Tài chính công là lĩnh vực kinh tế liên quan đến những hoạt động thu chi của chính phủ nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội, những hoạt động này
Trang 1GVHD: PGS TS Bùi Thị Mai Hoài Page i
BÀI TẬP NHÓM 5 MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: PGS TS BÙI THỊ MAI HOÀI SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1 Ngô Thị Thùy Linh
2 Lý Thị Huỳnh An
3 Ngô Thị Ngọc Liễu
4 Phạm Xuân Như
5 Nguyễn Minh Phú
6 Lê Mỹ Xuân Phượng
7 Lê Thị Thu Thảo
8 Nguyễn Mai Thi
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1: So sánh giữa tài chính công và tài chính nhà nước? 1
Câu 2: Tại sao quản lý tài chính công phải tôn trọng nguyên tắc minh bạch và có sự tham gia quản lý của công chúng? 1
Câu 3: Sự tham gia của công chúng vào trong hoạt động quản lý tài chính công được thể hiện ở những khía cạnh nào? 1
Câu 4: Phân biệt thuế với phí và lệ phí 3
Câu 5: Mối quan hệ giữa thu thuế và thu vay nợ trong thu NSNN 4
Câu 6: Phân biệt “Thuế trực thu” và “ Thuế gián thu” 4
Câu 7: Ý nghĩa của sự phối hợp giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên trong chi NSNN? Cho VD minh họa 5
Câu 8: Ảnh hưởng của tài chính công đến tài chính doanh nghiệp? 5
Câu 9: Thông tin bất cân xứng, hậu quả? Giải pháp khắc phục? 7
Trang 3Câu 1 : So sánh giữa tài chính công và tài chính nhà nước?
a Giống: Đều thuộc sở hữu nhà nước và do nhà nước quản lý Được nhà nước sử dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nhằm đảm bảo xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
b Khác:
TÀI CHÍNH CÔNG TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
Lĩnh vực kinh tế học liên quan đến những hoạt
động thu chi của chính phủ
Bao gồm tài chính công và tài chính của doanh nghiệp nhà nước
Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao có quyền áp
đặt mọi khoản thu chi của nhà nước Chính phủ
-bộ phận hành pháp - điều hành chính sách tài
khoá
Doanh nghiệp nhà nước tự quyết định trong mọi hoạt động thu chi và chịu trách nhiệm trước nhà nước về tài sản được giao
Nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản vay của
nhà nước
Bao gồm nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, vay nợ của nhà nước cộng thêm nguồn lợi nhuận từ quá trình kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
Hoạt động không vì lợi nhuận mà hướng tới lợi ích
chung của cộng đồng Hoạt động vì lợi nhuận, thực hiện mục tiêu kinh tếxã hội do nhà nước giao
Cung cấp hàng hoá công cho xã hội không theo cơ
chế giá cả thị trường Thực hiện tái phân phối thu
nhập xã hội
Cung cấp hàng hoá theo giá cả và theo quy luật cung - cầu thị trường
Tôn trọng nguyên tắc minh bạch và có sự tham gia
quản lý của công chúng Doanh nghiệp nhà nước quản lý kinh doanh vàchịu trách nhiệm với nhà nước về vốn được giao
Câu 2 : Tại sao quản lý tài chính công phải tôn trọng nguyên tắc minh bạch và có sự tham gia quản lý của công chúng?
Tài chính công là lĩnh vực kinh tế liên quan đến những hoạt động thu chi của chính phủ nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội, những hoạt động này không vì lợi nhuận Để duy trì những hoạt động này cần có sự tham gia của một nhóm người cụ thể, để đảm bảo tính công bằng thì cần tôn trọng nguyên tắc công khai, minh bạch Để thực hiện tính công khai, minh bạch đòi hỏi người dân cần phải được thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về pháp luật, các thông tin liên quan đến quá trính thực thi của nhà nước, quyền được tiếp cận thông tin của báo chí, công luận Bên cạnh đó người dân với tư cách là người thụ hưởng và chịu tác động trực tiếp từ hoạt động tài chính công, sự tham gia đóng góp của người dân vào chính sách của chính phủ sẽ đem lại kết quả thực tiễn cao, phản ánh làm rõ vấn đề mà khi làm chính sách các nhà chính sách chưa có điều kiện đề cập đến Sự tham gia của người dân còn phản ánh khoảng cách giữa người dân và chính phủ, khi người dân được tham gia thì họ sẽ thấy mình được đóng góp, được thể hiện tiếng nói, nguyện vọng của mình
Câu 3 : Sự tham gia của công chúng vào trong hoạt động quản lý tài chính công được thể hiện ở những khía cạnh nào?
