơn trên đồng vốn bỏ ra đầu tư
› Trung bình toàn thị trường là 20,55%
Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng LN và
quản lý hiệu quả của cty.
Nói chung, nên tránh những Cty có chỉ số này nhỏ hơn 15% Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những Cty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những Cty đạt trên 40% Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới làm giảm chi phí và nâng cao năng suất
Trang 10 ROA : LN trên tài sản
› ROA cho ta biết Cty thu lợi bao nhiêu từ tổng số tài sản Cty sử dụng (gồm vốn CSH (vốn góp của tất cả cổ đông) và các khoản vay - nợ)
› nên tìm Cty có ROA cao hơn các Cty cùng ngành Trung bình toàn thị trường 11,69%
Trang 11Chỉ số LN thuần/doanh thu: Cty hoạt động có lãi nhiều không? Mức LN của Cty phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển thị trường, khả năng tiết kiệm chi phí và sức mạnh cạnh tranh của cty Nhìn chung thì một cty tốt thường làm ăn có lãi nhiều hơn các cty cùng ngành Tuy nhiên, cũng có khá nhiều ngoại lệ, một số doanh nghiệp phải hy sinh LN trong ngắn hạn
để nhắm tới nguồn LN lâu dài Trung bình toàn thị trường 9,95%
Chỉ số nợ: Tổng Vay nợ/Vốn : Chính sách về nợ của Cty thế nào? Tỷ lệ nợ trên tổng vốn giúp chúng ta thấy được khả năng chiếm dụng vốn của Cty Mỗi ngành nghề kinh doanh lại có mức độ nợ nần khác nhau, nên chúng ta cần so sánh tỷ suất nợ với các Cty cùng ngành và với bản thân Cty đang phân tích Nếu tỷ xuất này có sự khác biệt lớn, hoặc thay đổi mạnh, đó có thể
là tín hiệu rất không tốt Nếu tỷ suất này quá cao, Cty có thể đang chìm trong lâm nguy tài chính; nếu nó quá thấp, doanh nghiệp có thể đã để lỡ
cơ hội kiếm thêm tiền cho cổ đông (bằng việc chiếm dụng thêm vốn của người khác, như vay tín dụng, mua trả chậm v.v.) Trung bình toàn thị trường: 1,02
Lãi cổ tức (Yield) - Tỷ lệ cổ tức của Cty ra sao? Cổ tức là khoản tiền mà cổ đông
được chia khi Cty làm ăn có lãi, cổ tức cao cũng có nghĩa là cổ đông bỏ túi đều đặn nhiều tiền Tuy nhiên bạn phải hết sức thận trọng với chính sách cổ tức của các Cty, nhiều Cty đang cần vốn để phat triển sản xuất, thậm chí phải vay ngân hàng, nhưng sợ giá CP sẽ xuống thấp nếu trả cổ tức thấp nên vẫn cố “rút ruột” mình ra, thậm chí lấy “tạm” tiền vay nợ
để trả cho cổ đông Trong trường hợp này cổ đông giống chủ nợ của Cty hơn là chủ sở hữu
Trang 12 Beta (mức biến động giá) - Giá CP của Cty biến động thế nào so với biến động chung của toàn thị trường? Beta được dùng để đo lường mức độ phản ứng giá của một CP với các giao động của thị trường trong quá khứ Bản thân thị trường sẽ có chỉ số beta = 1 Những CP có beta lớn hơn 1 tức là có độ rủi ro cao hơn thị trường, khi toàn thị trường bị mất giá, CP có xu hướng mất gia nhiều hơn, tuy nhiên khi thị trường tăng giá đều đều thì những CP này có xu hướng tăng nhanh hơn Trên lý thuyết, NĐT chấp nhận CP có beta cao hơn thường được đền bù bằng thu nhập cao hơn trong tương lai.
Vốn thị trường - CP này có giúp bạn đa dạng hoá danh mục đầu tư của
mình hay không? Nhìn chung thì bạn nên đa dạng hoá đầu tư của mình để tránh rủi ro tổn thất lớn có thể sảy ra Trên thực tế tại các thị trường phát triển, các Cty có vốn thị trường càng lớn thì càng có độ rủi ro thấp Do ở Việt Nam hiện nay chưa có tiêu chí thống nhất phân nhóm các Cty theo giá trị thị trường chúng tôi so sánh vốn thị trường của Cty với vốn thị trường trung bình của toàn thị trường để bạn tự xác định phân loại CP.
