1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG

25 1,9K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Tài Chính Công
Tác giả Đoàn Thảo Nguyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại Bài Tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A ĐẶT VẤN ĐÊ Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tài chính. Hiện tượng ngân sách nhà nước với tính cách là một hiện tượng tài chính đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên nền của kinh tế hàng hóa tiền tệ và sự hình thành, phát triển của Nhà nước. Bởi vì, bất kỳ một Nhà nước nào cũng cần phải có các nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu, nhằm duy trì sự tồn tại của Bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nó. Ngân sách đã luôn luôn được sử dụng để huy động nguồn tài chính đáp ứng cho những nhu cầu chi tiêu đó của Nhà nước. Trong xã hôi có nhà nước, điều mang tính quy luật là Nhà nước phải tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sáng tạo ra từ bản thân nền kinh tế. Mục đích của việc tham gia phân phối của Nhà nước là nhằm thu về tay mình những nguồn của cải để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trước hết là để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, sau nữa là để thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm. Ngân sách Nhà nước là một hình thức, một công cụ để Nhà nước tham gia (thực hiện) quá trình phân phối đó. Do đó, thu ngân sách nhà nước là một loại hoạt động Nhà nước, hoạt động của một tổ chức quyền lực công, luôn gắn với yếu tố quyền lực chính trị của Nhà nước. Từ dó có thể hiểu “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành Quỹ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu ngân sách Nhà nước là một hoạt động rất quan trọng của Nhà nước, tạo ra thu nhập tài chính của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thu ngân sách Nhà nước là hoạt động mang nội dung kinh tế, vì các mục tiêu kinh tế trực tiếp, nhưng luôn hàm chứa yếu tố quyền lực chính trị và không tách rời yếu tố Nhà nước, pháp quyền và các mục tiêu chính trị của Nhà nước. Các khoản thu Ngân sách Nhà nước là những hình thức cụ thể của thu ngân sách Nhà nước. Thông qua các khoản thu này mà những bộ phận thu nhập của dân cư, những giá trị sản phẩm xã hội được tập trung vào tay Nhà nước dưới những nguyên tắc, nội dung và cách thức khác nhau, nhưng đều nhằm hình thành Quỹ ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời cũng thông qua các khoản thu này, Nhà nước thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất, tiêu dung và điều tiết thu nhập trong xã hội. Trong cơ cấu các khoản thu ngân sách Nhà nước, thuế là khoản thu quan trọng nhất, chiếm khoảng 15% so với GDP và khoảng gần 90% tổng số thu ngân sách nhà nước.

Trang 1

Họ và tên: Đoàn Thảo Nguyên

Lớp: K55- LKD

MSV: 10066058

Nhóm: 06

BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG

Đề bài: Vai trò, ý nghĩa của Thuế với nguồn thu ngân sách nhà nước

và sự điều chỉnh cúa pháp luật về thuế để nhằm điều hòa lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác.

Bài làm:

A- ĐẶT VẤN ĐÊ

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tàichính Hiện tượng ngân sách nhà nước- với tính cách là một hiện tượng tàichính đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên nền của kinh tế hànghóa- tiền tệ và sự hình thành, phát triển của Nhà nước Bởi vì, bất kỳ mộtNhà nước nào cũng cần phải có các nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu chitiêu, nhằm duy trì sự tồn tại của Bộ máy nhà nước và thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của nó Ngân sách đã luôn luôn được sử dụng để huy độngnguồn tài chính đáp ứng cho những nhu cầu chi tiêu đó của Nhà nước

Trong xã hôi có nhà nước, điều mang tính quy luật là Nhànước phải tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhậpquốc dân được sáng tạo ra từ bản thân nền kinh tế Mục đích của việc thamgia phân phối của Nhà nước là nhằm thu về tay mình những nguồn của cải

để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trước hết là để duy trì sự tồn tạicủa bộ máy Nhà nước, sau nữa là để thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội

Trang 2

mà Nhà nước đảm nhiệm Ngân sách Nhà nước là một hình thức, một công

cụ để Nhà nước tham gia (thực hiện) quá trình phân phối đó Do đó, thungân sách nhà nước là một loại hoạt động Nhà nước, hoạt động của một tổchức quyền lực công, luôn gắn với yếu tố quyền lực chính trị của Nhà nước