1 Khả năng tiếp cận của người dân
- Quyền được cung cấp thông tin Các công dân cần phải được tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận trực tiếp với chính quyền và được cung cấp thông tin một cách dễ hiểu Trách nhiệm cung cấp thông tin thuộc về chủ thể quản lý hành chính nhà nước Cơ quan quản lý này phải bảo đảm được yêu
Trang 4cầu cung cấp phổ biến thông tin đúng, đủ, kịp thời những hoạt động sử dụng tài chính công tới người dân
VD: Báo cáo trong các cuộc họp hội đồng nhân dân các cấp về tình hình sử dụng tài chính trong xậy
dựng các công trình giao thông công cộng, bệnh viện, trường học, các gói hỗ trợ xã hội… Kết quả đạt được là góp phần phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước
2 Sự tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp của người dân vào hoạt động quản lý tài chính công
- Sự tham gia của công dân với tư cách là người được thụ hưởng và chịu tác động trực tiếp từ các chính sách của chính phủ trong việc sử dụng tài chính công thể hiện qua các nội dung: tham gia phản biện, tham gia thực thi, tham gia giám sát chính sách
VD: Tổ chức các cuộc họp trưng cầu dân ý đối với những chính sách quan trọng, hay cho người dân có
cơ hội đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chính sách của nhà nước, tham gia vào khâu giám sát thực hiện cần tạo một cơ chế phản hồi và lắng nghe tốt Giám sát và phản biện xã hội không chỉ là việc phát huy quyền dân chủ của người dân mà thực chất còn là sự huy động nguồn lực và tập trung trí tuệ của toàn dân vào giải quyết công việc chung của hệ thống công quyền trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Sự tham gia của người dân vào các công việc của chính quyền nhiều hay ít, thực chất hay mang tính hình thức, phản ánh khoảng cách giữa người dân và chính quyền Tham vấn ý dân cũng là dịp quảng bá chính sách và thu nhận phản hồi, tạo sự đồng thuận
Trang 5Câu 4 : Phân biệt thuế với phí và lệ phí
Nội dung
Là khoản tiền phải nộp do Nhà nước quy định Thuế, lệ phí là nguồn thu của ngân sách nhà nước, tuy nhiên trong khoản phí có loại do nhà nước thu có loại do các tổ chức cá nhân thu
Khái niệm là nguồn thu theo nghĩa vụ
được quy định theo pháp luật
là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí do Nhà nước quy định
là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch
vụ được quy định trong Danh mục phí do Nhà nước quy định
Tính chất mang tính chất bắt buộc, hoàn
trả gián tiếp
mang tính bắt buộc tương đối, mang tính chất hoàn trả trực tiếp
mang tính bắt buộc tương đối, hoàn trả trực tiếp
Mục tiêu
tạo lập nguồn thu chủ yếu cho NSNN, điều tiết hoạt động đầu
tư, sản xuất tiêu dùng xã hội;
điều hoà thu nhập …
bù đắp chi phí hoạt động hành chính mà nhà nước cấp cho các pháp nhân và thể nhân Là khoản động viên sự đóng góp cho NSNN
bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí mà nhà nước bỏ ra để phục vụ người nộp phí
Thẩm
