1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM REFLEXW

103 806 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Phần Mềm Reflexw
Tác giả Nguyễn Anh Vũ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Thu
Trường học Trường Đại Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

REFLEXW là chương trình xử lý và giải đoán các số liệu truyền và phản xạ sóng (đặc biệt ứng dụng trong Rada xuyên đất (GPR), địa chấn phản xạ, khúc xạ và sóng âm).

Trang 1

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM REFLEXW

REFLEXW là chương trình xử lý và giải đoán các số liệu truyền và phản xạ sóng

(đặc biệt ứng dụng trong Rada xuyên đất (GPR), địa chấn phản xạ, khúc xạ và sóng âm)

Hình ảnh giải đoán được sử dụng 16 bit (65536 màu ) vì vậy cho hình ảnh phân giải rất cao

Có nhiều module trong chương trình:

1 Module 2D data – analysis:

- Có thể nhập nhiều kiểu số liệu khác nhau: (như là SEGY, SEG2, các file EMR- và

hệ quan sát địa chấn (như: GSSI, RAMAC, PULSE-EKKO)…, và nhiều dạng khác

- Chuyển đổi những phần đơn giản thành những tuyến (tự động lưu trữ và tổng hợp những tuyến đơn giản có liên quan hoặc những tuyến đơn song song trong cùng khu vực

- Thể hiện nhiều dạng hình ảnh và khả năng xử lý khác nhau

- Xử lý tương tác những file đơn lẻ hoặc tự tổng hợp (quá trình xử lý chuỗi)

- Sử dụng một hoặc nhiều hệ bộ lọc, chỉnh sửa, lọc nhiễu,

- Tương tác với người sử dụng nhằm thay đổi vận tốc phù hợp

- Nhặt sóng

- Thể hiện các phân lớp

- Xử lý CMP (cộng điểm sâu chung)

2 Module CMP velocity analysis:

Tính toán sự phân bố vận tốc ở cùng độ sâu từ số liệu CMP- hoặc moveout-data cho những phân tích khác nhau:

- Tương tác vận tốc CMP để điều chỉnh mô hình vận tốc từ số liệu CMP- hoặc moveout bằng việc đi theo các dấu phản xạ liên tục

Trang 2

- Phân tích sơ bộ CMP từ những bước vận tốc khác nhau, tương tác để chọn ra sự phân bố vận tốc theo độ sâu từ những thể hiện ban đầu hay phân tích sự tương quan bất thường rồi xác định lại bước vận tốc, từ đó xác định lại kết quả mô hình trên.

- Phân tích, xây dựng mô hình CMP 2D dựa trên cơ sở kết quả phân tích mô hình vận tốc 1D Kết quả của Mô hình 2D phải dựa trên sự tổng hợp, sắp xếp, loại bỏ và giải ngược…

3 Module 3D data-interpretation: Với việc thể hiện theo lát cắt x-,y- hoặc z Các

lát cắt này có thể kéo bằng thanh cuốn trên cửa sổ hoặc là các hộp xoay 3D

4 Module modelling for the 2D-simulation: Sử dụng cho sự truyền sóng địa chấn

hay sóng điện từ dựa trên một mức độ khác nhau nào đó, thêm vào đó là thuật toán

mô hình (tomographic algorithm) cho toàn bộ số liệu thời gian truyền (traveltime data).

5 Module traveltime analysis 2D: Cho phép phân tích và giải đoán các sóng đầu

(trong trường hợp sóng khúc xạ)

Trang 3

CHƯƠNG 2: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG REFLEXW

Trong hướng dẫn sử dụng ngắn này mô tả một vài ứng dụng cơ bản Bao gồm những phần chính sau :

Các module trong REFLEXW

Trong cửa sổ đầu tiên của Reflexw, bạn có thể chọn nhiều chương trình xử lý khác nhau:

Project: Chọn 1 project mới Sau khi chọn option này, những thư mục kể cả

trong thư mục project hiện hành đã ghi vào danh sách Từ đó bạn có thể chọn project bạn muốn làm việc

Exit: Thoát khỏi REFLEXW.

Modules: Chọn modules chương trình khác :

- 2D data-analysis cho phép xử lý dữ liệu 2D.

- CMP velocity analysis tính toán sự phân bố vận tốc- chiều sâu từ CMP-

hoặc chuyển đổi - cơ sở dữ liệu dựa trên kỹ thuật phân tích khác nhau

- 3D data-interpretation

- Module modelling for the 2D-simulation

1.Thư mục Cấu trúc / thư mục Project

Chương trình REFLEXW dùng một thư mục cấu trúc đặc biệt, nơi dữ liệu được tích trữ trong thứ tự của những project và những bước xử lý

Tên thư mục chuẩn là subdirectory, nơi tất cả project sẽ tích trữ.

Dưới thư mục chuẩn người dùng phải tạo những project cho chính họ như

subproject (new project) Những subdirectory đó cần thiết cho thư mục project Tất

cả subdirectories được tạo bởi người dùng dưới tên thư mục chuẩn là mặt nghiêng sau khi xem Reflexw

Trang 4

Một subdirectory hiện hành có thể chọn bởi 1 click đơn trên thư mục bạn muốn (either single or double click).

Khi gọi confirm project hiện tại chọn thư mục đã sử dụng như đang làm việc thư mục project

Khi gọi new project hiện tại chọn tên project đã sử dụng như đang làm việc thư mục project

Mỗi project đôi khi có 6 subdirectories, vì thế, nếu những thư mục này không

được người sử dụng tạo ra thì chương trình cũng sẽ tự động tạo ra

Tổng quan về thư mục cấu trúc:

ASCIIROHDATAđường dẫn: PROCDATA

Cài đặt chương trình DEMO-DATA:

Chương trình chạy thử demo-data trong CD sẽ tự động cài đặt khi chạy

chương trình Ổ chứa demodata gồm các file:

gprline_.00t - a GPR-2D (với anten 300 MHz ) file này sử dụng cho phân tích 2D seismic1.01t - a seismic shot file (gồm 46 điểm nổ) file này có thể sử lý CMP.

gprcmp1_.00t -a GPR moveout file: file này dùng giải đoán từ phân tích vận tốc CMP 3ddata .00t - a 3D-GPR datafile -sử dụng để giải đoán số liệu 3D.

2 Các hướng dẫn tổng quát:

Trang 5

Các định dạng số liệu ( Ví dụ: SEGY hoặc SEG2-data) tự động được lưu trong

thư mục ASCII Để nhập số liệu từ thư mục khác Chọn file/import trong module

2D-dataanalysis Sau đó chuyển đổi file này sang thư mục ROHDATA, bất kỳ file xử

lý nào cũng được lưu trong thư mục PROCDATA.

2.2 Những bộ lọc đầu tiên ( First filter operations ):

Một vài kiểu số liệu RAMAC hoặc PULSE-EKKO được sử lý trước trong module 2D data- analysis Bộ lọc đầu tiên có thể được gọi là subtract-mean bên dưới nhóm bộ lọc 1D hoặc bộ lọc DC-shift filter ( loại bỏ những tín hiệu lặp lại nhiều lần)

Bộ lọc thứ hai gồm các ứng dụng của gainfunction (Ví dụ các chọn lựa sử dụng gain(y)-tăng cường tín hiệu theo trục y, energy decay-giảm biên độ, AGC hoặc là các hàm tăng cường (gain function) trong nhóm Gain processing).

