THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT
Trang 1THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT VỀ CÂU
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nói đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, người ta thường đòi hỏi trang thiết
bị hiện đại, phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, v.v… và thường lại quên điềuchính yếu nhất Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy, cùng sự chủđộng hưởng ứng của người học Từ ngàn xưa, Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái
gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết” Phải tự mình làm mới biết Gần đây hơn, các nhà tâm lí giáo dục đã đúc kết :
50 % Nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)
80 % Nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm.v.v)
90 % Nói và làm điều chúng ta suy nghĩ (đóng kịch, sắm
vai, thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường
để áp dụng điều đã học.v.v)
(Nguyễn Thị Oanh – Bắt đầu từ người thầy - Tuổi trẻ chủ nhật số 47/2003)
Những số liệu trên cho chúng ta thấy các phương tiện nghe nhìn có thể giúp chongười học nhớ được 50 % nội dung kiến thức Do đó, theo chúng tôi, vấn đề cốt lõi củađổi mới phương pháp dạy học là con người – nhân tố quan trọng của quá trình dạy học.Chính người học chủ động nói hay làm thì hiệu quả sẽ cao hơn nhiều Với ý nghĩa đó,
chúng tôi cố gắng thực hiện đề tài “Thiết kế hệ thống bài tập tiếng việt về câu theo quan điểm giao tiếp” với mong muốn thiết thực là góp phần định hướng cho bản thân và các
đồng nghiệp thêm một cách tiếp cận trong quá trình dạy học tiếng Việt
2 Mục đích nghiên cứu
Giúp giáo viên và học sinh nhận thức đúng về ý nghĩa và tác dụng của việc dạyhọc tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Đây được xem là quan điểm cơ bản nhất trongviệc tổ chức dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông Quan điểm giao tiếp chi phốitoàn bộ quá trình dạy học từ việc lựa chọn nội dung, phương pháp đến các hình thức dạyhọc giúp người học sử dụng được tiếng Việt trong hoạt động tư duy và hoạt động giaotiếp xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết của việc dạy học tiếng Việt theo quan điểmgiao tiếp
- Thiết kế hệ thống bài tập tiếng Việt về câu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 hiệnhành theo quan điểm giao tiếp
Chương 1 Cơ sở lí luận chung
Bài tập tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung định hướngcho việc dạy học tiếng Việt Thông qua việc thiết kế bài tập tiếng Việt và hướng dẫn họcsinh làm bài tập của giáo viên, quá trình làm bài tập của học sinh, giáo viên có thể kiểmtra kết quả hoạt động dạy của mình, học sinh củng cố được những tri thức tiếng Việt vừatiếp nhận và nắm vững các kĩ năng sử dụng tiếng Việt Ngày nay, khi khoa học và xã hội
đã xác định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp "trọng yếu nhất của xã hội loài người" thìviệc dạy học tiếng Việt càng gắn bó chặt chẽ với mục đích là hình thành và nâng cao khảnăng giao tiếp cho học sinh Điều này không chỉ còn là mục đích mà đã trở thành phươngthức để dạy học tiếng Việt Việc dạy học tiếng Việt phải quán triệt nguyên tắc hướng vàohoạt động giao tiếp; và do đó khi thiết kế bài tập tiếng Việt cũng cần phải có những địnhhướng cụ thể, nhất định dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp, theo phươngpháp giao tiếp
Theo quan điểm dạy học tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp, việc thiết kếbài tập tiếng Việt phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho họcsinh Dạy học tiếng Việt sử dụng phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổ chức dạyhọc quan trọng nhất Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vậndụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đếnđặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Thực hành với bài tập tiếngViệt là một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành kĩ năng sử dụngtiếng Việt và ứng dụng tiếng Việt trong đời sống của học sinh Bởi vậy, bài tập tiếng Việtkhi được thiết kế dưới ánh sáng của lý thuyết giao tiếp sẽ thiết thực, hiệu quả hơn đối vớigiáo viên, học sinh phổ thông cũng như việc dạy học tiếng Việt nói chung Khi thiết kếbài tập tiếng Việt, không nên lấy mục đích cung cấp và củng cố các tri thức ngôn ngữ học
về tiếng Việt làm cơ bản mà mục đích chính cần xác định là nhằm củng cố cho học sinhvốn tri thức nhất định về tiếng Việt và kĩ năng sử dụng vốn tri thức ấy trong hoạt độnggiao tiếp Trên cơ sở ấy, việc thiết kế bài tập tiếng Việt cần đảm bảo những định hướng
cụ thể dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp như sau:
Trước hết, bài tập tiếng Việt phải gắn với hoạt động giao tiếp của học sinh Cần
đặt bài tập tiếng Việt trong những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thể nghiệm,đồng thời sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức để xây dựng các ngônbản trong bài tập tiếng Việt Những hoạt động giao tiếp cụ thể có thể là những tình huốnggiao tiếp học sinh có thể trực tiếp tham gia, có thể là những tình huống giao tiếp ngoài xã
2
Trang 3hội mà học sinh đủ khả năng nắm bắt Lấy ví dụ trong dạy học từ ngữ tiếng Việt Từtiếng Việt trong hoạt động giao tiếp gồm 3 bình diện: ngữ âm và cấu tạo, nghĩa của từ, vàchức năng của từ Nghĩa của từ tiếng Việt được ghi trong từ điển là những nghĩa hết sứckhái quát và trừu tượng Thường thì nghĩa trong từ điển chỉ thể hiện được một trong bathành phần nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái mà rất ít khi đảm bảođược cùng lúc cả ba thành phần nghĩa này Dạy nghĩa của từ tiếng Việt cho học sinh,hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ không thể chỉ dạy bằng từ điển Hệ thống bài tậptiếng Việt đặt từ trong hoạt động giao tiếp nhằm làm cụ thể các nét nghĩa của từ Không thể
đặt ra một bài tập tiếng Việt với yêu cầu: Hãy xác định nghĩa của từ "ăn" chung chung, mà phải
là từ "ăn" trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, ví dụ:
ăn(1): Mẹ nói với các con: "Khi ăn cơm, các con không nên cười đùa!"