Từ dó có thể hiểu “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyềnlực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành Quỹngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước” Thu ngânsách Nhà nước là một hoạt động rất quan trọng của Nhà nước, tạo ra thunhập tài chính của Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.Thu ngân sách Nhà nước là hoạt động mang nội dung kinh tế, vì các mụctiêu kinh tế trực tiếp, nhưng luôn hàm chứa yếu tố quyền lực chính trị vàkhông tách rời yếu tố Nhà nước, pháp quyền và các mục tiêu chính trị củaNhà nước

Các khoản thu Ngân sách Nhà nước là những hình thức cụthể của thu ngân sách Nhà nước Thông qua các khoản thu này mà những bộphận thu nhập của dân cư, những giá trị sản phẩm xã hội được tập trung vàotay Nhà nước dưới những nguyên tắc, nội dung và cách thức khác nhau,nhưng đều nhằm hình thành Quỹ ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầuchi tiêu của Nhà nước Đồng thời cũng thông qua các khoản thu này, Nhànước thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất,tiêu dung và điều tiết thu nhập trong xã hội Trong cơ cấu các khoản thungân sách Nhà nước, thuế là khoản thu quan trọng nhất, chiếm khoảng 15%

so với GDP và khoảng gần 90% tổng số thu ngân sách nhà nước

B- THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ

I- THUẾ

1- Khái niệm

Trang 3

Thuế là một phạm trù kinh tế, thuế xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhànước, là công cụ để Nhà nước thể hiện quyền lực chính trị của mình trongviệc tham gia vào quá trình phân phối giá trị sản phẩm xã hội, nhằm hìnhthành các nguồn của cải hay quỹ tiền tệ của Nhà nước, thỏa mãn những nhucầu chi tiêu của Nhà nước Thông qua thuế hay nói chính xác hơn là thôngqua pháp luật thuế, Nhà nước buộc các thành viên trong xã hội phải thựchiện các nghĩa vụ đóng góp về mặt tài chính cho Nhà nước Mọi kiểu Nhànước trong lịch sử từ cổ đại đến hiện đại đều đặc biệt quan trọng và nguồnthu từ thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của mọi Nhà nước

Tuy nhiên, xét về bản chất, thuế là một phạm trù kinh tế, là hệ thống cácquan hệ phân phối dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước và các chủ thể kháctrong xã hội Và suy cho cùng thì thuế là sản phẩm thặng dư được sáng tạo

ra trong xã hội Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếukhách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhànước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước

2- Các đặc trưng của thuế

2.1 Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.

Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thànhqũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh

tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc

cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật củacác nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quyđịnh: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếukhông được Quốc hội chấp thuận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứmột khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được ápdụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hộiPháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế

Trang 4

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội

có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuyvậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thểgiao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một sốloại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế

· 2.2 Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp.

Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấuhiệu và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đốivới Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

· 2.3 Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.

Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhànước với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệphân phối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị Sựtồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm củaphương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởngđến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế Do đó, cơ cấu và nội dung của cả

hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổsung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụcủa từng giai đoạn Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảothực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được Nhà nước ban hành trongtừng thời kỳ

Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn mộtcách phiến diện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơnthuần là động viên tài chính vào ngân sách Nhà nước mà phải được phân

Trang 5

tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống

xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân

Ở nước ta trước cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước, Luật thuếchỉ áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tếtập thể và cá thể Ðể thực hiện chế độ thu ngân sách Nhà nước phù hợp với

cơ chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu ngân sách Nhànước, cuộc cải cách chế độ thu ngân sách Nhà nước được thực hiện trên cơ

sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989 Kết qủa củacuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối vớitất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thứckinh doanh Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sáchNhà nước và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhànước

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra

và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.

3- Phân loại thuế

Trong hệ thống thuế mà Nhà nước sử dụng để tạo nguồn thu vàđiều tiết thu nhập có nhiều loại thuế khác nhau Mỗi loại thuế, ngoài mụctiêu Mỗi loại thuế, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nướccòn có những mục tiêu điều tiết khác nhau, cơ sở tính thuế và mức độ nộpthuế cũng khác nhau Việc phân loại thuế thường được thực hiện theo cáccách sau đây:

Trang 6

3.1 Phân loại theo phương thức đánh thuế: Người ta chia thành thuế

trực thu và thuế gián thu:

- Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người

nộp thuế (tức là người thực hiện hành vi nộp thuế)

Mục đích của Nhà nước áp dụng loại thuế này là điều tiết, động viên trựctiếp vào thu nhập của những người (tổ chức, cá nhân) có thu nhập Do vậy,người nôp thuế cũng chính là người chịu thuế Hay nói cách khác, ngườithực hiện hành vi nộp thuế phải trích một phần từ chính thu nhập của mình