AGC (AutomaticGain Control) hoặc energy decay có thể được sử dụng như hàm lọc nhưng chỉ sử dụng cho trường hợp presentation of the data (xem Option

Plot) Với mỗi số liệu đã lọc sẽ đều được lưu lại

Sử dụng option "change second to primary" để chuyển file đã lọc trở về dạng

ban đầu để có thể sử dụng các kiểu lọc khác Để kiểm tra các kết quả lọc tốt nhất, chọn phân chia màn hình (split) gồm non-split, vertically split, horizontally split (vào menu plot_options)

2.3 Dữ liệu chạy thử (Demodata):

Nếu chương trình đang chạy demo trên CD thì các số liệu sẽ tự động được lưu

và do đó, tên của quá trình làm việc cũng được tạo ra

2.4 Khóa cứng (Hardware dongle):

Nếu chương trình được cung cấp cổng nối khóa cứng (hardware dongle) thì

cổng này phải được khai báo trước bằng hai cổng song song hoặc là cổng USB

Chương trình sẽ thực hiện với cả hai cổng nối USB và cổng song song Quá trình thích hợp sử dụng các cổng khóa cứng này khi sử dụng Windows9x hay Windows NT

và Windows 2000/XP cũng như Windows 95/2000/NT/XP

Trang 6

Chọn cbsetup.exe từ CD để cài đặt Chọn CRYPTO-BOX USB CrypToken

(USB) để tích hợp cổng USB hoặc CRYPTOBOX Versa (LPT) để tích hợp cổng song song

2.5 Độ phân giải màn hình (Display resolution):

Hãy chọn hình ảnh phân giải cao (16 bit) vì đây là độ phân giải tương thích

nhất với bộ nhớ RAM Độ phân giải True color (32 bit) cần sử dụng bộ nhớ gấp đôi và

do đó kết quả xử lý sẽ chậm hơn Nếu sử dụng chế độ phân giải 256 màu thì màn hình hiện hành sẽ khó khăn trong việc chuyển sang màn hình khác

2.6 Dấu chấm thập phân (Decimal separator ):

Reflexw luôn sử dụng dấu chấm (“.”) để phân số thập phân theo mã ASCII Nếu muốn thay đổi kiểu định dạng cho số liệu ta sẽ cài đặt lại toàn bộ trong Menu Setting

3 Nhập và hiển thị dữ liệu GPR (Import and first display of GPR-data):

Trong phần này sẽ đề cập tới nhập và hiển thị số liệu GPR trong Reflexw

Trang 7

Input format: RAMAC.

Output format: 16 bit integer

Filename specification: Đặt tên.

C h ọ n p h ư ơ n g X hoặc Y cho ProfileDirection và Y hoặc X cho ProfileConstant

Trong ControlOptions, chọn reald traceincrement hoặc coordinates

4 Chọn Convert to Reflex Hộp thoại fileopen với định dạng file mặc định ASCII

Từ đó ta chọn file RAMAC cần mở Luôn luôn thì cả hai loại file của RAMAC đều được hiển thị Sau khi chọn file cần mở, thì chương trình sẽ tự động chuyển đổi và

đưa vào thư mục lưu trữ ROHDATA Khi chọn PrimaryFile trong hộp thoại Inport file thì chương trình sẽ tự động hiển thị số liệu mà ta đã nhập vào

5 Thoát khỏi cửa sổ Inport file bằng lệnh Exit.

3.2 Hiển thị dữ liệu (Display the data):

1 Sau khi nhập số liệu vào, để thể hiện số liệu ta chọn plot options Ở đây, ta có thể

thay đổi các dạng hiển thị

2 Các chọn lựa chính để thể hiện hình ảnh đối với kiểu số liệu GPR-data :

- Plotmode: mặc định là kiểu Pointmode cho dạng số liệu GPR.

- PointmodeScale

- EnergyDecay

Cửa sổ hiện thị số liệu nhập vào

Trang 8

- AmplitudeScale

4 Lọc dữ liệu đã nhập vào (Filtering the imported data):

Trong phần này miêu tả việc sử dụng những bộ lọc đơn giản hoặc tổ hợp nhiều

bộ lọc

4.1 Mô tả tổng quan về bộ lọc (General overview of filtering):

1.Các bộ lọc đều sử dụng được cho tất cả các định dạng trong REFLEXW có nghĩa

là sử dụng được cho các định dạng TAMAC, GSSI, SEGY,…

2.Số liệu đã lọc luôn luôn được lưu lại trên một file độc lập sử dụng cùng lúc tên file

Ví dụ : file ban đầu: profile1.dat; file lọc lần 1: profile1.00t ( việc xử lý nhãn tập hợp đến 0 ) Và luôn luôn được tích trữ trong thư mục Procdata

3.Việc lọc có thể làm việc cho chỉ một tuyến đơn giản (single profiledata) hoặc nhiều tuyến khác nhau

4.2 Lọc số liệu đơn giản (Filtering of a single datafile):

Lọc số liệu Reflexw đơn giản được trình bày từng bước như sau:

Trang 9

- Subtract-mean(dewow)

- Static correction

- Manual gain(y)

- Background removal

Các chuỗi lọc trên được coi

là tiêu chuẩn sử dụng cho số

liệu GPR

1 Chọn module

2D-Dataanalysis

2 Load file dữ liệu bạn

muốn đến cửa sổ đầu tiên dùng lựa chọn Option File/Open/rawdata và sau đó chọn file dữ liệu bạn muốn

3 Chọn file dữ liệu vừa được vẽ biểu đồ trong cửa sổ đầu tiên (Kích hoạt horizotal split)

4 Chọn bước lọc đầu tiên (Subtract-mean) trong Processing/1D-Filter Để thực hiện bước lọc này, cần chọn

này bắt buộc đối với mỗi quá

trình lọc, nhãn lọc của mỗi bước

lọc phải thay đổi

- Start để thực hiện phép lọc

Để xem hiệu quả của việc chọn

thông số lọc, ta chọn Apply on

example trace

Trang 10

5 Dữ liệu đã lọc sẽ được thể hiện bằng hình vẽ ở cửa sổ thứ hai Nếu chấp nhận

bước lọc này ta chọn File/ChangeSecondToPrimary hay nhấn nút (2 1) trên

thanh công cụ

6 Trước khi chọn bước lọc thứ hai ta chọn Processing/staticCorrection/muting.

7 Trong hộp thoại Staticcorrection/muting, chọn static Correction và move to negative times.

8 Trong bảng bên phải ta có thể điều chỉnh các giá trị trong bảng hoặc nhập vào các giá trị tương tác với nhau bằng cách nhấp chuột trái vào số liệu Tất cả các hiệu chỉnh đều được lưu lại và sử dụng cho các bước xử lý sau

9 Chọn ProcessingLabel và start để tiếp tục Ghi nhớ: mỗi lần lọc phải thay đổi processing lable

10 Hình vẽ sau đó được vẽ trên cửa sổ thứ hai, ta chuyển sang cửa sổ thứ nhất File/changesecond To Primary để tiếp tục thực hiện bước lọc kế tiếp.

11 Chọn bước lọc thứ 3 (Manual gain(y)) dùng Processing/Gain

12 Trong cửa sổ Gain chọn manual gain(y) Sau đó chọn các số liệu sao cho đồ thị thể hiện trên cửa sổ mới ta cho là phù hợp nhất Chọn ProcessingLabel và Start để

xử lý manual gain (y)

13 Để thực hiện bước lọc cuối

Trang 11

15 Sau khi kết thúc quá trình lọc số liệu,

và bắt đầu lọc

1 Xác định chuỗi phép lọc cho trường hợp đơn giản

Chọn SequenceProc Khi chọn bất kỳ một phép lọc nào thì menu SequenceProcessing sẽ cộng thêm vào phép lọc đó trong quá trình xử lý bằng cách chọn AddCurrentProc trong hộp thoại này Bước AddCurrentProc được thực hiện

sau khi chọn các thông số cho phép lọc và trước khi đóng phép lọc hiện hành lại

Sau khi chọn các phép lọc riêng lẻ cho quá trình xử lý liên tục, ta phải Save các phép chọn này (SaveSequence) Các phép lọc này có thể được sử dụng lại bằng cách chọn Load Sequence

Bình thường phép lọc hiện hành sẽ được cộng vào cuối của quá trình xử lý nhưng có thể bất kỳ vị trí nào Do vậy theo mục đích ta phải chọn phép lọc mong muốn trước phép lọc kế tiếp Để bỏ một phép lọc nào trong quá trình xử lý, ta click

chọn vào bước lọc đó và chọn DeleteProc Một vài phép lọc ta phải đặt các giá trị

Trang 12

cho tham số lọc và phải lưu lại bằng file ASCII trước khi xác định hay bắt đầu của

quá trình lọc Các phép lọc mà ta phải đặt giá trị tham số lọc là: manual gain (y), manual gain (x), static correction, muting and fk-filter.