ăn(2): Người bán vé nói với mọi người ở cửa rạp chiếu phim:"Bộ phim này hiện đang ăn khách nhất đấy!"
ăn(3): Thông báo: 14 giờ, tàu Hạ Long cập cảng ăn than.
ăn(4): Bé Bi nói với bé Bống: "Con gái các cậu là chúa ăn gian".
Chỉ ở trong những tình huống cụ thể như vậy, từ tiếng Việt mới đơn nghĩa vànghĩa của từ mới có giá trị Nghĩa của từ có giá trị là nghĩa trong hoạt động, nghĩa gắnvới đặc điểm tâm lý của người phát ngôn ra từ, gắn với hiện thực khách quan và loại trừđược khả năng nhiều nghĩa của từ tiếng Việt
Thứ hai, khi thiết kế bài tập tiếng Việt cho học sinh phổ thông cần phải tạo được
tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh Khi thiết kếbài tập tiếng Việt nên đưa ra những tình huống hấp dẫn, được các quan tâm và ham thíchthảo luận, đưa ra những tình huống giao tiếp liên quan tới những vấn đề mang tính thời
sự của xã hội, của địa phương Có thể nói rằng: thiết kế một hệ thống bài tập tiếng Việttheo hướng giao tiếp là phải tạo ra được môi trường hợp lí và hấp dẫn để học sinh giaotiếp với nhau.Ví dụ, sách giáo khoa thí điểm Ngữ văn lớp 10, ban Khoa học tự nhiên, cómột bài tập tiếng Việt:
"Hãy phát hiện và phân tích những điểm yếu của một số lời quảng cáo sau:
a) Quảng cáo sữa tắm:
Da dẻ mình cũng khác nhau Da Hạnh nhăn như da người già Còn da Hà khô như da rắn Bọn mình dùng D.V trong 7 ngày… Mình thấy da mềm và không khô ráp như ngày trước nữa Da Hạnh mượt như da trẻ con Da Hà mềm như da em bé… Không tin à? Sờ thử coi!
b) Quảng cáo cà phê sữa:
Trang 4Bài hát thật hay nhưng cà phê sữa của V còn ngon hơn nhiều.
c) Quảng cáo mì ăn liền:
- Nếu có mì nào ngon hơn Kn, thì em sẽ thôi hát.
d) Quảng cáo kem đánh răng:
Kem đánh răng duy nhất, bảo vệ toàn diện, lâu dài nhất."
Đề tài quảng cáo là đề tài được xã hội quan tâm, ngôn ngữ và hình ảnh trongquảng cáo luôn tác động trực tiếp tới các giác quan của mọi người, đặc biệt là ở lứa tuổihọc sinh Tuy nhiên, khi thiết kế bài tập tiếng Việt có liên quan tới những đề tài nhạycảm, ngôn ngữ chưa được trau chuốt, chọn lọc, người thiết kế cần có định hướng rõ chohọc sinh biết nên góp nhặt và học hỏi những gì và nghi ngờ, chối bỏ những gì khi tiếp cận
và sử dụng những ngữ liệu có trong giao tiếp xã hội đó
Thứ ba, trong hệ thống bài tập tiếng Việt, cần phải chỉ rõ cho học sinh hướng giao
tiếp khi tiến hành áp dụng các tri thức tiếng Việt sẽ thực hành nhằm định hình trước chocác em tác dụng của việc thực hiện các bài tập tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp củabản thân Điều này có nghĩa là: với một bài tập tiếng Việt cụ thể, sau khi thực hành, các
em sẽ rút ra hoặc củng cố một tri thức tiếng Việt hoặc một kĩ năng sử dụng tiếng Việt cụthể Tri thức, kĩ năng ấy được các em sử dụng để nói và viết Bài tập tiếng Việt được thiết
kế dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp sẽ phải giúp các em định hướng được:
nói (viết) với ai? về cái gì? trong hoàn cảnh nào?
