Số liệu về số hợp đồng tin dụng do từng loại NH cung cấp được thể hiện trong bảng số liệu sau: Bảng 5.1 Cơ cấu hợp đồng tín dụng theo loại hình ngân hàng Loại Ngân hàng Số hợp đồng tín d
Trang 1ƯỚC LƯỢNG HÀM CUNG TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TP CẦN THƠ
5.1 Đánh giá tổng quan của cuộc nghiên cứu
Để tìm hiểu các nhân tố ảng hưởng đến quyết định cung ứng tín dụng của NHcũng như ước lượng hàm cung tín dụng cho các DNTN của hệ thống NH, chúng tôi tiếnhành thu thập số liệu và nhận định thực tế từ 13 trên tổng số 28 NH đang hoạt động trênđịa bàn TP Cần Thơ với 121 hợp đồng tín dụng đã được thực hiện giữa các NH với KH
là các DN thuộc thành phần kinh tế tư nhân của họ
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ NH Quốc doanh và ngoài quốc doanh xấp xỉ bằng nhauvới các NH quốc doanh chiếm 53,85% và 46,15% còn lại là những NHTMCP Số liệu về
số hợp đồng tin dụng do từng loại NH cung cấp được thể hiện trong bảng số liệu sau:
Bảng 5.1 Cơ cấu hợp đồng tín dụng theo loại hình ngân hàng
Loại Ngân hàng Số hợp đồng tín dụng (n =
121)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Các hợp đồng tín dụng này được ký kết giữa các NH và các đối tượng doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân: với loại hình doanh nghiệp tư nhân và công tytrách nhiệm hữu hạn chiếm đa số
Trang 2Bảng 5.2 Cơ cấu hợp đồng tín dụng theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp Số hợp đồng tín dụng (n = 121) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Bảng số liệu này cho thấy hai loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phầnthường phát sinh nhu cầu vốn cho công việc kinh doanh của mình, có thể nói đây chính làkhách hàng thường xuyên của NH trong số những khách hàng (KH) là doanh nghiệp Cáccông ty cổ phần có số tỷ lệ vay vốn NH ít hơn gần phân nửa so với hai loại trên có thểđược giải thích là vì loại doanh nghiệp này có thể giải quyết được một phần nhu cầu vốncủa họ qua thông thị trường chứng khoán Ngoài ra, các loại hình doanh nghiệp kháccũng có phát sinh nhu cầu liên hệ vay vốn đối với các NH
Nếu Các doanh nghiệp được phân loại theo qui mô như sau:
Mức giá trị
Trang 3doanh nghiệp
thì các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhiều nhất là các doanh nghiệp nhỏ Nếu cộngdồn tỷ lệ số hợp đồng tín dụng theo qui mô doanh nghiệp, ta thấy các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có nhu cầu vay vốn lên đến 66,9%
Bảng 5.3 Cơ cấu HĐTD theo qui mô doanh nghiệp
Qui mô doanh nghiệp Số hợp đồng tín dụng (n = 121) Tỷ lệ (%)
Trang 4Bảng 5.4 Cơ cấu HĐTD theo lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhóm ngành nghề kinh doanh Số hợp đồng tín dụng (n = 121) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng những doanh nghiệp kinh doanh trong nhómngành Thương mại, dịch vụ là những doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về vốn nhiều nhất,chiếm đa số nhu cầu với 55,4% số hợp đồng tín dụng điều tra được Hai nhóm ngànhnghề còn lại phát sinh nhu cầu tương đối ngang nhau với khoảng 20% số hợp đồng Thực
tế này chỉ ra mối liên hệ tương đối chặt chẽ giữa việc phát sinh nhu cầu cần huy động vốncủa doanh nghiệp và việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh của DN Nhiều chuyên gia đãnhận định hiện nay số lượng doanh nghiệp đặng ký kinh doanh với quy mô vừa và nhỏngày càng nhiều và lĩnh vực kinh doanh được lưa chọn nhiều nhất là lĩnh vực thươngmại, dịch vụ; bởi vì đây là lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi ít vốn đầu tư ban đầu và khôngcần phải có số vốn lưu động qua cao Lựa chọn hình thức kinh doanh này phù hợp với sốvốn ban đầu tương đối ít của nhà kinh doanh, bên cạnh đó, việc vay vốn ngắn hạn để bổsung vốn lưu động cũng tương đối dễ dàng hơn, do đó ngày càng nhiều DN tham gia kinhdoanh trên lĩnh vực này, và từ đó làm phát sinh nhu cầu vốn càng nhiều
Nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp tập trung vào các khoản vay có thời hạntrung bình một năm chiếm đa số (69,4%) trong các hợp đồng tín dụng điều tra được(tương đương với một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp) Có khoảng 19,8%
Trang 5số hợp đồng tín dụng có thời hạn dưới một năm và phần còn lại chiếm 80,2% là cáckhoảng tín dụng trung dài hạn, bao gồm cả các khoảng tín dụng kéo dài 12 tháng đã nóitrên.
