1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chương 1: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG pot

76 206 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 665,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời của một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dàihàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3.500 năm trước công nguyê

Trang 1

Chương 1: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

I Ngân hàng và vai trò ngân hàng trong nền kinh tế

1) Lịch sử hình thành ngân hàng

Hoạt động ngân hàng với các nghiệp vụ truyền thống nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch

vụ thanh toán cho khách hàng ra đời khi quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hóa đã phát triển ở mức độcao Quá trình hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời của một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dàihàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3.500 năm trước công nguyên.a) Thời kỳ hoạt động của các ngân hàng sơ khai

Nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ là nhận giữ tiền vàng và các tài sản có giá trị khác.Người gửi tiền sẽ nhận được một tờ biên lai làm căn cứ xác định quyền sở hữu và trả lệ phí gửi tiền.Dần dần, người gửi tiền nhận ra rằng thay vì dùng tiền kim loại vốn khó khăn trong việc bảo quản

và vận chuyển để thanh toán, họ có thể sử dụng các chứng nhận gửi vàng để thanh toán Đây là mầmmống đầu tiên của nghiệp vụ phát hành dấu hiệu giá trị Mặt khác, người giữ tiền cũng nhận thấy rằng,trong cùng một khoản thời gian, có một số người đến đổi chứng thư lấy vàng, nhưng cũng có nhữngngười khác gửi vàng vào Sự bổ sung qua lại giữa lưu lượng gửi vào và rút ra làm xuất hiện một lượngvàng nhàn rỗi trong kho Điều này chứng tỏ, người giữ vàng chỉ cần dự trữ tiền mặt với tỷ lệ nhất định

so với tổng số tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụng để cho vay Đến đây, các chủ thể giữ vàng này đã bắtđầu tham gia hoạt động tín dụng

b) Từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 18

Trong giai đoạn này ngân hàng có các đặc trưng:

 Các ngân hàng hoạt động độc lập với nhau, chưa tạo ra hệ thống tạo sự ràng buộclẫn nhau;

 Chức năng hoạt động của các ngân hàng đều như nhau, bao gồm việc nhận ký thác,chiết khấu, cho vay, phát hành giấy bạc và nhận thực hiện các dịch vụ tiền tệ

c) Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20

Trong giai đoạn này, Nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động của ngân hàng bằng cách ban hànhcác đạo luật nhằm hạn chế bớt số lượng ngân hàng được phép phát hành tiền Ở giai đoạn này, ngânhàng đã hình thành hệ thống và chia làm 2 loại:

 Các ngân hàng được phép phát hành tiền gọi là các ngân hàng phát hành;

 Các ngân hàng không được phép phát hành tiền, gọi là ngân hàng trung gian

d) Từ thế kỷ 20 đến nay

Là giai đoạn hoàn thiện hoạt động của ngân hàng trung ương Đầu thế kỷ 20, hầu hết các nước đềuthực hiện cơ chế một ngân hàng phát hành Tuy nhiên ngân hàng phát hành vẫn còn thuộc sở hữu tưnhân Mãi đến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 Nhà nước mới bắt đầu quốc hữu hóa và nắm lấyngân hàng phát hành Đây là giai đoạn bắt đầu hoạt động của ngân hàng trung ương hiện đại với cácchức năng: độc quyền phát hàng tiền, là ngân hàng của ngân hàng, là ngân hàng của chính phủ và thựchiện vai trò điều tiết vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính

2) Vai trò của ngân hàng đối với nền kinh tế

Trang 2

Vai trò chủ yếu của ngân hàng đó là ngân hàng là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển củasản xuất lưu thông hàng hóa Nhờ có hệ thống ngân hàng mà tiền tiết kiệm của các cá nhân và tổ chứcđược huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế Nó trở thành chất dầu “bôi trơn” cho bộ máykinh tế hoạt động thông qua việc di chuyển nguồn lực của xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm tàngchuyển sang phục vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế

II Tổ chức hệ thống ngân hàng trên thế giới

1) Tổ chức ngân hàng trong nền kinh tế kế hoạch tập trung

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung như đã từng thấy ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũ, hệthống ngân hàng được tổ chức như là hệ thống ngân hàng một cấp, mang tính độc quyền Nhà nước vàthống nhất toàn ngành từ trung ương đến địa phương Mô hình tổ chức như vậy phù hợp với nền kinh tếtập trung hoạt động theo kế hoạch của Nhà nước Hiện nay, tất cả hệ thống ngân hàng theo mô hình nàyđều đã cải tổ và chuyển sang mô hình ngân hàng của các nước có nền kinh tế thị trường

2) Tổ chức ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình ngân hàng hai cấp:ngân hàng trung ương và ngân hàng trung gian Sự phân chia ngân hàng trung ương và ngân hàng trungương dựa vào đối tượng giao dịch với ngân hàng, trong đó, ngân hàng trung gian giao dịch với côngchúng, còn ngân hàng trung ương không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với ngân hàng trunggian

a) Ngân hàng trung gian

“Ngân hàng trung gian là một đơn vị kinh doanh có giấy phép của chính quyền, hoạt động chính

là kinh doanh tiền tệ bằng việc nhận các khoản tiền gửi có trả lãi để thu hút vốn nhàn rỗi, rồi dùng chínhnhững khoản tiền đó để cho vay lại đối với nền kinh tế”

Hay có thể định nghĩa: “Ngân hàng trung gian là một định chế tài chính mà hoạt động thườngxuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

“Ngân hàng là những xí nghiệp hày cơ sở làm nghề thường xuyên nhận của công chúng dướihình thức ký thác hoặc hình thức khác mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ tíndụng hay nghiệp vụ tài chính” Đây được xem là định nghĩa rõ ràng, chính xác và dễ hiểu về ngân hàngtrung gian

Ngân hàng thương mại – là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua

việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu

Khái niệm về ngân hàng thương mại đang có sự thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động truyềnthống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác Mặc dù có một biên giới mỏng manhgiữa ngân hàng thương mại với các trung gian tài chính khác, người ta vẫn tách nó ra một nhóm riêng vìnhững lý do đặc biệt của nó Một trong những lý do đó là tổng tài sản Có của ngân hàng thương mạiluôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Hơn nữa, khối lượng séc hay tài khoảntiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền của nền kinhtế

Trang 3

Cho đến cuối những năm 60, điểm đặc thù để phân biệt một ngân hàng thương mại với một ngânhàng trung gian khác là ở chỗ ngân hàng thương mại là đơn vị duy nhất được phép mở tiền gửi không kỳhạn cho công chúng Vào thời điểm này, tiền gửi không kỳ hạn không được phép trả lãi

Từ những năm 80, khi tiền gửi không kỳ hạn được phép trả lãi, các ngân hàng tiết kiệm và ngânhàng trung gian khác cũng bắt đầu được phép mở những tài khoản tiền gửi không kỳ hạn Lúc này, việcphân biệt ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung gian khác là ở chỗ tỷ lệ vốn cho vay vào mụcđích thương mại và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại

Ngân hàng phát triển – là ngân hàng có chức năng chủ yếu là huy động các nguồn vốn trung và

dài hạn dưới hình thức nhận tiền gửi, phát hành chứng từ có giá và vay vốn để đầu tư trung dài hạn dướihình thức cấp tín dụng, góp vốn mua cổ phần

Đặc điểm hoạt động của ngân hàng đầu tư là không cần nhận ký thác ngắn hạn nhiều của côngchúng nên không cần mở chi nhánh ở nhiều nơi như ngân hàng thương mại Trái lại, do thường xuyênđầu tư hoặc tài trợ cho các dự án đầu tư nên ngân hàng cần đội ngũ chuyên viên như chuyên viên giámđịnh, thẩm định dự án, chuyên viên kế toán, kỹ sư công trình, các nhà kinh tế học,… để giúp ngân hàng

có thể đánh giá tính khả thi và hiệu quả của những dự án đầu tư mà ngân hàng dự định tài trợ hay gópvốn

Ngân hàng đặc biệt – là loại ngân hàng mà hoạt động của nó có tính chất đặc thù, một số nét

giống ngân hàng thương mại, nhưng một số nét lại giống ngân hàng đầu tư Về loại hình và tên gọi, ngânhàng đặc biệt có tên khác nhau tùy theo mỗi nước nhưng tiêu biểu có một số loại hình sau đây:

 Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương (Mutual Savings Banks);

 Hiệp hội cho vay và tiết kiệm (Saving and Loans Associations);

 Ngân hàng xuất nhập khẩu (Export and Import Banks);

 Ngân hàng địa ốc (Housing Banks)

Ngân hàng có mục đích xã hội – là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi

nhuận, phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội nhất định củaquốc gia Tên gọi của ngân hàng này có thể là Ngân hàng bình dân, Ngân hàng phục vụ nông thôn, Tíndụng nông thôn, Ngân hàng phục vụ sinh viên, Ngân hàng chính sách,…

b) Ngân hàng trung ương

b.1 Sự cần thiết phải có ngân hàng trung ương

Ngân hàng và hoạt động ngân hàng đã có từ lâu đời, nhưng quan niệm về sự cần thiết phải cóngân hàng trung ương ở mỗi nước chỉ xuất hiện rõ rệt vào thế kỷ 20

Như đã trình bày ở phần trên, hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là huy động vốn tiềngửi và cho vay lại Hoạt động này dựa trên cơ sở là trong một khoảng thời gian nhất định, có nhiềungười gửi tiền vào ngân hàng, đồng thời cũng có nhiều người rút tiền ra khỏi ngân hàng, nhưng nhìnchung thì ngân hàng vẫn còn thừa một lượng tiền nhất định trong kho quỹ, chính lượng tiền thừa này là

cơ sở để ngân hàng thương mại cho vay Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng thươngmại thường có xu hướng cho vay càng nhiều càng tốt Điều này rất nguy hiểm vì nếu khách hàng đến rúttiền mà ngân hàng không có sẵn tiền mặt tại quỹ thì sẽ dẫn đến một cuộc đổ xô rút vốn Nếu không cóngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại phải cho vay lẫn nhau, và trong trường hợp này, cóthể dẫn đến sụp đổ cả hệ thống ngân hàng và khủng hoảng kinh tế

Trang 4

Từ thực tế đó, người ta thấy rằng phải có một ngân hàng đủ sức mạnh về tài chính làm chỗ dựacho cả hệ thống ngân hàng trung gian, đó là ngân hàng trung ương.

b.2 Nguồn gốc và lịch sử ngân hàng trung ương

Giai đoạn ngân hàng phát hành

Lúc đầu, việc phát hành tiền chưa tập trung vào một đầu mối mà do những ngân hàng thươngmại có vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng được Nhà nước giao nhiệm vụ phát hành tiền.Những ngân hàng thương mại này đóng luôn vai trò của ngân hàng phát hành Tuy nhiên, điều này khiếncho Nhà nước khó kiểm soát được tổng số tiền trong lưu thông và dễ dẫn đến hoạt động của nền kinh tế

bị rối loạn

Giai đoạn quốc hữa hóa, biến ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương

Do hoạt động phát hành tiền do nhiều ngân hàng phát hành đảm nhiệm cùng một lúc dễ dẫn đếnrủi ro, cho nên về sau phát sinh ra nhu cầu phải tập trung quyền phát hành vào tay một ngân hàng duynhất Tuy nhiên, ban đầu, ngân hàng phát hành vẫn còn là ngân hàng tư nhân Điều này đã gây không ítkhó khăn cho chính phủ trong việc điều khiển hữu hiệu nền kinh tế Đứng trước yêu cầu đó, chính phủthấy không thể tiếp tục để ngân hàng nằm trong tay tư nhân vì quyền lợi của tư nhân đôi khi đi ngược lạivới quyền lợi của quốc gia Vì vậy, chính phủ đã quốc hữu hóa ngân hàng phát hành, biến ngân hàngphát hành thành ngân hàng trung ương thuộc quyền sở hữu của chính phủ

III Tổ chức hệ thống ngân hàng ở Việt Nam

1) Tổ chức hệ thống ngân hàng trước 1987

Ở Việt Nam, do sản xuất hàng hóa chưa phát triển nên ngân hàng ra đời muộn và hoạt động rất nonyếu Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, nên hệ thốngngân hàng cũng khác nhau giữa 2 miền

Ở miền Bắc

Ngày 05/06/1951, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia ViệtNam và sắc lệnh số 17/SL quy định mọi công việc của Nha Ngân khố quốc gia và Nha Tín dụng sảnxuất giao cho Ngân hàng Quốc gia phụ trách Ngân hàng Quốc gia sau đó đổi tên thành Ngân hàng Nhànước Việt Nam và được tổ chức thàng hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương Hệ thốngngân hàng này tồn tại đến năm 1975 và thay thế luôn hệ thống ngân hàng ở miền Nam cho đến năm1987