Ví dụ: thiết kế hệ thống bài tập tiếng Việt cho phần dạy học về câu đặc biệt tiếngViệt nhằm giúp cho học sinh biết cách sử dụng câu đặc biệt trong cuộc sống Các ngữ
liệu được sử dụng khi thiết kế bài tập tiếng Việt nên là các câu đặc biệt như: "Vâng ạ.",
"Dạ."… khi nói với người lớn tuổi hơn, các câu nói được hiểu là luôn kèm theo kiểu giao
tiếp có văn hóa, trong những tình huống đặc biệt (các thông báo ở sân bay, nhà ga, vănphòng, biển quảng cáo…) Các ngữ liệu phải thực tế, đảm bảo tính nghiêm túc, có vănhóa, học sinh có thể áp dụng ngay vào trong thực tiễn giao tiếp của bản thân một cáchhiệu quả
Cuối cùng, bài tập tiếng Việt cần chỉ ra những nhiệm vụ giao tiếp cụ thể để định
hướng cho học sinh tạo lập những lời nói cụ thể Khi thiết kế bài tập tiếng Việt cần quantâm tới các mối quan hệ xung quanh học sinh, chỉ rõ cho học sinh nhiệm vụ và cách giaotiếp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể Ví dụ: Bài tập về việctạo lập văn bản là những đoạn của một bức thư Viết cho người lớn tuổi hơn, văn bản ấyđòi hỏi cần phải đảm bảo những bước nào, những nội dung thông tin gì Viết cho bạn bè,văn bản ấy yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ đó ở mức độ nào Mặt khác, mục đích họctiếng Việt của học sinh rất cụ thể, bởi vậy, việc giúp cho học sinh tạo lập những ngôn bản
4
Trang 5cụ thể phục vụ cho mục đích học tiếng Việt của học sinh là rất cần thiết Thiết kế bài tậptiếng Việt cần phải biết quan tâm đến điều này, bởi bản chất của tiếng Việt chỉ được thểhiện đầy đủ trong hoạt động giao tiếp, tức là trong ngôn bản với đầy đủ các mối quan hệvới các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Bài tập tiếng Việt phải phục vụ choviệc hiểu các ngôn bản thuộc loại chức năng ngôn ngữ nhất định mà học sinh quan tâm.Đối với học sinh tiểu học, nội dung làm văn quan trọng là miêu tả, kể chuyện thì bài tậptiếng Việt nên đưa các ngôn bản thuộc phong cách nghệ thuật làm ngữ liệu Đối với họcsinh ở bậc học cao hơn, việc sử dụng các ngôn bản thuộc phong cách nghị luận, phongcách khoa học - kĩ thuật làm ngữ liệu sẽ chiếm ưu thế.
Tóm lại, khi thiết kế bài tập tiếng Việt theo hướng giao tiếp, cần chú trọng cáchoạt động tạo lập, lĩnh hội, sửa chữa, biến đổi các sản phẩm của hoạt động giao tiếp…với các thao tác cụ thể như: tìm từ, phát hiện từ sai, so sánh, thay thế, chữa lỗi từ…(đốivới dạy học từ ngữ), đặt câu, mở rộng câu, rút gọn câu, tách câu, ghép câu, biến đổi câu,dựng đoạn…(đối với dạy học ngữ pháp)… Cần luôn luôn ý thức rằng các hoạt động vàthao tác của học sinh khi làm bài tập tiếng Việt đều luôn hướng tới việc tạo lập các sảnphẩm ngôn ngữ trong giao tiếp, lĩnh hội được các sản phẩm đó và cả đánh giá chúng nữa.Thiết kế được hệ thống bài tập tiếng Việt đảm bảo định hướng giao tiếp góp phần gâydựng niềm hứng thú học tập tiếng Việt cho học sinh, nâng cao hiệu quả của việc dạy họctiếng Việt trong nhà trường, đồng thời "gạn đục khơi trong" ngôn ngữ giao tiếp thôngthường để thứ ngôn ngữ ấy khi đến với học sinh trong sáng như bản chất vốn có của tiếngViệt
Chương 2 Thiết kế hệ thống bài tập các bài dạy về câu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 hiện hành
Ở trường phổ thông, Ngữ pháp tiếng Việt được dạy ngay từ các lớp dưới của bậctiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông So với các lớp dưới, chương trình ngữpháp tiếng Việt ở bậc phổ thông tập trung vào phần cú pháp, nghĩa là phần ngữ pháp ởbậc câu và ở lĩnh vực trên câu (văn bản) Trong phạm vi ngữ pháp ở bậc câu, chươngtrình ở trung học phổ thông (THPT) quan tâm đến nhiều bình diện khác nhau của câu
- Về bình diện cấu trúc: các đơn vị bài học trong chương trình Ngữ pháp tiếngViệt 11 ở bậc THPT không đi vào cấu trúc ngữ pháp của câu mà hướng vào thực hành
luyện tập: thực hành một số kiểu câu trong văn bản, thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu (Ngữ văn 11 cơ bản), luyện tập thay đổi trật tự các thành phần của cụm từ và các thành phần của câu , luyện tập về tách câu (Ngữ văn 11 – Nâng cao).
- Về bình diện ngữ nghĩa: bên cạnh bài học lí thuyết về nghĩa của câu (Ngữ văn
11 cơ bản và nâng cao), chương trình ngữ pháp tiếng Việt ở bậcTHPT hướng vào thực
hành luyện tập về nghĩa của câu, luyện tập về câu nghi vấn tu từ (Ngữ văn 11 – Nâng cao), thực hành một số biện pháp tu từ cú pháp, thực hành về hàm ý (Ngữ văn 12)
Trang 6Điểm qua các đơn vị bài học về ngữ pháp ở bậc câu trong chương trình THPTchúng tôi nhận thấy rằng các đơn vị bài học đều hướng vào việc khảo sát và trình bày câutrong hoạt động hành chức của nó Các đơn vị bài học về ngữ pháp tiếng Việt ở bậc câukhông chỉ dừng lại ở việc nhận thức mô hình cấu tạo của câu như một cấu trúc tồn tại độclập, tách rời khỏi mối liên hệ với hoàn cảnh giao tiếp, với những câu khác trong ngônbản, mà còn khảo sát câu trong mối liên hệ với hoạt động hành chức Việc dạy và học câutrong mối quan hệ hành chức của nó chính là phục vụ cho các mục tiêu của tiếng Việt:không chỉ cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức về các bình diện của câu, mà còn rènluyện các kĩ năng tạo câu trong các hoạt động nói và viết, giúp người học có thể tạo lậpcâu vừa đúng với cấu tạo ngữ pháp bên trong, vừa thích hợp với việc thể hiện các nộidung ý nghĩa (nhận thức, tư tưởng, tình cảm) định biểu lộ, lại vừa phù hợp với hoàn cảnhgiáo tiếp và các câu khác trong ngôn bản.