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Nhìn chung, mục đích vay của các doanh nghiệp là để bổ sung vốn lưu động với80,2% trong tổng số hợp đồng tín dụng, hoàn toàn phù hợp với thời hạn chiếm đa số là 1năm đã nêu trên Bên cạnh đó, có 17,3% nhu cầu vay là để mua sắm trang thiết bị, tài sản
cố định, đầu tư tài chính, sửa chữa, nâng cấp thiết bị máy móc và nhiều mục đích khác.Phần còn lại là các hợp đồng nhằm mục đích bổ sung vốn kinh doanh, tức là vốn kinhdoanh dài hạn của doanh nghiệp
Bảng 5.6 Mục đích vay của các Doanh nghiệp
Trang 6(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập các số liệu về khả năng thanh toán của DN khilàm thủ tục xin vay, mức độ tín nhiệm của NH đối với doanh nghiệp khi cho vay, vànhững nhân tố định lượng khác đóng vai trò thiết yếu trong một hợp đồng tín dụng đó là:
Số tiền DN mong muốn vay, Tổng tài sản, Vốn chủ sở hữu, doanh thu và cuối cùng yếu
tố thể hiện quyết định cho vay của NH là tổng số tiền NH giải ngân cho Doanh nghiệp
Nhìn chung, khi tiến hành nộp hồ sơ xin vay NH, DN có sự chuẩn bị tương đối kỹ
về khả năng thanh toán nợ hiện hành của mình, một yếu tố góp phần tạo nên sự tin tưởngvào DN của NH Thực tế cho thấy có đến 99% các hợp đồng cho vay ra được đảm bảobằng khả năng thanh toán trung bình và cao của doanh nghiệp, trong đó khả năng thanhtoán tốt của DN chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn Điều này cho thấy về phía doanh nghiệp, họrất cố gắng trong việc chứng tỏ khả năng trả nợ cho khoản vay nhằm tạo được uy tín vớiđối tác NH của mình và đạt được mục đích cuối cùng là có được số vốn cần thiết
Bảng 5.7 Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán Số HĐTD (n = 121) Tỷ lệ (%)
Trang 7(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Còn về phía ngân hàng, để đảm bảo cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận họ chấpnhận cho vay đối với 98,3% các đối tượng DN tạo được sự tín nhiệm (bao gồm sự tínnhiệm được đánh giá trung bình và cao) và chỉ có 1,7% DN mặc dù phía NH có mức tínnhiệm thấp nhưng vẫn được vay
Bảng 5.8 Mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với doanh nghiệp
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu cho thấy rằng NH cho vay tín chấp đối với cácdoanh nghiệp chỉ chiếm một con số rất thấp là 5%, các hồ sơ tín dụng còn lại (95%) DNđều phải có tài sản thế chấp mới được vay Những trường hợp NH cho vay tín chấp là dođây là những công ty có được sự bảo lãnh của nhà nước hoặc dự án mang tính quốc tếnào đó
Bảng 5.9 Sự đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp khi đi vay
Trang 8Đảm bảo bằng tài sản Có thế chấp Không có thế chấp
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Tóm lại, qua khảo sát thực tế về tình hình cung cấp tín dụng của hệ thống NH trênđịa bàn TP Cần Thơ, tôi rút ra được những nhận xét sau:
- Thứ nhất, nhóm khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vay lớn nhất hiện nay là nhóm
DN kinh doanh trên lĩnh vực Thương mại và dịch vụ
- Thứ hai, thời hạn vay chủ yếu hiện nay trung bình là 1 năm với mục đích chính là để
bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp
- Thứ ba, để đảm bảo ít gặp rủi ro nhất, NH hầu như chỉ quyết định cho vay đối với cácdoanh nghiệp có tài sản thế chấp và tạo được sự tín nhiệm với NH
5.2 Một số nguyên nhân làm cho Ngân Hàng không (hoặc không thể) cho các Doanh Nghiệp vay
Theo cuộc phỏng vấn các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố CầnThơ do Võ Thị Thuý Hiền và Ngô Lâm Hải thực hiện vào 5/2007 thì các nguyên nhânkhông vay vốn của của doanh nghiệp được tổng kết như sau:
Bảng 5.10 Nguyên nhân không vay vốn
Trang 9Nguyên nhân không vay vốn Phần trăm chọn lựa (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007 SVTH: Võ Thị Thuý Hiền, Ngô Lâm HảI)
