1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế hệ thống bài tập tiếng việt 8 nhằm phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ của học sinh

108 455 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 748,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp GV phải đưa HS của mình vào các tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các bài tập thực hành... Những nghiên cứu về quan điểm giao t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NHƯ QUỲNH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NHƯ QUỲNH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: LL và PP dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS LÊ A

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

PHAN NHƯ QUỲNH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS Lê A, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hướng nghiên cứu Nhờ

đó tôi mới có thể hoàn thành được công trình nghiên cứu của mình

Tiếp theo tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trung tâm Thông tin thư viện trường ĐHSP, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến BGH, các thầy cô trong tổ Văn của hai trường THCS Bắc Sơn và trường THCS Phúc Thuận đã tạo điều kiện tốt cho tôi đến thực nghiệm sư phạm để hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

PHAN NHƯ QUỲNH

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ cái viết tắt iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Các phương pháp nghiên cứu 10

6 Cấu trúc luận văn 11

7 Dự kiến đóng góp của luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP 13

1.1 Cơ sở lí thuyết 13

1.1.1 Lý thuyết về bài tập 13

1.1.2 Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Khảo sát bài tập trong SGK, SBT Ngữ văn 8 20

1.2.2 Thực trạng dạy học phần Tiếng Việt trong Ngữ văn 8 – THCS 24

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 27

2.1 Thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp 27

Trang 6

2.2 Nguyên tắc thiết kế bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 28

2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích hình thành và phát triển năng lực giao tiếp 28

2.2.2 Nguyên tắc phù hợp với trình độ của học sinh 29

2.2.3 Nguyên tắc hệ thống: Các bài tập phải được sắp xếp trên một cơ sở thống nhất, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp 29

2.3 Hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp 31

2.3.1 Giới thiệu chung về hệ thống bài tập 31

2.3.2 Miêu tả hệ thống bài tập 32

2.3.3 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập 44

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 60

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 60

3.3 Nội dung và cách thức thực nghiệm 61

3.4 Kết quả và nhận xét đánh giá 76

3.4.1 Kết quả thực nghiêm 76

3.4.2 Nhận xét 78

PHẦN KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

đó là “cái cho”; những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, theo ngôn ngữ thông dụng thì đây là “cái phải tìm”

Với định hướng dạy Tiếng Việt (TV) là dạy trong giao tiếp, bằng giao tiếp nhằm mục tiêu quan trọng nhất là củng cố và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh (HS), bài tập chiếm một vị trí vô cùng quan trọng: từ việc giới thiệu bài, hình thành kiến thức mới, đặc biệt là luyện tập, giáo viên (GV) đều sử dụng các kiểu loại bài tập khác nhau

Như vậy, bài tập là một phương tiện chủ yếu trong quá trình dạy học TV ở trường phổ thông, nó vừa đảm đảm bảo cho việc tiếp thu lí thuyết lại giúp các

đó dẫn đến có một lớp người hiểu được TV nhưng không thể sử dụng thành thạo nó trong giao tiếp Tác giả Lê A trong bài viết “Dạy Tiếng Việt là dạy một

Trang 9

hoạt động và bằng hoạt động” cho rằng: “Quá trình dạy học TV cho học sinh (HS) cần tổ chức các hoạt động và nổi bật là dùng hoạt động ngôn ngữ để giao tiếp” [3, tr62] Theo quan điểm ấy ta xác định được nội dung dạy học TV là dạy giao tiếp, đích hướng tới là giao tiếp và phương pháp hướng tới cho học sinh là hoạt động thông qua giao tiếp Lí luận dạy học hiện đại quan tâm đến năng lực của người học Hiện nay trong công cuộc đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới mục tiêu môn học chương trình hướng vào năng lực Điều đó có nghĩa là xem học sinh phù hợp với năng lực nào, năng lực nào phù hợp với thực tế xã hội đòi hỏi, trong đó xem năng lục nào là cần thiết, cốt lõi thì hình thành Năng lực hoạt động giao tiếp trở thành năng lực cơ bản trong dạy học môn TV Lịch sử hình thành và phát triển con người đều gắn với ngôn ngữ đặc biệt là trong các hoạt động mang tính chất cộng đồng Giao tiếp ở khắp mọi nơi, phổ biến rộng rãi vì vậy mà nó trở thành thứ quan trọng thiết yếu với mọi người nói chung và với HS nói riêng Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp gợi ý xác định nội dung cơ bản của phân môn TV ở nhà trường phổ thông là hình thành năng lực giao tiếp và nội dung chương trình là hoạt động giao tiếp: nghe – nói – đọc – viết của HS Chương trình hướng đến chuẩn bốn kĩ năng đồng thời cũng trang

bị cho HS những kiến thức về TV Ngoài ra phải dạy cho HS những quy tắc giao tiếp, ở đây không đơn thuần là quy tắc ngôn ngữ học mà là những quy tắc tổng hợp phù hợp với các nhân tố giao tiếp tức là dạy HS những quy tắc xử lí thông tin trong giao tiếp Từ xa xưa Lão Tử đã dạy rằng: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết” Trải qua nhiều lần nhận định

và đổi mới giáo dục, trong Nghị quyết 29/NQ – TW ngày 4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam Về Đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định quan điểm chỉ đạo:

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển

Trang 10

toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [35, tr.3] Lí luận dạy học hiện đại

cũng cho rằng “năng lực” không thể hình thành do học tập mà phải qua rèn luyện Hay nói một cách khác đi là người ta đã bắt đầu quan tâm tới hệ thống bài tập để qua đó phát huy năng lực, bồi dưỡng phẩm chất có sẵn của học sinh

Ta cũng thấy rõ rằng học sinh sẽ nắm vững kiến thức hơn thông qua làm bài tập, đặc biệt đối với TV ta đưa các em vào những tình huống giao tiếp cụ thể thì kĩ năng sử dụng TV của các em sẽ được hình thành rất nhanh chóng Như vậy, vai trò của bài tập trong dạy học là rất quan trọng, cần thiết và nó đảm bảo cho quan điểm giao tiếp được triển khai có hiệu quả

1.3 Việc xây dựng và triển khai hệ thống bài tập hiện nay chưa thực sự dựa trên quan điểm giao tiếp và mang lại hiệu quả

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng hầu hết các bài tập trong Sách giáo khoa (SGK), Sách bài tập (SBT) vẫn dừng lại ở dạng bài tập nhận diện lí thuyết không phát huy được sự tích cực, sáng tạo và hứng thú cho HS Hệ thống bài tập như SGK và SBT thiết kế chỉ mô phỏng kiến thức lí thuyết mà không thực hiện được mục tiêu dạy học TV trong nhà trường Trong quá trình dạy học, quan điểm giao tiếp phải được thấm nhuần trong các khâu từ việc chuẩn bị bài, việc dạy lí thuyết và hướng dẫn HS thực hành luyện tập Đồng thời quan điểm giao tiếp cũng chi phối trực tiếp từ mục tiêu, nội dung, phương pháp và khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập TV của HS Thực tế cho thấy những nội dung vừa trình bày chưa có sự hiện diện trong hệ thống bài tập TV 8, GV chỉ chú ý dạy lí thuyết, hệ thống bài tập cũng được tuyệt đối triển khai giống như trong SGK mà không có sự bổ sung, sáng tạo và linh hoạt Phương pháp giao tiếp không được phát huy tác dụng trong khi GV hướng dẫn HS thực hành luyện tập, các em không được trải nghiệm những tình huống giao tiếp cụ thể, gần gũi trong cuộc sống cho nên giờ học chưa đạt được mục tiêu quy chuẩn của giờ học Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp GV phải đưa HS của mình vào các tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các bài tập thực hành

