Luật này còn định nghĩa : Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đuợc thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịc
Trang 1
Bài viết số 1:
“HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM”
Trang 2
1/15
Bài viết số 1: “HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM”
GIÁO VIÊN BỘ MÔN: TS LẠI TIẾN DĨNH
Học viên thực hiện : VŨ CHU BẢO NGỌC
PHẦN 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) 1.1 Định nghĩa NHTM
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm
1997, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn định nghĩa : Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đuợc thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi
và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm này đã được định nghĩa trong luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cũng do Quốc hội khoá X thông qua cùng ngày Luật NHNN định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
1.2 Chức năng của NHTM:
- Chức năng trung gian tài chính: được thể hiện thông qua việc thực hiện các nghiệp
vụ về tín dụng, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động môi giới khác
Trung gian được hiểu là trung gian giữa các khách hàng với nhau và trung gian giữa Ngân hàng Trung ương với công chúng
- Chức năng tạo ra tiền (tạo ra bút tệ):
Ngoài chức năng trung gian tài chính, NHTM còn có chức năng tạo tiền, tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) gọi tắt lá IMF, khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: Tiền giấy, tiền kim loạivà tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng Còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ không được xem là bộ phận của khối tiền tệ mà chỉ được xem là “chuẩn tiền”, vì tính chất kém thanh khoản của bộ phận này
Gọi U1 là số tiền gửi đầu tiên cảu một khách hàng, số tiền gửi tổng cộng được tạo ra là
Sn và được tính bằng công thức sau:
Sn = U1 / (1- q)
Trang 3Trong đó: q là công bội cấp số nhân; 1 - q là tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Chức năng “sản xuất”:
Chức năng sản xuất của NHTM được hiểu là việc huy động các nguồn lực để sử dụng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế Tuy nhiên, chữ sản xuất
ở đây nên hiểu theo nghĩa trong ngoặc kép, vì có thể còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất
Mục đích nhấn mạnh “chức năng sản xuất” để cho các nhà quản trị NHTM cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất và điều này có thể làm thay đổi sâu sắc trong nhận thức chiến lược và quản trị NHTM Vì có sản xuất mới có sản phẩm và vì có sản phẩm nên phải chú ý những điểm quan trọng sau đây trong quản trị NHTM:
Thứ nhất, NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình,
do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng Khuyến mãi,và thậm chí đến cả dịch vụ hậu mãi nữa
Thứ hai, NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản
phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng
Thứ ba, NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân
hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi rất chóng mặt Một sự chậm chạp hoặc đầu tư công nghệ có thể dẫn đến tai họa cho NHTM trong thời đại cạnh tranh gay gắt hiện nay
1.3 Vai trò, vị trí của NHTM trong nền kinh tế:
NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế Trước hết, với chức năng trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các cá nhân thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh Đồng thời, NHTM là người cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dung với quy mô lớn, là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền Trung ương và địa phương phát hành để tài chợ cho các chương trình công cộng
NHTM cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp
- Với vai trò thanh toán, NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, …
- Với vai trò người bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hang khi khách hang mất khả năng thanh toán
- Với vai trò đại lý, các NHTM thay mặt khách hang quản lý và bảo lãnh phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán
- Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các NHTM còn là một kênh quan trọng
để thực thi chính sách vĩ mô của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế
1.4Các hoạt động chủ yếu của NHTM:
1.4.1 Hoạt động huy động vốn:
Trang 43/15
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác,
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá trị,
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong nuớc và ngoài nước,
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước,
- Các hoạt động huy động vốn khác theo quy định của NHNN
1.4.2 Hoạt động cấp tín dụng:
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân vay vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vù và đời sống,
- Bảo lãnh,
- Chiết khấu,
- Cho thuê tài chính,
- Bao thanh toán,
- Tài trợ xuất nhập khẩu,
- Cho vay thấu chi,
- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng
1.4.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép,
1.4.4 Các hoạt động khác:
- Góp vốn và mua cổ phần,
- Tham gia thị trường tiền tệ,
- Kinh doanh ngoại tệ,
- Ủy thác và nhận ủy thác,
- Cung cấp dịch vụ bảo hiểm,
- Tư vấn tài chính,
- Bảo quản vật quý giá
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN 2006-2008:
2.1 Hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008:
Đây là giai đoạn các NHTM đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng để thích nghi với lộ trình cam kết mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực hoạt động, quản lý
Trang 5kinh doanh, năng lực tài chính, phân biệt chức năng cho vay của ngân hàng chính sách với chức năng kinh doanh tiền tệ của NHTM
Còn đối với các NHTM cổ phần đã được củng cố và phát triển theo hướng tăng cường năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sát nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTM cổ phần yếu kém và hiệu quả kinh doanh thấp Đối với các NHTM liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được bảo đảm quyền kinh doanh theo các cam kết đã được ký kết và hội nhập
Thời kỳ này số lượng các ngân hàng cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có
xu hướng tăng (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2005 – 2008
Loại hình ngân hàng 2005 2006 2007 2008
Ngân hàng thương mại Nhà nước 5 6 7 6*
Ngân hàng thương mại cổ phần 37 37 36 37
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 28 31 31 33
Tổng cộng 74 79 80 82
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước) (*: Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển Nông thôn, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng song Cửu Long, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam)
Dù vậy, trong giai đoạn này các NHTM Việt Nam đã tỏ rõ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Hiện NHTM đang là kênh huy động, cung ứng vốn cho nền kinh tế với 30% vồn đầu tư phát triển hàng năm và 40% tổng nhu cầu vốn của doanh nghiệp được tài trợ bởi tín dụng ngân hàng Tuy còn thấp hơn sơ với một số nước khác, nhưng tổng dư nợ cho vay qua
hệ thống ngân hàng đề tăng và đến cuối năm 2008 đã đạt tốc độ tăng trưởng 53,7%, cao hơn mức bình quân chung của các nước có thu nhập thấp
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay của hệ thống NHTM ở Việt Nam
đối với nền kinh tế thời kỳ 2006 - 2008 Năm 2006 2007 2008
GDP (tỷ đồng) 839.200 974.200 1.144.000
Dư nợ cho vay (tỷ đông) 732.023 992.013 1.124.723 Tốc độ tăng trưởng (%) 22,8 25,2 53,7
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Ngoài ra, các sản phẩm dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngày càng đa dạng
và phong phú hơn Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng, các NHTM cổ phần, ngân hàng nước ngoài ngày càng đóng vai trò tích cực
Trang 65/15
Đối với tình hình cho vay, Với mức tăng trưởng tín dụng bình quân của ngành là 54% năm 2007 thì giới hạn 30% tăng trưởng tín dụng năm nay được các ngân hàng đánh giá là cào bằng tất cả, giống như chỉ thị 03 đối với cho vay chứng khoán và Quyết định số 02 của NHNN về trần lãi suất huy động Theo báo cáo tài chính năm 2007, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Nam Á: 2.698 tỷ đồng, ngân hàng Thái Bình Dương: 2.700 tỷ đồng, ngân hàng Việt Á: 5.764 tỷ đồng, ngân hàng An Bình: 6.858 tỷ đồng, ngân hàng Mỹ Xuyên: 1.264 tỷ đồng … Hầu như tất cả các ngân hàng này đều đã sử dụng hết và vượt hạn mức qui định chỉ trong 02 tháng đầu năm 2008 Hiện nay dư nợ của Ngân hàng Thái Bình Dương khoảng 4.800 tỷ đồng, tăng hơn 77% so với cả năm 2007 và đang bị buộc phải giảm dư nợ Trong khi đó ở các ngân hàng TMQD, hạn mức vẫn còn khá nhiều