Từ các thông tin trên cùng với thực tế quan sát được, ta có thể rút ra những nguyênnhân làm cho doanh nghiệp không tiếp cận được với nguồn vốn của NH
5.2.1 Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp
- Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là việc các DN không muốn tìm đến đối tác là NH khi phát sinh nhu cầu Nguyên nhân này còn có thể được hiểu là
tuy cần vốn, nhưng DN không vay NH để có được số vốn đó Theo một số điều tra chobiết, DN có rất nhiều kênh huy động vốn bên cạnh kênh huy động NH, đó là vay bạn
bè, người thân; vay theo hình thức mua TSCĐ từ các công ty tài chính; vay các chươngtrình tín dụng của các tổ chức, chính phủ nước ngoài do đó, DN ngày nay có nhiều lựa
Trang 10chọn hơn trong việc tìm đối tác để huy động vốn Cùng với một số khó khăn khi muôntiếp cận nguồn vốn NH đã dẫn đến việc nhiều DN chọn lựa các kênh huy động vốnkhác thay cho NH Ngoài ra, cũng có những trường hợp DN không muốn đến vay NH
là vì lich sử tín dụng của họ, họ đã từng đi vay nhưng gặp khó khăn do phía NH từ chốicung tín dụng, hoặc thủ tục phiền hà nên dẫn đến việc họ ngại tiếp xúc, hoặc khôngmuốn tìm đến NH
- Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những nguyên nhân bi quan hơn, đó là bản thân
DN không muốn vươn lên, không muốn mở rộng sản xuất, với tư tưởng kinh doanh “đủxài”, sợ cạnh tranh, ngại tiếp xúc với cái mới do đó, họ không có nhu cầu về vốn Mộtdạng DN nữa không có nhu cầu về vốn là do bản thân DN là DN nhỏ lại có vốn cá nhâncủa chủ DN cao, tài sản của chủ DN có thể tạo ra được nguốn vốn mà DN đó cần, nên họcũng không cần tìm đến NH
- Nguyên nhân tiếp theo đó là việc DN không đáp ứng được nhữngyêu cầu về mặt pháp lý: vấn đề nổi bật trong nguyên nhân này chính là việc các DNTNthường không có, hoặc có ít các tài sản có thể đảm bảo cho món vay của mình Bêncạnh đó, còn có nhiều trường hợp NH từ chối nhận hợp đồng vay của DN do thiếunhững giấy tờ liên quan đến tài sản, đến việc chứng tỏ năng lực pháp lý của DN
- Nguyên nhân nữa đó là việc không nắm rõ những qui định về pháp
lý khi vay nợ của DN Nhiều DN có thói quen vay nhiều nguồn trong đó có nhiều DN
vì muốn vay được mức tối đa mà nộp đơn vào nhiều NH, làm sai giấy tờ theo yêu cầupháp luật, kinh doanhsai mặt hàng Chính sự thiếu hiểu biết về pháp luật nên khá nhiều
DN dù muốn nhưng cũng không huy động vốn từ phía NH được Điều này còn cho thấymức độ quan tâm đến việc tìm được nguồn để huy động vốn của DN còn tương đốithấp
- Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác như trình độ, năng lực quản
lý của bộ máy quản lý DN còn yếu kém; phương án sử dụng vốn hoặc phương án kinh
Trang 11doanh không đủ hiệu quả để NH có thể cho vay; năng lực tài chính của DN không lànhmạnh; không minh bạch trong chế độ kết toán, kiểm toán; DN không tạo được mối liên
hệ thường xuyên với NH (nay vay NH này, mai lại vay NH khác)
5.2.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
- Nguyên nhân phổ biến nhất là do chính sách kinh doanh của NH,mỗi NH có chính sách cân đối giữa rủi ro - lợi nhuận khác nhau nên số tiền duyệt cho
DN vay khác nhau, và lãi suất cũng khác nhau Thông thường NH vì đảm bảo lợi nhuận
và ít rủi ro nên chủ yếu cho DN vay ngắn hạn với lãi suất tương đối cao, thêm vào đó là
sự rườm rà của thủ tục nên nhiều DN tìm kiếm vốn từ những kênh huy động khác
- Nguyên nhân thứ hai là do NH chưa có đầy đủ thông tin về doanhnghiệp để làm cơ sở tín nhiệm cho vay Ngoài ra, là do DN không đủ tài sản để thế chấp
mà uy tín vẫn chưa đủ để NH cho vay tín chấp
- Trình độ của cán bộ tín dụng chưa đồng bộ, nên có nhiều ý kiếnkhác nhau về các hợp đồng hoặc dự án kinh doanh của DN, dẫn đến có nhiều ý kiếnkhác nhau về việc cho vay hay không cho vay 1 KH làm cho nhà quản trị không đưa rađược quyết định kị thời, kéo dài thời gian xem xét hợp đồng tín dụng
- Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến việc tiếpcận tín dụng của DN như chức năng của NH bị hạn chế cho vay đối với một số DN, dovốn huy động của NH không đủ điều kiện cho vay