Ở miền Nam

Ngày 31/12/1954, Bảo Đại ký dụ số 48 thành lập Ngân hàng Quốc gia cho miền Nam Từ 1954 –

1975, hệ thống ngân hàng ở miền Nam được tổ chức theo hệ thống ngân hàng các nước tư bản chủnghĩa

2) Tổ chức hệ thống ngân hàng thời kỳ 1987 – 1990

Nghị quyết Trung ương VI của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI quyết định chuyển từ cơchế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh doanh thị trường đòi hỏi phải đổi mới hệ thốngngân hàng Ngày 26/03/1987 Hội đồng bộ trưởng ra nghị định 53/HĐBT tổ chức ngân hàng thành 2 hệthống:

 Ngân hàng Nhà nước có trụ sở ở Trung ương và các tỉnh đảm nhận chức năng quản

lý Nhà nước về các hoạt động tiền tệ, ngân hàng, tín dụng và thanh toán;

Trang 5

 Ngân hàng chuyên doanh được tổ chức thành hệ thống, bao gồm: Ngân hàng Côngthương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư xây dựng Việt Nam

và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngânhàng

3) Tổ chức hệ thống ngân hàng từ 1990 đến nay

Sau sự kiện sụp đổ hàng loạt hợp tác xã tín dụng năm 1990, một lần nữa hệ thống ngân hàng cầnphải được tổ chức lại Ngày 23/05/1990, Nhà nước ban hành 2 pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhànước và Pháp lệnh các tổ chức tín dụng nhằm điều chỉnh hoạt động của hệ thống ngân hàng Sau đó, haipháp lệnh này được sửa đổi, bổ sung thành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tíndụng vào tháng 12/1997 Theo luật này, hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm: (i) Ngân hàng Nhànước Việt Nam đóng vai trò Ngân hàng trung ương; (ii) Các tổ chức tín dụng đóng vai trò định chế tàichính trung gian

Chương 2: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÍN DỤNG

2) Khái niệm

Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền hoặc hiện vật)

từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơnlượng giá trị ban đầu

3) Sự phát triển của tín dụng

a) Từ tín dụng thương mại đến tín dụng ngân hàng

Tín dụng ban đầu chủ yếu phát sinh dưới dạng tín dụng bằng hàng hóa Quá trình phát triển đượctóm tắt như sau:

 Nhà sản xuất sẽ cho vay lẫn nhau dưới hình thức bán chịu, khi người sản xuất cuốicùng thu được tiền từ việc bán hàng hóa thì họ sẽ hoàn trả lại khoản tiền đã mua chịu cho nhà cung cấpnguyên vật liệu, máy móc thiết bị

 Nhà sản xuất bán chịu cho nhà thương nghiệp, khi nhà thương nghiệp bán đượchàng hóa thì họ sẽ hoàn trả khoản tiền mua chịu cho nhà sản xuất

 Sau cùng là nhà thương nghiệp bán lẻ mua chịu của nhà thương nghiệp bán buôn,khi nhà thương nghiệp bán lẻ bán được hàng hóa thì họ sẽ hoàn trả khoản tiền mua chịu cho nhà thươngnghiệp bán buôn

Trang 6

Tuy nhiên, tín dụng hàng hóa không thể phát triển đơn độc như vậy mãi được Vì nếu chờ ngườimua chịu hoàn trả tiền thì hoạt động sản xuất sẽ bị ngừng trệ Để tiếp tục được hoạt động sản xuất kinhdoanh, nguời bán chịu sẽ phải bán lại khoản nợ phải thu của mình cho người khác, và người sẵn sàng

mua các khoản nợ này thường là ngân hàng.

Tóm lại, tín dụng thương mại là cơ sở để phát triển tín dụng ngân hàng, và chính ngân hàng làngười đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động sản xuất kinhdoanh

b) Từ tín dụng nặng lãi đến tín dụng thị trường có cạnh tranh hoàn hảo

Tín dụng nặng lãi có từ quan hệ vay mượn trong thời kỳ phong kiến Trong thời kỳ này, người chovay thường là địa chủ, và người đi vay là tá điền Vì địa chủ thường là người độc quyền cho vay đối vớinhững người ở trên đất của địa chủ, địa chủ trở thành bên có lợi thế rất lớn trong quan hệ vay mượn và

họ thường đẩy cao lãi suất nhằm trục lợi cho bản thân Ngày nay, tín dụng nặng lãi vẫn còn tồn tại ởnhững vùng xa xôi hẻo lánh hoặc ở các nhóm, các tổ chức phi pháp

Hiện nay nhờ vào hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính khác, tín dụng đã phát triển ở mức

độ rất cao Trong môi trường kinh tế hiện tại, một người với nguồn vốn thừa nhỏ lẻ có thể gửi tiền vàocác định chế tài chính, và các định chế tài chính sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn của người đi vay Trong

một thị trường có nhiều người cho vay như hiện nay, lãi suất sẽ trở nên hợp lý, phản ánh đúng quy luật giá trị và quy luật cung cầu.

Như vậy, trong xã hội hiện nay, mọi cá nhân đều có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.Điều này dẫn đến tín dụng nặng lãi dần dần bị xóa bỏ, nhường cho cho hoạt động tín dụng thị trường cócạnh tranh hoàn hảo

c) Từ tín dụng ngân hàng đến thị trường tài chính

Trong một thời gian dài, tín dụng phát triển chủ yếu qua kênh ngân hàng, ở đó ngân hàng là địnhchế tài chính trung gian duy nhất giữa người đi vay và người cho vay

Hệ thống ngân hàng đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế, cho đến khi phát sinhmâu thuẫn: lãi suất ngân hàng dần dần tương đương với lãi suất bình quân của các nhà kinh doanh Khi

đó, nếu nhà sản xuất kinh doanh tiếp tục vay mượn để sản xuất thì sẽ không có lời Nếu nhà kinh doanhbán hết tài sản để gửi tiền vào ngân hàng thì cũng đạt được mức lợi nhuận cao không kém gì sản xuất

mà lại an toàn hơn Mâu thuẫn này đe dọa đầu ra của ngân hàng

Để xóa bỏ mâu thuẫn này, thị trường tài chính phi ngân hàng ra đời Các nhà sản xuất kinh doanh

trực tiếp phát hành trái phiếu trên thị trường để vay mượn những chủ thể thặng dư vốn trong nền kinh tế.

Các loại trái phiếu này thường có lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng, nhưng người đi vay lại phải trảmột khoản lãi nhỏ hơn lãi suất khi họ đi vay ngân hàng

Quan hệ tín dụng trực tiếp này mặc dù có điểm tiến bộ nhưng nó vẫn không thể xóa bỏ tín dụngngân hàng, mà trái lại, nó còn làm cho tín dụng ngân hàng trở nên phong phú hơn Vì những chủ thể chovay, thường là các cá nhân trong nền kinh tế, khi cần tiền thì lại không thể vay mượn bằng cách trực tiếpphát hành trái phiếu như các nhà sản xuất kinh doanh, vì vậy, họ thường bán lại các trái phiếu cho ngườikhác, mà người mua chủ yếu thường là các ngân hàng

d) Từ tín dụng nội địa đến tín dụng quốc tế

Sự phát triển kinh tế ngày càng có xu hướng toàn cầu hóa, do vậy, hoạt động tín dụng cũng có xuhướng quốc tế hóa

Trang 7

Các chủ thể kinh kinh doanh có thể vay vốn của các định chế tài chính nước ngoài hoặc vaythương mại dưới hình thức mua chịu của các công ty nước ngoài

Chính phủ khi có nhu cầu về tiền tệ, ngoài việc vay trong nước, thì còn có thể vay từ các định chếtài chính quốc tế hoặc vay của chính phủ quốc tế

Các định chế tài chính cũng có xu hướng toàn cầu hóa Họ có thể cho vay các chủ thể kinh tế trongnước, hoặc cho vay các chủ thể kinh tế của nước ngoài Ngoài cho vay nội tệ, họ còn có thể cho vaybằng ngoại tệ

Như vậy, hoạt động tín dụng ngày nay đã phát triển đến trình độ cao, bao trùm lên hoạt động sảnxuất kinh doanh của nền kinh tế một nước và cả nền kinh tế thế giới

II Bản chất và chức năng của tín dụng

a) Bản chất của tín dụng: Tín dụng có 3 tính chất chính như sau:

 Là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời: Quan hệ tín dụng là quan hệ chuyểnnhượng tạm thời quyền sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong thời gian nhất định mà không làm thay đổihay mất đi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó Người cho vay chỉ tạm thời mất đi quyền sử dụnglượng giá trị trong thời gian cho vay, nhưng vẫn bảo trì được quyền sở hữu đối với nguồn vốn cho vay.Người đi vay mặc dù được sử dụng nguồn vốn trong thời gian cho vay, nhưng họ không có quyền sởhữu đối với nguồn vốn này

 Là quan hệ chuyển nhượng mang tính hoàn trả: Lượng vốn được chuyển nhượngphải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi sau khi kết thúc quan hệ tín dụng Phần lãi đảm bảo cho lượnggiá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Đối với người cho vay, đây là phần tiền mà họ xứng đáng đượcnhận vì đã hy sinh quyền sử dụng nguồn vốn trong thời gian cho vay Còn đối với người đi vay, đây làcái giá mà họ phải trả cho việc sử dụng nguồn vốn của người khác trong thời gian diễn ra quan hệ tíndụng

 Là quan hệ dựa trên cơ sở niềm tin: Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành nênmột quan hệ tín dụng Người cho vay phải tin tưởng rằng người đi vay sẽ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãisau khi kết thúc thời hạn cho vay Niềm tin này xuất phát từ uy tín của người đi vay hoặc tài sản đảmbảo Người đi vay cũng tin tưởng rằng trong thời hạn vay, họ có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớnhơn lượng giá trị đi vay Niềm tin này dựa vào tình hình kinh tế, tính hiệu quả của phương án sản xuấtkinh doanh, …

b) Chức năng của tín dụng: Tín dụng có 3 chứng năng chính như sau:

 Chức năng phân phối lại vốn tiền tệ trên phạm vi toàn xã hội: Tín dụng thực hiệnviệc điều tiết nguồn vốn từ nơi tạm thừa nguồn vốn tiền tệ đến nơi có nhu cầu sử dụng vốn Hoạt độngphân phối này luôn có hiệu quả bởi vì quan hệ tín dụng luôn gắn liền với các điều kiện đảm bảo hoàn trả

và luôn luôn có lãi Bằng phương thức này, vốn được luân chuyển từ người thừa tiền không có cơ hộikinh doanh sang người có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn này

Chức năng thanh khoản: Đây là chức năng cổ xưa nhất của tín dụng Khi chủ thể

kinh tế thiếu tiền để mua hàng hóa, trong khi họ không có đủ số vốn tiền tệ, họ sẽ đến ngân hàng để xincấp một khoản tín dụng Như vậy, khi một khoản tín dụng được cấp, nó đã tăng cường khả năng thanhkhoản của lượng hàng hóa trên

Trang 8

 Chức năng tạo tiền: Tín dụng không chỉ tạo ra thanh khoản mà nó còn làm chophương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế tăng lên Khi một ngân hàng cấp một khoản tíndụng thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó tạo ra một khoản tiền cung ứng thêm trong nền kinh tế.