để nộp cho Nhà nước Ở nước ta hiện nay, thuộc loại thuế trực thu có thuếthu nhập doanh nghiệp, thuế đối với người có thu nhập cao, thuế sử dụng đấtnông nghiệp…

- Thuế gián thu: là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập của

người nộp thuế mà đánh gian tiếp thông qua giá cả hang hóa, dịch vụ

Với phương thức đánh thuế gián tiếp, thuế trở thành một bộ phận cấu thànhtrong giá cả hang hóa, dịch vụ do vậy, người nộp thuế không đồng thời làngười chịu thuế Người chịu thuế ở đây là người tiêu dùng hang hóa, dịch

vụ, còn người nộp thuế không phải lấy từ thu nhập của chính họ để nộp thuế

mà họ được cộng thuế vào giá cả hàng hóa, dịch vụ và sau đó được trích ra

để nộp cho Nhà nước Như vậy, cũng có thể nói là người thực hiện hành vinộp thuế chỉ là người nộp thuế thay cho người tiêu dùng còn người chịu thuế

là người tiêu dùng nộp thuế gián tiếp thông qua người cung cấp hang hóa,dịch vụ Thuộc loại thuế gián thu có thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặcbiệt, thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu…

3.2 Phân loại theo đối tượng đánh thuế: Theo cách phân loại này, hệ

thống thuế được chia làm ba loại:

- Thuế thu nhập: Là loại thuế có đối tượng đánh thuế là thu

nhập có được của các tổ chức và cá nhân Thu nhập nay được tạo ra từ nhiều

Trang 7

hình thức như từ kinh doanh, từ đầu tư, từ tiền lương và tiền công… Thuộcloại này có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thunhập cao (thuế thu nhập cá nhân), thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

- Thuế tiêu dùng: Là loại thuế có đối tượng đánh thuế là hàng

hóa, dịch vụ được đưa ra tiêu dùng Do vậy, khi có loại thuế này còn đượcgọi là thuế hang hóa hay thuế bán hàng Thực chất của thuế tiêu dùng là thuvào phần thu nhập được đem ra tiêu dùng thông qua việc mua hàng hóa haydịch vụ Thuộc loại thuế này có thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu

- Thuế tài sản: Là loại thuế có đối tượng đánh thuế là tài sản

(hay giá trị tài sản) do sử dụng hay mua bán, chuyển nhượng, đăng ký quyền

là thuế phải được luật hóa Các sắc thuế của Nhà nước cần phải được banhành dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật, và phải là văn bản cógiá trị pháp lý cao nhất, đó là các luật thuế Việc ban hành các đạo luật thuế

có ý nghĩa là xác định việc nộp thuế là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc củacác tổ chức kinh tế và mọi người dân Như vậy, khái niệm pháp luật thuếđược hiểu như sau:

Trang 8

Pháp luật thuế là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế, bao gồm các quy phạm quy định về nội dung của các sắc thuế và các quy phạm điều chỉnh các quan hệ trong việc thu thuế, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.

2- Nội dung của pháp luật thuế

2.1 Thuế giá trị gia tăng

2.1.1- Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Tại điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng đã định nghĩa: “ Thuế giá trịgia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phátsinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”

2.1.2 Phạm vi áp dụng của luật thuế giá trị gia tăng

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

Theo điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng quy định đối tượng chịuthuế giá trị gia tăng là “hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh vàtiêu dùng ở Việt Nam”

Như vậy toàn bộ hàng hóa, dịch vụ được mua bán, tiêu dùngtrên thị trường, bao gồm: hàng hóa, dịch vụ được sản xuát và tiêu dùng trongnước; hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu để tiêu dùng trong nước, trừ 26 loạihàng hóa và dịch vụ được quy định tại điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng ngày3/66/2008, có thể xếp thành 5 nhóm sau:

- Các sản phẩm, dịch vụ của một số ngành, lĩnh vực mà hoạt động

sản xuất kinh doanh của các ngành này còn gặp nhiều khó khăn,cần có sự nâng đỡ của Nhà nước để khuyến khích phát triển như:Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắtchưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chếthông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra

Trang 9

và ở khâu nhập khẩu; thiết bị, máy móc, phương tiện vận tảichuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xâydựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu đểtạo tài sản cố định của doanh nghiệp; dịch vụ tín dụng và quỹđầu tư như hoạt động cho vay, cho thuê tài chính, chuyểnnhượng vốn, kinh doanh chứng khoán…