5.3 Một số giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách giữa DN và NH
Trang 12Để có thể đưa ra được giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách giữa DN và
NH trong mối quan hệ cung - cầu tín dụng, chúng ta xem xét các tiêu chí nào được NH
sử dụng để đánh giá khách hàng và sự đánh giá của họ về mức độ quan trọng của nhữngtiêu chí đó Biết được cơ sở đánh giá KH của NH, DN có thể chuẩn bị tốt về mọi mặtnhằm đạt được mục đích vay vốn của mình
Bảng 5.11 Các chỉ tiêu thường được NH sử dụng đển đánh giá KH
(n = 16)
Tỷ lệ (%)
Quy mô của doanh nghiệp tính theo tổng tài sản 13 81,3
Trang 13Tỷ lệ tăng trưởng của vốn chủ sở hữu 12 75,0
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 5 năm 2007)
Bảng số liệu trên cho thấy có từ 75% NH trở lên chọn những yếu tố được nêu ralàm tiêu chí để đánh giá khách hàng và những tiêu chí này đều có mức độ quan trọngkhá cao đối với việc đánh giá KH của NH Nhìn chung, các tiêu chí được chúng tôi thểhiện trong bảng được đa số các NH đánh giá là quan trọng đối với họ Thực tế, các NH
sử dụng kết hợp những nhân tố trên để ra quyết định cho vay hay không cho vay mộtkhách hàng và cho vay 1 lượng như thế nào cho phù hợp Ngoài những yếu tố được liệt
kê trong bảng còn có nhiều tiêu chí quan trọng khác đó là: các tỷ số lợi nhuận(ROE,ROA ); nguồn để trả nợ; thị trường đầu vào đầu ra của nguyên liệu, sản phẩm; kếhoạch phân phối, buôn bán sản phẩm; khả năng thu xếp vốn; đặc biệt là sự minh bạchtrong chế độ báo cáo, kế toán, kiểm toán và chất lượng quản lý doanh nghiệp Vì tàmquan trọng của các yếu tố tương đương nhau, nên mỗi NH đều có hệ thống đánh giá KHriêng của mình bên cạnh những hệ thống đánh giá cơ bản nhất
Bảng 5.12 Mức độ quan trọng của các tiêu chí đánh giá KH của NH
Trang 14(Nguồn: Cuộc điều tra tháng 5 năm 2007)
Trang 15Từ những thông tin trên, ta có thể giới thiệu một số giải pháp chi cả hai phía DN
và NH
5.3.1 Giải pháp cho phía Doanh nghiệp
- Thứ nhất, các doanh nghiệp tư nhân nói riêng cần từng bước tạo dựng uy tín đốicác NHTM bằng năng lực kinh doanh và hiệu quả của việc sử dụng vốn Thực hiện đúng
và minh bạch các chế độ về tài chính kế toán, hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúngpháp luật quy định Những việc làm này giúp DNTN khẳng định được uy tín của mìnhđối với các NHTM, một mặt giúp cho kinh tế tư nhân dễ dàng trong việc tiếp cận vớinguồn vốn của ngân hàng mặt khác còn tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tồn tại và pháttriển một cách bền vững
- Doanh nghiệp cần chủ động tìm đến NH, tìm hiểu các dịch vụ và tạo lập mốiquan, lich sử tín dụng tốt đẹp với NH NH có xu hướng ưu tiên cho vay đối với KH quenbiết trước trong cùng điều kiện đi vay, vì vậy, tao được mối quan hệ tốt với NH sẽ giúpcho DN bớt nhiều trở ngại khi vay vốn
- Các doanh nghiệp tư nhân cần xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp vớinăng lực quản lý, vốn và công nghệ của mình Chủ động tiếp cận và tìm hiểu các dịch vụthích hợp của các NHTM, để có thể huy động lượng vốn tối đa cho việc sản xuất và mởrộng sản xuất Khi xin vay vốn, cần phải có sự chuẩn bị chu đáo về dự án kinh doanh, cácbáo cáo tài chính để tạo uy tín với NH
- Ngoài ra, DN cần phải nâng cao năng lực quản trị và điều hành doanh nghiệpcủa bộ máy quản trị và minh bach hoá quá trình thực hiện kế toán, kiểm toán, đảm bảo đủ
độ tin cậy cho các báo cáo tài chính của DN
5.3.2 Giải pháp cho phía Ngân hàng
Hiện nay, đất nước đang trong xu thế hội nhập, việc mở rộng củacho các Ngan hàng nước ngoài tham gia kinh doanh trên thị trường tài chính Việt Nam làtất yếu Vì vậy, ngay từ bây giờ Nh cần có kế hoạch tìm kiếm khách hàng, xây dụng mộtmối quan hệ tốt giữa NH với KH Việc có những khách hàng thân thiết với những dịch vụ