Mặt khác, theo quan điểm tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn,việc dạy và học tiếng Việt, trong đó có phần ngữ pháp tiếng Việt, còn chú ý đến mốiquan hệ giữa ngôn ngữ và văn học Vì thế, việc dạy và học tiếng Việt còn nhằm mục đíchbồi dưỡng năng lực phân tích, thẩm định các giá trị văn chương, để thấy được cái đẹp, cáihay của nó, đồng thời để lĩnh hội được hết các giá trị tư tưởng, tình cảm, lí tưởng thẩm mĩcủa các tác giả và các tác phẩm nghệ thuật Đó là phần ngữ nghĩa của câu và của văn bảnnghệ thuật, trong đó có nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn
Việc gắn với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương còn được thể hiện ở
phần chương trình trình bày về sự lựa chọn trật tự sắp xếp các thành phần câu: thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu, luyện tập thay đổi trật tự các thành phần của cụm từ và các thành phần của câu, thực hành một số kiểu câu trong văn bản,…Chính những sự lựa
chọn trật tự hoặc các cách thức sử dụng ấy nhằm tạo nên các sắc thái nghệ thuật khácnhau, tạo nên các giá trị biểu cảm hoặc tạo hình của ngôn ngữ nghệ thuật
Dưới ánh sáng của lí thuyết về hoạt động giao tiếp trong dạy và học tiếng Việt,phần ngữ pháp tiếng Việt ở bậc câu trong chương trình THPT đều hướng về những vấn
đề của câu trong hoạt động giao tiếp Chính trong hoạt động giao tiếp, câu được hiện thựchóa trong các phát ngôn Chính trong hoạt động giao tiếp, câu mới có sự biến hóa đadạng về thành phần cấu tạo, về trật tự sắp xếp Về mặt ngữ nghĩa, chính trong hoạt độnggiao tiếp, gắn chặt với hoàn cảnh giao tiếp, câu mới nảy sinh các ý nghĩa hàm ẩn sâu sắcbên cạnh nghĩa tường minh Rõ ràng là với tư cách là một môn học về phương diện giaotiếp và nhằm vào mục tiêu nâng cao trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ, phần ngữ pháptiếng Việt ở bậc câu trong chương trình Ngữ văn THPT hướng vào rèn luyện cho họcsinh kĩ năng thực hành về câu trong hoàn cảnh giao tiếp, về ngữ nghĩa của câu…
2.1 Hệ thống bài tập về câu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 hiện hành – đôi điều cần trao đổi
6
Trang 7Điểm qua các đơn vị bài học về câu trong chương trình Ngữ văn THPT, chúng tôinhận thấy rằng, hầu hết các đơn vị bài học tiếng Việt đều được trình bày theo hướng quynạp Kiến thức mới được hình thành thông qua hoạt động tự tìm hiểu theo câu hỏi hoặcbài tập thực hành Qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt trong sách giáo khoa, học sinh chủ động
và tích cực tìm đến kiến thức, luyện tập kĩ năng Việc củng cố kiến thức, nâng cao và mởrộng kiến thức, kĩ năng cũng thông qua luyện tập, thực hành Theo phương châm thựchành là phương châm chủ đạo Qua thực hành mà hình thành kiến thức và kĩ năng, rồicũng qua thực hành mà củng cố, nâng cao, mở rộng kiến thức và kĩ năng Cho nên tỉ lệhoạt động thực hành trong sách là rất cao Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc cơ bảntrong dạy học tiếng Việt là nguyên tắc thực hành giao tiếp, và phục vụ tốt cho mục tiêu
cơ bản của dạy học tiếng Việt là nâng cao năng lực thực hành trong giao tiếp của họcsinh
Về hệ thống bài tập tiếng Việt trong sách giáo khoa hiện hành, chúng tôi nhận thấyrằng mỗi bài tập nhằm hướng học sinh tới việc tìm hiểu một đơn vị kiến thức hoặc rènluyện một loại kĩ năng nhất định Các bài tập trong sách không chỉ được thiết kế nhằmmục đích thực hành mà bao gồm rất nhiều loại như: bài tập làm quen, bài tập nhận biết,phát hiện, củng cố, vận dụng … và được sắp xếp theo trình tự phù hợp với tiến trình củatiết học Khi thực hiện hệ thống bài tập này, giáo viên sẽ thực hiện tốt hơn vai trò hướngdẫn, đôn đốc, động viên, giám sát… tức là chỉ đạo mọi hoạt động của lớp học
Bên cạnh những ưu điểm trên, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống bài tập trongsách giáo khoa về câu trong chương trình hiện hành chỉ mới dừng lại ở mức vận dụngnhững kiến thức để phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế các yếu tố hay hoànchỉnh văn bản, sửa chữa lỗi… mà chưa có những bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiếnthức để tạo lập một văn bản mới (đoạn văn) trong đó có sử dụng các kiến thức vừa học
Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở vận dụng quan điểm dạy học tiếng Việttheo định hướng giao tiếp, chúng tôi xin đi vào thiết kế hệ thống bài tập về câu theo quanđiểm giao tiếp trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 – ban cơ bản, cụ thể gồm những đơn vịbài học như sau:
- Ngữ cảnh
- Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu
- Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
- Nghĩa của câu
2.2 Thiết kế hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếp
Trang 8Theo quan điểm của lý thuyết hoạt động giao tiếp, hệ thống bài tập tiếng Việtđược xác định là phương tiện thực hành nhằm tạo dựng và phát triển năng lực sử dụngtiếng Việt của học sinh Học sinh phổ thông ở các lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhauthì yêu cầu về năng lực sử dụng ngôn ngữ cũng khác nhau, cách thể hiện các kĩ năng sửdụng ngôn ngữ cũng rất khác nhau Vì vậy, cần xuất phát từ hệ thống những kĩ năng sửdụng tiếng Việt để thiết kế hệ thống bài tập tiếng Việt Điều đó cũng có nghĩa là xuấtphát từ bản chất của một kĩ năng cụ thể để thiết kế một hệ thống bài tập tiếng Việt tươngứng.