quyền thu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền: cơ quan thuế, hải quan,
cơ quan khác do Chính Phủ ủy quyền
cơ quan tổ chức cá nhân được nhà nước
ủy quyền tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ có trongdanh mục pháp lệnh phí và lệ phí
Điều kiện
thu
Thuộc diện nộp thuế theo quy định của pháp luật
sử dụng dịch vụ gắn với chức năng quản
Mức thu Thường lớn, diện rộng Thường thấp Thường thấp
Ví dụ
thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng tài nguyên
lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng chứng thực, lệ phí hộ khẩu, lệ phí tòa án,…
phí sử dụng đường bộ, học phí, viện phí, phí kiểm dịch, phí thẩm định đầu tư,…
Trang 6Câu 5 : Mối quan hệ giữa thu thuế và thu vay nợ trong thu NSNN
Trong hoạt động thu ngân sách nhà nước bao gổm thu thuế, thu lệ phí và phí, thu vay nợ (vay trong nước và vay nước ngoài) nhưng nguồn thu chủ yếu là từ thuế Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Trong trường hợp ngân sách bị thiếu hụt do nguồn thu từ thuế không đáp ứng đủ hoặc bội chi thì nhà nước mới huy động vốn bằng hình thức thu vay nợ
Câu 6 : Phân biệt “Thuế trực thu” và “ Thuế gián thu”
STT Nội dung Thuế trực thu Thuế gián thu
1 Khái niệm
Là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của các pháp nhân hoặc thể nhân
Là loại thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ vào thu nhập người tiêu dùng
2 Chủ thể nộp
thuế
Người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế
Người nộp thuế chỉ là người có trách nhiệm pháp lý phải nộp khoản tiền thuế đã nhận của người chịu thuế
3 Đối tượng
tính thuế Được thể hiện dưới hình thức tiền tệ Được thể hiện dưới hình thức tiền tệ
4 Giá tính thuế
Thu nhập của Doanh nghiệp Thu nhập của cá nhân Giá trị tài sản
Giá bán của hàng hóa dịch vụ Giá do nhà nước quy định
5 Thuế suất Có khuynh hướng lũy tuyến và mang ýnghĩa công bằng theo chiều dọc
Có khuynh hướng lũy thoái, đặt gánh nặng thuế cao hơn lên cá nhân có căn cứ tính thuế thấp hơn
6 Chế độ ưu
đãi thuế
Yếu tố miễn giảm thuế sẽ hỗ trợ để tạo
ra sự công bằng trong điều tiết thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân Là công cụ của Nhà nước nhằm điều tiết nền kinh tế
Thuế suất tuyệt đối thường ổn định trong thời gian dài
7 Thuế phát
sinh Trên thu nhập thặng dư Khi hoạt động tiêu dùng diễn ra
8
Mức độ tác
động vào
nền kinh tế
Ít tác động trực tiếp đến giá cả thị
9 Mức độ quản lý
Khó thu; Dễ trốn thuế, việc thanh toán bằng tiền mặt nhà nước không thể kiểm soát được thu nhập thực tế của người nộp thuế
Dễ thu vì được cấu thành vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ; Người tiêu dùng nếu trình độ dân trí chưa cao thì không thấy được
Trang 710 Ưu điểm Đảm bảo công bằng giữa những ngườichịu thuế Dễ dàng cho cơ quan thuế thu thuế
11 Nhược điểm Khó thu thuế Khó đảm bảo công bằng giữa nhữngngười chịu thuế
Câu 7 : Ý nghĩa của sự phối hợp giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên trong chi NSNN? Cho VD minh họa.