Trang 11

giao tiếp thì mới giúp các em phát triển được năng lực giao tiếp, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học Tiếng Việt 8 từ các tài liệu dạy học đến cách dạy, cách học, cách đành giá kết quả học tập cũng như kết quả học tập Tiếng Việt của học sinh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Hệ thống bài tập và việc triển khai hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếptrong quá trình dạy học Tiếng Việt ở lớp 8

3 Lịch sử nghiên cứu

3.1 Những nghiên cứu về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt

Tiếng Việt, với vai trò là một phân môn quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống TV, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, TV là một công cụ giao tiếp và tư duy nên phân môn này còn đảm nhận một chức năng kép mà các môn học khác không

có, đó là chức năng trang bị cho HS công cụ để giao tiếp

Khi bàn về những quan điểm tâm lí học hoạt động có liên quan đến việc dạy và học ngôn ngữ, Trương Dĩnh đã đề cao quan điểm dạy học bản ngữ dựa trên lý thuyết hoạt động lời nói Ông khẳng định: “Trên quan điểm coi hoạt động lời nói trong giao tiếp như mục đích dạy học, dạy ngôn ngữ, đặc biệt là bản ngữ, phải thông qua hoạt động giao tiếp giữa thầy và trò để tổ chức cho HS phân tích mẫu hành vi lời nói trong giao tiếp, quan sát hành vi lời nói giao tiếp trong thực tiễn, nghiên cứu các văn bản giao tiếp trích dẫn để nâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản ngữ, mặt khác, trên cơ sở đã có ý thức về năng lực giao tiếp, tổ chức cho HS sáng tạo các hành vi lời nói trong giao tiếp, ( ), tức là dạy cho HS ứng xử sáng tạo trong giao tiếp ở môi trường có tính thực tiễn nhất của

Trang 12

đời sống” [8, tr.161] Đồng thời tác giả cũng coi trọng việc xây dựng các bài tập tình huống để rèn luyện năng lực giao tiếp cho HS Đây cũng là một trong những cơ sở góp phần định hướng cho việc dạy và học TV đạt hiệu quả cao hơn Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt (tập 2, Nxb Giáo dục, 2001)

do nhóm tác giả: Nguyễn Trí - Lê A - Lê Phương Nga biên soạn có tất cả tám chương, trong đó các tác giả dành hẳn một chương để nói về quan điểm giao tiếp trong dạy học TV Trong chương này (chương một) các tác giả nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp Những cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong việc dạy học Tiếng Việt Hai vấn đề: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? được Lê A bàn đến trong bài viết Dạy Tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động (Tạp chí Ngôn ngữ số 4/2001) Tác giả chú ý đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trình tự dạy học TV cùng với một số thao tác cơ bản khi dạy học (Thao tác phân tích - phát hiện; Thao tác phân tích - chứng minh; Thao tác phân tích - phán đoán); Giới thiệu về phương tiện dạy học Graph (sơ đồ mạng để trình bày những vấn đề cần truyền đạt) Sau khi trình bày về các vấn đề trên, tác giả nhấn mạnh: “Tri thức về tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực

sự vận dụng vào hoạtđộng giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ” [3, tr65] Có thể nói bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức các hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Cũng trong tạp chí Ngôn ngữ số 4/2001, Nguyễn Minh Thuyết trao đổi về Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạn SGK TV (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở Bài viết này giới thiệu một số quan điểm cơ bản trong việc biên soạn hai bộ sách trên: Quan điểm dạy giao tiếp; Quan điểm tích hợp; Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS Mặc dù bài viết trên đã được công bố cách đây nhiều năm, nhưng những quan điểm ấy vẫn còn có giá trị và có thể áp dụng vào việc biên soạn SGK Ngữ văn, định hướng cho việc giảng dạy TV đúng với mục tiêu

Trang 13

của phân môn này Vấn đề giao tiếp cũng được Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San đề cập trong giáo trình Tiếng Việt (tập 3, Nxb Giáo dục, 2002) với các nội dung cụ thể như: Các chức năng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp: những sự biến đổi và chuyển hóa Vai trò của các quan hệ

hệ thống trong hoạt động giao tiếp Nguyên tắc hệ thống và quan điểm giao tiếp trong dạy - học tiếng Việt Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San khẳng định:

“Quan điểm giao tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng (…) Ngôn ngữ (…) cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp” [31, tr.231 - 232] Bàn về “độ phổ biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng: “Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học” [27, tr114] Về nội dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở “Cách bố trí thời lượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không tập trung vào việc nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục vụ cho hoạt động giao tiếp” [27, tr.114] Về phương pháp dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở điểm:“Các kiến thức và kĩ năng trong phân môn Luyện từ và câu được rèn luyện thông qua nhiều bài tập gắn với yêu cầu về tập làm văn ở lớp 5 hoặc với các tình huống giao tiếp tự nhiên” [27, tr116] Kèm theo những nội dung trình bày là những ví dụ (VD)sinh động Do trình bày dưới dạng hỏi - đáp, nên tài liệu này chỉ dừng ở giới hạn cung cấp những gợi ý

có tính chất định hướng cơ bản về nội dung, hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp Mặt khác, do tính chất đồng tâm

và tính phổ quát của vấn đề, những gợi ý có tính định hướng đó không chỉ dừng

ở giới hạn cho một lớp và một bậc học cụ thể mà còn có tác dụng định hướng cho việc dạy học TV ở phổ thông nói chung theo quan điểm giao tiếp Trong

Trang 14

bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong

nhà trường phổ thông hiện nay (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2006), Vũ Thị Thanh

Hương đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm “năng lực giao tiếp”, đã dẫn ra những ý kiến khác nhau của các học giả (Chomsky, Campbell & Wales, Hymes, Murby, Canale & Swain, Bachman) xoay quanh khái niệm “năng lực giao tiếp” Tác giả bài viết so sánh đối chiếu các nội dung kiến thức TV được trình bày trong các chương trình TV hiện hành (của Bộ Giáo dục và Đào tạo) với các nội dung của mô hình lí thuyết về “năng lực giao tiếp” Từ khái niệm