Hiện nay, hầu hết hệ thống bài tập tiếng Việt ở các sách giáo khoa Ngữ Vănchương trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lý thuyết về tiếng Việt mà họcsinh vừa học Hệ thống bài tập tiếng Việt này nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưathể hiện được rõ nét các nguyên tắc giáo dục học trong dạy học thực hành tiếng Việt Vìthế, khi thiết kế bài tập tiếng Việt, thiết nghĩ cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Xác định được mục đích: xây dựng hệ thống bài tập tiếng Việt để làm gì?
- Đặt bài tập tiếng Việt trong những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thểnghiệm, đồng thời sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức để xây dựngcác ngôn bản trong bài tập tiếng Việt
- Hệ thống bài tập được thiết kế phải tạo được tình huống kích thích nhu cầu giaotiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh
- Với một bài tập tiếng Việt cụ thể, sau khi thực hành, các em sẽ rút ra hoặc củng
cố một tri thức tiếng Việt hoặc một kĩ năng sử dụng tiếng Việt cụ thể
- Bài tập tiếng Việt cần quan tâm tới các mối quan hệ xung quanh học sinh, chỉ rõcho học sinh nhiệm vụ và cách giao tiếp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh, tìnhhuống cụ thể, giúp cho học sinh tạo lập những ngôn bản cụ thể phục vụ cho mục đích họctiếng Việt
2.2.2 Hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
Trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành, phần ngữ pháp tiếng Việt ở bậccâu, ngoài những câu hỏi hướng vào các vấn đề lí thuyết, hệ thống bài tập thực hành ngữpháp đều hướng vào các loại sau đây:
8
Hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
Bài tập nhận diện, phân tích
Bài tập chuyển đổi
Bài tập tạo lập
Bài tập sửa chữa
Trang 9Sơ đồ hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
2.2.2.1 Bài tập nhận diện, phân tích
Đây là một bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận diệnmột hiện tượng ngữ pháp đã có trong ngữ liệu, như: một yếu tố ngữ pháp, một kết cấungữ pháp, một thành phần ngữ pháp…
Mục đích: Loại bài tập này có mục đích làm sáng tỏ và cũng cố, phát triển một
khái niệm ngữ pháp đã được tiếp thu từ bài học lí thuyết Có thể, trong ngữ liệu cho sẵncủa bài tập, khái niệm được biểu hiện trong nhiều dạng, nhiều vẻ Học sinh (HS) cần phảidựa vào những đặc trưng cơ bản của khái niệm, hoặc dựa vào những câu hỏi định hướngcủa giáo viên (GV) để nhận diện, phân tích khái niệm
Cấu tạo: Loại bài tập này thường gồm hai phần: phần trình bày yêu cầu, phần dẫn
ngữ liệu Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, phân tích, cho biết, tìm hiểu, phân loại, thống kê… Đồng thời có thể kết hợp thêm các yêu cầu khác
như giải thích, so sánh, lí giải… các hiện tượng ngữ pháp
Cách tiến hành: Với loại bài tập này, khi thực hành, giáo viên (GV) cần hướng
dẫn cho học sinh (HS) thực hiện các bước sau:
– Căn cứ vào đặc trưng của khái niệm ngữ pháp
– Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng cần nhận diện, phân tích
– Phân tích đối tượng tìm được để xác định đặc điểm của nó, xem nó có đáp ứng đặctrưng của khái nịêm lí thuyết không Từ đó củng cố thêm khái niệm
Ví dụ: Để hình thành khái niệm Ngữ cảnh trong bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11 – ban
cơ bản), GV có thể thực hiện bằng cách tổ chức cho HS đọc, phân tích ngữ liệu trongnhững tình huống cụ thể, từ đó rút ra khái niệm bằng hệ thống câu hỏi như sách giáo
khoa đã thiết kế.[3, 102]
Ngữ liệu 1: Nếu đột nhiên nghe được câu “Giờ muộn thế này mà họ chưa ra
nhỉ?” (ngữ liệu 1), chúng ta có thể hiểu như thế nào về những nội dung sau đây trong câu
hỏi đó:
Trang 10– Câu hỏi trên là của ai nói với ai? Đó là những người như thế nào và có quan hệ với nhau ra sao?
– Câu đó được nói ở đâu, lúc nào?
– Họ trong câu nói đó là ai?
Nếu đặt câu nói trên vào bối cảnh phát sinh ra nó mà người đọc biết qua lời kể của
tác giả trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, chúng ta có thể trả lời được hay không? Và trả lời
như thế nào?