- Chi đầu tư phát triển (ĐTPT) là hoạt động liên quan tới chức năng tổ chức kinh tế của nhà nước,cụ thể đó là các hoạt độngxây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp doanh nhà nước,chi góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp,chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia,dự án nhà nước Là khoản chi có tính tích lũy, không để tiêu dùng hiện tại mà có tác dụng tăng trưởng kinh tế, là khoản chi không mang tính phí tổn,
có khả năng hoàn lại vốn
- Chi thường xuyên là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lí xã hội của nhà nước.Gồm các khoản chi liên quan tới con người (lương, phụ cấp…) và các khoản liên quan đến nghiệp vụ quản lý hay công việc Là khoản chi có tính chất tiêu dùng hiện tại bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, bảo đảm sự ổn định xã hội, là khoản chi có tính phí tổn Không có khả năng hoàn trả hay thu hồi
- Sự phối hợp của hai hoạt động này có sự tác động lẫn nhau.Nếu làm tốt các hoạt động chi đầu tư phát triển sẽ tạo nền tảng tốt cho nền kinh tế,từ đó tạo nguồn thu ổn định cho NSNN,giúp đảm bảo nguồn cho các hoạt động chi thường xuyên.Ngược lại hoạt động chi thường xuyên hiệu quà và tiết kiệm
sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để chi cho đầu tư phát triển, thúc đẩy kinh tế phát triển
VD: Chi xây dựng kết cấu hạ tầng bao gồm chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các công trình
không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học….Việc đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng kinh tế công công tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng (xây dựng đường cao tốc Tp HCM-Dầu Dây-Long Thành)
Trong chi tiêu thuờng xuyên như chi quản lý hành chính là các khoản để đảm bảo hoạt động của
cơ quan quản lý nhà nước Muốn chi tiêu thường xuyên hiệu quả và tiết kiệm, đặc biệt là chi cho con người phải thực hiện cải cách tiền lương Bởi vì nếu không thực hiện cải cách tiền lương sẽ dẫn đến nguy cơ chảy máu chất xám từ khu vực Nhà nước sang khu vực phi Nhà nước Rồi tiền lương quá thấp thì không thể nào trở thành động lực đối với người lao động trong khu vực Nhà nước Tuy nhiên, nếu giữ biên chế, thực hiện cải cách tiền lương như hiện nay thì nguy cơ chi thường xuyên còn vượt trên 2/3 tổng chi NSNN và trong chi thường xuyên thì 2/3 là dành cho chi con người Phần còn lại để đầu tư phát triển, hoặc phần còn lại trong chi thường xuyên để dành cho kinh phí hoạt động sẽ rất ít.Chính vì vậy, cơ cấu chi thường xuyên theo hướng, trước hết sắp xếp lại nhân sự, biên chế, rà soát tiêu chuẩn, chế độ, định mức phù hợp thực tế và thực hiện khoán kinh phí, biên chế, bố trí ngân sách theo đầu ra để việc quản lý sử dụng NSNN hiệu quả
Câu 8 : Ảnh hưởng của tài chính công đến tài chính doanh nghiệp?
Trang 8- Nguồn thu của tài chính công bao gồm thuế, lệ phí và tín dụng nhà nước Việc chi tiêu quỹ tiền
tệ này gắn liền với việc duy trì và phát huy hiệu lực của bộ máy nhà nước cũng như việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận
- Tài chính công nghiên cứu và phân tích các hoạt động đánh thuế để tạo lập ngân sách nhà nước của Chính phủ
- Hệ thống thuế tác động đến khu vực tư:
•Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế
•Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định của pháp luật thuế thì Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó
•Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng
có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu
•Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp
- Tín dụng ngân hàng tác động đến khu vực tư
•Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương
án sản xuất khả thi Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
•Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công
cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường
Trang 9trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản Sự ổn định tài chính công là tiền đề, điều kiện đảm bảo cho sự ổn định của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp không chỉ góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động mà còn đóng góp phần quan trọng cho NSNN, hoàn trả được vốn vay ngân hàng và những phúc lợi chung cho người lao động làm việc trong khu vực này cũng như giải quyết những vấn đề xã hội khác
Câu 9 : Thông tin bất cân xứng, hậu quả? Giải pháp khắc phục?