Vì vậy khi thêm một phép lọc thì phải đặt các thông số lọc và lưu lại Quá trình lọc sẽ thực hiện với các thông số đã được lưu

2 Start the sequence processing - Xử lý liên tục

Menu Sequence Processing được chọn trong suốt quá trình lọc trong menu Processing/SequenceProcessing

Sau khi chọn quá trình lọc ta phải xác định nhãn xử lý cho quá trình lọc

(ProcessingLabel).

Chọn StartCurrentLine để sử lý cho số liệu hiện hành (file đầu tiên).

Chọn StartSeveralLines để sử lý cho nhiều file

Chọn Plotdata để xem đồng thời phép lọc chưa và đã chọn từ đó kiểm tra kết quả cuối cùng

Ta có thể chọn kiểu xử lý so-called và kiểu xử lý đơn giản (chọn SingelProcess)

để xử lý một cách riêng lẻ trên file ban đầu

Cách chọn StartSeveralLines:

1 Sau khi xác định quá trình xử lý (xem item 1) Chọn filepath và chọn Rohdata

nếu những file chưa xử lý hoặc prodata nếu file đã xử lý trước đó

2 Chọn Processing Label Ta có thể chọn Option Plot Data để vẽ các file đã xử lý

trong suốt quá trình lọc

3 Chọn StartSeverallines để chọn một hoặc nhiều file mong muốn

4 Quá trình xử lý liên tục được bắt đầu và sau đó kết thúc việc xử lý thì 1 bảng báo kết quả được hiển thị Bảng báo cáo này gồm các bước xử lý giá trị từ file ASCII Chương trình sẽ xử lý cho mỗi tuyến với chuỗi lọc như trên

5.Xử lí số liệu địa chấn khúc xạ (introdution to seimic refraction data

Trang 13

Chương này đề cập đến việc giải đoán số liệu địa chấn khúc xạ, quá trình nhặt sóng đầu, nhóm các thời gian đến đầu tiên, đặt số lớp và giải ngược mô hình

5.1 Nhập dữ liệu và nhặt những đỉnh đầu (Import the data and pick the first onsets).

1 Vào module 2D-Analysis

2 Import số liệu

3 Trong cửa sổ import, chọn:

+ Data type: Single shot

+ Rec.Start: vị trí máy thu đầu

tiên trên tuyến

+ Rec.End: vị trí máy thu cuối

cùng trên tuyến

+ Shot-pos: vị trí điểm nổ

+ Output-format: 32bit tương

ứng với độ phân giải cao

Trong Plot Option hãy chọn

kiểu thể hiện Wigglemmode trong PlotMode để dễ quan sát hơn.

4 Nhấn nút Convert to Reflex và chọn file cần mở

Reflexw sử dụng mỗi file Traceheader coordinates cho mỗi trace, vị trí từng máy

thu sẽ được tự động nhận biết cho từng mạch

5 Thực hiện các quá trình xử lý nếu cần thiết hoặc thay đổi file header …

6 Nhặt sóng đầu bằng cách chọn nút Pick và Save lại Tên file có thể được lưu lại

tự động Trong hộp thoại Save pick, ta có thể đặt số lớp và vận tốc tuy nhiên điều này không cần thiết, những thông số này chỉ cần thiết đối với phân tích sóng phản xạ

7 Làm tương tự đối với các điểm nổ khác, sau đó tất cả các sóng đã được nhặt sẽ được giải đoán

Trang 14

8 Ta cũng có thể thực hiện giải đoán bằng phương pháp thời gian chắn (intercept time interpretation) trong 2Ddataanalysis Trước hết hãy load một điểm nổ, chọn

option analyse/velocity adaptation và chọn intercept time analysis Click vào số liệu

và kéo rê con trỏ đến vị trí điểm cong đầu tiên và thả ra Điểm đầu tiên tự động được cho thời gian zêro và coi như đó là vị trí điểm nổ Thực hiện lại đến điểm cong tiếp theo và tiếp tục thực hiện như trên Các giá trị vận tốc nhận được phải tăng dần theo

độ sâu Sau khi hoàn tất đặt, độ sâu và vận tốc của tính toán mô hình 1D sẽ được thể hiện

5.2 Interpretation of the picked traveltimes

1 Vào module traveltime analysis 2D

2 Load một file sóng đầu traveltimes - Chọn file/load traveltimes Có thể chọn tất

3 Sử dụng Option edit/InsertshotZerotraveltime để insert một zero traveltime cho

tất cả các điểm nổ nếu thời gian zero này không được xác định Điều này rất hữu dụng trong việc xác định vận tốc các lớp bên trên

4 Đặt tên file và Save

5 Tăng thêm số lớp lên 1 layer-nr

Trang 15

6 Kích hoạt tuỳ chọn assign để gán các thời khoảng cần thiết cho lớp 1.

7 Gán các thời khoảng cho lớp 1 bằng cách sử dụng các khả năng khác nhau, các điểm thời gian được gán sẽ nổi lên (mặc định có màu xanh), lưu các thời gian

8 Kích hoạt tuỳ chọn liên kết combine để thực hiện việc nghịch đảo cho lớp thứ

nhất (phải xem xét việc nghịch đảo cho lớp thứ nhất chỉ bao gồm việc xác định vận tốc)

9 Kích hoạt tuỳ chọn wavefront-inversion và một cửa sổ mới sẽ mở ra (Cửa sổ mô

hình) và một mô hình đã được tạo ra một cách tự động bao gồm một lớp với các vận tốc nhận được từ việc phân tíchhồi quy tuyến tính các thời khoản đã gán

10 Thực hiện một số thay đổi trên mô hình nếu xét thấy cần thiết (ví dụ như loại bỏ các điểm vận tốc không cần thiết): tuỳ chọn topography phải được huỷ chọn

11 Nhập vào tên tập tin mô hình và lưu lại mô hình này vào đĩa

12 Đóng cửa sổ mô hình lại

13 Tăng layer-nr đến lớp 2

14 Kích hoạt tuỳ chọn assign để gán thời gian cần thiết cho lớp.

15 Gán các thời gian cho lớp 2 bằng cách sử dụng các khả năng khác nhau (xem phần trơ giúp trực tuyến) Các thời gian gán cho lớp 2 sẽ nổi lên (màu mặc định là màu xanh da trời)

16 Kích hoạt tuỳ chọn combine để thực hiện việc nghịch đảo lớp thứ hai

Trang 16

17 Nhập vào số xác định giới hạn cho việc thực hiện việc nghịch đảo của lớp thực tế

Các điểm nổ thuận forward và nghịch reverse shot numbesr – các số này xác định

Trang 17

20 Kích hoạt tuỳ chọn wavefront-inversion - một cửa sổ chọn lựa tập tin được mở

ra và phải chọn tên mô hình chứa lớp thứ nhất đã được phân tích

21 Tên tập tin mô hình đã chọn được trình bày trong cửa sổ mô hình- Việc nghịch

đảo phải khởi động bằng tay bên trong RayGroupBox phía bên phải của mô hình

Cần xem xét: phải chọn chiều sâu tối đa của mô hình sao cho chiều sâu tối đa đó đánh giá chiều sâu của lớp biên được nghịch chuyển nhỏ hơn chiều sâu tối đa này

22 Nhập vào gia số DeltaX cần thiết cho việc nghịch đảo sóng đầu (ví dụ 0.5m) và

số các vận tốc khác nhau kiểm soát các vận tốc khúc xạ khác nhau (one means that a laterally constant refractor velocity is calculated)

23 Khởi động việc nghịch đảo sóng đầu bằng cách sử dụng tuỳ chọn Start Chú ý

Nếu việc nghịch đảo thất bại (ví dụ do không thiết lập giá trị chiều sâu tối đa thích hợp) thì đừng sử dụng tuỳ chọn Start để khởi động việc nghịch đảo lại lần thứ hai Đóng cửa sổ mô hình lại và kích hoạt lại lần nữa tuỳ chọn nghịch đảo sóng đầu

wavefront-inversion trong module traveltime analysis 2D để khởi động lại việc

nghịch đảo (xem mục 20)

Sau khi kết thúc việc nghịch đảo sóng đầu, một cửa sổ mới window “velocity determination using linear regression” mở ra trình bày thời gian truyền sóng thuận

và ngược kết quả cho việc xác định vận tốc các lớp khúc xạ Các nhánh thời gian này

tự động chia nhỏ thành một số các đường cong hồi quy tuyến tính phụ thuộc vào việc chọn lựa số các lớp vận tốc khác nhau Có thể thay đổi vị trí đầu và cuối của mỗi đường cong hồi quy một cách đơn giản bằng cách nháy chuột vào nó và vẽ nó với việc giữ nút chuột trái

24 Kích hoạt tuỳ chọn close để kết thúc cửa sổ xác định vận tốc và ranh giới lớp mới

được vẽ vào trong mô hình

25 Ngoại suy ranh giới ngịch đảo sang ranh giới mô hình (tuỳ chọn hor.extrap hoặc extrapolate) và thực hiện một số thay đổi mô hình nếu cần thiết

26 Mô hình hiện hữu có thể được kiểm tra và thay đổi nếu cần thiết bằng cách sử

dụng forward raytracing trong menu mô hình

27 Lưu lại mô hình bằng cách sử dụng tên cũ hoặc một tên khác

Trang 18

28 Đóng lại menu mô hình.