Hậu quả của việc bất chấp các nguyên tắc cơ bản của tín dụng, năm 2007 vừa qua dư nợ tại các ngân hàng tăng vọt khi chất lượng tín dụng không đảm bảo Dưới áp lực của lợi nhuận và
vì “lợi ích cá nhân”, công tác thẩm định được tiến hành sơ sài, chiếu lệ, tình trạng cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng “bắt tay” khách hàng, cò tín dụng trở nên phổ biến… là những nguyên nhân đặt các khoản vay trong tình trạng “bất ổn”, có nguy cơ quá hạn hiện nay tại hầu hết các ngân hàng
Bảng 2.3 Thị phần các NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 - 2008
2006 2007 2008
A/ Tổng thị phần tiền gửi (%)
3 Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và liên doanh 8,3 7,9 9,6
B/ Tổng thị phần tín dụng (%)
3 Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và liên doanh 10,4 7,0 13,1
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Qua bảng số liệu cho thấy thị phần của NHTM Nhà nước có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao đến tháng 12/2008 thị phần tiền gửi của các NHTM Nhà nước
là 65,% và thị phần tín dụng là 49,2% Thị phần tiền gửi và tín dụng của các NHTM cổ phần
có xu hướng tăng tính đến tháng 12/2008 thị phần của các loại hình ngân hàng này tương đương là 25,3%; 35,7% còn đối với NHTM nước ngoài và lien doanh thị phần tương đương 9,6%; 13,1%
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của các NHTM qua các năm khá cao và cơ cấu huy động cũng đa dạng hơn từ các hình thức huy động như tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi thanh toán đến việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Bảng 2.4 Tốc độ tăng tín dụng (CRED) và huy động vốn (DEPO)
Trang 7của hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 - 2008 Năm 2006 2007 2008
Tốc độ tăng huy động vốn (%) 40,21 30,68 27,14 Tốc độ tăng tín dụng (%) 53,70 25,44 22,03
Để có thêm minh chứng cụ thể trong điều hành hoạt động của Ngân hàng Thương mại Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét biểu lãi suất cơ bản mà NHNN đã đưa ra trong năm 2008:
Thời điểm áp dụng Lãi suất cơ bản
Tháng 01-2008 8,25%
Ngày 01-2-2008 8,75%
Tháng 03-2008 8,75%
Tháng 04-2008 8,75%
Từ 19- 05-2008 12%
Từ 11-06-2008 14%
Tháng 07-2008 14%
Tháng 08-2008 14%
Tháng 09-2008 14%
Ngày 20-10-2008 13%
Ngày 03-11-2008 12%
Ngày 05-12-2008
Ngày 22/12/2008
10%
8,5%
Qua bảng lãi suất trên cho ta thấy: năm 2008 là năm xảy ra nhiều biến động của ngành Ngân hàng ở Việt Nam, đặc biệt là công tác điều hành từ phía Ngân hàng Nhà nước
Do đó, việc nhận định và đưa ra định hướng phát triển cho Ngân hàng thương mại và một vấn đề hết sức quan trọng
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay
2.2.1 Nguyên nhân khách quan
Trang 87/15
Lĩnh vực cải cách chậm nhất trong nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chính là họat động của ngành ngân hàng Mặc dù, không hẳn đồng tình với nhận định này nhưng NHNN cũng thừa nhận rằng họat động dịch vụ ngân hàng của Việt Nam xuất phát điểm còn thấp về trình độ phát triển thị trường, tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngân hàng lạc hậu
và trình độ quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới
Một phần những yếu kém trên là do nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế không hợp lý, thứ hạng cạnh tranh thấp Môi trường pháp lý cho họat động kinh doanh nói chung của Việt Nam và nói riêng cho họat động NHTM chưa hòan thiện
Hơn nữa họat động của các NHTM ở Việt Nam nằm trong bối cảnh của một nền kinh
tế phát triển từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường với những cơ chế chính sách hoàn chỉnh và đồng bộ, chưa nhất quán và thích hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế; các thị trường phát triển còn ở dạng sơ khai như thị trường chứng khóan, thị trường lao động, thị trường bất động sản…
Cơ sở hạ tầng công nghệ và kỹ thuật còn nhiều hạn chế, đặc biệt là hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông qua gia đã có những ảnh hưởng khá nhiều đến hiệu quả họat động của hệ thống NHTM ở Việt Nam