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch
Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên ít thông tin hơn Rủi ro đạo đức là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn
Tình trạng thông tin bất cân xứng hiện diện rất nhiều trong các lãnh vực
VD: Ngân hàng; Thị trường nhà đất; Thị trường lao động; Lãnh vực thể thao; Thị trường hàng
hóa; Thị trường bảo hiểm; Lãnh vực đầu tư; Thị trường chứng khoán; Thị trường đồ cũ
Hậu quả của thông tin bất cân xứng
•Sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi): Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng Bên có nhiều thông tin có thể gây ra tổn hại cho bên có ít thông tin hơn Đây là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt
•Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại): là tình trạng cá nhân hay tổ chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra
Rủi ro đạo đức là kết quả của hành vi bị che đậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng Tâm lý ỷ lại là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin bất cân xứng Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin
Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng
Trong nhiều lĩnh vực xuất hiện thông tin bất cân xứng thì các giải pháp thường được áp dụng chung để hạn chế mức độ thông tin bất cân xứng là cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc, cơ chế giám sát và cơ chế khuyến khích
•Cơ chế phát tín hiệu: Cơ chế phát tín hiệu là việc bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy Với việc phát tín hiệu này, người bán những sản phẩm chất lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém với người bán hàng hóa chất lượng thấp
•Cơ chế sàng lọc: bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính khác nhau chất lượng, mẫu mã nên cần phải phân loại chúng Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động
Trang 10có khả năng, tay nghề thấp Vì vậy không thể trả lương theo một mức lương cân bằng Để khuyến khích người có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến khích họ Đối với người có khả năng thấp, việc cố gắng đạt được một mức năng suất sản xuất để nhận được lương cao
sẽ tốn chi phí rất lớn so với người có khả năng cao Vì vậy việc phân nhóm lao động để trả lương là việc làm cần thiết để khuyến khích những người có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội Cơ chế sàng lọc mà không chỉ được ứng dụng trong thị trường lao động mà còn được ứng dụng rộng rãi trong nhiều thị trường khác nhau Để hạn chế sự lựa chọn bất lợi của mình, các ngân hàng thường áp dụng hạn mức tín dụng khác nhau đối với mỗi đối tượng vay, dự án vay và thời hạn vay Đối với tổ chức bảo hiểm, cơ chế sàng lọc được thể hiện qua việc chỉ bảo hiểm một phần, điều này cho thấy ngay cả đối với nhóm bất cẩn cũng phải có trách nhiệm một phần của mình trong sự cố bồi thường có thể xảy ra Ở thị trường chứng khoán, ngoại trừ một số nhà đầu cơ, đa phần nhà đầu tư mong muốn mình sẽ đầu tư vào những công ty có khả năng mang lại hiệu quả cao và bền vững Vì vậy cơ chế sàng lọc đối với nhà đầu tư là đầu tư vào các công ty có thông tin minh bạch, uy tín, làm ăn hiệu quả và
có tiềm năng phát triển cao
•Cơ chế giám sát: Cơ chế giám sát được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát rủi ro đạo đức Trong thị trường tài chính, người cho vay thường thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ Trong các hợp đồng tín dụng, luôn có điều khoản yêu cầu khách hàng vay cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tín liên quan đến tình hình hoạt động, những thay đổi tác động nhiều đến bên vay… Ngoài ra, bên cho vay còn sử dụng các hệ thống giám sát khác như hệ thống thông tin tín dụng, thông tin trên thị trường chứng khoán, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan quản lý Trong thị trường chứng khoán, cơ chế giám sát bao gồm: giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp: nhà đầu tư sẽ bỏ ra nguồn lực để đạt được kiểm soát thông tin,
cơ chế giám sát này tốn nhiều chi phí và sức lực, khả năng giám sát của nhà đầu tư muốn giám sát công
ty niêm yết sẽ bị hạn chế Giám sát gián tiếp: thông qua các qui định của các nhà tổ chức thị trường, mặc nhiên các công ty niêm yết phải có trách nhiệm thông báo trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhà đầu tư và nhà đầu tư cũng thông qua các quyền lợi đã được qui định mà có thể tiếp cận giám sát gián tiếp công ty niêm yết
•Cơ chế khuyến khích: Các tổ chức tín dụng sẽ cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, phí, hạn mức tín dụng, tài sản đảm bảo cho những khách hàng có uy tín trong quan hệ, vay trả sòng phẳng Ngược lại, đối với các khách hàng không có uy tín trong quan hệ sẽ bị hạn chế hạn mức tín dụng (thậm chí chấm dứt quan hệ tín dụng), phải chịu lãi suất cao và những điều kiện khắt khe hơn về đảm bảo tiền vay