“năng lực giao tiếp”, người viết tìm hiểu chương trình dạy TV trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ 21 và nhận xét: “Có thể nói, trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi được tiếp cận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp

là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục tiêu giảng dạy Tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ thông hiện nay” [12, tr10] Tác giả bài viết tiến hành khảo sát chương trình TV ở các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung của chương trình có thực sự đảm bảo cung cấp đủ kiến thức để giúp các em hình thành và rèn luyện tốt năng lực giao tiếp?” [12, tr10] Tác giả có trình bày kết quả khảo sát và kết thúc bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn Một trong số những người nghiên cứu về dạy TV trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp –

Lê Thị Bích Hồng – đã khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình huống giao tiếp trong dạy Tiếng Việt: “Trong dạy học, để giúp HS tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, GV cần xây dựng các tình huống giao tiếp” [10, tr32] Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những định nghĩa tương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũng như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy TV Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng

Trang 15

cho GV và sinh viên ngành giáo dục tiểu học) (Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị

Ân, Nxb Giáo dục, 2008) có đề cập đến vấn đề dạy học nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản theo quan điểm giao tiếp Do mục đích và giới hạn của giáo trình, những vấn đề về dạy nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản ở đây chỉ dừng lại ở giới hạn dạy học cho HS tiểu học Tuy nhiên, người quan tâm vẫn có thể tìm thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạy học các đơn vị mang nghĩa theo quan điểm giao tiếp cho HS trung học Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở tiểu học (Nxb Đại học Sư Phạm, 2009) là một giáo trình có ích cho những GV, những người nghiên cứu quan tâm đến việc dạy TV trong nhà trường như thế nào để có hiệu quả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga

đã nghiên cứu khá sâu và rõ ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy học TV ở tiểu học Giáo trình gồm ba chương: Chương một đề cập đến vấn đề giao tiếp và hoạt động giao tiếp; chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao tiếp; chương ba – phần trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn – Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Giáo trình đã vạch ra hướng đi

cụ thể cho hoạt động dạy học TV trong nhà trường theo quan điểm giao tiếp: từ việc lựa chọn các tri thức TV, xác lập các quy tắc sử dụng TV đến việc xác định các kĩ năng sử dụng TV cần rèn luyện cho HS Và việc lựa chọn, sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức nào trong dạy học TV,… giáo trình đều nêu rõ Tuy giáo trình chỉ giới hạn trong việc dạy học TV ở Tiểu học nhưng đối với các GV dạy TV ở Trung học cơ sở hay ở Trung học phổ thông thì đều tìm thấy ở giáo trình này những định hướng làm cơ sở cho việc dạy TV một cách

có hiệu quả theo quan điểm giao tiếp

3.2 Những nghiên cứu về bài tập và bài tập Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp

Có thể nói hầu hết các tài liệu dạy tiếng, các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp về đề tài phương pháp dạy học TV đều trực tiếp hay gián tiếp bàn đến bài tập Công trình trình bày toàn diện và sâu sắc, được đông đảo giáo viên

Trang 16

vận dụng là “150 bài tập rèn luyện viết đoạn văn” của tác giả Nguyễn Quang

Ninh Trong công trình này, tác giả đã trình bày quan niệm về đoạn văn, các kiểu đoạn văn theo cấu trúc hoặc chức năng và giới thiệu một hệ thống bài tập

đa dạng, được sắp xếp khoa học và bảo đảm các yêu cầu sư phạm

Tác giả Trịnh Thị Lan có bài viết khá hay về Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập TV dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp: “Theo quan điểm dạy học TV hướng vào hoạt động giao tiếp, việc thiết kế bài tập TV phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho HS Dạy học TV sử dụng phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổ chức dạy học quan trọng nhất Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [13]

Những tài liệu trên có đề cập về quan điểm giao tiếp và có động chạm tới việc thiết kế bài tập TV theo quan điểm giao tiếp Tuy nhiên tất cả chỉ dừng lại

ở việc nghiên cứu lí thuyết, hoặc có luận văn đã triển khai nhưng nó lại chưa đầy đủ và cụ thể ở một lớp học nào Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn

đề tài: Thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh Những tài liệu trên là những cơ sở vững chắc giúp chúng tôi thực hiện được luận văn này

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lí thuyết về quan điểm giao tiếp và thực tiễn dạy học Tiếng Việt, kế thừa những thành quả đã đạt được, luận văn xậy dựng và hướng dẫn thực hiện hệ thống bài tập Tiếng Việt ở lớp 8 theo quan điểm giao tiếp nhằm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp của học sinh

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và triển khai hệ thống bài tập

Trang 17

- Bài tập và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra và đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của hệ thống bài tập

5 Các phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết là phương pháp phân chia các tài liệu lí thuyết thành các đơn vị kiến thức, giúp nhà khoa học nắm được bản chất từng đơn vị kiến thức và toàn bộ vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở kiến thức đã được phân tích, ta tổng hợp chúng lại thành một hệ thống để thấy được mối quan hệ biện chứng của chúng với nhau, từ đó giúp ta hiểu đầy đủ sâu sắc

về lí thuyết đang nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tổng hợp lí thuyết trong chương 1, chương

2 của luận văn Trên cơ sở tiếp thu những tài liệu có sẵn, chúng tôi đã nghiên cứu, tổng hợp để tạo ra những tri thức mới cần thiết cho luận văn của mình

5.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Đây là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi theo những nội dung xác định nhằm thu thập thông tin khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người được điều tra Phương pháp này được chúng tôi áp dụng trong chương 1

và chương 3 nhằm khảo sát hệ thống bài tập TV trong SGK và SBT Ngữ văn 8

và thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh về hệ thống bài tập mà chúng tôi thiết kế

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tác động tới chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra Đây là phương pháp đặc biệt cho phép tác động lên đối tượng nghiên cứu một cách chủ động, can thiệp có ý thức vào quá trình diễn biến tự nhiên để hướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mong muốn của nhà nghiên cứu

Trang 18

Trong luận văn này, phương pháp thực nghiệm sư phạm được áp dụng ở chương 3 nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả của việc áp dụng hệ thống bài tập tiếng TV lớp 8 theo quan điểm giao tiếp vào trong quá trình giảng dạy

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu,kết luận, phụ lục luận văn gồm các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập

Trong chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tổng hợp những tài liệu có liên quan đến bài tập, bài tập Tiếng Việt; quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập Tiếp đó chúng tôi tiến hành khảo sát

hệ thống bài tập TV trong SGK và SBT Ngữ văn 8; thăm dò ý kiến của GV và

HS về bài tập và việc áp dụng quan điểm giao tiếp trong quá trình dạy học Từ những nghiên cứu lí thuyết và việc khảo sát thực tế chúng tôi lấy đó làm tiền đề vững chắc để bước vào nghiên cứu, thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh

Chương 2: Thiết kế và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp

Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu nguyên tắc thiết kế bài tập, thiết kế mô phỏng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh và hướng dẫn

sử dụng hệ thống bài tập ấy

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trong chương này chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 trường: Trung học cơ sở (THCS) Bắc Sơn và THCS Phúc Thuận để kiếm chứng phần nội dung đã nghiên cứu ở chương 2 Qua quá trình thực nghiệm chúng tôi đã thu được một số kết quả tương đối khả quan: đa số học sinh học tập hăng hái, tích cực chủ động trong học tập; các em đã thực sự thích thú khi được trải nghiệm những tình huống giao tiếp trong thực tế, kết quả mà các em đạt được sau khi dạy học thực nghiệm nhìn chung là tương đối Điều đó khẳng định, việc