29 Lặp lại bước 13-26 cho lớp 3 và tiếp tục cho các lớp tiếp theo

30 Sau khi đã thực hiện hoàn tất việc nghịch đảo, mô hình phải luôn luôn được kiểm

tra và thay đổi nếu cần thiết bằng cách sử dụng forward raytracing

6 Giới thiệu các công cụ modelling/tomography trong REFLEXW:

Phần sau đây mô tả các công cụ sau đây bên trong menu REFLEXW Các công cụ chính là Mô hình sai phân hữu hạn 2D và 3D cho việc lan truyền sóng địa chấn và sóng điện từ 2D ray tracing 2D- và 3D- Sự lan truyền và khúc xạ cắt lớp Phần 6.1 bao gồm việc tạo ra một mô hình Phần này phổ biến hơn các phần khác vì đó tất cả các công cụ cần thiết cho một mô hình được tạo ra đầu tiên

6.1 Tạo ra một mô hình mới:

Bước đầu của việc tạo ra một mô hình hoàn toàn mới được mô tả như sau:

1 Vào module modelling

2 Chọn wavetype (Ví dụ electromagnetic cho mô hình GPR hoặc acoustic cho

raytracing)

Trang 19

3 Nhập vào các biên min./max borders của mô hình (Các tham số xmin, xmax,

zmin, zmax) Cần xem xét: z là giá trị từ đỉnh đến đáy với các số dương (Ví dụ zmin=0 và zmax=20)

4 Kích hoạt tuỳ chọn new số lớp layer nr được thay đổi sang giá trị 1.

5 Biên đầu tiên ở z=0 đã được tạo ra một cách tự động bằng việc thiết lập các điểm 2 lớp ở góc trên phía trái và phải của mô hình Bây giờ phải thiết lập các tham số cho

các biên bên trong hộp thoại input of model parameters window đã tự động mở ra

Nếu cửa sổ này không ở phía trước, nhấn chuột phải vào để mang nó ra phía trước

6 Bạn cũng có thể thiết lập hoặc thay đổi các tham số bằng cách sử dụng lệnh soạn

thảo editing các trường tương ứng trong bảng hoặc bằng cách sử dụng các trường

thông dụng nằm ở góc trên phía phải Bằng cách sử dụng khả năng thứ hai, trước hết phải nhập vào các tham số trong các trường này Các tham số này có thể vượt qua các điểm đã chọn của lớp hiện hữu Việc lựa chọn được thực hiện bằng cách nháy chuột trong các trường thứ nhất trong cột đầu tiên (Các trường chỉ thị số các điểm) và được

chỉ thị bởi một chữ thập hoặc bằng cách kích hoạt tuỳ chọn take over all Nháy chuột vào nút take over trong hộp kiểm tra để hướng đến việc cập nhật các tham số

ở các điểm đã chọn hoặc ở mối điểm (tuỳ chọn take over all activated)

7 Dùng nút update để cập nhật mô hình

8 Có thể bao gồm các điểm lớp mới một cách đơn giản bằng cách nháy chuột bên trong menu mô hình chính Các tham số mô hình tổng quát hiện hành của các trường trong góc phải trên của menu tham số mô hình tự động chuyển qua cho các điểm lớp mới này Bạn có thể thay đổi các tham số này như đã được mô tả trong bước 6

9 Quay trở lại menu mô hình chính bằng cách kích hoạt nó hoặc đóng menu các tham số nhập vào của mô hình

10 Kích hoạt tuỳ chọn new cho lớp kế tiếp Số lớp thay đổi thành 2.

11 Đối với lớp đó, phải xác định tất cả các điểm lớp và các tham số mô hình tương ứng –xem bước 6 đến bước 7

12 Các lớp bổ sung được xác định như đã mô tả trong lớp 2

Trang 20

13 Tất cả các lớp phải kết thúc, điều này có nghĩa là chúng phải bắt đầu hoặc kết thúc ở ranh giới mô hình hoặc ở ranh giới với lớp khác bất kỳ Không cần thiết phải

thực hiện điều này bằng tay nhưng các tuỳ chọn extrapolate và hor.extrapol Có

thể được sử dụng cho mục đính này Các giao diện không cần phải đưa vào một cách chính xác ở cạnh, giao điểm với các ranh giới một cách tương ứng, nhưng phải ở

trong vùng lân cận bởi lẽ tuỳ chọn extrapolate thực hiện việc nội suy tự động giữa

hai ranh giới cũng như việc ngoại suy của ranh giới với biên có thể Vì vậy, chương trình tự động tìm kiếm ranh giới gần nhất điểm cuối đã vạch ra và ngoại suy theo phương đó (trong trường hợp một cạnh, việc ngoại suy theo phương x, z tương ứng trong trường hợp của một ranh giới với điểm lớp gần nhất

Chú ý: Các điểm lớp được chọn lọc một cách tự động từ khoảng cách x thấp đến

khoảng cách x cao, có nghĩa là hàm giao diện là không mơ hồ Cần phải cho một ví

dụ là một đoạn cong

14 Đưa vào tên tập tin và lưu lại mô hình bằng cách sử dụng tuỳ chọn tốc độ hoặc

Trang 21

15 Đối với các đặc trưng bổ sung giống như việc sử dụng các ký hiệu định trước, việc kết hợp các lớp hiện hữu hoặc bổ sung địa hình cần tham khảo phần hướng dẫn trực tuyến.

6.2 Mô hình sai phân hữu hạn Finite Difference (FD):

Công cụ mô hình sai phân hữu hạn (FD) cho phép mô phỏng sự lan truyền sóng địa

chấn hoặc sóng điện từ tương ứng bằng phương tiện của phương pháp FD-method

cho các nguồn khác nhau (Mặt sóng, nguồn điểm cũng như source) Khi một kết quả một tuyến đơn hoặc trường sóng phức tạp được lưu lại và hiển thị sau đó Trong phần sau đây chúng ta sẽ mô tả việc mô phỏng GPR cho mặt cắt 2D của sổ 0 (standard GPR-data acquisition)

"Exploding-Reflector"-1 Trước hết phải tạo ra một mô hình mới (xem 6.1) hoặc phải tải ra một mô hình đã

có bằng cách sử dụng tuỳ chọn file/load model.

2 Kích hoạt tuỳ chọn FD

3 Hộp FD-GroupBox mở ra (Xem hình phía dưới) Trong nhóm hộp này, có thể đưa

vào các tham số FD cần thiết

4 Trước hết, phải nhập vào tần số chính frequency cho sự mô phỏng theo đơn vị Hz

(địa chấn) hoặc MHZ (GPR)

5 Nhập vào loại nguồn cần thiết source type – với ví dụ này cho ranh giới phản xạ

Loại ranh giới phản xạ cho phép mô phỏng mặt cắt 2D (của sổ 0) trong một tính toán

6 Nhập vào giá trị số gia DeltaX trong không gian theo phương (tương đương trong

x- và z-phương) Đối với việc tính toán FD, mô hình lớp phải được raster hoá với

một gia số đã cho theo phương x và phương z (tuỳ chọn DeltaX) Cũng như vậy, gia

số thời gian cũng phải được gán (tuỳ chọn DeltaT) Kích thước của gia số không

gian và thời gian phụ thuộc vào độ dài sóng cực tiểu cũng như vận tốc truyền sóng Chương trình sẽ tự động xác định giá trị tới hạn của gia số không gian (1/8 độ dài sóng cực tiểu cho FD-scheme 4- space, 1/12 độ dài sóng cực tiểu cho FD-scheme 2-space, một cách tương ứng) và trình bày giá trị này trong hộp giá trị tới hạn kéo xuống bên phải, giá trị này không thể bỏ qua Việc chọn Delta X quá lớn thì làm tăng

Trang 22

kết quả trong sự phân tán của sóng, vì vậy nếu kết quả chứng tỏ một sự phân tán như vậy, cần phải giảm gia số X.