Ngữ liệu 2: “Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa Tối hết cả, con
đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngỏ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa Tất cả phố xá trong huyện bây giờ đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí Thêm được một gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe.
Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói:
- Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?”
(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
- Gọi HS đọc ngữ liệu 2 [3, 102], phân tích, lí giải, hình thành khái niệm
- GV diễn giảng, chốt lại vấn đề: Qua việc tìm hiểu hai ngữ liệu trên, chúng ta thấyrằng muốn lĩnh hội đầy đủ, chính xác nội dung thì cần phải đặt nó vào một ngữ cảnh
Vậy, ngữ cảnh là gì?
GV chuyển dẫn, đặt câu hỏi để chuyển sang tìm hiểu các nhân tố của ngữ cảnh:
Căn cứ vào khái niệm: “Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ, ở đó người nói (người viết) sản sinh ra lời nói thích ứng, còn người nghe (người đọc) căn cứ vào đó để lĩnh hội được đúng lời nói”, anh (chị) hãy cho biết ngữ cảnh được hình thành bởi các nhân tố nào? Phân tích ngữ liệu 2 (nêu trên) để làm rõ?
- HS phân tích, lí giải
2.2.2.2 Bài tập chuyển đổi
Đây là loại bài tập cũng cho trước một ngữ liệu có sẵn nhưng yêu cầu chuyển đổingữ liệu về một phương diện nào đó: về thành phần cấu tạo, về trật tự sắp xếp, về kiểucấu tạo, …
10
Trang 11Mục đích: Loại bài tập này vừa có tác dụng củng cố khái niệm và quy tắc ngữ
pháp, vừa góp phần rèn luyện năng lực tạo lập các sản phẩm mới
Cấu tạo: Loại bài tập này thường gồm hai phần: phần trình bày yêu cầu, phần dẫn
ngữ liệu Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: hãy chuyển đổi, sắp xếp cáccâu sau đây theo một trình tự hợp lí (theo đề tài, hoặc theo một trình tự nào đấy mà đềbài yêu cầu)
Cách tiến hành: Thực hiện loại bài tập này, cần chú ý đến các bước:
– Nắm vững yêu cầu của đề bài và hiểu rõ ngữ liệu đã cho (cần tiến hành phân tíchngữ liệu và yêu cầu)
– Thực hiện đúng các yêu cầu chuyển đổi của đề tài cùng các điều kiện giới hạn(nếu có)
– Kiểm tra lại sản phẩm mới theo yêu cầu luyện tâp và theo các chuẩn mực ngônngữ, đồng thời so sánh ngữ liệu đã cho với sản phẩm mới để thấy sự giống nhau,khác nhau và giá trị của chúng
Ví dụ: Bài tập 1[3.194]
Đọc đoạn văn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới
“Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì Không, hắn chưa từng được một người đàn bà nào yêu cả, vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù?”
(Nam Cao, Chí Phèo)
a Xác định câu bị động trong đoạn trích
b Chuyển câu bị động sang câu chủ động có nghĩa cơ bản tương đương
c Thay câu chủ động vào vị trí câu bị động và nhận xét về sự liên kết ý ở đoạnvăn đã có sự thay thế đó
Như vậy, với những yêu cầu nêu trên, chúng tôi nhận thấy bên cạnh thao tác thựchành nhận diện, phân tích (a), bài tập trên còn thực hiện thao tác chuyển đổi (b), chuyểnđổi và so sánh (c) giúp học sinh củng cố và nâng cao kiến thức về một số kiểu câu thườngdùng trong tiếng Việt: cấu tạo, tác dụng liên kết ý trong văn bản của chúng
2.2.2.3 Bài tập tạo lập (sáng tạo)
Trang 12Bài tập tạo lập là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo nên (nói hoặc viết) sảnphẩm ngôn ngữ theo một yêu cầu nào đó Việc thực hiện bài tập này gắn với những hoạtđộng nói và viết hàng ngày của học sinh nhưng vẫn ở dạng luyện tập theo yêu cầu.
Trong phạm vi ngữ pháp ở bậc THPT, có thể luyện tập tạo lập câu hoặc tạo lậpvăn bản Các bài tập tạo lập có thể có một vài mức độ và yêu cầu khác nhau, như:
a) Tạo lập theo mẫu
Bài tập yêu cầu HS tạo lập sản phẩm theo mẫu Mẫu là một ngữ liệu cho trướchoặc một mô hình khái quát Khi thực hiện loại bài tập này cần phân tích để nắm vững vàhiểu sâu mẫu đã cho, vận dụng kiến thức lí luận và vật liệu ngôn ngữ để tạo ra sản phẩmtheo mẫu Sau đó cần kiểm tra sản phẩm xem có tương xứng với mẫu không
Ví dụ: Bài tập 3 [3, 194] Viết một đoạn văn về nhà văn Nam Cao, trong đó códùng câu bị động Giải thích tác dụng của câu bị động đó
Với bài tập này, HS sẽ dựa vào các mẫu đã luyện tập ở bài tập 1, 2, tạo lập mộtđoạn văn về nhà văn Nam Cao, trong đó có sử dụng câu bị động và giải thích tác dụngcủa câu bị động đó trong đoạn văn Để thực hiện được bài tập này, HS phải nắm vữngkiến thức về câu bị động: cấu tạo và tác dụng liên kết ý của chúng trong văn bản; đồngthời vận dụng kiến thức lí luận và vật liệu ngôn ngữ để tạo ra sản phẩm theo mẫu đã phântích ở bài tập 1 và 2
b) Tạo lập sản phẩm theo những yêu cầu nhất định
Loại bài tập này cho sẵn một phần của sản phẩm và yêu cầu HS tạo lập tiếp theo
yêu cầu về kết cấu, về quan hệ ý nghĩa, về hướng triển khai, về liên kết… Nó tương tựloại bài tập điền từ vào chỗ trống, hoặc bài tập viết câu văn mà học sinh đã làm ở lớpdưới Thực hiện loại bài tập này, GV cần hướng dẫn HS phân tích để nắm vững phần sảnphẩm đã có và yêu cầu của bài tập, ròi tiến hành tạo lập tiếp, sao cho thỏa mãn yêu cầutrên và tạo ra sản phẩm thích hợp về quan hệ ý nghãi, về liên kết ngữ pháp
Ví dụ: Bài tập 4 [4,20] Đặt câu với mỗi từ ngữ tình thái sau đây: chưa biết chừng,
là cùng, ít ra, nghe nói, chả lẽ, hóa ra, sự thật là, cơ mà, đặt biệt là, đấy mà.