Trang 19

thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh là đúng đắn, cần thiết và vô cùng hợp lí

7 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Về lí luận: Góp phần làm sáng tỏ cho việc xây dựng và triển khai bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

- Về thực tiễn: Gợi ý cho giáo viên cách xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Tiếng Việt ở lớp 8 có hiệu quả

Trang 20

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ

HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP

1.1 Cơ sở lí thuyết

1.1.1 Lý thuyết về bài tập

Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” dùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (HN 1994), thuật ngữ “Bài tập có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học Thí dụ: bài tập đại số, bài tập

ở lớp, .” Những định nghĩa trên mới giải thích về mặt ngữ nghĩa chứ chưa làm rõ bản chất của khái niệm “bài tập”

Qua nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu quan niệm của nhà nghiên cứu Thái Duy Tuyên: “bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau:

Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập, từ đó tìm ra phép giải, theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là

“cái cho”, trong toán học thì gọi là “giả thiết” Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, theo ngôn ngữ thông dụng thì đây là “cái phải tìm” Hai tập hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phải biến đổi chúng để khắc phục

sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng

Tóm lại có thể hiểu bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học , đòi hỏi người học phải có một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đưa ra.” [34, tr.223 – 225]

Trang 21

Bài tập có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi Câu hỏi là thuật ngữ dùng

để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong dạy học Trong dạy học, câu hỏi mà giáo viên đưa ra là vấn đề mà giáo viên đã biết, học sinh đã học hoặc dựa trên cơ sở những kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh sáng tạo Vì vậy câu hỏi trong dạy học thường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng cách cho học sinh tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra cách giải quyết mới

Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là một nhiệm vụ đặt ra cho

HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả nhận thức rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho học sinh Về mặt hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu để giải quyết bài tập HS phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm

ra yêu cầu xác đáng

Môn học nào cũng vậy, để cụ thể hóa lí thuyết thì phải có thực hành Đúng như cha ông ta từ thời xa xưa đã có câu “học đi đôi với hành”, điều đó quả không sai Trong quá trình dạy học bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc

và bền vững hơn; có tác dụng rèn luyện, hình thành và phát triển kĩ năng kĩ xảo cho các em; đây là phương tiện giáo dục tốt, có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm cho học sinh Nếu chỉ có diễn xuông phần lí thuyết thì GV không thể nào giúp cho HS hiểu được bản chất của vấn đề cần truyền tải Trên thực tế chúng

ta cũng nhận thấy rõ ràng là tất cả các môn học người GV đều phải cụ thể hóa phần lí thuyết mình dạy bằng bài tập hay một vài ví dụ cụ thể

VD: Dạy bài: Trợ từ, thán từ

Để hình thành khái niệm về trợ từ, SGK đã trình bày và hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập:

(1) Nghĩa của các câu dưới đay có gì khác nhau? Vì sao có sự khác nhau đó?

- Nó ăn hai bát cơm

Trang 22

- Nó ăn những hai bát cơm

- Nó ăn có hai bát cơm

(2) Các từ những và có trong các câu ở mục (1) đi kèm từ ngữ nào trong

câu và biểu thị thái độ gì của người nói đối với sự việc?

Tiếp theo là bài tập nhằm củng cố, khắc sâu và rèn luyện kĩ năng sử dụng trợ từ của hoạt động giao tiếp:

(3) Trong các câu sau đây, từ nào trong (các từ in đậm) là trợ từ, từ nào không phải trợ từ?

a) Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này

b) Chị Dậu là nhân vật chính của tác phẩm “Tắt đèn ”

c) Ngay tôi cũng không biết đến việc này

d) Anh phải nói ngay điều này cho cô giáo biết

e) Cha tôi là công nhân

f) Cô ấy đẹp ơi là đẹp

g) Tôi nhớ mãi những kỉ niệm thời niên thiếu

h) Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên

(4) Giải thích nghĩa của các trợ từ được in đậm trong các câu sau:

a) Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến Mặc dù non một năm ròng mẹ tôi không gửi

cho tôi lấy một là thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một

đồng quà

b) Hai đứa mê nhau lắm Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng

gả Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu, cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc

c) Tính ra cậu vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo a !

d) Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Trang 23

Như vậy, bài tập Tiếng Việt vừa là cách thức ôn tập củng cố tri thức lí thuyết vừa là phương tiện giúp HS rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ

để ứng dụng chúng một cách thuần thục trong hoạt động giao tiếp hằng ngày

1.1.2 Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập

1.1.2.1.Quan điểm giao tiếp

Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho HS Dạy học TV dưới ánh sáng của quan điểm giao tiếp được thể hiện ở việc vận

dụng lý thuyết của quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học

Theo tác giả Lê A quan niệm:“Dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao

tiếp, trong và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh” [3, tr62] Định nghĩa này đã đề cập tới ba khía cạnh sau:

Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học TV thể hiện ở “dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp” bởi TV là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để giao tiếp, khi nói tới ngôn ngữ là nói tời hoạt động giao tiếp và ngược lại

Thứ hai, bàn về cách thức dạy học ở trường phổ thông: “dạy học Tiếng Việt là trong và bằng giao tiếp” Xác định môi trường dạy học TV phải là môi trường giao tiếp vì thế ngữ liệu và bài tập phải được lấy ra từ thực tiễn cuộc sống, là sản phẩm của giao tiếp trong môi trường thực tiễn Khi GV dạy học nên cho HS quan sát cụ thể tình huống, cho các em thực hiện chính sự giao tiếp

đó để HS trải nghiệm và tự rèn luyện TV cho mình Dạy học TV không phải nhiệm vụ độc tôn của phân môn TV, mà nó nằm ở trong tất cả các môn học trong nhà trường Môi trường giao tiếp thực tế là điều kiện vô cùng quan trọng,

GV cần phải phát huy kĩ năng sư phạm của mình để giờ dạy TV phải là giờ giao tiếp Dạy TV chính là hoạt động giao tiếp của HS, GV phải sử dụng TV tạo ra hoạt động giao tiếp thực tế và môi trường giao tiếp đó phải tạo được hứng thú cho HS trong quá trình học Ngoài giờ học kiến thức trên lớp, GV cho

Trang 24

HS thực hành ngay tại lớp học hoặc trong môi trường giao tiếp cụ thể từ các buổi ngoại khóa của trường

Thứ ba, mục tiêu cơ bản của dạy học TV là củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp của HS HS cần giao tiếp TV theo đúng chuẩn mực, có phong cách riêng, bên cạnh mục tiêu chính trên nó còn giúp HS phát triển tư duy, phát triển nhân cách để hoàn thiện bản thân Dạy học TV không chỉ đơn thuần là các tiết dạy về khoa học nghiên cứu TV mà còn là dạy cách giao tiếp cho HS Dạy học TV phải xuất phát từ chức năng giao tiếp mới có thể giúp HS hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả ở cả bốn dạng: nghe, nói, đọc, viết