Trang 13 ROI (Hệ số thu nhập trên đầu tư) - được Cty Du Pont phát triển cho mục đích sử dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều Cty lớn sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng tài sản
Cách tính
Thu nhập ròng Doanh số bán Thu nhập ròng (EBIT)
Doanh số bán Tổng tài sản Tổng tài sản
Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một Cty, và cách thức Cty sử dụng tài sản để tạo doanh thu Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập (và ROI) sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
Trang 14 Hệ số Tổng lợi nhuận - Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một Cty
Trang 15 Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết Ban quản lý của một Cty đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của Cty
Trang 16 Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số từ mọi giai đoạn kinh doanh Nói cách khác đây, là tỷ số
so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.
Cách tính
Mức lãi ròng
Hệ số lợi nhuận ròng =
Doanh thu
Một số Cty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt khoảng từ 3% đến 5% Hệ
số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau Thông thường, các Cty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các Cty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn Xét từ góc độ nhà đầu tư, một Cty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi sẽ có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và nếu có thể, có mức lợi nhuận liên tục tăng Ngoài ra, một Cty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả- ở bất kỳ doanh số nào thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao.
Trang 17 Hệ số thu hồi nợ trung bình cho bạn biết Cty đó phải mất bao lâu để chuyển các
khoản phải thu thành tiền mặt Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi tổng doanh thu.
Cách tính
các khoản phải thu
Hệ số thu hồi nợ trung bình =
Doanh số bán chịu hàng năm /360 ngày
Ví dụ: Nếu bảng cân đối kế toán của một Cty cho biết số liệu của các khoản phải thu là 700tr và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là 5tỷ5 thì
Trang 18 Hệ số thu hồi nợ trung bình Nếu chính sách của Cty là bán chịu cho khách hàng trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là Cty gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính sách bán chịu của mình Ngược lại, nếu chính sách thông thường của Cty là ấn định thời hạn thu hồi nợ là 55 ngày, thì thời hạn trung
bình 45.8 ngày cho thấy chính sách thu hồi nợ của Cty là có hiệu quả Cần chú ý là hệ
số thu hồi nợ trung bình chỉ là một số trung bình và có thể dẫn đến sự hiểu nhầm Ví
dụ, xem xét Cty A và b, có cùng giá trị các khoản phải thu nhưng có thời biểu thu hồi
Trang 19 Hệ số thanh toán trung bình Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm.
Các khoản phải trả
Thời hạn thanh toán trung bình =
Tiền mua hàng chịu hàng năm / 360 ngày
Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo cáo tài chính Để có được số liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu
Ví dụ: Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của Cty là 275.000 USD Nếu giá mua hàng là
3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung bình
là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2.400.000 USD (3.000.000 x 0.80) Bây giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau:
275.000 USD
Thời hạn thanh toán trung bình = = 41.3 ngày
0.8 * 3.000.000 / 360 ngày
Trang 20 Hệ số thanh toán trung bình: qua ví dụ trên Thời hạn thanh toán trung bình (đối với các khoản phải trả) của Cty là 41.3 ngày Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán dành cho Cty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng Cty đang trong tình trạng rủi ro cao nên
đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ Bất kỳ thời hạn nào dài hơn cũng có nghĩa là Cty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay Cty là một “người trả chậm”, tức là Cty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một nguồn tài trợ.
Người bán, nói chung bao giờ cũng muốn nhận được tiền càng sớm càng tốt, thường tính toán hệ
số này nhằm biết được bao lâu thì họ có thể thu hồi tiền của mình từ Cty Do việc thanh toán chậm thường có lợi cho Cty, nên nhà quản lý - người kiểm soát việc thanh toán có nhiệm vụ phải làm cân bằng hai thái cực lợi ích giữa nhà cung cấp và Cty Nếu thời hạn thanh toán trung bình của ngành vượt quá hệ số của Cty, thì nhà quản lý có thể tìm ra lý do tại sao việc mua chịu của Cty lại bị hạn chế và phải làm gì để có được thời hạn mua chịu dài hơn từ những nhà cung cấp.
Trang 21 Hệ số hàng lưu kho Tỷ lệ doanh số hàng bán trên hàng lưu kho là quan trọng đối với Cty bởi vì hàng lưu kho là loại tài sản ít lưu hoạt nhất trong các tài sản lưu động Vì Cty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên Cty sẽ được lợi khi bán hàng càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích sử dụng khác
Cách tính
Gía trị hàng đã bán tính theo giá mua
Hệ số hàng lưu kho =
Giá trị hàng lưu kho trung bình
Ví dụ: Nếu giá trị hàng hoá bán hàng năm của một Cty là $ 3.000.000 (tính theo giá mua) và giá trị hàng lưu kho trung bình là $ 300.000, thì tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho của Cty này sẽ là 10 lần
Số liệu này phải được so sánh với hệ số trung bình của ngành trước khi đưa ra bất kì một bình luận nào, vì các hệ số trung bình của từng ngành khác nhau rất lớn
Trang 22 Tình trạng nợ nần của Cty: Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi - EBIT) để trả lãi của một Cty Hệ số này cho biết một Cty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào Rõ ràng, hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của Cty cho các chủ nợ của mình càng lớn.