7 Nhập vào gia số DeltaT cần thiết Gia số thời gian cực đại phụ thuộc vào vận tốc

cực đại, cũng như gia số không gian đã cho DeltaX (Một cách xấp xỉ <= 1./(%2V cho

sự lan truyền sóng điện từ và t <= 1./(Vp+Vs) cho sự lan truyền sóng đàn hồi) Gia số thời gian tới hạn của tập hợp dữ liệu hiện hành được trình bày trong hộp thoại các giá trị tới hạn tính toán ở đáy Việc gia tăng DeltaTquá lớn, làm gia tăng tính không ổn định của kết quả, điều này có nghĩa là sự gia tăng biên độ tỉ lệ với thời gian theo quy luật hàm mũ Vì vậy, nếu các kết quả chứng tỏ sự gia tăng biên độ như vậy, cần phải giảm gia số DeltaT

8 Nhập vào thời gian tổng cho sự mô phỏng TMax

9 Nhập vào các điều kiện biên boundary conditions, Ví dụ giới hạn hấp thu cho sự

mô phỏng GPR)

6.3 Ray tracing:

Công cụ mô hình tia sóng cho phép mô phỏng thời gian truyền sóng của sóng điện từ hoặc sóng đàn hồi một cách tương ứng bởi phương tiện của xấp xỉ sai phân hữu hạn của phương trình eikonal equation Việc tính toán thời gian truyền sóng tổng hợp bị giới hạn với sóng đầu cho một môi trường 2D bất kỳ Chương trình không tính toán cho các sóng phản xạ hoặc sóng thứ cấp Điều này có thể được thực hiện bằng cách

sử dụng Fdsimulation

Ứng dụng chính của chương trình là địa chấn khúc xạ, nhưng nó cũng có thể được sử dụng trong việc mô phỏng các dữ liệu lan truyền bất kỳ

Chương trình raytracing có thể được sử dụng cho

- Kiểm soát một mô hình nghịch đảo

- Một sự điều chỉnh lặp dữ liệu tính toán và dữ liệu thật bằng cách từng bước thay đổi môi trường dưới mặt đất

Phần sau đây mô tả việc ứng dụng vào dữ liệu địa chấn khúc xạ

Trang 23

1 Trước hết phải tạo ra một mô hình mới (xem chương I) hoặc phải tải một mô hình

đã có bằng cách sử dụng tuỳ chọn File/load model.

2 Kích hoạt tuỳ chọn ray.

3 Nhóm hộp thoại Ray-GroupBox mở ra (Hình phía trên) Bên trong nhóm hộp

thoại, bạn phải đưa vào các tham số tia cần thiết (raytracing parameters)

4 Chúng ta cần mô phỏng thời gian quan sát dọc theo tuyến Đối với mục đích đó,

chúng ta phải tải ra thời gian quan sát bằng cách sử dụng tuỳ chọn File/load data traveltimes Màn hình sẽ bị tách đôi theo chiều đứng trình bày mô hình trong cửa sổ

phía trên và dữ liệu quan sát ở phía dưới

5 Bây giờ cần phải chọn các tham số tia:

- Nhập vào loại tia sóng cần thiết type FD-Vidale.

Trang 24

- Nhập vào gia số mạng lưới DeltaX (khoảng cách bằng nhau theo phương x- và

phương z phải nằm trong giới hạn khoảng cách giữa các máy thu hoặc nhỏ hơn, phụ thuộc vào mức độ phức tạp của mô hình )

- Nhập vào tỉ lệ xuất ra output-scale, ví dụ 4

- Nhập vào loại tính toán calculate type – Trong trường hợp này là dữ liệu thời gian

truyền sóng vì chúng ta muốn mô phỏng tất cả các thời gian truyền sóng đã tải ra

- Nhập vào tên tập tin xuất ra outputfile name

6 Khởi động chương trình Raytracing bằng cách sử dụng tuỳ chọn Start

7 Thời gian truyền sóng tính toán được trình bày trong thêm vào trong cửa sổ phía dưới Bây giờ chúng ta có thể kiểm tra sự khác biệt thời gian trung bình bằng cách sử

dụng tuỳ chọn Analyse/calculate traveltime differences

8 Nếu thời gian tính toán và quan sát không tương xứng với nhau cần thực hiện một

số thay đổi bên trong mô hình và khởi động lại chương trình raytracing để nhận

được sự tượng hợp tốt hơn

Trang 25

6.4.1 Trình bày các định dạng và việc nhặt sóng của dữ liệu traveltime data.

Trang 26

6.4.2 Mô tả việc phân tích 2D tomographic của borehole-borehole

transmission tomography.

6.4.3 Mô tả việc phân tích cắt lớp 2D của refraction tomography

6.4.1 Nhặt dữ liệu thời gian và mô tả định dạng dữ liệu.

Trước khi thực hiện việc phân tích cắt lớp, dữ liệu thời gian truyền sóng đã chuyển đổi phải hiện diện

REFLEXW Sử dụng định dạng 2D hoặc 3D dạng mãASCII:

1 Phần quan trọng nhất là việc xác định các toạ độ của điểm nổ và máy thu Các toạ

độ này được chứa bên trong traceheader của mỗi trace Có hai khả năng khác nhau cho các dữ liệu địa chấn phản xạ và khúc xạ

Trang 27

Mỗi điểm nổ

được nhập vào, lọc, và

nhặt sóng một cách

riêng (Quy trình chuẩn

cho việc phân tích địa

hiện bên trong

2D-dataanalysis) hoặc một tập tin dữ liệu có chứa tất cả các điểm nổ (Quy trình chuẩn cho việc phân tích địa chấn phản xạ thông thường- xem phần hướng dẫn phản xạ, đưa vào dữ liệu thiết lập các yếu tố hình học- thực hiện bên trong 2D-dataanalysis) và dữ liệu được lọc và nhặt sóng trong một bước Nếu mức độ bao phủ dữ liệu rất cao được trình bày , dữ liệu địa chấn khúc xạ cũng có thể được vận dụng giống như dữ liệu địa chấn phản xạ với một tập tin dữ liệu chứa tất cả các điểm nổ Trong trường hợp đó có thể đòi hỏi việc xác định các yếu tố hình học với các khả năng khác nhau của

Cần xem xét: Trong bất kỳ trường hợp nào các toạ độ đầu của đường ghi phải

được xác định trước khi nhặt sóng

2 Sau khi đã nhập các dữ liệu vào và dữ liệu hình học đầu đường ghi đã được xác

định cần phải nhặt dữ liệu thời gian Để thực hiện điều đó, kích hoạt tuỳ chọn pick

và nhặt dữ liệu bằng cách sử dụng một trong những tuỳ chọn nhặt sóng (picking

options) Mỗi menu pick save bằng cách sử dụng tuỳ chọn save Menu save picks

mở ra Trong bất kỳ trường hợp nào các sóng đầu cũng phải được lưu vào bằng cách

sử dụng định dạng Reflex Win để có thể tải chúng ra trong các bước sau

Sử dụng định dạng ASCII-2D tomography hoặc ASCII-3D tomography tạo ra tập tin mã ASCII-file cho việc xử lý cắt lớp sau đó Với việc kích hoạt tuỳ chọn

“export several existing picks into 1 ASCII-file” có thể xuất các tập tin thời gian đã

Trang 28

có sang một tập tin dạng mã ASCII Tập tin thời gian có phần mở rộng TOM và được chứa dưới đường dẫn ASCII dưới đường dẫn dự án thực tế.