1.1.2.2 Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập

Trong khi thiết kế bài tập Tiếng Việt, quan điểm giao tiếp được thể hiện trong những phương diện cơ bản sau:

Một là, mục đích mà bài tập hướng tới phải là mục đích giao tiếp Mục

đích của việc dạy học TV là giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp

Trước đây, theo quan điểm truyền thống thì dạy TV là dạy theo hướng tiếp cận tri thức, hình thành hệ thống các khái niệm về TV Quan điểm này cho rằng làm sao để HS chiếm lĩnh được tri thức TV càng nhiều càng tốt, càng hiện đại càng tốt Đây là tư tưởng cực đoan khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là các khái niệm, tri thức và sản phẩm của TV là hệ thống khái niệm; từ đó tạo ra một lớp người hiểu được TV nhưng không sử dụng thành thạo trong giao tiếp Trải qua một thời gian dài nghiên cứu tìm tòi các nhà nghiên cứu thấy rằng việc sử dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học TV nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình học TV của học sinh, đồng thời nó căn cứ vào bản chất thực sự của bộ môn: dạy Tiếng Việt là dạy giao tiếp

Từ mục đích ấy, bài tập phải đưa được HS vào tình huống giao tiếp cụ thể

mà các em có thể hiểu được, tiếp cận được chứ không nên đưa ra những tình huống xa rời thực tế khiến các em khó hình dung

Trang 25

VD: Dạy bài: Từ tượng thanh, từ tượng hình

Phân tích giá trị gợi hình tượng của các từ tượng hình và tượng thanh trong đoạn văn sau:

Buổi sáng tinh mơ ngày chủ nhật Lan theo mẹ ra đồng gặt lúa Cánh đồng

lúa vàng óng ả trong sương sớm Gió thổi bông lúa đung đưa làm cho những hạt sương dần rớt xuống Xa xa, mấy bác nông dân lom khom gặt lúa.Trong làn sương mờ ảo Lan nghe thấy người ta tíu tít nói chuyện với nhau.Tiếng cười hahả, hô hố từ xa vang lại.Tiếng chim hót thánh thót.Lan thấy tâm hồn thật

nhẹ nhàng

Việc GV đã đưa học sinh vào một tình huống giao tiếp cụ thể có nhân vật giao tiếp có đích giao tiếp từ phân tích giá trị của các từ tượng thanh, từ tượng hình trong tình huống ấy giúp học sinh thấy Tiếng Việt đơn giản và gần gũi với các em hơn

Hai là, quan điểm giao tiếp thể hiện trong cách thức xây dựng nội dung ngữ liệu của bài tập gắn với thực tế giao tiếp

Khi thiết kế bài tập cho HS, GV nên xây dựng nhiều tình huống giao tiếp

cụ thể diễn ra xung quanh các em Bắt nguồn từ những điều đơn giản trong cuộc sống, từ cách nói năng, cư xử với mọi người trong xã hội, các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội… tất cả có thể đưa vào trong nội dung bài tập để

HS có thể hình dung và tiếp cận tri thức lí thuyết về TV một cách nhanh chóng nhất Trong khi xây dựng tình huống cho HS, trước hết cần hướng tới mục đích của việc dạy TV là dạy giao tiếp, rèn kĩ năng sử dụng TV trong đời sống hằng ngày Sau khi đã xác định rõ mục tiêu ấy, chúng ta mới tính đếm đến nội dung giao tiếp liên quan đến các tri thức lí thuyết trong SGK Bài tập tình huống mà

GV xây dựng cho HS phải đưa các em đến một:

+ Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: nói, viết trong hoàn cảnh nào; ở đâu; khi nào + Nội dung giao tiếp cụ thể: nói, viết về cái gì;

+ Nhân vật giao tiếp cụ thể

Trang 26

+ Phương tiện và cách thức giao tiếp cụ thể: nói, viết như thế nào; bằng phương tiện gì

VD: GV xây dựng tình huống cho HS

Giờ tan học, em và các bạn chạy thật nhanh ra nhà xe để lấy xe đi về Vừa

ra đến nơi em nhìn thấy một em gái lớp dưới mình đang loay hoay ngồi lắp xích xe đạp giữa trời nắng chang chang Mọi người qua lại nhưng chả có ai quan tâm cả.Trong tường hợp ấy em sẽ nói gì để giúp em gái đó? Em sẽ nói như thế nào để đảm bảo nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp?

→ GV hướng dẫn học sinh phân tích tình huống

+ Xác định hoàn cảnh giao tiếp: Tình huống trên diễn ra trong khu vực để

xe của một trường phổ thời Thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp là giờ tan học buổi trưa

+ Xác định nhân vật giao tiếp: gồm có 2 nhân vật

+ Nội dung mà tình huống hướng tới: cách cư xử của bạn nam lớn tuổi với

em gái lớp dưới khi thấy xe em bị hỏng giữa trưa nắng chang chang

+ Vai xã hội: trên – dưới; quan hệ xa lạ, mang tính chất xã giao

Sau khi đi phân tích một số khía cạnh của tình huống, GV cho HS trình bày cách xử lí tình huống của mình HS sẽ có nhiều cách trả lời khác nhau nhưng đích cuối cùng phải đạt được là bạn nam lớn tuổi giúp đỡ bạn gái lớp dưới sửa xe và qua đó dạy cho các bạn cách ứng xử phù hợp với các đối tượng ngoài xã hội HS có thể tham khảo cách giải quyết tình huống như sau:

Bạn nam lớn tuổi chạy tới gần em gái lớp dưới và nói:

- Xe làm sao vậy em?

- Dạ nó bị tuột xích ạ Em lắp mãi mà không được

- Ừ Để đó đi, anh sẽ xem giúp

Bạn nam ấy lắp nhoáng một cái là được Em gái vui mừng, mồ hôi nhễ nhại nói:

- Cảm ơn anh Nếu không có anh chắc hôm nay em không về nhà được rồi

Trang 27

Sau đó cả hai cùng ra về

Ba là, kiểm tra đánh giá hiệu quả bài tập theo quan điểm giao tiếp

Trước đây chúng ta đánh giá học sinh nặng về kiến thức, kĩ năng chưa được chú trọng Đặc biệt đánh giá theo quan điểm giao tiếp lại càng chưa được thực hiện Quan điểm giao tiếp yêu cầu việc kiểm tra, đánh giá phải có những chuyển biến cơ bản: từ kiểm tra, đánh giá kiến thức sang kiểm tra năng lực giao tiếp Muốn vậy, nội dung chính yếu của các bài kiểm tra và thi chủ yếu phải là các hoạt động giao tiếp đọc, nghe, nói, viết bằng TV trong những tình huống giao tiếp cụ thể