III Phân loại tín dụng

a) Căn cứ vào thời hạn tín dụng

 Tín dụng ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng nhằm đáp ứng cácnhu cầu ngắn hạn về vốn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo các nhu cầu thanh toán, bổ sung vốn lưu độnghoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu cá nhân Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp, tránh được các rủi ro

về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô nên lãi suất của tín dụng ngắn hạnthường thấp hơn các loại tín dụng khác

 Tín dụng trung dài hạn: là các khoản vay có thời hạn dài hơn 1 năm Nó được sửdụng để phát triển quá trình sản xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu Vì thời hạn dài và hiệu quả của dự

án là phỏng tính ở thời điểm hiện tại nên hình thức tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, bao gồm rủi

ro các biệt và rủi ro hệ thống Do đó, mức lãi suất của loại tín dụng này thường tăng tỉ lệ thuận với thời

hạn vay vốn

b) Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng

 Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiệnthông qua hìn thức mua bán chịu Trong đó, người bán chịu sẽ đóng vai trò là người cho vay vì đãchuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị tương ứng với giá trị hàng hóa bán chịu cho ngườivay (người mua chịu) Hình thức tín dụng này tiến hành đơn giản và có tác dụng đẩy nhanh tiến độ tiêuthụ sản phẩm Hạn chế chủ yếu của hình thức tín dụng này xuất phát từ bản chất của tín dụng trực tiếpbằng hàng hóa Vì người cho vay (bán chịu) chỉ có thể cho vay trên số vốn mình có nên quy mô nhỏ,người đi vay (mua chịu) chỉ có thể vay đúng loại hàng hóa mà nhà cung cấp có nên việc sử dụng lượngtiền vay không được linh hoạt

 Tín dụng ngân hàng: là hình thức chuyển nhượng vốn giữa các chủ thể kinh tế trong

xã hội thông qua trung gian ngân hàng Các chủ thể thừa vốn cho ngân hàng vay dưới hình thức tiếtkiệm, để rồi sau đó ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để cho các chủ thể thiếu vốn vay lại Hình thứctín dụng này có ưu điểm là linh hoạt về thời hạn của người cho vay (người gửi tiết kiệm) và người đi vay(người thiếu vốn) Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung ứng vốn cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ vì những chủ thể này không đủ điều kiện để tham gia vào các thị trường vốntrực tiếp

 Tín dụng Nhà nước: là hình thức tín dụng giữa một bên là Nhà nước và một bên làcác chủ thể khác bao gồm: cá nhân, ngân hàng, các định chế tài chính phi ngân hàng, Ngân hàng trungương hoặc các tổ chức nước ngoài Nhà nước sẽ vay bằng cách phát hành ra Tín phiếu kho bạc (ngắnhạn) hoặc Trái phiếu (dài hạn) với thời hạn khác nhau Người mua các loại Tín phiếu hoặc Trái phiếunày sẽ trở thành người cho Nhà nước vay

 Tín dụng doanh nghiệp: gồm 2 hình thức tín dụng khác nhau:

- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng mà các công ty lớn sử dụng để kích thíchhoạt động tiêu thụ sản phẩm, trong đó công ty cho phép người tiêu dùng sử dụng một lượng hàng hóa,dịch vụ của công ty mà không phải trả tiền ngay

- Tín dụng doanh nghiệp mà công chúng đóng vai trò tiết kiệm: là hình thức tíndụng mà các công ty sử dụng để vay vốn trực tiếp trên thị trường vốn thông qua việc phát hành trái

Trang 9

phiếu công ty Các cá nhân hay tổ chức mua trái phiếu của công ty sẽ trở thành người cho vay đối vớicông ty đó.

Chương 2: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÍN DỤNG (TT)

IV Lợi tức và lãi suất tín dụng

2) Tác dụng của lãi suất

a) Đối với nền kinh tế

Lãi suất phải được trả bởi vì đồng tiền hiện tại có giá trị lớn hơn đồng tiền trong tương lai Người

ta sẽ không chuyển nhượng vốn nếu không có lãi suất hoặc lãi suất không đủ bù đắp sự mất giá của đồngtiền

Với ý nghĩa như vậy, lãi suất ảnh hưởng đến hầu hết toàn bộ các quyết định kinh tế của mọi chủthể trong xã hội Đối với hộ gia đình, lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm.Đối với doanh nghiệp, lãi suất cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Cuối cùng, xét trên góc độ quốcgia, các quyết định này sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia

b) Đối với Nhà nước

Lãi suất là công cụ của chính sách tiền tệ do Ngân hàng trung ương quản lý Khi nền kinh tế rơivào trì trệ và suy thoái, Ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất nhằm tăng cung tiền và kích cầu để thúcđẩy kinh tế phát triển vượt qua tình trạng suy thoái Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạmphát cao có ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, Ngân hàng trung ương có thể nâng lãi suất lên nhằmrút bớt tiền ra khỏi lưu thông, kiềm chế lạm phát

Trong điều kiện bình thường, Ngân hàng trung ương theo đuổi chính sách lãi suất hợp lý nhằm duytrì sự ổn định của nền kinh tế Một chính sách lãi suất thích hợp phải đạt được 2 mục tiêu, đó là vừakhuyến khích tiết kiệm, vừa kích thích doanh nghiệp vay vốn để mở rộng sản xuất

V Các lý thuyết về sự quyết định lãi suất

1) Lý thuyết cổ điển về lãi suất

Đây là một trong những lý thuyết cổ xưa về lãi suất Lý thuyết này được xây dựng vào thế kỷ 18

và 19 bởi các nhà kinh tế người Anh Sau đó lý thuyết này được chắt lọc lại bởi nhà kinh tế người Áo làBohm Bawek Vào thế kỷ 20, nó được Irving Fisher phát triển Lý thuyết này cho rằng lãi suất đượcquyết định bởi 2 yếu tố: cung tiền tiết kiệm và cầu vốn đầu tư

a) Cung tiền tiết kiệm

Trang 10

Nguồn cung tiền tiết kiệm chủ yếu là từ hộ gia đình, các đơn vị sản xuất kinh doanh và từ các tổchức chính phủ

Tiết kiệm của hộ gia đình là tiền tạm thời chưa chi tiêu của hộ gia đình, nó là chênh lệch giữa thunhập và chi tiêu ở 1 thời điểm nào đó Nhìn chung, tiết kiệm hộ gia đình phụ thuộc vào 2 yếu tố: thunhập của hộ gia đình và lãi suất trong nền kinh tế

Các đơn vị kinh doanh cũng có thặng dư vốn tiền tệ và đầu tư nguồn vốn này trên thị trường tàichính, qua đó góp phần làm tăng nguồn cung tiết kiệm Nguồn tiết kiệm của đơn vị sản xuất kinh doanhthể hiện thông qua lợi nhuận giữ lại Doanh số tiết kiệm của đơn vị sản xuất kinh doanh phụ thuộc vàolợi nhuận hoạt động và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp

Tiết kiệm của chính phủ không thường xuyên như hộ gia đình và đơn vị sản xuất kinh doanh Tiếtkiệm chính phủ chủ yếu là khi nào các khoản thu nhập tạm thời vượt các khoản chi Do vậy, lãi suấtkhông quan trọng và không ảnh hưởng lắm đến tiết kiệm của chính phủ

Cầu vốn đầu tư chủ yếu là nhu cầu vốn của doanh nghiệp và một phần của chính phủ Hàng năm,doanh nghiệp cần một lượng vốn rất lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh Chính phủ cũng có nhu cầu vềvốn khi nguồn thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi phí của năm tài chính đó Theo lý thuyết này thìcầu vốn đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất, nghĩa là khi lãi suất tăng thì sẽ dẫn đến giảm cầu vốnđầu tư và ngược lại

Theo lý thuyết cổ điển về lãi suất, kết hợp sự tác động qua lại giữa cung tiết kiệm và cầu vốn đầu

tư quyết định lãi suất trên thị trường tài chính Lãi suất cân bằng được quyết định khi nào cung tiết kiệmtrên thị trường tài chính bằng với cầu vốn đầu tư

2) Lý thuyết thanh khoản vể lãi suất

Vào những năm 1930, nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes đã phát triển lý thuyếtngắn hạn về lãi suất, gọi là lý thuyết thanh khoản về lãi suất Theo lý thuyết này, sự tác động giữa tổngcầu và tổng cung tiền tệ quyết định lãi suất cân bằng trong ngắn hạn

a) Tổng cầu tiền tệ

Tổng cầu tiền tệ trong nền kinh tế là tổng nhu cầu tiền cho giao dịch, dự phòng và đầu cơ Vì yếu

tố chính quyết định nhu cầu tiền cho giao dịch và dự phòng là thu nhập chứ không phải lãi suất cho nênnhu cầu tiền tệ xem như cố định ở 1 mức thu nhập quốc dân nào đó

b) Tổng cung tiền tệ

Trong nền kinh tế hiện đại, cung tiền tệ được kiểm soát hoặc quy định chặt chẽ bởi chính phủ Vìnhững quyết định của chính phủ liên quan đến khối tiền tệ và chịu tác động của vấn đề phúc lợi côngcộng chứ không phụ thuộc vào lãi suất nên cung tiền tệ được xem là không co giãn theo lãi suất

Theo lý thuyết thanh khoản, lãi suất được quyết định khi cung và cầu tiền tệ bằng nhau, và cầu ởđây là tổng cầu cho 3 nhu cầu: giao dịch, dự phòng và đầu cơ

3) Lý thuyết tín dụng về sự quyết định lãi suất

Lý thuyết tín dụng về lãi suất cho rằng lãi suất phi rủi ro (risk-free interest rate) được quyết định

bở sự tác động qua lại giữa 2 yếu tố cung và cầu tín dụng hay cung và cầu quỹ cho vay

Cầu tín dụng bao gồm nhu cầu từ các đơn vị sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng, chính phủ vànhu cầu vay mượn của người nước ngoài trên thị trường nội địa Cung tín dụng bao gồm bốn nguồn: tiền

Trang 11

tiết kiệm, tiền dự trữ, tiền tạo ra bởi hệ thống ngân hàng và tiền cho vay trên thị trường nội địa của các

cá nhân nước ngoài

Lý thuyết tín dụng cho rằng chính 2 yếu tố cung và cầu tín dụng quyết định lãi suất và doanh sốcho vay trong nền kinh tế Lãi suất có khuynh hướng di chuyển về điểm cân bằng, ở đó cung tín dụngbằng cầu tín dụng

VI Các phương pháp xác định lãi suất

1) Xác định lãi suất cho vay dựa vào lãi suất phi rủi ro và LIBOR

a) Lãi suất phi rủi ro : Là lãi suất áp dụng cho đối tượng vay không có rủi ro mất khảnăng hoàn trả nợ vay Chỉ có lãi suất tín phiếu kho bạc hình thành dựa trên cơ sở đấu thầu tín phiếu mới

có thể được xem là lãi suất phi rủi ro

b) Lãi suất huy động vốn : Là lãi suất mà ngân hàng trả cho khách hàng khi huy độngtiền gửi

Rd = Rf + Rtd

Trong đó: Rd: lãi suất huy động vốn

Rf: lãi suất phi rủi roRtd: tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng do ngân hàng ước lượngc) Lãi suất cơ bản : Là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổchức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản hình thành dựa trên cơ sở quan hệ cung cầutín dụng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Lãi suất cơ bản có thể xác định theo công thức:

Rcb = Rd + Rtn

Trong đó: Rcb: lãi suất cơ bản

Rd: lãi suất huy động vốnRtn: tỷ lệ thu nhập do đầu tư của ngân hàngd) Cách xác định lãi suất cho vay dựa vào lãi suất cơ bản

Ngân hàng thương mại thường dựa vào lãi suất cơ bản để xác định lãi suất cho vay đối với kháchhàng sau khi đã điều chỉnh rủi ro Công thức xác định lãi suất cho vay như sau:

R = Rcb + Rth + Rct

Trong đó: R: lãi suất cho vay

Rcb: lãi suất cơ bảnRth: tỷ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạnRct: tỷ lệ điều chỉnh cạnh tranhe) Cách xác định lãi suất cho vay dựa vào lãi suất LIBOR hoặc SIBOR

Đối với các khoản tín dụng bằng USD, ngân hàng thương mại có thể xác định lãi suất cho vay dựavào lãi suất LIBOR (London Interbank Offer Rate) hoặc SIBOR (Singapore Interbank Offer Rate) Ngânhàng có thể xác định lãi suất cho vay dựa vào LIBOR bằng công thức sau:

R = LIBOR + Rtd + Rth

Trang 12

Trong đó: R: lãi suất cho vay

Rtd: tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng do ngân hàng ước lượngRth: tỷ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạn

2) Xác định lãi suất hiệu dụng dựa vào lãi suất danh nghĩa

Khi huy động vốn hay cho vay, ngân hàng đều công bố lãi suất nhất định Lãi suất này gọi là lãisuất danh nghĩa Thật ra, lãi suất mà khách hàng được hưởng hay phải trả khác so với lãi suất công bố,lãi suất này được gọi là lãi suất hiệu dụng (effective rate) Sở dĩ có sự khác biệt này là do cách tính lãi vànhập lãi vào vốn gốc tạo ra

Lãi suất hiệu dụng được tính theo công thức sau:

r e = (1 + r/s) – 1

Trong đó: re: lãi suất hiệu dụng

r: lãi suất danh nghĩas: số kỳ tính lãi suất

VII Bảo đảm tín dụng

1) Giới thiệu chung về các hình thức bảo đảm tín dụng

Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất, đồng thời, nó cũngchứa nhiều rủi ro nhất Mặc dù trước khi giải ngân, ngân hàng đã trải qua các khâu như thu thập, xử lýthông tin, phân tích, thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng nhưng rủi ro mất vốn vẫn không thể nào

bị loại bỏ hoàn toàn Như vậy, bảo đảm tín dụng được ngân hàng sử dụng như là một phương pháp làmtăng khả năng thu hồi vốn, đồng thời làm giảm rủi ro tín dụng