- Nhóm các sản phẩm và dịch vụ không mang tính kinh doanh,

hoặc các dịch vụ công cộng bảo đảm cung cấp các dịch vụ tốithiểu cho việc tiêu dùng như: Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểmngười học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và tái bảohiểm; dịch vụ khám chữa bệnh, phòng dịch bệnh điều dưỡng,dịch vụ thú; Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theo chương trình của Chính phủ; Dịch vụ phục vụcông cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trìvườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng

công cộng; dịch vụ tang lễ; Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng

nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ nhân đạo đối

với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công

cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội;Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyênngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bảnpháp luật, sách khoa học - kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộcthiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dướidạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền…

- Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ

không hoàn lại; quà tặng cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính

Trang 10

trị- xã hội; quà biếu, quà tặng cho cá nhân trong tiêu chuẩn quy định;hàng mang theo người theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế.

- Các hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh mượn đường qua Việt Nam;

hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu nhập khẩu để sản

xuất, gia công hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, giacông xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hoá, dịch vụđược mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan vàgiữa các khu phi thuế quan với nhau

- Hàng hóa, dịch vụ của những cá nhân kinh doanh có mức thu

nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nướcquy định

Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh

doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, khôngphân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cánhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng

2.1.3 Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế.

Việc đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng là nghĩa vụ pháp lý bắtbuộc đối với các tổ chức, cá nhân có đối tượng chịu thuế là hàng hóa,dịch vụ theo những điều kiện luật định Pháp luật thuế giá trị gia tăngquy định cụ thể về các thủ tục kê khai và nộp thuế, thể hiện kỷ luật thunộp rất nghiêm ngặt, kèm theo các chế tài hành chính, phạt vật chất vànghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

a) Về việc đăng ký nộp thuế

- Cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quanthuế trực tiếp quản lý theo hướng dẫn của cơ quan thuế Đối với cơ sở

Trang 11

kinh doanh mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế giá trị gia tăngchậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh.

b) Về việc kê khai

Cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế giá trị gia tăng từng tháng và nộp tờkhai thuế cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo Đốivới cơ sở nhập khẩu hàng hóa phải kê khai và nộp tờ khai thuế giá trịgia tăng theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu

c) Về việc nộp thuế

Thuế giá trị gia tăng được nộp vào ngân sách nhà nước Thời hạn nộpthuế của tháng được ghi trong thông báo chậm nhất không quá ngày 25của tháng tiếp theo

d) Về việc quyết toán thuế

Việc quyết toán thuế được thực hiện hàng năm, tính theo năm dươnglịch Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày kết thúc năm, cơ sở kinhdoanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế

2.1.4- Vai trò, ý nghĩa của thuế giá trị gia tăng với ngân sách nhà nước

Qua quy định của Luật về đối tượng chịu thuế và đối tượngnộp thuế trên đây cho thấy, Luật thuế giá trị gia tăng là sắc thuế cóphạm vi điều chỉnh rộng nhất trong tất cả các Luật thuế hiện hành củaNhà nước ta Thuế giá trị gia tăng động viên sự đóng góp của tất cả mọingười dân thông qua hành vi tiêu dùng của họ; người thực hiện hành vinộp thuế là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh; còn đốitượng chịu thuế là mọi loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được mua bán,

Trang 12

tiêu thụ trên thị trường được sản xuất trong nước hay nhập khẩu, trừmột số hàng hóa, dịch vụ nhất định Với phạm vi điều chỉnh rộng nhưvậy, thuê giá trị gia tăng hiện nay là một trong những sắc thuế quantrọng trong hệ thống thuế của Nhà nước ta và cũng như thuế doanh thutrước đây, thuế giá trị gia tăng luôn có tỷ trọng cao trong cơ cấu thu củangân sách Nhà nước Thuế GTGT là nguồn thu lớn và quan trọngcủa Ngân sách nhà nước ỞViệt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm tỷtrọng ổn định khoảng 20-25% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí.

2.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt

2.2.1- Khái niệm

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu hay nói cách khác làmột loại thuế tiêu dùng đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt theodanh mục quy định của Luật Do vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt là một bộ phậncấu thành giá cả hàng hóa và do người tiêu dùng chịu

2.2.2- Phạm vi áp dụng của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Theo luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành có 8 nhóm hàng hóa và

4 nhóm dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, gồm:

Ngày đăng: 04/08/2014, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w