→ Như vậy, những nghiên cứu về mặt lí thuyết trên đây đã bước đầu làm sáng rõ về quan điểm giao tiếp, về bài tập và sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập nói chung và bài tập TV nói riêng Đây sẽ là cơ sở vững chắc

để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu những phần tiếp theo của luận văn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát bài tập trong SGK, SBT Ngữ văn 8

Bước đầu nghiên cứu về hệ thống bài tập trong SGK và SBT Ngữ văn 8 chúng tôi chia hệ thống bài tập thành ba dạng lớn: Bài tập về từ ngữ và tu từ từ vựng; bài tập về ngữ pháp; bài tập về hội thoại và hành động nói Cùng với đó

là bốn dạng bài tập cơ bản được xác định là: Bài tập nhận diện, phân tích; bài tập chuyển đổi; bài tập sửa chữa; bài tập tạo lập

Kết quả khảo sát chúng tôi trình bày trong bảng sau:

Trang 28

Bài tập trong SGK

BT nhận diện, phân tích

BT chuyển đổi

BT sửa chữa

BT tạo lập

1 Cấp độ khái quát của

14 Ôn tập và kiểm tra

phần tiếng Việt

Trang 29

Bt chuyển đổi

BT sửa chữa

BT tạo lập

1 Cấp độ khái quát của

Trang 30

14 Ôn tập và kiểm tra

phần tiếng Việt

→ Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng:

+ Đối với bài tập trong SGK:

Tổng số bài tập là 139 bài Trong đó bài tập nhận diện chiếm tỉ lệ lớn, đạt tới 99 bài tương đương 71,2% Tiếp đó là bài tập tạo lập với 26 bài tương đương 18,7% Bài tập chuyển đổi chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt 2 bài trên tổng số

139 bài và tương đương 1,4% Cuối cùng là bài tập sửa chữa, chỉ có 1 bài và tương đương 0,7%

Trang 31

+ Đối với bài tập trong SBT: SBT Ngữ văn ngoài việc hướng dẫn cách làm các bài tập trong SGK còn bổ sung thêm một số bài tập củng cố kiến thức cho học sinh

Tổng số bài tập là: 58 bài Trong đó bài tập nhận diện, phân tích là 39 bài tương đương với 66,1%; bài tập chuyển đổi là 4 bài tương đương với 6,9%; bài tập sửa chữa là 4 bài tương đương 6,9%; còn lại bài tập tạo lập là 11 bài tương đương 20,1%

Nhìn chung bài tập cả ở trong SGK và SBT Ngữ văn có dạng bài tập nhận diện, phân tích chiếm tỉ lệ cao, tiếp đó là bài tập tạo lập Hai dạng bài tập chuyển đổi và sửa chữa chiếm tỉ lệ thấp và chưa được chú trọng tới

1.2.2 Thực trạng dạy học phần tiếng Việt trong Ngữ văn 8 – THCS

Chúng tôi tiến hành dự giờ trường THCS Bắc Sơn – thị xã Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên và nhận thấy rằng HS của nhà trường đa phần gia đình bố

mẹ là nông dân, là con em dân tộc ít người, điều kiện kinh tế chưa thực sự

ổn định Vì thế nên các em chưa có điều kiện tốt để học tập, ngoài thời gian học trên lớp các em còn phải tham gia vào công việc gia đình, nhiều khi thời gian bị lấn lướt đi Một số ít các em mà gia đình có điều kiện thì lại chưa thực sự chú tâm đến việc học của mình Việc các em tìm hiểu sách báo tham khảo hay sử dụng mạng internet chỉ để thỏa chí tò mò chứ không phục vụ sâu sắc cho việc học tập

Điều cơ bản mà chúng tôi nhìn thấy là phân môn TV gần như bị bỏ quên trong chương trình Ngữ văn 8 Cả GV và HS đều cho rằng nó khó Chúng tôi công nhận là nó khó nhưng nếu thực sự chú tâm và có một phương pháp truyền đạt tốt thì môn học này không còn là nỗi lo của thầy và trò nơi đây

Sau khi điều tra qua bảng hỏi chúng tôi nhận thấy rõ ràng tâm lí sợ sệt của HS khi phải đối diện với phân môn TV Đa phần các em còn ngại ngùng

và chưa thực sự muốn tìm hiểu thứ ngôn ngữ mẹ đẻ này Điều mà các em nhận được từ việc học TV là hệ thống những tri thức, những khái niệm, những

Trang 32

khối kiến thức lí thuyết khổng lồ, đồ sộ mà không phải là cách sử dụng và áp những điều đó và thực tiện cuộc sống Học TV đâu phải là học những khối lí thuyết ấy mà điều quan trọng là các em biết vận dụng những gì mình học vào trong thực tiễn cuộc sống

Về phía GV, đa phần các GV cũng cho rằng phân môn TV khó hơn cả Lên lớp với HS phần này cũng chỉ qua loa Người GV, ngay chính bản thân họ không xác định được tầm quan trọng của TV và thời gian dành cho nó cũng không nhiều.Vì vậy dẫn đến hiện trạng phổ biến là khó nhớ, mau quên, học vẹt, học thuộc lòng chứ không hiểu bản chất vấn đề Đa số các thầy cô tập trung vào việc truyền thụ những tri thức lí thuyết, những khối kiên thức TV khổng lồ mà chưa thực sự tập trung vào hướng dẫn HS tiến hành luyện tập Khi hướng dẫn

HS thực hành GV vẫn còn mang tâm lí “sợ ” thoát li lý thuyết từ SGK nên thiếu linh hoạt, ít sáng tạo và hầu như không có sự mở rộng Bên cạnh đó cũng phải nói tới việc GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, thiếu đầu tư nên bài dạy khô khan, không hấp dẫn và chưa kích thích được nhu cầu từ phía người học Không những thế, sự trì trệ, chậm tiến trong đội ngũ GV ở việc chưa áp dụng những phương pháp dạy học tích cực lại càng làm cho TV trở nên khó khăn hơn với HS Vì không đưa được HS vào những tình huống giao tiếp thực tế, cụ thể nên khi hướng dẫn các em làm bài tập GV còn gặp nhiều khó khăn: HS mơ

hồ về lí thuyết, GV chưa áp dụng được phướng pháp hướng dẫn học sinh thực hành hợp lí, không kích thích được tư duy của học sinh và tạo cảm giác nhàm chán Các GV chủ yếu cho HS thực hiện những bài tập trong SGK đưa ra mà không có sự bổ sung và mở rộng Cũng xuất phát từ những lí do trên mà HS trong giờ học không tập trung, lười suy nghĩ và chưa tích cực làm bài tập Có nhiều em không làm bài tập ở nhà hoặc làm chỉ mang tính chất đối phó Kết quả thu được từ các bài tập mà HS làm nhìn chung chỉ đạt mức trung bình, vẫn còn nhiều trường hợp yếu kém