“Bảo đảm tín dụng hay còn gọi là bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biệnpháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàngvay”

Nói chung, bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm bảo đảm tiền vay, miễn là nó đáp ứng được cáctiêu chí sau:

 Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ bảo đảm;

 Tài sản dùng làm bảo đảm phải tạo ra được ngân lưu;

 Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm

2) Các hình thức bảo đảm tín dụng

a) Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp

Thế chấp tài sản là việc bên vay vốn dùng tài sản của mình thế chấp cho bên cho vay để đảm bảocho khoản vay Tài sản dùng để thế chấp là bất động sản hoặc quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp phápcủa bên đi vay

Thế chấp bất động sản

Bất động sản là tài sản không thể di dời được như nhà xưởng, nhà ở và các công trình xây dựnggắn liền với nhà xưởng, nhà ở Giá trị của tài sản thế chấp bao gồm giá trị bản thân tài sản, cộng với hoalợi, lợi tức và các quyền gắn liền với bất động sản đó

Trang 13

Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất

Ở Việt Nam, đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý và tiến hành giao đất hoặc cho thuê lại đấtđối với cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xãhội sử dụng ổn định lâu dài Trong các chủ thể được kể trên, chỉ có cá nhân, hộ gia đình và các tổ chứckinh tế mới được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp

b) Bảo đảm tín dụng bằng tài sản cầm cố

Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản của mình cho bên vay để đảm bảo cho khoản vay.Các tài sản dùng để cầm cố có thể là tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản không có đăng kýquyền sở hữu Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố, tài sản phải giao nộp cho bêncho vay quản lý Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố hai bên có thể thỏa thuận để chobên đi vay có thể giữ tài sản Tài sản cầm cố có thể là các loại tài sản sau:

 Tài sản hữu hình như xe cộ, máy móc thiết bị, hàng hóa, vàng bạc, tàu biển, máybay,…;

 Tiền trên tài khoản tiền gửi;

 Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu;

 Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền thụ trái,

…;

 Lợi tức và quyền phát sinh từ tài sản cầm cố

c) Bảo đảm tín dụng bằng tài sản hình thành từ vốn vay

Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của người đi vay mà khoản tiền vay tham gia tạo ra mộtphần hay toàn bộ giá trị của tài sản Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc người

đi vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay bảo đảm cho khoản vay Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hìnhthành từ vốn vay được áp dụng trong các trường hợp sau:

 Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho ngân hàng cho vay đối vớikhách hàng và đối tượng vay;

 Ngân hàng cho vay trung dài hạn với các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, đời sống Ngoài ra khách hàng phải là người có uy tín, có khả năng tài chính, có dự ánđầu tư khả thi, có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng50% vốn đầu tư

d) Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh

Bảo lãnh là việc bên thứ 3 (người nhận bảo lãnh) cam kết với bên cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụthay thế cho bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiệnhoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Bảo lãnh có thể chia làm 2 loại chính:

 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3 là việc bên thứ 3 cam kết với bên cho vay vềviệc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay

 Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội là biện pháp bảo đảmtiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, theo đó, tổ chức đoàn thể chính trị xãhội dùng uy tín của mình để bảo lãnh cho bên đi vay

Trang 14

Chương 3: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

I Các loại thị trường trong hệ thống kinh tế

Có nhiều loại thị trường trong hệ thống kinh tế, tuy nhiên, ta có thể phân thành 3 loại thị trường cơbản: thị trường các yếu tố sản xuất, thị trường sản phẩm và thị trường tài chính

Thông qua thị trường các yếu tố sản xuất, các đơn vị tiêu dùng cung cấp cho các đơn vị sản xuấtsức lao động, kỹ năng quản lý, đất đai,… và nhận thu nhập từ các đơn vị sản xuất tiền tệ dưới dạnglương, tiền thuê, lợi tức

Thông qua thị trường sản phẩm, các đơn vị kinh doanh cung cấp cho các đơn vị tiêu dùng sảnphẩm tạo ra và nhận lại tiền tệ từ các đơn vị tiêu dùng dưới dạng tiền bán hàng

Thị trường tài chính, lại đóng một vai trò đặc biệt trong việc kết nối giữa đơn vị sản xuất và đơn vịtiêu dùng Trên thị trường này, các đơn vị tiêu dùng đóng vai trò là người đầu tư, còn các đơn vị sảnxuất đóng vai trò là người tiêu thụ thông qua việc phát hành chứng khoán để huy động vốn

II Tài sản tài chính

Tài sản tài chính là một trái quyền xác nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với một lợi ích tiền tệ nàođó

2) Định giá tài sản tài chính

Định giá tài sản tài chính là quyết định một cách chính xác và công bằng giá trị hay giá cả của mộttài sản tài chính

Quy trình định giá tài sản tài chính gồm có 3 bước:

 Ước lượng dòng tiền kỳ vọng thu được từ tài sản tài chính

 Quyết định lãi suất chiết khấu thích hợp cho việc tính hiện giá của dòng tiền kỳvọng

 Tính hiện giá dòng tiền để quyết định giá trị của tài sản tài chính

3) Chức năng của tài sản tài chính: Có 2 chức năng cơ bản:

a) Chức năng chuyển dịch vốn thặng dư để đầu tư vào tài sản hữu hình Đây là chứcnăng chính của tài sản tài chính Nhà đầu tư sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư vào tài sản tàichính với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Người phát hành thông qua tài sản tài chính sẽ đạt được nguồnvốn tiền tệ mong muốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh

b) Chức năng phân tán rủi ro trong việc đầu tư vào tài sản hữu hình Thông qua tài sảntài chính, người sản xuất kinh doanh sẽ chia sẻ một phần rủi ro kinh doanh cho người mua tài sản tàichính Tuy nhiên, người mua tài sản tài chính sẽ chỉ chịu chấp nhận chia sẻ rủi ro với người sản xuất nếu

họ kỳ vọng thu được một khoản lợi nhuận thỏa đáng cho khoản đầu tư đó

4) Tính chất của tài sản tài chính

 Tính tiền tệ: Một số tài sản tài chính có thể sử dụng làm trung gian trao đổi và thanhtoán các dịch vụ tiền tệ

 Tính có thể phân chia giá trị: Tài sản tài chính có thể có mệnh giá theo từng mức độlớn nhỏ khác nhau cho tiện lợi trong giao dịch

Trang 15

 Tính có thể chuyển đổi thành tiền: Tài sản tài chính có thể thu hồi lại và chuyển đổithành tiền như trước lúc đầu tư.

 Tính có thời hạn: Nói chung, mỗi tài sản tài chính đều có thời hạn đáo hạn nhất định(trừ cổ phiếu và trái phiếu vĩnh cửu)

 Tính thanh khoản: Tài sản tài chính có thể thanh lý để thu hồi tiền mặt

 Tính có thể chuyển đổi: Tài sản tài chính có thể chuyển đổi từ dạng này sang dạngkhác

 Tính hối đoái: Tài sản tài chính có thể biểu hiện giá trị của nó bằng nhiều loại tiền

tệ khác nhau

 Tính sinh lợi: Tài sản tài chính được hưởng lợi tức trên số vốn đầu tư

 Tính phức hợp: Tài sản tài chính có thể là phức hợp của nhiều tài sản tài chính đơngiản

 Tính chịu thuế: Do tài sản tài chính sinh lợi nên nó là đối tượng thu thuế lợi tức

III Hệ thống tài chính: Một hệ thống tài chính thường bao gồm:

 Thị trường tài chính

 Các tổ chức tài chính

 Công cụ tài chínhKhi thặng dư vốn, các đơn vị kinh tế cần phải quyết định xem nên đầu tư số vốn này vào thị trườngtài chính hay các tổ chức tài chính để tìm kiếm lợi nhuận Khi tạm thời thiếu hụt, các đơn vị kinh tế cầnquyết định nên tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính hay các tổ chức tài chính Ngoài ra, còn cần phảiquyết định xem nên sử dụng công cụ tài chính nào mới là phù hợp

IV Thị trường tài chính

Thị trường tài chính là nơi mua bán các công cụ tài chính, nhờ đó mà vốn được chuyển giao mộtcách trực tiếp hay gián tiếp từ các chủ thể dư thừa vốn đến các chủ thể có nhu cầu về vốn

2) Vai trò: Thị trường tài chính có 4 vai trò chính như sau:

a) Thị trường tài chính góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tếThông qua thị trường tài chính thu nhập của người dân sẽ được cải thiện bằng cách tiêu thụ nhữngnguồn vốn thừa, giúp cho người tiết kiệm có nhiều cơ hội đầu tư tiền của họ Các nhà kinh doanh thôngqua thị trường tài chính có thể tập trung và sử dụng các nguồn tài nguyên vào công việc kinh doanh mộtcách nhanh chóng và có hiệu quả nhất Đối với ngân sách Nhà nước, việc bù đắp các khoản bội chi hoặchuy động vốn để xây dựng các công trình công cộng bằng cách vay vốn trên thị trường tài chính thay vìphát hành tiền có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó sẽ không làm tăng lượng tiền phát hành thêm tronglưu thông

Tóm lại, một thị trường tài chính có hiệu quả sẽ tận dụng ở mức cao nhất mọi nguồn vốn tiềm tàngtrong nước và từ nước ngoài để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân

b) Thị trường tài chính tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kinh tế của cácchủ thể kinh tế trên thị trường

Trang 16

Thông qua các cuộc đấu giá tập trung giữa nguồn cung và nguồn cầu, cơ chế thị trường sẽ hìnhthành giá cả tốt nhất cho cả bên mua và bên bán Nếu thiếu thị trường tài chính hoặc thị trường tài chínhkhông phát triển, điều kiện gặp nhau giữa bên cung và bên cầu sẽ bị hạn chế, mức giá sẽ không phản ánhđúng đắn sức mua và sức bán Chính vì thế, người ta xem thị trường tài chính là nơi tạo môi trườngthuận lợi để điều hòa lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khác nhau trên thị trường.

c) Thị trường tài chính là công cụ tuyển chọn và kích thích các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh lành mạnh, có hiệu quả

Tự bản thân cơ chế hoạt động của thị trường tài chính chọn ra những dự án có triển vọng để tài trợ.Những doanh nghiệp có dự án tốt sẽ nhận được nhiều vốn với chi phí rẻ Ngược lại, doanh nghiệp làm

ăn kém hiệu quả hay có những dự án tồi sẽ khó thu hút vốn hoặc phải trả chi phí sử dụng vốn đắt hơn

Do đó, các doanh nghiệp muốn huy động vốn trên thị trường tài chính phải tính toán sao cho hoạt độngsản xuất kinh doanh lành mạnh và hiệu quả ngày càng cao hơn

d) Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tài chính

Thị trường tài chính còn là kênh dẫn truyền vốn từ những chủ thể thặng dư tiết kiệm sang các chủthể thiếu hụt nguồn vốn tiền tệ Nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin (thông qua vệ tinh, cápquang, máy fax và các tiến bộ công nghệ khác) mà các định chế tài chính có thể kết nối giao dịch chocác chủ thể thặng dư và thiếu hụt cách xa nhau hàng nghìn km một cách nhanh chóng Như vậy, thịtrường tài chính đã góp phần làm giảm một lượng lớn các chi phí có liên quan đến giao dịch tài chính:chi phí thu thập thông tin, chi phí nghiên cứu, chi phí tìm gặp,…

3) Phân loại: Người ta phân loại thị trường tài chính dựa vào một số tiêu chí sau

đây:

a) Căn cứ vào thời hạn của các công cụ tài chính

 Thị trường tiền tệ: Là nơi trao đổi mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn Mộtcông cụ tài chính được xem là ngắn hạn nếu công cụ đó có thời hạn thanh toán từ 1 đêm (24 giờ) đến 12tháng Đặc trưng của thị trường tiền tệ là tính thanh khoản rất cao, rủi ro thấp Bởi vì thời hạn thanh toánngắn nên những biến động lãi suất không gây ảnh hưởng lớn đến giá cả của các công cụ tài chính Ngoài

ra, các công cụ của thị trường tiền tệ được phát hành theo dạng chuẩn mực hóa cao và thị trường thứ cấpcủa chúng rất phát triển

 Thị trường vốn: Là nơi trao đổi mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn.Thời hạn thanh toán của các công cụ tài chính này là trên 1 năm Tính thanh khoản của các công cụ tàichính trên thị trường vốn thường thấp và thị trường thứ cấp của nó không phát triển Thị trường vốnđược chia ra thành thị trường tín dụng trung dài hạn và thị trường chứng khoán Thị trường tín dụng lànơi vốn được chuyển từ người tiết kiệm sang người đầu tư thông qua trung gian tài chính Thị trườngchứng khoán là nơi mua bán, trao đổi các chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu) có thời hạn trên 1 năm.b) Căn cứ vào phương pháp tổ chức thị trường

 Thị trường sơ cấp: Là nơi phát hành ra các công cụ tài chính Đặc điểm nổi bật củacác giao dịch trên thị trường sơ cấp là nó tạo ra các công cụ tài chính mới Người sử dụng các thị trường

sơ cấp thường là các doanh nghiệp và Nhà nước

 Thị trường thứ cấp: Là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính đã được pháthành Ngược lại với thị trường sơ cấp, mặc dù thị trường thứ cấp có múc độ giao dịch rất lớn, nhưng thịtrường thứ cấp không huy động thêm vốn, không hỗ trợ đầu tư mới Chức năng cơ bản của thị trường

Trang 17

thứ cấp là tăng thêm tính thanh khoản cho thị trường sơ cấp, khiến cho các công cụ tài chính do thịtrường sơ cấp phát hành trở nên hấp dẫn hơn, dễ tiêu thụ hơn.