Khuôn khổ pháp lý trong họat động của ngân hàng nói chung và họat động thanh tóan ngân hàng nói riêng chưa phù hợp và đồng bộ, nhiều qui định và chính sách trong lĩnh vực ngân hàng chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan: những yếu kém nảy sinh từ nội tại hệ thống NHTM Việt Nam
Xuất phát điểm hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam là thấp, thiếu chiến lược phát triển tổng thể dài hạn cùng với lộ trình và các giải pháp triển khai cụ thể, cùng với tốc
độ cải cách thể chế, công nghệ, quản lý điều hành hệ thống ngân hàng diễn ra chậm, theo kiểu lần mò, thiếu quyết sách mang tính đột phát Cho đến nay, định hướng phát triển NHNN
và NHTM chủ yếu mang tính đối phó Những chính sách biện pháp điều chỉnh của NHNN phổ biến mang tính tình thế và ngắn hạn trong khi môi trường tiền tệ, ngân hàng luôn bị tác động bởi quá trình cải cách hội nhập quốc tế
Hơn nữa sự yếu kém của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn xuất phát từ những yếu kém nảy sinh trong họat động của hệ thống NHTM như: tiềm lực về vốn còn yếu, công nghệ
và tổ chức ngân hàng lạc hậu, trình độ quản lý thấp… phần dưới đây sẽ đánh giá một cách đầy đủ những yếu kém hiện nay mà các NHTM ở Việt Nam đang phải đối mặt
2.2.2.1 Tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập:
Mô hình tổ chức hiện nay của hầu hết các NHTM Việt Nam được tổ chức theo kiểu truyền thống đó là căn cứ vào lọai hình nghiệp vụ để phân định chức năng các phòng ban Trong khi ở các ngân hàng tiên tiến, các họat động hướng tới khách hàng của họ lại được phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng - sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu cùa khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Trong điều kiện các NHTM họat động với qui mô nhỏ , tính chất đơn giản như hiện nay thì mô hình trên vẫn tỏ ra phù hợp với mức độ tập trung quyền lực cao Song khi ngân hàng phát triển với qui mô ngày càng lớn,
Trang 9với số luợng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng nhiều và phức tạp thì mô hình trên sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý
2.2.2.2 Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện đại
Các công cụ và cách thức quản lý điều hành cùa NHTM Việt Nam còn chưa theo kịp với yêu cầu của NHTM hiện đại Chiến lược kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện tập trung chủ yếu đầu tư theo chiều rộng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chính xác, dẫn tới sự thiếu minh bạch trong họat động tài chính ngân hàng Các NHTM Việt Nam chủ yếu vẫn coi tài sản thế chấp là cơ sở đảm bảo tiền cho vay , kể cả đối với tín dụng ngắn hạn các ngân hàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc xừ lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là vấn đề khó khăn d0o vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khó thu hồi được vốn vay Khả năng chi trả của các NHTM Việt Nam rất thấp
2.2.2.3 Vốn điều lệ, vốn tự có và tỷ lệ an tòan vốn còn thấp
Vốn điều lệ là một chỉ tiêu phản ánh tiều lực tài chính, đảm bảo an toàn trong họat động tài chính của NHTM và tạo lòng tin với công chúng Tuy nhiên, hiện nay vốn điều lệ của NHTM Việt Nam còn nhỏ bé, kể cả các NHTM nhà nước
Mặc dù trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại các ngân hàng thương mại nhà nước, Nhà nước đã “ bơm” vốn cho các ngân hàng này tới 4 lần, nhưng tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại nhà nước gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước và một ngân hàng chính sách xã hội tính đến năm 2005 mới đạt khỏang 22.394 tỷ đồng, làm hạn chế khả năng huy động và cung ứng tín dụng cho tòan nền kinh tế
Năng lực tài chính và qui mô hoạt động của các tổ chức tín dụng nhìn chung thấp so với ngân hàng trong khu vực và thông lệ quốc tế Do vốn tự có thấp, nên tỷ lệ an toàn vốn thấp, theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro tối thiểu là 8% Tuy nhiên hiện nay trong thực tế, nếu sử dụng tổng vốn chủ sở hữu / tổng tài sản có để phản ánh