6.4.2 Performing the transmission tomography

1 Trước hết phải tạo ra một mô hình bắt đầu (xem 6.4.1) hoặc phải tải một mô hình

đã có bằng cách sử dụng tuỳ chọn file/load model Thông thường mô hình khởi đầu

có thể là một mô hình đồng nhất đơn giản với vận tốc của các lớp nằm trong giới hạn tiên đoán

2 Kích hoạt tuỳ chọn Tomo.

3 Nhóm hộp thoại TomographyGroupBox mở ra thêm vào màn hình (Xem hình

phía dưới) Trong nhhóm hộp này phải đưa vào các tham số tomography cần thiết

- Tải dữ liệu bằng cách sử dụng tuỳ chọn load data Nếu sử dụng dữ liệu định dạng 3D-cho 2D-tomography cần phải huỷ chọn (deactivate) tuỳ chọn use 2D-data và phải chỉ định toạ độ thứ hai second coordinate (y hoặc z) Bên trong radiobox sec.coord Toạ độ thứ nhất luôn luôn là x, toạ độ thứ 3 được bỏ qua.

- Nhập vào gia số khoảng cách cần thiết space increment (gia số giống nhau theo

phương x- và phương z) Gia số này phải nằm trong giới hạn của các máy thu hoặc điểm nổ

Trang 29

- Kích hoạt tuỳ chọn curved ray nếu phải sử dụng tia sóng cong Nếu kích hoạt tuỳ chọn start curved ray chỉ định bước lặp cho tia sóng cong sẽ được sử dụng trước

tiên

- Với một kết quả tomographic đầu tiên, có thể phải sử dụng các tham số mặc định khác Không có quy luật cho các tham số này, tuy nhiên, các tham số phải phù hợp với dữ liệu để có thể nhận được kết quả tốt nhất

- Nhập vào tên cho mô hình cuối cùng, đừng sử sụng cùng tên với mô hình bắt đầu,

vì điều này có thể dẫn đến một số vấn đề

- Khởi động Start tomography Kết quả tomographic được lưu lại bằng cách sử

dụng định dạng chuẩn “normal” REFLEXW Có thể hiển thị các kết quả trong menu 2D-dataanalysis

Trang 30

6.4.3 Performing the refraction tomography:

Trong trường hợp của khúc xạ 2D, 2D refraction vertical tomography tất cả

các điểm nổ và máy thu được đặt trong cùng một tuyến trên mặt đất Để cho phép cho một mức độ bao phủ dữ liệu cao trong môi trường gradien vận tốc thẳng đứng phải được trình bày và một tia sóng cong cho việc tính toán của thời gian phải được

1 Trước hết, phải tạo ra một mô hình bắt đầu hoặc tải một mô hình có sẵn bằng cách

sử dụng tuỳ chọn file/load model Thông thường, mô hình bắt đầu có thể là một mô

hình đồng nhất đơn giản với gradien vận tốc hoàn toàn mạnh theo phương thẳng đứng ( ví dụ dv/dz = 50 1/m) qua đó vận tốc ở ranh giới bề mặt phải nằm trong khoảng dự đoán (Ví dụ v=400 m/s)

2 Kích hoạt tuỳ chọn Tomo 3 Các nhóm hộp TomographyGroupBox mở ra thêm vào (xem hình phía dưới) Trong nhóm hộp này phải đưa vào các tham số

tomography cần thiết

- Tải ra dữ liệu bằng cách sử dụng tuỳ chọn load data Nếu sử dụng định dạng dữ liệu 3D cho 2Dtomography phải huỷ chọn tuỳ chọn use 2D-data và phải chỉ định toạ

độ thứ hai second coordinate (y hoặc z) bên trong radiobox sec.coord Toạ độ thứ

nhất luôn luôn là x, toạ độ thứ 3 được bỏ qua

Trang 31

- Nhập vào gia số khoảng cách cần thiết space increment (bằng nhau theo phương x-

và phương z) Thông thường, gia số này phải đủ nhỏ để cho phép vẽ ra các thay đổi

có kích thước nhỏ theo chiều sâu Tham số này có thể nhỏ hơn một cách đáng kể so với gia số khoảng cách giữa các máy thu

Các tuỳ chọn sau đây phải được thiết lập cho refraction tomography:

- Kích hoạt tuỳ chọn curved ray.

- Thiết lập tham số start curved ray đến 1.

- Nhập vào một giá trị hoàn toàn lớn cho max.def.change (%), Ví dụ 200 %

- Thường hữu ích trong việc cưỡng bức lần lặp đầu tiên (Kích hoạt tuỳ chọn force 1.iter ) để tạo ra một mô hình mới, ngay cả nếu như các phần dư của kết qủa lớn hơn

mô hình khởi đầu

Trang 32

- Nhập vào giá trị làm trơn theo phương x (Tham số trung bình average x, ví dụ 10).

- Kích hoạt tuỳ chọn show result để hiển thị kết quả tomography

- Đối với kết quả đồ thị cắt lớp đầu tiên có thể phải sử dụng các tham số mặc định khác Không có quy luật chung cho các tham số này tuy nhiên các tham số phải phù hợp với dữ liệu để có thể nhận được kết quả tốt nhất

- Nhập vào tên cho mô hình cuối cùng, chú ý, đừng sử dụng cùng tên với mô hình khởi đầu

- Khởi động Start the tomography Đồ thị cắt lớp kết quả được lưu trữ bằng cách sử

dụng định dạng chuẩn “normal” REFLEXW Có thể hiển thị kết quả trong module 2D-dataanalysis

4 Kiểm soát kết quả đồ thị cắt lớp tomographic result bởi một bài toán thuận

forward raytracing Để thực hiện điều này, kích hoạt tuỳ chọn ray Menu raytracing

mở ra Tải dữ liệu thời gian bằng cách sử dụng tuỳ chọn File/load data traveltimes

Thì màn hình sẽ tách đôi theo phương thẳng đứng trong phần trên trình bày mô hình cùng với kết quả đồ thị cắt lớp và dữ liệu trong phần dưới Bây giờ phải chọn các tham số ray tracing:

- Nhập vào loại raytracing cần thiết type FD-Vidale.

- Nhập vào bước gia số mạng lưới DeltaX – Gia số này phải tương đương với gia số

sử dụng trong tomography

- Nhập vào tỉ lệ xuất output-scale, Ví dụ 1

- Nhập vào loại tính toán calculate – Trong trường hợp này là dữ liệu thời gian, bởi

lẽ chúng ta muốn mô phỏng tất cá các dữ liệu thời gian đã tải ra

- Nhập vào tên tập tin xuất ra outputfile name

- Huỷ chọn tuỳ chọn raster

- Khởi động raytracing bằng cách sử dụng tuỳ chọn start Khi tuỳ chọn raster bị huỷ

chọn, bạn bị đòi hỏi một tập tin raster Chọn tập tin tomography raster

- Các thời gian tính toán được trình bày trong phần dưới của của sổ Bây giờ có thể kiểm tra sự khác biệt trung bình thời gian bằng cách sử dụng tuỳ chọn

Trang 33

7 Sử dụng CMP cho một hoặc nhiều file CMP độc lập ( Use of CMP-analysis for a single or several independent CMP-files):

Phần sau đây mô tả sự mô phỏng vận tốc

cho càc tập tin đơn hoặc các tập tin CMP

độc lập

1 Vào module CMP và tải các tập tin

CMP cần thiết bằng cách sử dụng tuỳ

chọn file/open Tập tin được vẽ ra cùng

với một mô hình một lớp đơn giản như

hình bên tay phải Theo mặc định, vận tốc

của lớp thứ nhất được thiết lập là 0.1 m/ns

cho GPR hoặc 3000 m/s cho địa chấn

tương ứng Giá trị cực đại mặc định cho

Trang 34

chiều sâu của mô hình được tính từ vận tốc cực đại và thời gian cực đại được tải ra từ tập tin CMP.