V Các tổ chức tài chính: gồm 2 loại:

Đây là loại hình chủ yếu của các tổ chức tài chính Nó nhận tiền gửi từ những đơn vị thặng dư vốn

và cung cấp tín dụng cho những đơn vị thiếu hụt vốn hoặc đầu tư bằng cách mua bán chứng khoán Tổchức nhận tiền gửi bao gồm các loại hình sau đây:

a) Ngân hàng thương mại: Là tổ chức mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhậntiền gửi của công chúng dưới hình thức tiền gửi và sử dụng tiền gửi đó để cho vay và thực hiện các dịch

vụ tài chính khác

b) Tổ chức tiết kiệm: Là loại hình tổ chức nhận tiền gửi thường được tổ chức dưới hìnhthức hiệp hội tiết kiệm và cho vay hoặc ngân hàng tiết kiệm Nó hoạt động tương tự như ngân hàngthương mại nhưng tập trung chủ yếu vào khách hàng cá nhân hơn là khách hàng công ty

c) Hiệp hội tín dụng: Là tổ chức nhận tiền vốn huy động từ hội viên, và hầu hết nguồnvốn sẽ được sử dụng để cấp tín dụng cho các hội viên của hiệp hội Hiệp hội tín dụng thường là tổ chứcphi lợi nhuận

2) Tổ chức không nhận tiền gửi

Đây là loại hình tổ chức không huy động vốn dưới hình thức tiền gửi mà huy động vốn bằng cáchình thức khác như phát hành tín phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu Các tổ chức này còn có tên gọi khác làcác tổ chức tài chính phi ngân hàng, bao gồm các loại tổ chức sau:

a) Công ty tài chính: Huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán và sử dụng vốnhuy động dược để cho vay Hoạt động cho vay của công ty tài chính cũng giống như ngân hàng thươngmại nhưng nó tập trung vào một phân khúc thị trường cụ thể nào đó

b) Quỹ đầu tư hỗ tương: Huy động vốn bằng cách bán cổ phần cho các nhà đầu tư và sửdụng vốn để đầu tư chứng khoán trên thị trường tài chính

c) Công ty chứng khoán: Cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính như môi giới,kinh doanh, tư vấn và bao tiêu chứng khoán

d) Công ty bảo hiểm: Huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho côngchúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính

e) Quỹ hưu bổng: Quỹ này hình thành từ tiền đóng góp của các công ty và đại diện củaChính phủ Nguồn vốn huy động được đầu tư trên thị trường tài chính, vốn gốc và lợi nhuận có được sẽdùng để chi trả cho người lao động dưới hình thức lương hưu

VI Hàng hóa trên thị trường tài chính

1) Hàng hóa trên thị trường tiền tệ

a) Tín phiếu kho bạc: Là chứng nhận nợ ngắn hạn của Chính phủ được phát hành để tàitrợ vốn cho các thâm hụt ngắn hạn thường xuyên của Chính phủ

b) Chứng chỉ tiền gửi: Là một biên nhận có lãi suất về khoản tiền gửi tại một ngân hànghay các tổ chức ký thác khác trong một thời gian nhất định và có thể chuyển nhượng được trong thờigian còn hiệu lực

Trang 18

c) Thương phiếu: Là công cụ vay nợ ngắn hạn do các ngân hàng lớn hoặc các công tynổi tiếng phát hành Thương phiếu được bán dưới mệnh giá theo phương thức chiết khấu.

d) Chấp nhận ngân hàng: Là các hối phiếu đã được ngân hàng chấp nhận theo nghĩa bảolãnh thanh toán

e) Hợp đồng mua lại: Là hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và người kinh doanh, trong

đó người kinh doanh dùng tín phiếu kho bạc để làm tài sản bảo đảm, đồng thời người kinh doanh camkết sẽ mua lại các tín phiếu kho bạc này với giá cao hơn khi đến hạn thanh toán nợ

f) Dự trữ của các ngân hàng: Là khoản tiền gửi của các ngân hàng tại ngân hàng Nhànước Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng số dư tiền gửi này để cho vay ngắn hạn trên thị trườngliên ngân hàng

2) Hàng hóa trên thị trường chứng khoán

Chứng khoán là những chứng thư dưới dạng vật chất hoặc điện tử, xác nhận quyền tài chính hợppháp của chủ sở hữu chứng khoán và có thể mua bán, trao đổi trên thị trường chứng khoán

a) Cổ phiếu: Là một chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp pháp của mộtchủ thể đối với một doanh nghiệp cổ phần

b) Trái phiếu: Là một chứng thư xác nhận khoản nợ của một tổ chức phát hành đối vớingười sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả khoản nợ kèm với tiền lãi trong một thời hạn nhất định Tráiphiếu được chia làm 2 loại: Trái phiếu công ty và Trái phiếu chính phủ

c) Các công cụ chứng khoán phái sinh : Là các công cụ tài chính được thể hiện dưới cáchợp đồng mua bán được chuẩn mực hóa về loại hàng hóa, về giá trị hợp đồng, về thời hạn và thị trườnggiao dịch Có 2 loại công cụ phái sinh cơ bản:

 Hợp đồng tương lai: cho phép những người tham gia hợp đồng mua hay bán hànghóa được lựa chọn vào một ngày xác định trong tương lai theo giá đã được xác định vào thời điểm kýhợp đồng

 Hợp đồng quyền chọn: Là hợp đồng cho phép người mua hợp đồng được quyền(không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán hàng hóa được lựa chọn, vào một ngày xác định trong tương laitheo giá đã được xác định vào thời điểm ký hợp đồng

VII Hiệu quả của thị trường tài chính

Thị trường tài chính hiệu quả là một thị trường trong đó giá hiện tại của tài sản tài chính phản ánhđầy đủ mọi thông tin có liên quan Nghĩa là giá thị trường của những chứng khoán riêng biệt biến đổi rấtnhanh theo thông tin mới xuất hiện

Eugene Fama là người đi đầu trong việc nghiên cứu thị trường hiệu quả Ông mô tả 3 mức độ hiệuquả của thị trường như sau:

 Hình thức hiệu quả yếu: Giá cả hiện tại phản ánh đầy đủ kết quả giá cả trong quákhứ, hay nói khác đi, hiểu biết về động thái giá cả quá khứ sẽ giúp cải thiện được khả năng dự báo giá cảtrong tương lai

 Hình thức hiệu quả trung bình: Giá cả hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả những thôngtin được công bố, chẳng hạn như báo cáo thường niên hoặc những thông tin có liên quan

Trang 19

 Hình thức hiệu quả cao: Giá cả hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin, kể cảthông tin quá khứ, thông tin được công bố lẫn thông tin nội gián (thông tin mà chỉ những người trongcông ty mới biết).

Chương 4: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

II Các vấn đề căn bản của ngân hàng thương mại

Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010): “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng

được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luậtnày nhằm mục tiêu lợi nhuận”

2) Chức năng: Ngân hàng thương mại có 4 chức năng chính sau đây:

a) Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội:

Thực hiện chức năng này, Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp

và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ Chức năng này đã

có trong thời kỳ sơ khai của ngân hàng, xuất phát từ nhu cầu đảm bảo an toàn cho tài sản, và người gửitiền phải trả một khoản phí giữ hộ cho ngân hàng Về sau, ngân hàng sử dụng khoản tiền gửi của kháchhàng để cho vay, và thay vì khách hàng phải trả thù lao giữ hộ cho ngân hàng, ngân hàng phải trả thêmcho cho khách hàng khoản lợi tức tiền gửi Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu bảo

vệ tài sản và mong muốn sinh lời từ các khoản tiền có được càng làm cho chức năng này của ngân hàngthêm nổi bật

b) Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhưtrích tiền từ tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi tiềnthu bán hàng hoặc các khoản phải thu khác theo lệnh của kháh hàng Ngân hàng thực hiện chức năngtrung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiện chức năng làm thủ quỹ cho xã hội Việc nhận tiền gửi vàtheo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vaitrò trung gian thanh toán Nhờ vào chức năng này, các chủ thể kinh tế không phải giữ nhiều tiền mặttrong túi, không cần phải trực tiếp gặp các chủ nợ dù gần hay xa mà vẫn thực hiện được việc thanh toán.Điều này làm giảm đáng kể các rủi ro và chi phí có liên quan

c) Chức năng trung gian tín dụng

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn

và người thiếu vốn Thông qua việc huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, ngân hàng hình thành quỹ

Trang 20

cho vay để cung cấp vốn cho nền kinh tế Qua đó, ngân hàng đã góp phần tạo nên lợi ích cho tất cả cácbên tham gia:

 Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi nhuận từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dướihình thức lãi suất

 Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu,thanh toán mà không cần phải tốn nhiều sức lực và thời gian tìm kiếm nơi cung ứng nguồn vốn phù hợpvới nhu cầu của mình

 Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất chovay và lãi suất tiền gửi

 Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế vì nó biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành hoạt động, đáp ứng nhu cầu vốn để đảmbảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục

d) Chức năng tạo tiền

Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng có khả năng tạo ra tiền tíndụng (tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản thanh toán của ngân hàng Mức độ mở rộng tiền gửi phụ thuộc

vào hệ số mở rộng tiền gửi m Hệ số này được quyết định bởi các yếu tố khác như tỷ lệ dự trữ bắt buộc

r d , tỷ lệ sử dụng tiền mặt trên tiền gửi thanh toán c, tỷ lệ dự trữ dư thừa r e Trên cơ sở nghiên cứu một

cách lý thuyết thì hệ số tạo tiền m của một hệ thống ngân hàng là:

m = (1/r d ) - 1

III Phân loại ngân hàng thương mại

1) Dựa vào hình thức sở hữu: có thể chia thành các loại sau:

a) Ngân hàng thương mại quốc doanh: Là ngân hàng thương mại do Nhà nước đầu tưvốn, thành lập và hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước Quản trịngân hàng thương mại là Hội đồng quản trị do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệmsau khi có thỏa thuận với Ban tổ chức – cán bộ của Chính phủ

b) Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hìnhthức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và cá nhâncùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

c) Ngân hàng thương mại liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp củabên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng liên doanh là một phápnhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập và theo các quy định

có liên quan của pháp luật

d) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài,được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tạiViệt Nam Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền và nghĩa vụ do pháp luật của Việt Nam quy định,hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam

2) Dựa vào chiến lược kinh doanh: chia thành 3 loại sau:

a) Ngân hàng bán buôn: Là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượngkhách hàng là công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân Đại đa số các chi nhánh ngân hàngthương mại nước ngoài: Deutsche Bank, The Chase Manhattan Bank,… hoạt động theo mô hình này

Trang 21

b) Ngân hàng bán lẻ: Là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượngkhách hàng cá nhân Loại hình này thường thấy ở các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn nhưNgân hàng Mỹ Xuyên, Ngân hàng An Bình

c) Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: Là loại hình ngân hàng giao dịch và cung ứngdịch vụ cho cả khách hàng công ty lẫn khách hàng cá nhân Hầu hết các ngân hàng thương mại ViệtNam đều thuộc loại hình ngân hàng này

IV Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thương mại: Tùy vào quy mô mà Ngân hàng thương

mại có cơ cấu tổ chức đơn giản hoặc phức tạp Tuy nhiên, Một ngân hàng thương mại có cơ cấu tổ chứcnhư sau:

 Kế hoạch và chiến lược của toàn hệ thống;

 Các chính sách lớn (chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách nhân sự,chính sách tài chính,…);