tỷ lệ an toàn vốn thì hầu hết các ngân hàng Việt Nam, nhất là hệ thống các NHTM Nhà nước, chỉ đáp ứng được ở tỷ lệ khoảng 5%, thấp xa so với yêu cầu của chuẩn mực quốc tế là 8% Với vốn tự có thấp, vốn được phép huy động cũng sẽ thấp, do đó hạn chế hoạt động đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án lớn, nguy cơ rủi ro, nhất là đối với các tổ chức tín dụng loại nhỏ đang chiếm đa số về số lượng mức vốn tự có nhỏ còn làm hạn chế khà năng mở rộng cho vay bảo lãnh đối với các dự án lớn của các NHTM vì theo của Luật các tổ chức tín dụng (Điều 79) quy định tổng số dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được quá 15% vốn
tự có của tổ chức tín dụng Hơn nữa, tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu không những phản ánh năng lực vốn của các ngân hàng ở dạng tĩnh mà còn thể hiện năng lực này trong mối quan hệ với hiện quả của quá trình sử dụng vốn
2.2.2.4 Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị
trường
Trang 109/15
Hiện nay chất lượng và trình độ cán bộ được các NHTM Việt Nam đặc biệt quan tâm và coi đó là một yếu tố quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Trong thời gian qua do các ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động quá nhanh do vậy có nhu cầu cần tuyển dụng thêm cán bộ tăng rất mạnh tuy nhiên việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên mới vẫn theo truyền thống kiểu cũ, trình độ hạn chế về mọi mặt, làm cho chí phí hoạt động tăng và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam Nhiều cán bộ ngân hàng chưa hình dung được những dịch vụ ngân hàng tiên tiến trên thế giới được giới thiệu qua báo, đài Tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao là một minh chứng cho sự thành thạo nghiệp vụ tín dụng Số người hiểu biết tường tận luật quốc tế, các quy định chung của tổ chức thế giới không nhiều
2.2.2.5 Máy móc, công nghệ ngân hàng còn lạc hậu
Máy móc công nghệ là những yếu tố căn bản thuộc về “lực lượng sản xuất’ của hoạt động ngân hàng hiện nay còn yếu kém, các công nghệ chủ yếu vẫn còn dựa và kỹ năng truyền thống, các tiện ích ngân hàng còn nghèo nàn
Chẳng hạn: Năm 2005 các NHTM Việt Nam đã phát hành tương ứng được 2,5 triệu thẻ nội địa và 134,7 ngìn thẻ quốc tế nhưng mới chỉ có 1.738 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc Đến cuối năm 2006 số lượng thẻ đã là 4,2 triệu thẻ nội địa và 242,5 nghìn thẻ quốc tế Tuy nhiên, mỗi ngân hàng lại phát triển hệ thống ATM theo cách riêng của mình, mặc dù hiện nay đã có 4 liên minh thẻ gồm: Liên minh thẻ của ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknet Việt Nam); liên minh thẻ NHTM Cổ phần Đông Á, NHTM Cổ phần Sài Gòn công thương và Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL; Liên minh thẻ NHTM CP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) và ANZ Chính vì vậy chưa tạo sự liên kết mạnh giữa các ngân hàng trong huy được hiệu quả của hệ thống máy móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí … Đồng thời việc ứng dụng công nghệ của các ngân hàng ở các mức độ khác nhau, tạo chênh lệch khá cao về trình
độ công nghệ ở một số ngân hàng
2.2.2.6 Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam còn yếu
Việt Nam đang theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có hội nhập tài chính
- ngân hàng Hội nhập tài chính - ngân hàng lại đòi hỏi tự do hoá tài chính Tự do hoá tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động tài chính mang tính chất trung gian Điều này đồng nghĩa với việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa các loại hình hoạt động khác nhau
Theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ cam kết lộ trình 9 năm với 7 cột mốc tháo dỡ mọi hạn chế đối với các ngân hàng của Mỹ đuợc bãi bỏ hoàn toàn và lộ trình cam kết Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Cho đến tháng 12/2004, các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ (trừ ngân hàng và công ty thuê mua tài chính) chỉ được hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam dưới hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam, sau thời gian đó những hạn chế này đã bị bãi bỏ Sau 9 năm tức là từ tháng 12/2010, các ngân hàng
Mỹ được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn của Mỹ tại Việt Nam Trong thời gian 9 năm đó, các ngân hàng Mỹ có thể thành lập ngân hàng liên doanh với đối tác Việt Nam theo
tỷ lệ góp vốn 30-49% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh Theo đó các nhà cung cấp dịch