2 Kích hoạt các tuỳ chọn unnormalized cor hoặc semblance và sử dụng cho ví dụ

các tham số đầu vào sau đây cho vận tốc cực đại, cực tiểu và khoảng vận tốc Nháy chuột vào Start và trên cạnh phía bên phải biểu đồ hiệu chỉnh được trình bày Trong biểu đồ hiệu chỉnh này, có thể chọn các giá trị vận tốc phù hợp tốt nhất Nháy chuột vào vận tốc chọn lựa bên trong biểu đồ và mô hình 1D hiện hữu sẽ được cập nhật Chọn vận tốc kế tiếp cho lớp phản xạ kế tiếp và lớp thứ hai sẽ được tạo ra và tiếp tục Đường đậm nét xác định các lớp vận tốc, các đường đứt nét là các giá trị vận tốc trung bình

3 Sau khi tạo ra tất cả các lớp, vẫn còn có thể thay đổi một cách tương tác (kích hoạt

tuỳ chọn interactive adaptation) các ranh giới lớp và/hoặc các vận tốc bằng cách

nháy chuột vào ranh giới và kéo rê nó trong khi bấm giữ phím chuột

Khả năng thay đổi vận tốc

bên trong lớp cũng vậy

(kích hoạt tuỳ chọn

velocity) Một ranh giới

lớp mới có thể được đưa

vào (kích hoạt tuỳ chọn

insert) và một lớp hiện

hữu có thể loại bỏ bằng

cách kích hoạt tuỳ chọn

remove Mô hình 1D hiện

hữu có thể được lưu lại với

một tên bất kỳ , tuỳ chọn

model pos xác định vị trí

của mô hình 1D dọc theo

trục khoảng cách Tham số này là quan trọng cho việc tạo ra một mô hình 2D sau đó

Trang 35

4 Nếu một số CMP’s được trình bày chúng ta có thể thực hiện giống với quy trình

cho mỗi một CMP Rồi sau đó, có thể tạo ra một mô hình 2D 2D-model bằng cách

sử dụng tuỳ chọn 2D-model Nháy chuột vào create và chọn các mô hình 1D cần thiết đưa vào tên tập tin cho mô hình 2D Mô hình 2D này có thể được sử dụng cho sự di chuyển tiếp theo hoặc biến đổi (tuỳ chọn CMP-analysis trong nhóm hộp 2D-velocity model) Nếu chỉ có một CMP được trình bày bạn còn phải tạo ra một mô hình 2D cho việc sử dụng bên trong sự di chuyển hoặc biến đổi thời gian chiều sâu Trong trường hợp này bạn có thể lựa chọn một cách đơn giản một mô hình 1D khi tạo ra mô hình 2D Một mô hình 2D đồng nhất ngang có thể được tạo ra

Trang 36

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ MỘT VÀI CÔNG CỤ XỬ LÍ TRONG REFLEXW

Chương này phân tích về ứng dụng của một vài công cụ xử lí trong reflexw

1 Menu Import.

1.1 Import Fileheader-coordinates.

Trong nhóm hộp này toạ độ đầu tập tin phải được nhập vào Các yếu tố hình học của tuyến được xác định bởi toạ độ đầu và cuối trong không gian 3D Nếu dữ liệu thu thập trên một mặt phẳng đơn thì toạ độ thứ 3 không cần xác định (ví dụ toạ

độ z) Nếu toạ độ đã được xác định sẵn trong tiêu đề của tập tin dữ liệu thô thì tọa độ theo phương tuyến cập nhật một cách tự động tương ứng với thiết lập ControlOptions

DistanceDimen.: Nhập vào thứ nguyên khoảng cách cần thiết, có thể sử dụng các

đơn vị sau: MM, CM, METER, INCH, FOOT hoặc TRACNR Việc lựa chọn TRACENR có nghĩa là gia số đường ghi thiết lập một cách tự động đến 1 và tên của trục trên phương tuyến được thiết lập đến LOCATIONNUMBER

Data type: Có 5 loại dữ liệu khác nhau: const offset, single shot, several

shots,3D-const.offset và timeslice

Loại dữ liệu ‘Const offset’ có thể được sử dụng cho đầu vào nếu việc đo đạc

được thực hiện dọc theo một tuyến bằng cách sử dụng các dịch chuyển cố định giữa điểm nổ và máy thu (ví dụ dữ liệu Radar Constant-Offset (CO) )

Nếu tập hợp dữ liệu là kết quả của việc đo đạc với chỉ một điểm nổ nhưng

nhiều máy thu trên một tuyến thì nên sử dụng loại dữ liệu mặc định ‘single shot’

(Ví dụ dữ liệu radar Common-Mid-Point (CMP), địa chấn khúc xạ)

Trong trường hợp dữ liệu nhiều loại điểm nổ và máy thu thì phải sử dụng loại

dữ liệu mặc định ‘several shots’ (Ví dụ địa chấn phản xạ- một tập hợp dữ liệu kết

hợp của các tập hợp dữ liệu CMP riêng)

Dữ liệu loại ‘3D-const.offset’ phải được sử dụng cho tập tin dữ liệu 3D gồm

Trang 37

kiểu nghịch đảo 3D hoặc các tuyến kết hơp ensemble nr bên trong REFLEXW traceheader kiểm soát việc lưu trữ các tuyến 2D riêng Tất cả các đường ghi thuộc một tuyến 2D có số ensemble-number được lưu bên trong REFLEXW traceheader

Dữ liệu loại ‘timeslice’ phải được sử dụng nếu dữ liệu nguyên thuỷ là lát cắt

thời gian, có nghĩa là các lát cắt thời gian trong mặt phẳng XY Loại dữ liệu này cũng được sử dụng một cách tự động nếu các lát cắt thời gian được tạo ra REFLEXW Phương tuyến phải là X và hằng số Z Toạ độ hằng số tuyến xác định vị trí của lát cắt thời gian theo phương thời gian (Z) Qua đó toạ độ theo phương X được cho tương ứng với loại dữ liệu const.offset tiêu chuẩn, toạ độ theo phương Y được xác định giống như các tham số theo phương thời gian cho dữ liệu const.offset Vì vậy, gia số theo phương y được cho bởi gia số y tương ứng với gia số thời gian cho loại dữ liệu const.offset và vị trí đầu tiên theo phương y tương ứng với thời gian bắt đầu cho dữ

liệu const.offset và được lấy từ dữ liệu nguyên thuỷ nếu tuỳ chọn read starttime

được kích hoạt Nếu không thì nó được thiết lập 0 và có thể được đưa vào sau đó

trong menu fileheader.

Các tuỳ chọn sau đây có hiệu lực cho loại dữ liệu const.offset:

ProfileDirection: Nhập vào trục mà phương tuyến hướng theo Có thể đưa vào X, Y

hoặc Z

ProfileConstant: Nhập vào trục trực giao với phương tuyến Các giá trị có thể nhập

vào là X, Y hoặc Z Với việc thiết lập phương tuyến và hằng số tuyến gọi là mặt phẳng tuyến được xác định

XStart: Nhập vào toạ độ bắt đầu theo phương x

XEnd: Nhập vào toạ độ kết thúc theo phương x.

YStart: Nhập vào toạ độ bắt đầu theo phương y.

YEnd: Nhập vào toạ độ kết thúc theo phương y.

ZStart: Nhập vào toạ độ bắt đầu theo phương z

ZEnd: Nhập vào toạ độ kết thúc theo phương z.

Các tuỳ chọn sau đây là thích hợp cho loại dữ liệu single shot:

Trang 38

Rec.start: Nhập vào toạ độ điểm đầu cho tuyến thu.

Rec.end: Nhập vào toạ độ kết thúc cho tuyến thu.

Lat.offset: Nhập vào dịch chuyển ngang cho tuyến thu.

Shot-pos: Nhập vào toạ độ điểm nổ

Shot.lat.offset: Nhập vào dịch chuyển ngang cho điểm nổ.

Các tuỳ chọn sau đây là thích hợp cho loại dữ liệu several shots:

Increment: Nhập vào gia số đường ghi trung bình.

Các tuỳ chọn sau đây là thích hợp cho loại dữ liệu timeslice:

ProfileDirection: Nhập vào trục x cho lát cắt thời gian - chọn X.

ProfileConstant: Nhập vào trục thời gian trục (z)- chọn Z.

XStart: Nhập vào toạ độ điểm đầu theo phương x.

XEnd: Nhập vào toạ độ điểm cuối theo phương x.

ZStart: Nhập vào toạ độ điểm đầu theo phương thời gian z.

ZEnd: Nhập vào toạ độ kết thúc theo phương thời gian z.