 Quan hệ đối ngoại

2) Sở giao dịch và các chi nhánh

Sở giao dịch và chi nhánh là những đơn vị trực thuộc hội sở, là nơi thực hiện giao dịch trực tiếpvới khách hàng Tất cả các hoạt động của Ngân hàng thương (huy động vốn, hoạt động tín dụng, thanhtoán, ngân quỹ, các dịch vụ khác của ngân hàng) đều được thực hiện tại sở giao dịch và chi nhánh.Mặc dù là cấp dưới của hội sở, nhưng sở giao dịch và chi nhánh lại là nơi tạo ra nguồn thu nhậpchính của toàn hệ thống Vì vậy, chất lượng hoạt động và hiệu quả ở sở giao dịch và chi nhánh sẽ quyếtđịnh sức mạnh của cả hệ thống

3) Phòng giao dịch và các quỹ tiết kiệm

Đây là các cơ sở trực thuộc sở giao dịch hoặc chi nhánh, thực hiện giao dịch huy động vốn hoặccho vay theo sự phân cấp của sở giao dịch và chi nhánh Phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm là những đơn

vị hạch toán phụ thuộc hoàn toàn

 Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản;

 Công ty kinh doanh vàng bạc đá quý;

 Công ty bảo hiểm;

Trang 22

 Công ty dịch vụ địa ốc;

 Công ty tư vấn tài chính tiền tệ;

 Công ty kho bãi …

V Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

1) Hoạt động huy động vốn: Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các

 Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước;

 Các hình thức huy động khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

2) Hoạt động tín dụng: Bao gồm các hoạt động sau:

 Cho vay: Ngân hàng thương mại được phép cho tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn hạn

và dài hạn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống;

 Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảolãnh đấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác

 Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các loại giấy

tờ có giá ngắn hạn đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng khác

 Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chínhnhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công tycho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuêtài chính

3) Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Để thực hiện thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được

mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhauthông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước nơingân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi bắt buộc theo quy định Ngoài ra,chi nhánh ngân hàng thương mại được mở tài khoản tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phốnơi đặt trụ sở của chi nhánh Hoạt động thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm cáchoạt động sau:

 Cung cấp phương tiện thanh toán;

 Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ;

 Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

 Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép;

Trang 23

 Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;

 Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàngtrong nước;

 Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

4) Các hoạt động khác: Ngoài các hoạt động vừa kể trên, ngân hàng thương mại

còn được phép thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm:

 Góp vốn và mua vốn cổ phần: Ngân hàng thương mại dùng vốn điều lệ và quỹ dựtrữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước theoquy định của pháp luật Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanhvới ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh

 Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền tệ,theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thông qua việc mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ

 Ủy thác và nhận ủy thác: Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủy thác, làmđại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổchức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác của đại lý

 Cung cấp dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảohiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định củapháp luật

 Tư vấn tài chính: Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn tàichính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộcngân hàng

 Bảo quản vật quý giá: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo quảnvật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của phápluật

Chương 4: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (TT)

VI Tác động của Luật tổ chức tín dụng đến hoạt động của ngân hàng thương mại

1) Các quy định về vốn

Ngân hàng thương mại khi được cấp giấy phép hoạt động phải đảm bảo đủ mức vốn pháp định dochính phủ quy định như sau (theo Nghị định 82/1998/NĐ–CP ngày 3/10/1998 của Chính phủ về banhành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng):

 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: 2.200 tỷ đồng;

 Các ngân hàng thương mại quốc doanh khác: 1.100 tỷ đồng;

 Các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị: 70 tỷ đồng nếu ở Hà Nội và TP Hồ ChíMinh, và 50 tỷ đồng nếu ở các tỉnh thành khác;

 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn: 5 tỷ đồng

2) Các quy định về dự trữ và bảo đảm an toàn

Trang 24

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chínhsách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chứctín dụng và từng loại tiển gửi với mức độ từ 0 đến 20% tổng số dư tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụngtrong từng thời kỳ

Ngoài dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại còn phải lập dự phòng rủi ro trong hoạt động ngânhàng Khoản dự phòng rủi ro này được hạch toán vào chi phí hoạt động Để đảm bảo an toàn, ngân hàngthương mại phải duy trì các tỷ lệ an toàn theo quy định, bao gồm:

Khả năng chi trả: Xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản Có để thanh toán ngay so với các loại tài sản

Nợ phải thanh toán tại một thời điểm nhất định:

KNTT = TTN/PTT

Trong đó: KNTT: Khả năng thanh toán

TTN: Giá trị tài sản Có có thể thanh toán ngayPTT: Giá trị tài sản nợ phải than toán tại một thời điểm

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản Có, kể cả các cam kết

ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro:

TLAT = VTC/TSC

Trong đó: TLAT: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

VTC: Giá trị vốn tự cóTSC: Giá trị tài sản có

Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn (Tn): Xác định

bằng cách lấy giá trị nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay dài hạn chia cho dư nợ trung và dàihạn:

Tn = VNH/NTDH

Trong đó: Tn: Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn

VNH: Giá trị nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung và dài hạnNTDH: Dư nợ cho vay trung và dài hạn

Tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi (T d ): Xác định bằng cách lấy dư nợ cho vay chia

cho số dư tiền gửi

T d = Dư nợ cho vay/Số dư tiền gửi 3) Các quy định về cho vay

Nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay, hiện nay hầu hết các ngân hàng thương mại chovay tuân thủ theo các quy định của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Số:1627/2001/QĐ-Ngân hàng Nhà nước, ngày 31 tháng 12 năm 2001), cụ thể như sau:

Tổ chức tín dụng không được cho vay (và bảo lãnh) đối với những người sau đây:

 Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc;

Trang 25

 Cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyếtđịnh cho vay;

 Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổnggiám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)

Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi vềlãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây:

 Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tại tổ chứctín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toántrưởng của tổ chức tín dụng cho vay;

 Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;

 Doanh nghiệp có một trong những đối tượng, bao gồm thành viên Hội đồng quảntrị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc; Người thẩm định, xét duyệt cho vay; Bố, mẹ, vợ,chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, chiếmtrên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó

Tổ chức tín dụng khi cho vay phải tuân thủ theo giới hạn cho vay đối với một khách hàng quy địnhnhư sau:

 Tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổchức tín dụng;

 Trường hợp nhu cầu vốn của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tíndụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì tổ chức tín dụng được cho vay hợpvốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

 Trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng được phép cho vay vượt 15% vốn tự có khiđược Thủ tướng Chính phủ cho phép với từng trường hợp cụ thể

Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của ngân hàng không được vượt quá

tỷ lệ so với vốn tự có do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kỳ

Chương 5: HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

I Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàngthương mại Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác nhưcấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng Nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngânhàng thương mại ta thấy rằng hoạt động huy động vốn được phản ảnh bên phần tài sản nợ Do vậy, huyđộng vốn được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ

II Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là hoạtđộng rất quan trọng Không có hoạt động huy động vốn coi như không có hoạt động của ngân hàngthương mại Tuy bản thân ngân hàng thương mại có vốn điều lệ, nhưng nguồn vốn này thường chỉ đủ đểtài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ

để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng

Trang 26

khác Để có thể phục vụ cho các hoạt động này, ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng Do vậy,hoạt động huy động vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng

Hoạt động huy động vốn mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanhkhác Không có hoạt động huy động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ chohoạt động của mình Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn ngân hàng thương mại có thể đolường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Từ đó, ngân hàng thươngmại có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệkhách hàng Có thể nói, hoạt động huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng

Hoạt động huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư làm tiền của họ sinh lời,tạo cho họ cơ hội gia tăng tiêu dùng trong tương lai Mặt khác, hoạt động huy động vốn cung cấp chokhách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi Cuối cùng, hoạt động huy độngvốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụthanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanhhoặc tiêu dùng

III Các hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

1) Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi

Huy động vốn qua tài khoản là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có củangân hàng thương mại Do vậy, đây cũng là điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và các tổ chứctín dụng phi ngân hàng Chính vì đặc thù này mà ngân hàng thương mại được gọi là tổ chức nhận kýthác (depository institutions) trong khi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức khôngnhận ký thác (non-depository institutions)

Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất khác nhau nên để thu hút được nhiều kháchhàng gửi tiền, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát triển nhiều loại sản phẩm khác nhau

a) Tiền gửi thanh toán

Đối tượng khách hàng và tình huống sử dụng

Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách

hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá

nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng

Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân hàng thực hiện việc tríchchuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả, bằng cách ghi nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vịthụ hưởng, bằng cách ghi có vào tài khoản Để thực hiện được nghiệp vụ thanh toán này, khách hàngphải mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng Số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của kháchhàng có thể hình thành từ 2 nguồn: (i) khách hàng nộp tiền mặt vào, (ii) khách hàng nhận tiền chuyển từđơn vị khác Số dư này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào.Tuy nhiên, không phải lúc nào khách hàng cũng huy động toàn bộ số dư tài khoản tiền gửi thanhtoán của họ để chi trả Do vậy, có đôi lúc, số dư này tạm thời trở nên nhàn rỗi Lúc này, số dư trên tàikhoản thanh toán của khách hàng trở thành nguồn vốn có thể sử dụng trong ngắn hạn của ngân hàng.Tuy nhiên, do khách hàng có thể sử dụng số dư này bất cứ lusc nào mà không cần báo trước với ngânhàng nên ngân hàng rất khó lên kế hoạch cho việc sử dụng nguồn vốn này Vì vậy, ngân hàng thường trả

Trang 27

lãi rất thấp hoặc thậm chí không trả lãi cho khách hàng Và vì không được trả lãi, nên khách hàngthường duy trì số dư trong tài khoản thanh toán không nhiều, chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu chi trả của họ.Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi của từng khách hàng là không lớn, nhưng với một lượng rất đôngkhách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, số vốn có thể huy động từ loại tài khoản này trở nên đáng chú ý.Toàn bộ số dư này có thể được sử dụng để làm nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng

Thủ tục mở tài khoản

Hiện này hầu hết các ngân hàng thương mại đều khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho kháchhàng trong việc mở tài khoản thanh toán Để mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại, kháchhàng cần phải làm những thủ tục sau:

 Khách hàng cá nhân: Điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài khoản tiền gửi cá nhân,cung cấp chữ ký mẫu, xuất trình và nộp bản sao chứng minh nhân dân/hộ chiếu

 Khách hàng là tổ chức: Điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài khoản tiền gửi thanhtoán, đăng ký chữ ký mẫu của người đại diện, mẫu con dấu, xuất trình và nộp bản sao giấy tờ chứngminh tư cách pháp nhân của tổ chức và giáy tờ chứng minh tư cách đại diện của chủ tài khoản

 Khách hàng là đồng chủ tài khoản: Điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài khoản đồng

sở hữu, các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của người đại diện tổ chức tham gia vào tàikhoản đồng sở hữu, văn bản thỏa thuận quản lý và sử dụng tài khoản chung của các đồng chủ tài khoản

Tính lãi tiền gửi thanh toán

Theo thông lệ của các nước phát triển, ngân hàng không trả lãi cho khách hàng mở tài khoản thanhtoán, vì khách hàng mở loại tài khoản này với mục đích thanh toán chứ không phải hưởng lãi Ngoài ra,ngân hàng còn yêu cầu khách hàng duy trì số dư tổi thiểu trên tài khoản để được hưởng dịch vụ ngânhàng, nếu không đủ số dư thì khách hàng phải trả phí cho ngân hàng

Ở Việt Nam, do dân chúng chưa có thói quen sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán nên để thu hútkhách hàng, ngân hàng vẫn trả lãi đối với loại tài khoản này, tuy nhiên mức lãi suất áp dụng thường rấtthấp Lãi tiền gửi thanh toán có thể được tính theo định kỳ hàng tháng hoặc theo quý theo phương pháptích số và lãi được nhập vào số dư có trên tài khoản thanh toán của khách hàng Hầu hết các ngân hàngđều chương trình hóa công việc tính lãi và hàng tháng tự động nhập lãi vào số dư gốc tài khoản tiền gửikhách hàng Công thức tính lãi theo tháng như sau:

TL = SD x SN x LS/30

Trong đó: TL: Tiền lãi được hưởng cuối tháng

SN: Số ngày tồn tại số dưLS: Lãi suất tính theo thángb) Tiền gửi tiết kiệm

Tiết kiệm không kỳ hạn

Loại tiền gửi này được thiết kế dành cho các đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi muốngửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng chưa thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trongtương lai Đối với loại tiền gửi này, thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lời

Vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải bảo đảm quỹ chitrả và rất khó lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn này Do đó, lãi suất cho loại tiết kiệm này thường rấtthấp

Trang 28

Thủ tục mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn rất đơn giản Khách hàng chỉ cần đến bất cứchi nhánh nào của ngân hàng điền vào giấy đề nghị gửi tiết kiệm không kỳ hạn có kèm theo bản sao giấychứng minh nhân dân và chữ ký mẫu Nhân viên sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiền gửi ngaycho khách hàng.