Để thực hiện bài tập này, GV có thể tổ chức cho HS làm việc theo nhóm nhỏ, mỗinhóm sẽ thực hiện bài tập với một nhóm từ Chẳng hạn, GV có thể chia lớp thành 5 nhómnhỏ, mỗi nhóm sẽ đạt hai câu với hai từ đã cho, dựa trên các mẫu đã thực hiện từ các bàitập 1, 2, 3 Với hình thức học tập hợp tác trong nhóm nhỏ, HS có điều kiện tương tác,chia sẻ kiến thức, kĩ năng, đáp ứng định hướng dạy học tiếng Việt theo quan điểm giaotiếp
c) Tạo lập sản phẩm chỉ dựa vào những yêu cầu nhất định
12
Trang 13Loại bài tập này không có mẫu, cũng không có bộ phận nào cho trước, mà chỉ cónhững yêu cầu về một số phương diện nào đó của sản phẩm: về quan hệ ngữ pháp, vềphương tiện ngữ pháp, về quan hệ ý nghĩa, về hoàn cảnh sử dụng… Có thể có nhiều mức
độ yêu cầu: từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Cho nên việc tạo lập sản phẩm phảiluôn luôn chú ý để đáp ứng được các yêu cầu này Viêc đáp ứng các yêu cầu cũng là quátrình rèn luyện các năng lực ngôn ngữ về phương diện đó GV cần hướng dẫn HS hiểu vànằm vững các yêu cầu Loại bài tập này trong sách giáo khoa tiếng Việt hiện nay chưađược nhiều, nhưng là loại bài tập bổ ích để rèn luyện kĩ năng sử dụng
Ví dụ: Viết một đoạn văn với đề tài tự chọn, trong đó có sử dụng một số kiểu câu trong văn bản (câu bị động, câu có khởi ngữ, câu có trạng ngữ chỉ tình huống) Phân tích tác dụng liên kết ý của chúng trong đoạn văn
Để thực hiện bài tập này, HS phải hiểu và nắm vững các yêu cầu về kiến thức: cáckiểu câu trong văn bản, và có kĩ năng vận dụng kiến thức vào luyện tập tạo lập văn bản
Vì thế, đối với những bài tập như dạng này, GV có thể kiểm tra kiến thức, kĩ năng củahọc sinh Bài tập này có thể thực hiện ở trên lớp dưới hình thức học tập hợp tác theonhóm nhỏ, hoặc HS sẽ làm ở nhà (học tập cá nhân) Dù thực hiện ở hình thức học tập nàothì theo chúng tôi những dạng bài tập như thế này sẽ phát huy được tính tích cực củangười học, đặt người học vào những tình huống giao tiếp có thể xảy ra Đây cũng là mộttrong những định hướng dạy học hiện nay: dạy học tiếng Việt theo định hướng của hoạtđộng giao tiếp
Tóm lại, khi tiến hành loại bài tập tạo lập sản phẩm, GV cần hướng dẫn HS thựchiện tốt các bước sau đây:
– Phân tích yêu cầu của bài tập và phân tích mẫu hoặc phân tích ngữ liệu cho sẵn đểnắm vững các yêu cầu này cùng đặc điểm của mẫu hay ngữ liệu đã cho
– Tiến hành các thao tác tạo lập sản phẩm sao cho đáp ứng đúng và đủ các yêu cầucủa bài tập
– Kiểm tra lại sản phẩm theo các yêu cầu và đối chiếu với mẫu (nếu có): sửa chữa,điều chỉnh sản phẩm nếu có sai sót
Như trên đã nêu, do loại bài tập này trong sách giáo khoa tiếng Việt hiện nay chưađược nhiều, vì vậy khi dạy học, GV căn cứ vào nội dung của từng phần trong chươngtrình mà soạn thảo thêm Trong việc sọan thảo cần lưu ý cả mục đích củng cố lí thuyếtngữ pháp, cả mục đích rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ, đồng thời với trình độ học sinh, đảmbảo tính khoa học, tính tư tưởng và tính sư phạm Trong khi soạn thảo bài tập taọ lập cầnxác định rõ các yêu cầu của bài tập, đồng thời nên hướng các bài tập vào các tình huốnggiao tiếp có thể xảy ra
Trang 142.2.2.4 Bài tập sửa chữa
Sửa chữa những lỗi sai là mặt thứ hai của hoạt động thực hành Bởi lẽ trong hoạtđộng này đã thực hiện đồng thời mục đích củng cố những kiến thức về lí thuyết và mụcđích rèn luyện các kĩ năng và trình độ sử dụng
Sửa chữa lỗi ngữ pháp có thể tiến hành trong nhiều hoàn cảnh dạy học: trong việcchấm trả bài làm văn cho HS, trong việc nhận xét và uốn nắn lời phát biểu của học sinh,trong việc tiến hành giải các bài tập thuộc loại chuyển đổi hoặc tạo lập ở trên
Khi tiến hành sửa lỗi ngữ pháp ho HS, GV cần lưu ý đến một số điều sau đây:– Dựa vào lí luận ngữ pháp mà phân tích lỗi (chú ý đặt câu trong văn bản của nó,trong hoàn cảnh giao tiếp của nó)