Trang 33

Từ những thực trạng đó chúng ta cần có những giải pháp tích cực để khắc phục, giảm dần tình trạng học đối phó ở HS, tạo điều kiện cho các em hứng thú với môn học vốn dĩ khô khan này Người GV phải là người khơi dậy được tiềm năng từ học trò, tích cực tìm những phương pháp mới áp dụng vào giờ học để phát huy được tính tích cực, chủ động của HS; tạo tâm thế tốt cho các em bước vào giờ học Điều quan trọng hơn cả là người GV phải đưa được

HS vào những tình huống giao tiếp cụ thể để các em trải nghiệm, thực hành luyện tập từ đó rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh và giúp các em sử dụng nó được thành thạo trong cuộc sống

Tóm lại, những cơ sở lí luận và thực tiễn vừa nêu trên sẽ là tiền đề vững

chắc để chúng tôi bước vào việc nghiên cứu, thiết kế hệ thống bài tập Ngữ văn

8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh

Trang 34

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP

TIẾNG VIỆT 8 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

2.1 Thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp

Bài tập Tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học TV Thông qua việc thiết kế bài tập TV và hướng dẫn HS làm bài tập của GV, quá trình làm bài tập của HS, GV có thể kiểm tra kết quả hoạt động dạy của mình, HS củng cố được những tri thức TV vừa mới được tiếp nhận và nắm vững các kĩ năng sử dụng TV Ngày nay, việc dạy học

TV được xác định là phải gắn bó chặt chẽ với việc hình thành và nâng cao khả năng giao tiếp cho HS Điều này không chỉ là mục đích mà nó còn là phương thức trong dạy học TV.Việc dạy học TV phải quán triệt nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp Do đó khi thiết kế bài tập TV phải có những định hướng cụ thể, nhất định dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp, theo phương pháp giao tiếp

Theo quan điểm dạy học TV hướng vào hoạt động giao tiếp, việc thiết kế bài tập TV phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho học sinh Dạy học TV sử dụng phương pháp giao tiếp như phương pháp tổ chức dạy học quan trọng nhất.Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp,

có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp.Thực hành với bài tập TV là một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành kĩ năng sử dụng TV và ứng dụng TV trong đời sống của HS Bởi vậy, bài tập TV khi được thiết kế dưới ánh sáng của lí thuyết giao tiếp sẽ thiết thực, hiệu quả hơn đối với GV, HS cũng như quá trình dạy TV Khi thiết kế bài tập không nên lấy mục đích cung cấp và củng cố tri thức ngôn ngữ học về TV làm cơ bản mà mục đích chính cần xác định là nhằm củng cố cho HS vốn tri thức nhất định về TV và kĩ năng sử dụng vốn tri thức ấy trong hoạt động giao

Trang 35

tiếp Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định việc thiết kế bài tập TV phải tuân theo một hệ thống các nguyên tắc mang tính nhất quán cao

2.2 Nguyên tắc thiết kế bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích hình thành và phát triển năng lực giao tiếp

Như đã trình bày ở trên, việc dạy học TV theo quan điểm giao tiếp cái đích mà ta hướng đến là giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp HS không chỉ nắm được tri thức lí thuyết mà còn biết áp dụng những tri thức ấy trong hoạt động giao tiếp của mình một cách thành thạo.Bài tập TV phải gắn với hoạt động giao tiếp của HS Cần đặt bài tập trong những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thể nghiệm, đồng thời sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức để xây dựng các ngôn bản trong bài tập TV Những hoạt động giao tiếp cụ thể có thể là những tình huống giao tiếp mà HS được trực tiếp tham gia, có thể là những tình huống giao tiếp ngoài xã hội mà các em đủ khả năng nắm bắt

VD: Khi học bài “Trường từ vựng” giáo viên cho học sinh xác định những đơn vị từ vựng nhỏ trong một trường từ vựng lớn thong qua các trường từ vựng gần gũi, thân thuộc với các em học sinh như trường từ vựng về trạng thái cảm xúc: vui, buồn, phấn khởi, hạnh phúc, lo lắng, bồn chồn, sợ hãi…; trường từ vựng về các bộ phận trên cơ thể người: mắt, mũi, đầu, tay, chân…; trường từ vựng về dụng

cụ nấu ăn: xoong, nồi, đũa, thìa, muôi, chảo…; trường từ vựng về các bộ phận trên khuôn mặt người: đầu, tóc, mắt, mũi, miệng, cằm, tai, …

Bên cạnh đó, người GV khi thiết kế bài tập TV cho học sinh cần tạo được những tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho HS Khi thiết kế bài tập TV nên đưa những tình huống hấp dẫn được các

em quan tâm và hứng thú thảo luận, các tình huống giao tiếp mang tính thời sự nóng hổi, phù hợp với tâm lí các em

Trang 36

Chỉ ở trong những tình huống, những hoàn cảnh cụ thể như vậy HS mới

dễ dàng nắm bắt được nội dung lí thuyết vừa học, đồng thời có kĩ năng sử dụng kiến thức ấy trong thực tiễn cuộc sống

2.2.2 Nguyên tắc phù hợp với trình độ của học sinh

Những thành tựu của tâm lí học hiện đại đã khẳng định ở mỗi độ tuổi, học sinh có những đặc điểm tâm lí tiếp nhận riêng biệt, có ngưỡng nhất định Việc xác định dung lượng về độ khó của bài tập tùy thuộc vào đặc điểm này của HS Khác với HS ở lứa tuổi tiểu học, học sinh THCS là lứa tuổi có tâm lí phức tạp Ở giai đoạn này tâm lí các em mang tính bùng nổ và có phần nổi loạn khi gặp tác động do những thay đổi về mặt sinh lí cũng như những tác động từ môi trường sống xung quanh Giai đoạn này, về cơ bản tâm lí các em chưa được ổn định, vì thế mà tư duy chưa có sự hoàn thiện như học sinh THPT và việc định lượng độ khó của bài tập cũng khá phức tạp Người GV khi thiết kế bài tập phải tính đếm những khó khăn này để làm sao cho phù hợp với mức độ tiếp nhận của HS Nếu bài tập dễ quá sẽ tạo cảm giác nhàm chán hay nếu bài tập khó quá sẽ khiến các em nản lòng, tạo áp lực và dẫn đến cảm giác sợ hãi đối với môn học

2.2.3 Nguyên tắc hệ thống: Các bài tập phải được sắp xếp trên một cơ sở thống nhất, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Nguyên tắc hệ thống yêu cầu các bài tập Tiếng Việt phải được sắp xếp theo thứ tự hợp lí, bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

VD: Bài “Câu cảm thán ” trong SGK Ngữ văn 8 tập 2 trang 43

Phần luyện tập trong SGK được trình bày như sau:

1 Hãy cho biết các câu trong đoạn trích sau có phải đều là câu cảm thán không Vì sao?

a.) Than ôi!Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất

(Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay)

Trang 37

b.) Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi !

(Thế Lữ, Nhớ rừng) c.) Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hang, hống hách láo chỉ tổ đem thân

mà trả nợ cho những cwr chỉ ngu dại của mình thôi Tôi đã phải trải cảnh như thế Thoát nạn rồi, mà còn ân hận quá, ân hận mãi

2 Phân tích tình cảm, cảm xúc được thể hiện trong những câu sau đây Có thể xếp những câu này vào kiểu câu cảm thán được không? Vì sao?

a.) Ai làm cho bể kia đầy

Cho ao kia cạn cho gầy cò con?