EBIT
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ =
Chi phí trả lãi hàng năm
Ví dụ: Nếu EBIT là 8.000 USD và chi phí tiền nợ lãi hàng năm là 3.000USD thì hệ số trả lãi định
kỳ hàng năm là 2,67 hay nói cách khác, thu nhập cao gấp 2,7 lần chi phí trả lãi
Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà Cty này được hạn chế bởi thực tế EBIT không phải là
nguồn duy nhất để thanh toán lãi Các Cty cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi Những gì mà một Cty cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình Chỉ riêng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ thì chưa đủ để đánh giá một Cty vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác như tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi
Trang 23 Tình trạng nợ nần của Cty: Hệ số trang trải chung Do Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ chưa đủ để đánh giá.
Các nguồn thu tiền mặt
Hệ số trang trải chung =
+ + + + +
Tất cả chi phí trong mẫu số của hệ số này là cố định và đều phải được cân nhắc rõ ràng, một Cty
và các nhà đầu tư của Cty muốn có hệ số trang trải chung cao nhất, nhưng điều này phụ thuộc một phần vào khả năng sinh lãi của Cty
Khi các hệ số nợ lớn quá mức, Cty có thể nhận thấy chi phí vốn của mình tăng lên Giá trị các cổ phiếu của Cty cũng có thể giảm xuống tương ứng với mức độ rủi ro của Cty tăng lên Do đó, các nhà quản lý tài chính phải thận trọng để tránh tình trạng nợ trầm trọng trong cơ cấu vốn của mình Các nguồn dữ liệu quan trọng của ngành có thể tìm thấy trong các BCTC hàng quý từ TTDGCK về các ngành sản xuất, bán lẻ, khai thác mỏ Bạn cũng có thể tham chiếu các báo cáo của các tổ chức định mức tín nhiệm để có các số liệu tổng hợp tương tự.
Tóm tắt: Các NĐT cần quan tâm đến các chỉ số EPS, PE, ROE, ROA, PB và các chỉ số đã nêu để chọn CP thích hợp.
Trang 24Offline: 219B Ng Đình Chiểu Q3
PHẦN 2
Trang 25 Mục đích của trò phù phép BCTC: Có nhiều lý do mà các nhà lãnh đạo Cty cho phù phép BCTC nhằm mục đích đẩy giá CP của mình lên cao
Phù phép thông qua các ước tính kế toán: Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các Cty thường
sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual earnings management) có ảnh hưởng trực tiếp tới LN trong kỳ của Cty Vì không có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các ước tính này, nên nó được xem là một công cụ đắc lực để phù phép LN Một số thủ thuật làm tăng mức LN thường gặp như giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nơ khó đói, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuấng dưới giá trị thuần, vốn hoá các khoản chi phí không đủ điều kiện
Thủ thuật phù phép LN dựa trên các ước tính kế toán thực chất không làm tăng LN mà chỉ đơn thuần chuyển LN của kỳ sau sang kỳ hiện tại Hậu quả tất yếu là LN các năm sau sẽ bị giảm Để tiếp tục đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của thị trường, báo cáo tài chính các năm tiếp theo cũng phải được phù phép Tuy nhiên, càng về sau, mức LN cần phù phép càng lớn khiến cho việc sử dụng các ước tính kế toán trở lên vô hiệu Đến khi “giấy không thể gói được lửa”, khủng hoảng là điều khó tránh khỏi
Trang 26 Phù phép thông qua các giao dịch thực: phù phép LN thông qua việc giàn xếp một số giao dịch thực (Real earnings management) nhằm tăng LN trong năm hiện tại, mặc dù các giao dịch đó có thể không có lợi cho Cty về lâu dài
1 Tăng doanh thu (DT) thông qua các chính sách giá và tín dụng
Một biện pháp các doanh nghiệp thường sủ dụng để tăng LN khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính Biện pháp thứ hai là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau Ví dụ, để tăng LN Quí IV/2007, một Cty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ Quí I/2008, lập tức
DT Quí IV/2007 sẽ tưng vọt Hai biện pháp này cho phép Cty tăng LN trong năm hiện tại, nhưng sẽ bị giảm vào các năm sau, vì thực chất Cty đã chuyển LN của năm sau sang năm hiện tại Mặt khác, tăng giá bán năm sau còn làm giảm khả năng cạnh tranh của Cty trên thị trường.
2 Cắt giảm chi phí hữu ích
Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng LN Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của Cty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản LN tiềm năng trong tương lai.