– Phân biệt lỗi ngữ pháp về câu với những trường hợp câu rút gọn, câu đặc biệt, câuđược tách ra từ thành phần của những câu khác nhằm một mục đích nào đó
– Phân tích nguyên nhân mắc lỗi (đặt trong mối quan hệ nhiều mặt: quan hệ với cáccâu trong văn bản, quan hệ với quá trình tư duy khi sản sinh câu, …)
– Sửa chữa lỗi ngữ pháp của câu trong hoàn cảnh giao tiếp
Ví dụ: Sau khi cho HS thực hành bài tập 3 [3, 194] hay bài tập 4 [4,20], căn cứvào thực tế bài làm của HS, GV tiến hành phân tích và định hướng cho HS chữa lỗi ngữpháp trong các bài viết của mình
2.2.3 Khảo sát hệ thống bài tập tiếng Việt về câu trong sách Ngữ văn 11 hiện hành
Khảo sát hệ thống bài tập tiếng việt về câu trong chương trình Ngữ văn 11 hiện hành (ban Cơ bản), trong số 5 đơn vị bài học , chúng tôi thu được kết quả như sau:
Hệ thống bài tập
Nhận diện,phân tích
chuyểnđổi
chữa
Trang 15Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta có thể nhận thấy, trong hệ thống bài tậptiếng Việt về câu trong SGK Ngữ văn hiện hành, loại bài tập phân tích nhận diện chiếm
số lượng rất lớn: 65,51%, loại bài tập tạo lập chiếm 24,13%, và loại bài tập chuyển đổi
chiếm số lượng rất khiêm tốn: 10.34% Mặt khác, loại bài tập chuyển đổi không thiết kếthành một bài tập độc lập mà thường ghép chung với bài tập nhận diện, phân tích Sựphân bố các loại bài tập theo tỉ lệ như thế, theo chúng tôi là đã phù hợp với đối tượng HShọc ban cơ bản Hơn nữa, các bài tập tiếng Việt về câu trong SGK Ngữ văn 11 hiện hành,theo chúng tôi cũng đã thể hiện quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn Điều này thểhiện ở chỗ, các ngữ liệu trong hệ thống bài tập tiếng Việt về câu đều được lấy từ các vănbản mà các em đã học từ phần đọc văn
Ví dụ để hình thành khái niệm ngữ cảnh, SGK đã định hướng bằng cách yêu cầuGV-HS phải đọc và phân tích hai ngữ liệu trong sự so sánh, trong đó, ngữ liệu 2 là một
đoạn văn trong văn bản Hai đứa trẻ , học sinh được học ngay trước bài Ngữ cảnh Tương
tự như thế, trong số 5 bài tập trong mục Luyện tập của bài học đã có 4 bài tập được xây
dựng trên cơ sở những ngữ liệu mà các em đã được học trong phần đọc văn trước đó
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu; Tự tình – Hồ Xuân Hương, Thương
vợ và Vịnh khoa thi hương – Trần Tế Xương); bài tập thứ 5 là bài tập tính huống
Tuy nhiên, có một thực tế mà từ những tiết dạy học của bản thân và qua những tiết
dự giờ đồng nghiệp mà do yêu cầu công tác, bản thân chúng tôi có dịp dự giờ ở một sốtrường THPT, trong số những bài tập nhận diện, phân tích mà SGK đã thiết kế, chúng tôinhận thấy rằng một số không ít GV chưa hiểu được ý đồ của các tác giả viết SGK, vì thếkhi phân tích ngữ liệu thường tỏ ra lúng túng (mặc dù SGK đã phân tích rất chi tiết, GSVhướng dẫn cụ thể)
Ví dụ hệ thống bài tập trong mục tìm hiểu bài, trong mục luyện tập của bài Ngữcảnh Một số GV đã tỏ ra lúng túng khi tổ chức cho HS đọc, phân tích ngữ liệu 2 – một
đoạn văn trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) Hệ thống câu hỏi định hướng trong SGK rất rõ,
phần lí giải cũng khá rõ nhưng nếu GV chỉ đơn thuần phân tích ngữ liệu 2 (hầu hết đềuthực hiện theo hướng này), mà không có sự so sánh đối chiếu với ngữ liệu 1, thì ngữ liệu
1 sẽ bị tách ra khỏi hệ thống bài tập (mà điều này theo chúng tôi là chưa hiểu được tưtưởng của các soan giả SGK!)
Một số GV cảm thấy lúng túng trong khi khai thác ngữ liệu đó đã chọn giải pháp
là thay đoạn văn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) trong SGK bằng một đoạn văn trong Tắt đèn
(Ngô Tất Tố) Đoạn văn:
“Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con bé xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn:
- Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh dạy được một lúc, ông tha cho!
- Tha này, tha này!