Tiết kiệm có kỳ hạn

Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được thiết kế dành chokhách hàng là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và có kế hoạch sửdụng tiền cụ thể trong tương lai Đối tượng chủ yếu của loại tiết kiệm này là những người có thu nhập ổnđịnh và thường xuyên Mục tiêu quan trọng khi khách hàng lựa chọn loại hình tiết kiệm này là lợi tứcđược nhận theo định kỳ Vì vậy, mức lãi suất cao hay thấp là một trong những điều kiện tiên quyết đểthu hút khách hàng

Thủ tục mở sổ, theo dõi hoạt động và tính lãi cũng tiến hành tương tự như tiền gửi tiết kiệm không

kỳ hạn, chỉ khác ở chỗ là khách hàng chỉ được rút tiền theo đúng kỳ hạn đã cam kết, không được rút tiềntrước hạn Nếu khách hàng rút tiền trước hạn thì có thể sẽ bị mất lãi hoặc chỉ được nhận lãi suất không

kỳ hạn

Các loại tiết kiệm khác

Ngoài 2 loại tiền gửi tiết kiệm chính là không kỳ hạn và có kỳ hạn, hầu hết các ngân hàng thươngmại đều có thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiếtkiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo nhucầu của khách hàng vào tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự bắt chước của các đối thủ cạnh tranh

2) Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là chứng nhận của các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xácnhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoảncam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua

Một giấy tờ có giá thường kèm theo các thuộc tính sau đây:

 Mệnh giá: Là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá phát hành theohình thức chứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theohình thức ghi sổ

 Thời hạn: Là khoản thời gian từ ngày tổ chức tín dụng nhận nợ đến hết ngày camkết thanh toán toàn bộ khoản nợ

 Lãi suất: Là mức lãi suất áp dụng để tính lãi cho người mua giấy tờ có giá

a) Huy động vốn ngắn hạn

Để huy động vốn ngắn hạn, các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn Giấy tờ có giángắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tínphiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Muốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, tổ chức tín dụngphải lập hồ sơ đề nghị phát hành, bao gồm:

 Đề nghị phát hành giấy tờ có giá trong năm tài chính;

 Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong đó nêu rõ mục đích phát hành,phương án sử dụng, tổng số giấy tờ có giá ngắn hạn đầu năm tài chính, tổng số mệnh giá phát hành giấy

Trang 29

tờ có giá trong năm tài chính, số đợt và thời điểm dự kiến phát hành, tên gọi giấy tờ có giá và đồng tiềnphát hành;

 Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất tính đến thời điểm đề nghị pháthành;

 Kế hoạch kinh doanh trong năm phát hành;

 Điều lệ và giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu);

 Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có)

Sau khi được xem xét và phê duyệt, tổ chức tín dụng sẽ ra thông báo phát hành Nội dung thôngbáo phát hành gồm có:

 Ngày đến hạn thanh toán;

 Lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm và địa điểm trả lãi;

 Phương thức hoàn trả và địa điểm hoàn trả tiền gốc của giấy tờ có giá

b) Huy động vốn trung dài hạn

Muốn huy động vốn trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại có thể phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu hoặc cổ phiếu Trái phiếu do ngân hàng phát hành có thể được xem như một trái phiếu công ty Sovới trái phiếu chính phủ thì trái phiếu ngân hàng có rủi ro cao hơn nên chi phí huy động vốn cao hơn sovới trái phiếu kho bạc

3) Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và từ Ngân hàng Nhà nước

Các tổ chức tín dụng khác trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản tại ngânhàng thương mại Qua tài khoản này ngân hàng thương mại có thể huy động vốn giống như đối với các

tổ chức kinh tế bình thường Ngoài các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể là nơi cungcấp vốn cho ngân hàng thương mại dưới hình thức ho vay

IV Các giải pháp tăng vốn của Ngân hàng thương mại

Đứng trước nhu cầu phát triển và hiện đại hóa, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đangđối mặt với vấn đề là làm thế nào để tăng vốn cho hoạt động Các giải pháp góp phần tăng vốn bao gồm:

 Tăng vốn từ lợi nhuận tích lũy và đóng góp của cổ đông hiện hữu;

 Sáp nhập các ngân hàng có quy mô nhỏ thành ngân hàng lớn hơn;

 Bán cổ phần cho ngân hàng nước ngoài

Trang 30

Trong 3 giải phát trên, ban đầu hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều chọn giải pháp thứnhất Đây là giải pháp tăng trưởng bền vững và có ưu điểm là không xáo trộn quyền sở hữu và quyềnkiểm soát ngân hàng Tuy nhiên, giải pháp này làm chậm quá trình tăng vốn.

Với giải pháp thứ 2 thường được các ngân hàng nhỏ hoạt động kém hiệu quả lựa chọn Ưu điểm làngân hàng mới sẽ có nguồn vốn tăng lên theo phép cộng Nhược điểm của giải pháp này là làm xáo trộn

cơ cấu sở hữu và quyền kiểm soát ngân hàng Ngoài ra, công nghệ cũng không được cải tiến nếu làmtheo cách này

Giải pháp thứ 3 ưu việt ở chỗ nhanh chóng làm gia tăng quy mô của ngân hàng Ngoài ra, còntranh thủ được kinh nghiệm quản lý và công nghệ ngân hàng tiên tiến từ người mua

Chương 6: HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG

I Khái quát về hoạt động cấp tín dụng

Ngân hàng thương mại được phép cấp tín dụng cho tổ chức, các nhân dưới hình thức cho vay,chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theoquy định của Ngân hàng Nhà nước

Cho vay: Ngân hàng thương mại được phép cho vay ngắn hạn và trung dài hạn

Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được phép bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thựchiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu

Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được phép chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắnhạn khác đối với tổ chức, các nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạnkhác đối với các tổ chức tín dụng khác

Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được phép cho thuê tài chính nhưng phải thành lậpcông ty cho thuê tài chính riêng

II Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.1 Các vấn đề chung về hoạt động cho vay

Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích nào đó trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắchoàn trả cả gốc và lãi

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi bắt đầu nhận nợ cho đến khi trả hết nợ gốc

và lãi Dựa vào thời hạn, cho vay có thể chia làm 3 loại:

 Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng;

 Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 đến 60 tháng;

 Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng

1.2 Nguyên tắc vay vốn : Khi vay vốn của ngân hàng, người đi vay phải đảm bảo 2nguyên tắc:

a) Sử dụng vốn đúng mục đích

Trang 31

Về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thờiphải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không Điều nàyrất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vaysau này.

Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụngvốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng Từ đó nângcao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàngsau này

b) Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn

Hoàn trả vốn gốc và lãi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay Điều này xuấtphát từ bản chất của tín dụng là một quan hệ chuyển nhượng tạm thời, nên sau một thời gian nhất địnhvốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi Ngoài ra, do bản chất của nguồn vốn cho vay của ngân hàng làhuy động của khách hàng, ngân hàng phải trả lãi cho nguồn vốn này, nên việc trả lãi trong quan hệ chovay là không thể thiếu nhằm đảm bảo lợi ích cho ngân hàng

Ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định Các điềukiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm:

 Có năng lực dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quyđịnh của pháp luật;

 Có mục đích vay vốn hợp pháp;

 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;

 Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và hiệu quả;

 Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướngdẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng phải gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tàiliệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vềtính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng Thông thường, bộ hồ sơ vay vốnbao gồm:

 Giấy đề nghị vay vốn;

 Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng (Giấy phép thành lập, Quyếtđịnh bổ nhiệm, Điều lệ, CMND, Hộ khẩu,…);

 Phương án sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và kế hoạch trả nợ, dự án đầu tư,…;

 Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất;

 Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay;

 Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết (Chứng nhận an toàn phòng cháy chữacháy, Chứng nhận bảo đảm vệ sinh môi trường,…)

1.5 Thẩm định và quyết định cho vay

Trang 32

Để có căn cứ ra quyết định cho vay, các tổ chức tín dụng đều xây dựng quy trình xét duyệt cho vaytheo nguyên tắc đảm bảo tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâuthẩm định và quyết định cho vay Khi thẩm định, tổ chức tín dụng sẽ xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệuquả của dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ… để quyết định Tổ chức tín dụng quyđịnh cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay đối với khách hàng,

kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng Trường hợp quyết địnhkhông cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do từchối cho vay

Việc cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phải được lập thành Hợp đồng tín dụng Hợpđồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, sốvốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ vànhững cam kết khác được các bên thỏa thuận Ngoài ra, hợp đồng tín dụng cũng cần nêu rõ quyền vànghĩa vụ của hai bên: khách hàng và ngân hàng

Trong hoạt động cho vay, ngân hàng thương mại bị giới hạn cho vay theo Quy chế cho vay của tổchức tín dụng đối với khách hàng (1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001) nhằm đảm bảo an toàn Cácgiới hạn tín dụng cho vay bao gồm:

 Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự cócủa ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn ủy thác của Chính phủ, củacác tổ chức và cá nhân Trường hợp nhu cầu vốn của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hànghoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các ngân hàng có thể cho vay hợp vốntheo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt mức giới hạn cho vaytheo quy định vừa nêu khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể

 Việc xác định vốn tự có của các ngân hàng để làm căn cứ tính toán giới hạn cho vayđược thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Cổ đông lớn của các tổ chức tín dụng;

 Doanh nghiệp có một trong những đối tượng, bao gồm thành viên Hội đồng quảntrị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc; Người thẩm định, xét duyệt cho vay; Bố, mẹ, vợ,chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, chiếmtrên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó

1.9 Những trường hợp không cho vay

Trang 33

Ngoài những giới hạn và hạn chế tín dụng như vừa trình bày, ngân hàng còn không được cho vaytrong những trường hợp sau đây:

 Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), PhóTổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;

 Cán bộ nhân viên của chính tổ chức tín dụng thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyếtđịnh cho vay;

 Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, TổngGiám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc)

2) Các sản phẩm cho vay của Ngân hàng thương mại

a) Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên

Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên của doanh nghiệp xuất phát từ sự không ăn khớp nhau vềthời gian và quy mô dòng tiền vào và dòng tiền ra Khi doanh nghiệp thu tiền bán hàng thì có dòng tiềnvào Khi doanh nghiệp chi trả tiền mua nguyên vật liệu, hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh thì doanhnghiệp có dòng tiền ra Tại một thời điểm nhất định, doanh nghiệp có thể bị thiếu hụt do tiền thu vàokhông bù đắp được tiền chi ra, khi đó, doanh nghiệp cần có sự tài trợ từ các nguồn bên ngoài, mà chủyếu là từ ngân hàng

b) Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ

Ngoài nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên, doanh nghiệp còn có nhu cầu tài trợ ngắn hạn theothời vụ Nhu cầu vốn thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh khiến chonhu cầu vốn tăng đột biến Chẳng hạn, công ty sản xuất chế biến xuất khẩu tôm có thể có nhu cầu vốnngắn hạn tăng đột biến vào mùa nông dân trong vùng thu hoạch tôm Khi đó, doanh nghiệp cần tài trợvốn ngắn hạn từ ngân hàng để bổ sung nhu cầu vốn

c) Phương thức cho vay

Hiện nay, trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại thỏa thuận vớikhách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay Hai phương thức cho vay ngắn hạn phổ biếnhiện nay là:

thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng

thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoản thời gian nhất định

Phát tiền vay: Dựa vào hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát tiền vay theo yêu cầu của khách hàng,

khi phát tiền vay, khoản tiền vay đó được ghi có vào tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc chuyển trảthẳng cho nhà cung cấp và ghi nợ số tiền vay vào tài khoản tiền vay

Trang 34

Thu nợ và lãi: Theo phương thức cho vay này, nợ gốc và lãi được thu cùng thời điểm khi đến ngày

trả nợ ghi trên hợp đồng tín dụng, khách hàng phải chủ động lập giấy trả nợ cho ngân hàng Ngân hàng

sẽ trích tiền gửi của khác hàng để thu nợ hoặc thu trực tiếp bằng tiền mặt Tiền lãi sẽ được thu theo côngthức:

Lãi tiền vay = Số tiền x Thời hạn vay x Lãi suất vay

Phạm vi áp dụng:

 Khách hàng vay không thường xuyên;

 Khách hàng vay thường xuyên nhưng chưa được ngân hàng tín nhiệm cho áp dụnghạn mức tín dụng;

 Thường yêu cầu khách hàng phải có đảm bảo

Ưu nhược điểm:

 Ưu điểm: Ngân hàng chủ động sử dụng vốn, thu lãi cao;