Các tuỳ chọn sau đây là thích hợp cho tất cả các loại dữ liệu:

Number: Nhập vào các số trong khoảng từ 0 đến 99 được sử dụng cho việc tự động

đặt tên tuyến nếu việc chỉ định tên tập tin được thiết lập automatic name

X-,Y- và Z-start- và end-coordinates xác định vị trí của tuyến, tuy nhiên mặt

phẳng này không phải nhất thiết trùng khít với mặt phẳng tạo bởi các trục toạ độ Các tuyến bên trong môt mặt phẳng cũng không phải trùng khít với một trục toạ độ, vì vậy với việc thiết lập của 6 toạ độ, một tuyến nằm bất kỳ trong không gian được chỉ định Việc xác định như vậy gọi là mặt phẳng tuyến, phương tuyến và hằng số là quan trọng cho một sự lựa chọn tuyến tương tác và việc xử lý hiển thị dữ liệu 3 thứ nguyên

Phương tuyến và toạ độ kết thúc phải không giống với toạ độ đầu Nếu toạ độ điểm cuối là nhỏ hơn toạ độ điểm đầu, tuyến bị đảo ngược đòi hỏi kết thúc việc thu

dữ liệu sau đó

Trang 39

Toạ độ bắt đầu và kết thúc cùng với số các đường ghi xác định gia số đường ghi được ghi vào đầu mục của tập tin, mặc dù gia số này có thể thay đổi lại khi cần thiết.

1.2 Import filename specification.

Nhóm hộp này cho phép chỉ định việc đặt tên các tuyến đã biến đổi

Specification: Tuỳ chọn này cho phép chỉ định việc đặt tên của các tuyến đã biến

đổi Nhập vào automatic name có nghĩa là việc đặt tên trên cơ sở các toạ độ tuyến đã

đưa vào theo phương tuyến cố định

Việc lựa chọn manual input có nghĩa là tên tập tin phải được đưa vào bằng tay.

Việc chọn original name có nghĩa là tên nguyên thuỷ của dữ liệu thô được sử dụng

một cách tự động

Chọn manual /automatic có nghĩa là việc đặt tên được thực hiện trên cơ sở cả hai

đưa vào tên tập tin bằng tay và đưa vào các toạ độ tuyến

Cần xem xét: Số kí tự tối đa cho tên tập tin bị giới hạn là 16 ký tự (không kể phần mở rộng) Nếu tập tin nguyên thuỷ vượt quá số này thì tên tập tin sẽ tự động bị cắt

Filename: Nhập vào tên của tập tin đã biến đổi quy định rằng việc chỉ định được

thiết lập cho việc nhập vào bằng tay

Filenamefactor: Sử dụng nếu việc chỉ định được thiết lập tự động đặt tên Toạ độ

đầu trong tuyến- Phương tuyến cố định được nhân với tham số đó cho việc đặt tên Một giá trị lớn hơn 1 (ví dụ 10) cho một ví dụ hợp lý nếu các số chấn động đưa vào việc đặt tên Toạ độ hiện hành dĩ nhiên không ảnh hưởng bởi giá trị này

Automatic name: Hai số đầu tiên của tên được lấy từ phương tuyến cố định Toạ độ

đầu trong phương của hằng số tuyến (chỉ số nguyên) được sử dụng cho các số từ 3 đến 6 Đối với điều này, toạ độ được nhân bởi các giá trị gọi là tham số tên tập tin Số thứ 7 và thứ 8 trong tên tập tin được xác định bởi số

An example: Phương tuyến được thiết lập theo phương Y và hằng số tuyến được

thiết lập theo X Khoảng mở của tuyến theo phương Y là từ 0 đến 100m Các toạ độ hằng số tuyến được thiết lập XStart = 1 và XEnd=1 Số được thiết lập đến 0 Với

Trang 40

việc đặt tên tuyến tự động, tên sẽ là XP000100.DAT (thừa số tên được thiết lập đến 1).

Manual /automatic1: Việc đặt tên trên cơ sở cả hai đưa vào tên tập tin bằng tay và

đưa vào toạ độ tuyến Tên đưa vào bằng tay cho phép đến 30 ký tự, nếu sử dụng ít hơn 2 ký tự, tên được điền vào với ký tự '_' Sáu số sau đây được lấy từ toạ độ điểm đầu của phương hằng số tuyến (chỉ có số nguyên) Để thực hiện điều này, toạ độ được nhân với con số gọi là thừa số tên tuyến

Manual /automatic2: Việc đặt tên được thực hiện trên cơ sở nhập vào bằng tay và

một phần xác định tự động Tên đặt theo kiểu này cho phép đến 28 ký tự Nếu sử dụng ít hơn 2 ký tự, tên được điền vào với ký tự '_' Sáu số sau đây được lấy từ toạ

độ điểm đầu của phương hằng số tuyến (chỉ có số nguyên) Để thực hiện điều này, toạ độ được nhân với con số gọi là thừa số tên tuyến Số thứ 7 và thứ 8 của tên theo con số như đã giải thích trong phần đặt tên tự động

1.3 Import ControlOptions.

Nhóm hộp này cho phép diều khiển sự chuyển đổi và chỉ rõ xem những tọa độ được

định nghĩa có được ghi trong rawdata có được ghi hay không.

Read starttime: được mặc định cho một vài dạng dữ liệu Có nghĩa là thời gian bắt

đầu của tín hiệu trong bản chính dữ liệu có thể dùng được và được lưu giữ trong

reflexw Reflexw filheheader (option start time) Ngược lại,một cách khác tức là sự

xem xét (thời gian bắt đầu được cài đặt về zero)

FILE/FILEHEADER trong menu chính được lựa chọn sau một bước xử lí đặc biệt

Để có thể xem xét với SEGY-format: starttime cần được lấy từ 240 bytetraceheader

của kênh đầu tiên, bình thường giá trị này đã cho trong ms Nếu giá trị này vượt quá 50% chiều dài của toàn bộ tập tin thì được giả định rằng những giá trị này đã cho trong :s

Fix endcoord: Nếu tùy chọn được kích hoat và kích hoạt lựa chọn read trace increment vào endcoordinate trong profiledirection là cố định và những tọa độ đầu

Ngày đăng: 21/03/2013, 09:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ thể hiện 1 ví dụ cho lọc khử nhiễu nhiều lần. Bên trái là dữ liệu  thường với những nhặt phản xạ gốc, bên phải hiển thị dữ liệu đã lọc ( time range : 20ns; time lag : 10 ns; nr.ofmultiples : 3 ;nr.of traces : 20). - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình v ẽ thể hiện 1 ví dụ cho lọc khử nhiễu nhiều lần. Bên trái là dữ liệu thường với những nhặt phản xạ gốc, bên phải hiển thị dữ liệu đã lọc ( time range : 20ns; time lag : 10 ns; nr.ofmultiples : 3 ;nr.of traces : 20) (Trang 60)
Hình 4.29 Cửa sổ 1D – filter. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.29 Cửa sổ 1D – filter (Trang 88)
Hình 4.30 Mặt cắt sau khi lọc ngược tiên đoán. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.30 Mặt cắt sau khi lọc ngược tiên đoán (Trang 89)
Hình 4.31 Cửa sổ migration. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.31 Cửa sổ migration (Trang 91)
Hình 4.32 Mặt cắt sau khi dịch chuyển. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.32 Mặt cắt sau khi dịch chuyển (Trang 92)
Hình 4.33 Thanh công cụ pick. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.33 Thanh công cụ pick (Trang 93)
Hình 4.35 Kết quả pick hiển thị trên cửa sổ 2D – data-analysis. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.35 Kết quả pick hiển thị trên cửa sổ 2D – data-analysis (Trang 94)
Hình 4.36 Hộp thoại save picks. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.36 Hộp thoại save picks (Trang 95)
Hình 4.37 Picks của lớp thứ hai. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.37 Picks của lớp thứ hai (Trang 96)
Hình 4.38 Picks của lớp thứ ba. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.38 Picks của lớp thứ ba (Trang 97)
Hình 4.39 Picks của lớp thứ tư. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.39 Picks của lớp thứ tư (Trang 98)
Hình 4.40 Thanh công cụ của layer-show. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.40 Thanh công cụ của layer-show (Trang 99)
Hình 4.41 Hộp thoại xuất kết quả. - TỔNG QUAN VỀ  PHẦN MỀM REFLEXW
Hình 4.41 Hộp thoại xuất kết quả (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w