(Ca dao) b.) Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?

(Chinh phị ngâm khúc)

c.) Tôi có chờ đâu, có đợ đâu

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu

(Chế Lan Viên, Xuân) d.) Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng, dại dột của tôi Tôi biết làm thế nào bây giờ?

(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu kí)

3 Đặt hai câu cảm thán để bộc lộ cảm xúc:

a.) Trước tình cảm của một người thân dành cho mình

b.) Khi nhìn thấy mặt trời mọc

4 Hãy nhắc lại đặc điểm hình thức và chức năng của câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán

→ Nhìn vào đây chúng ta thấy bài tập số 1 và 2 thuộc dạng bài nhận diện, phân tích Tuy nhiên xét về mức độ thì bài tập 1 chỉ dừng lại ở việc nhận diện đơn thuần chưa cần vận dụng tư duy mà nó hiển hiện ngay qua mặt từ ngữ Bài

Trang 38

tập số 2 vẫn thuộc dạng nhận diện, phân tích nhưng độ khó đã tăng lên thêm một bậc đòi hỏi học sinh phải tư duy mới tìm ra được đáp án chính xác

Bài tập số 3 thuộc bài tập tạo lập (tạo lập sản phẩm theo yêu cầu nhất định) Bài tập số 4 thuộc về mặt tổng hợp lí thuyết, thiết nghĩ nên giao cho học sinh về nhà tự tổng hợp

Về cơ bản chúng tôi nhận thấy rằng bài tập đã được thiết kế mang tính hệ thống, có sự sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Tuy nhiên, nên

bổ sung thêm 1 hoặc 2 bài thuộc dạng bài tập sửa chữa hay chuyển đổi thay cho bài tập 4 thì HS sẽ có điều kiện nắm bắt bài học một cách chu toàn hơn, các em được luyện sâu hơn ở một dạng bài tập thực hành khác để từ đó đẽ dàng ứng dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể trong cuộc sống hằng ngày

2.3 Hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp

2.3.1 Giới thiệu chung về hệ thống bài tập

Qua việc khảo sát hệ thống bài tập trong SGK chúng tôi nhận thấy rằng phân môn TV trong chương trình Ngữ văn 8 có thể chia làm 3 loại: Loại bài tập

về từ vựng và tu từ; loại bài tập về ngữ pháp; bài tập về hội thoại và hành động nói Đồng thời với việc khảo sát chúng tôi muốn xây dựng hệ thống bài tập riêng cho từng loại vì mỗi loại lại có những đặc thù riêng của nó

Dạng bài tập về nhận diện, phân tích và bài tập tạo lập có thể sử dụng chung cho cả 3 loại bài tập nói trên nhưng đối với bài tập về từ vựng và tu từ thì ta lại phải bổ sung thêm bài tập phân loại, quy loại; bài tập điền từ và thay thế từ…; đối với bài tập về ngữ pháp ta bổ sung thêm bài tập sửa chữa, bài tập chuyển đổi…

Vẫn là những loại bài tập ấy nhưng trong SGK Ngữ văn 8 chủ yếu để minh họa lí thuyết về TV mà HS vừa được tìm hiểu; mang nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa thể hiện được rõ nét các nguyên tắc trong dạy học thực hành TV Thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp hướng đích của công việc ấy là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS, đưa các

Trang 39

em vào những tình huống giao tiếp cụ thể, dễ tiếp cận trong cuộc sống hằng ngày Từ đó qua việc thực hành mà củng cố kiến thức vừa học lại có kĩ năng sử dụng TV trong mọi hoạt động giao tiếp Vì thế chúng tôi thiết kế mô phỏng hệ thống bài tập theo từng loại để giúp cho GV và HS dễ dàng hơn trong việc giảng dạy và lĩnh hội

2.3.2 Miêu tả hệ thống bài tập

Trước khi đi vào miêu tả hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp cho học sinh một cách chi tiết chúng tôi xin trình bày nội dung qua sơ

đồ sau:

Trang 40

Hệ thống bài tập tiếng Việt lớp 8 theo quan điểm giao tiếp

BT điền

từ và thay thế

từ

BT tạo lập

BT nhận diện, phân tích

BT chuyển đổi

BT thay thế

BT tạo lập

BT rèn

và phát triển năng lực hành ngôn

BT phát triển năng lực ngôn ngữ

xã hội

BT phát triển năng lực chiến lược

Ngày đăng: 23/11/2017, 09:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1997), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
2. Lê A, Nguyễn Hải Đạm, Hoàng Mai Thao, Lê Xuân Soan (1998), Phương pháp dạy học tiếng Việt – Giáo trình đào tạo giáo viên THCS, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Hải Đạm, Hoàng Mai Thao, Lê Xuân Soan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Lê A (2001), Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động),Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động),Tạp chí
Tác giả: Lê A
Năm: 2001
4. Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà (2002), Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục, số 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà
Năm: 2002
5. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ dụng học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 1998
6. Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Chung, Vũ Thị Sơn (2006), Phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Chung, Vũ Thị Sơn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2006
8. Trương Dĩnh (1998), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học Tiếng Việt ở trường Trung học, NXB Tp. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học Tiếng Việt ở trường Trung học
Tác giả: Trương Dĩnh
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
9. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
10. Lê Thị Bích Hồng (2007), Dạy học nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp, Giáo dục, số 175, kì 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp
Tác giả: Lê Thị Bích Hồng
Năm: 2007
11. Đỗ Việt Hùng (2010), Nhận thức giao tiếp hay văn hóa giao tiếp trong dạy học bản ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ , số 8 (255) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức giao tiếp hay văn hóa giao tiếp trong dạy học bản ngữ
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Năm: 2010
12. Vũ Thị Thanh Hương (2006), Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học trường phổ thông hiện nay, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2006
14. Phan Trọng Luận (2002), Phương pháp dạy Văn, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy Văn, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
15. Meier, Bernd, Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Meier, Bernd, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2014
16. Lê Thị Minh Nguyệt (2006), Về dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp, Tạp chí Giáo dục, số 151, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp
Tác giả: Lê Thị Minh Nguyệt
Năm: 2006
17. Lê Thị Minh Nguyệt (2012), Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh qua các bài tập về hành động nói trong chương trình Ngữ văn 8, Tạp chí Khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, No 6A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh qua các bài tập về hành động nói trong chương trình Ngữ văn 8
Tác giả: Lê Thị Minh Nguyệt
Năm: 2012
18. Nguyễn Quang Ninh (1996), 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn, NXB Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1996
19. Hoàng Văn Phê (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
20. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) (2013), Ngữ văn 8 – Ban cơ bản, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
21. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) (2013), Ngữ văn 8 – Ban cơ bản, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
24. Đặng Thị Lệ Tâm, Chuyên đề “Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thị Lệ Tâm, Chuyên đề “"Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w