 Nhược điểm: Thủ tục phức tạp, tốn chi phí, thời gian, khách hàng không chủ độngđược nguồn vốn

Cho vay theo hạn mức tín dụng

Đặc điểm cơ bản của loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món vay

Cụ thể là khách hàng nộp hồ sơ vay vốn một lần, trong thời hạn vay, dù khách hàng có nhiều món vaythì cũng không cần phải làm lại hồ sơ Ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng và nếu đồng ý cho vay,hai bên tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng, trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ xác định hạn mức tíndụng cho khách hàng

Hạn mức tín dụng là dư nợ tối đa được duy trì trong một khoản thời gian nhất định mà ngân hàng

và khách hàng đã thỏa thuận Trong giới hạn này, khách hàng được phép rút vốn với số lần và giá trịkhông hạn chế Một đặc điểm đặc biệt nữa là nếu trong thời hạn tín dụng, khách hàng trả một phần nợthì hạn mức tín dụng sẽ phục hồi lại bằng với số tiền mà khách hàng trả nợ Đối với loại vay này, mộthợp đồng tín dụng thường có thời hạn là 1 năm, đến thời điểm hợp đồng tín dụng hết hạn, hợp đồng tíndụng sẽ được thanh lý và nếu khách hàng muốn vay tiếp thì phải nộp một bộ hồ sơ xin vay mới

Phát tiền vay: Ngân hàng sẽ căn cứ vào bảng kê chứng từ xin vay của khách hàng để giải ngân

bằng cách ghi nợ vào tài khoản cho vay luân chuyển và ghi có vào tài khoản tiền gửi hoặc chuyển trảthẳng cho nhà cung cấp

Thu nợ: Việc thu nợ được tiến hành theo tài khoản luân chuyển, nghĩa là tiền thu bán hàng, dịch vụ

của khách hàng được ưu tiên dùng để trả nợ vay Khi dư nợ đã hết, số tiền này mới được chuyển vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng

Thu lãi: Cuỗi mỗi tháng ngân hàng sẽ tính lãi theo phương pháp tích số Nếu hạn mức tín dụng vẫn

còn, ngân hàng sẽ thu lãi bằng cách ghi nợ tài khoản cho vay luân chuyển Nếu hạn mức tín dụng đã hếtthì ngân hàng sẽ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu lãi

Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng

tín nhiệm

2.2 Cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp

a) Mục đích của cho vay trung và dài hạn

Trang 35

Đứng trên góc độ khách hàng, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư vào tàisản cố định và một phần tài sản lưu động thường xuyên Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể sử dụngnguồn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn, để tài trợ cho những tài sản này Nhưng donguồn vốn chủ sở hữu có giới hạn nên thường doanh nghiệp phải sử dụng vay dài hạn.

Đứng trên góc độ ngân hàng, tín dụng trung và dài hạn là một hình thức cấp tín dụng góp phầnmang lại lợi nhuận cho ngân hàng Ngân hàng cần nhận thức rõ rằng tín dụng trung và dài hạn cũng làmột loại sản phẩm mình có thể cung cấp cho khách hàng vì mục đích lợi nhuận Ngoài ra, với chức năng

“quả tim” của nền kinh tế, ngân hàng cần phải xem cho vay trung và dài hạn như một chức năng vốn cócủa mình để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đầu tư về chiều rộng hoặc chiều sâu, góp phần thúc đẩy sựphát triển của nền kinh tế

b) Thủ tục vay vốn trung và dài hạn

Để vay vốn trung dài hạn, khách hàng phải lập và nộp bộ hồ sơ vay vốn Nhìn chung, hồ sơ vayvốn cũng tương tự như là hồ sơ vay vốn ngắn hạn, chỉ khác là khách hàng phải lập và nộp cho ngânhàng dự án đầu tư thay vì phương án sản xuất kinh doanh hoặc kế hoạch vay vốn như đối với vay ngắnhạn

Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét và quyết định có cho vay hay không Dự

án đầu tư có thể do doanh nghiệp tự lập hoặc thuê chuyên gia lập Nhìn chung, một dự án đầu tư thườngbao gồm các nội dung chính sau đây:

 Giới thiệu chung về khách hàng vay vốn và về dự án;

 Phân tích sự cần thiết phải đầu tư vào dự án;

 Phân tích tính khả thi về mặt tài chính của dự án;

 Phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của dự án

Trong những nội dung trên, phân tích khả thi về tài chính của dự án là vô cùng quan trọng vì đây là

cơ sở để ngân hàng phân tích và đánh giá khả năng thu hồi vốn và lãi Để thấy được sự khả thi về tàichính của dự án, khách hàng phải nêu bật được những điểm sau:

 Phân tích và đánh giá tình hình nhu cầu thị trường và giá cả tiêu thụ để làm căn cứ

dự báo doanh thu từ dự án;

 Phân tích và đánh giá tình hình thị trường và giá cả chi phí để làm căn cứ dự báochi phí đầu tư ban đầu và chi phí trong suốt quá trình hoạt động của dự án;

 Phân tích và dự báo dòng tiền ròng thu được từ dự án;

 Phân tích và dự báo chi phí huy động vốn cho dự án;

 Xác định các chỉ tiêu (NPV, IRR) dùng để đánh giá và quyết định sự khả thi về tàichính dự án;

 Nếu dự án lớn và phức tạp cần có thêm các phân tích về rủi ro thực hiện dự án nhưphân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng

c) Các phương thức cho vay trung và dài hạn

Dựa vào mục đích vay, ngân hàng có thể cho khách hàng vay vốn trung dài hạn để đầu tư mua sắmtài sản cố định như máy móc thiết bị hoặc cho khách hàng vay vốn dài hạn đầu tư vào một dự án đầu tư.Cho nên phương thức cho vay có thể là:

Trang 36

 Cho vay mua sắm máy móc thiết bị;

 Cho vay đầu tư dự án

Nhìn chung, các ngân hàng thương mại hiện nay đã phát triển các sản phẩm tín dụng khá đa dạng

và phong phú cho khách hàng là cá nhân Các sản phẩm cho vay thông dụng gồm:

 Cho vay sản xuất hộ gia đình trong lĩnh vực chăn nuôi hoặc trồng trọt;

 Cho vay sản xuất hộ gia đình trong lĩnh vực lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản;

 Cho vay mua sắm công cụ lao động hoặc máy móc phục vụ nông nghiệp;

 Cho vay khác nhằm cải thiện đời sống nông thôn;

 Cho vay sinh hoạt, tiêu dùng;

 Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà;

 Cho vay mua nền nhà, hoán đổi nhà;

 Cho vay sản xuất kinh doanh;

 Cho vay mua xe cơ giới;

 Cho vay hỗ trợ du học;

Về mặt quy chế và thủ tục, cho vay khách hàng cá nhân vẫn thực hiện theo quy chế cho vay kháchhàng của các tổ chức tín dụng Phương thức cho vay và thu nợ tương tự như đối với cho vay khách hàngdoanh nghiệp Hồ sơ vay vốn bao gồm :

 Giấy đề nghị vay vốn ;

 Chứng minh nhân dân, hộ khẩu ;

 Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn ;

 Giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố ;

 Giấy tờ chứng minh nguồn thu nhập

Chương 6: HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG (TT) III Hoạt động chiết khấu chứng từ có giá

1) Khái niệm chiết khấu

Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng nhận các chứng từ có giá vàtrao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận vàchi phí mà ngân hàng được hưởng So với cho vay, chiết khấu có điểm khác biệt là:

 Không cần tài sản thế chấp mà sử dụng ngay chứng từ nhận chiết khấu làm đảmbảo;

 Ngân hàng thu lãi trước khi phát tiền vay bằng cách trừ vào mệnh giá;

 Quy trình xem xét cấp tín dụng đơn giản và nhanh chóng hơn so với cho vay

Trang 37

Các ngân hàng thương mại hiện nay thường chận chiết khấu 2 loại chứng từ cơ bản: thương phiếu

và chứng từ có giá khác như trái phiếu, kỳ phiếu

2) Chiết khấu thương phiếu

“Thương phiếu” là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toánkhông điều kiện một số tiền xác định trong một khoản thời gian xác định Thương phiếu gồm 2 loại: Hốiphiếu và Lệnh phiếu

Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán khôngđiều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai chongười thụ hưởng

Lệnh phiếu là cam kết trả nợ do một hoặc nhiều người ký phát nhằm cam kết vào một ngày nhấtđịnh sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có ghi tên trên lệnh phiếu hoặc cho một ngườikhác theo mệnh lệnh của người thụ hưởng

Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại được thực hiệndưới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn thanh toán chongân hàng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thương phiếu Số tiền chênh lệch giữa mệnhgiá thương phiếu so với số tiền khách hàng nhận được gọi là lãi chiết khấu và phí hoa hồng

Khi thực hiện chiết khấu thương phiếu, ngân hàng xác định số tiền phát ra cho khách hàng nhưsau:

Số tiền nhận được = Mệnh giá TP – Lãi chiết khấu – Hoa hồng phí

Trong đó: Hoa hồng phí = Mệnh giá TP x Tỷ lệ hoa hồng (%)

Lãi CK = Mệnh giá TP x Lãi suất CK(%/năm) x Số ngày nhận CK/360

Cách thức thu lãi được thực hiện ngay khi chiết khấu bằng cách khấu trừ vào mệnh giá Đến ngàythanh toán ghi trên thương phiếu, ngân hàng thực hiện thu nợ ở người trả tiền bằng cách thông báo chongười trả tiền hoặc gửi thương phiếu đến ngân hàng ủy nhiệm nhờ thu hộ Nếu không thu được nợ, ngânhàng có thể xử lý bằng cách hoàn thương phiếu truy đòi người xin chiết khấu hoặc truy tố trước phápluật

3) Chiết khấu chứng từ có giá khác

Ngoài thương phiếu, các chứng từ có giá khác như trái phiếu, tín phiếu kho bạc Nhà nước, kỳphiếu, số tiền gửi tiết kiệm cũng được ngân hàng thực hiện chiết khấu

Đối với trái phiếu và tín phiếu kho bạc, người hưởng lợi là người mua, còn người thanh toán làKho bạc Nhà nước Khi chiết khấu, cần phân biệt 2 loại: Trái phiếu không hưởng lãi định kỳ (trái phiếuchiết khấu) và Trái phiếu hưởng lãi định kỳ

Trái phiếu chiết khấu là loại trái phiếu người mua chỉ trả một khoản tiền nhỏ hơn mệnh giá (phầnchênh lệch này chính là lãi trái phiếu) và khi đến hạn thanh toán, Kho bạc sẽ trả cho người mua một sốtiền bằng mệnh giá Về phương pháp tính chiết khấu của trái phiếu chiết khấu giống như tính chiết khấuthương phiếu

Trái phiếu được hưởng lãi định kỳ là loại trái phiếu mà người mua nó phải trả cho Kho bạc một sốtiền bằng mệnh giá, đổi lại người mua được nhận lợi tức định kỳ và khi đến hạn thanh toán họ sẽ nhậnđược số tiền bằng mệnh giá của trái phiếu Do đó, phương pháp tính chiết khấu trái phiếu được hưởnglãi định kỳ như sau:

Trang 38

Số tiền nhận được = Trị giá CK – Lãi CK – Hoa hồng phí

Trong đó: Trị giá CK = Mệnh giá + Lãi hưởng định kỳ

Lãi hưởng định kỳ = Mệnh giá + Lãi suất được hưởng định kỳHoa hồng phí = Trị giá nhận CK x Tỷ lệ hoa hồng (%)

Lãi CK = Trị giá CK x Lãi suất CK (%/năm) x Số ngày/360

IV Hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền(bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khikhách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh

Quan hệ bảo lãnh gồm các bên sau đây:

Bên bảo lãnh: Là các tổ chức tín dụng, bao gồm Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng

thương mại cổ phần, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng liêndoanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác

và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng

Bên được bảo lãnh là khách hàng, bao gồm:

 Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam như Doanhnghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp củacác tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh các thể;

 Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng;

 Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 Bộ luật dân sự;

 Các tổ chức nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấuthầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam

Bên nhận bảo lãnh: Là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết

trong bảo lãnh của các tổ chức tín dụng

Cam kết bảo lãnh: Là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng hoặc văn bản thỏa

thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng

sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đãcam kết với bên nhận bảo lãnh

a) Bảo lãnh là công cụ bảo đảm

Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh Bằng việc cam kết chi trả khi bồi thường khi xảy

ra sự cố vi phạm hợp đồng, các ngân hàng tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người nhận bảo lãnh.Chính sự tin tưởng này khiến cho hợp đồng được ký kết dễ dàng hơn

b) Bảo lãnh là công cụ tài trợ

Ngày đăng: 02/08/2014, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w