LỜI CAM ĐOAN Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương cho học sinh lớp 2 được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát h
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hoàn
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn
những văn bản tương cho học sinh lớp 2 được chúng tôi nghiên cứu và hoàn
thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác đã công bố
Tác giả
Đặng Thị Ánh Hồng
Trang 4Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Trọng Hoàn đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Kim Đồng, quận Ba Đình và trường Tiểu học Nguyễn Du, quận Hoàn Kiếm đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 10 1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của môn Tiếng Việt lớp 2 10
1.1.2 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh 13
1.1.3 Cơ sở tâm lí học 15
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Thực trạng việc dạy - học Tiếng Việt lớp 2 21
1.2.2 Thực trạng việc xây dựng bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 23 Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT DÀNH CHO HỌC SINH LỚP 2 26
2.1 Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu có tính tương đồng với văn bản trong sách giáo khoa 26
2.1.1 Tính tương đồng về thể loại văn bản 26
2.1.2 Tính tương đồng về nội dung của văn bản 26
2.2 Hệ thống bài tập cụ thể 27
2.2.1 Hệ thống bài tập phân môn Tập đọc 27
2.2.2 Hệ thống bài tập phân môn Luyện từ và câu 43
2.2.3 Hệ thống bài tập luyện tập tổng hợp 58
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79
3.1 Một số vấn đề chung 79
Trang 73.1.3 Nội dung thực nghiệm 81
3.1.4 Thời gian và quy trình thực nghiệm 82
3.2 Tiến trình triển khai thực nghiệm 82
3.3 Kết quả thực nghiệm 83
3.3.1 Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra) 83
3.3.2 Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi) 86
3.3.3 Nhận xét chung 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 89
Kết luận 89
Khuyến nghị 90
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển và thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nội dung giảng dạy và kiến thức của học sinh phổ thông nói chung và tiểu học nói riêng có nhiều tiến bộ, toàn diện hơn và tiếp cận dần với phương pháp học tập mới với một khối lượng kiến thức cơ bản ngày một lớn hơn và rộng hơn so với trước đây
Chương trình ở một số môn học đã tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực Đồng thời, qua thời gian vừa qua đất nước ta đã xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đông đảo với tổng số trên một triệu người
Mặc dù đạt được kết quả đáng khích lệ như vậy nhưng thực trạng giáo dục vẫn còn yếu kém, bất cập, như chất lượng giáo dục đại trà, phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới Ở tất cả các cấp học, bậc học, cách dạy, cách học trong các nhà trường chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, nặng
về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa phát huy tinh thần tự học và tư duy sáng tạo của học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học Cách thức đánh giá, tổ chức thi
cử chậm được đổi mới, tạo ra tâm lý dạy và học để đối phó với thi cử, gây căng thẳng cho học sinh, người dạy, cho xã hội, làm chậm quá trình đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất cập
Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt này, các cấp lãnh đạo - quản lý, nhà khoa học, người làm công tác giáo dục cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan không phải chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, mà công cuộc cải cách này cần phải có tầm nhìn dài hạn, đồng
Trang 9bộ và hệ thống, nhằm đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề còn tồn tại như những gì mà văn kiện của Đảng đã nêu, nhằm giải quyết một cách căn bản, toàn diện nền giáo dục nước ta
Do tầm quan trọng, quy mô, tính chất và nội dung rộng lớn đó, nên công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không phải là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục Đây là sự nghiệp lớn lao của cả Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Với sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, Chính phủ, với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và những người
am hiểu sâu sắc về giáo dục, thì công cuộc đổi mới một cách căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam chắc chắn sẽ thành công như những kỳ vọng dành cho nó Nhằm quán triệt tình thần này, thì Bộ Chính trị đã yêu cầu “cấp
ủy chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lí thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức sang tạo của người học, chuẩn bị kĩ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hiện đại, phù hợp và có hiệu quả” (theo Kết luận số 242 về đổi mới Giáo dục và Đào tạo) Ngoài ra, theo Quyết định số
711 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta đến 2020, thì định hướng đến năm 2020 nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện
Trang 10Cụ thể, bộ môn Tiếng Việt được dạy ở trường phổ thông, được biết đến với tư cách vừa là một bộ môn khoa học, vừa là một công cụ để giao tiếp và tiếp thu các môn học khác Cấp Tiểu học, môn Tiếng Việt trước tiên nhằm trang bị cho học sinh một công cụ giao tiếp, rèn luyện cho các em những kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động nghe, nói, đọc, viết Môn học này cũng góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh ở Tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằm đào tạo cho các em năng lực sử dụng tiếng Việt văn hoá để suy nghĩ, giao tiếp
và học tập Cuối cấp Tiểu học yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải đạt được là đọc thông, viết thạo, sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong giao tiếp (nói và viết câu đơn, câu ghép thông thường đúng ngữ pháp, nghe và đọc hiểu được văn bản có nội dung thích hợp với yêu cầu học tập và cuộc sống của các em)
Việc dạy học Tiếng Việt giúp hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi.Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện thao tác của tư duy Bên cạnh đó còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài; đồng thời còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người
Từ tuần 25 của chương trình Tiếng Việt lớp 1, học sinh bắt đầu được làm quen với các phân môn Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện Lên lớp 2, các em
sẽ được tiếp tục học các phân môn này tuy nhiên, học sinh sẽ phải làm quen với một số phân môn mới và khó với các em như phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn Với vốn kiến thức còn hạn chế, các em sẽ gặp không ít khó khăn trong việc tiếp thu và thực hành những phân môn mới này Trong khi đó, phân môn Tập làm văn và phân môn Luyện từ và câu một tuần chỉ có 1 tiết
Trang 11còn bài tập đọc hiểu chỉ được giới hạn trong phần tìm hiểu bài của 2 bài Tập đọc Mặc dù hiện nay số lượng đầu sách tham khảo là rất lớn song các bậc phụ huynh muốn tự rèn luyện thêm cho con ở nhà lại không biết lựa chọn đầu sách nào sao cho phù hợp với con em mình Vậy phải làm thế nào để học sinh được thực hành, luyện tập nâng cao nhận thức trong các phân môn Tiếng Việt?
Là giáo viên, tôi nhận thấy rằng : Các em học sinh Tiểu học tuy còn ít tuổi nhưng có thể rèn luyện, trau dồi để từng bước nâng cao trình độ về văn học giúp cho việc học tập môn Tiếng Việt ngày càng tốt hơn Để học sinh có
những khả năng trên, ngoài việc các em tự giác phấn đấu thì việc “Xây dựng
hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2” sẽ giúp giáo viên có thêm tư liệu giảng dạy phong
phú và học sinh được thực hành nhiều hơn, vừa tránh được sự lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa vừa giúp học sinh có khả năng linh hoạt và tự tin, góp phần nâng cao chất lượng dạy – học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
- Nguyễn Trí Dũng, Hoàng Minh Hương, Phan Phương Dung, Nguyễn
Thanh Thủy (2013), Cùng em học Tiếng Việt lớp 2, Nhà xuất bản Hà Nội
- Nguyễn Thị Hạnh (2007), Bài tập thực hành Tiếng Việt 2, Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm
Trang 12- Lê Hữu Tỉnh (Chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Đức Hữu, Luyện tập Tiếng Việt lớp 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
- Lê Phương Nga, Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 2 (2012), Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm, TP Hồ Chí Minh
Hệ thống bài tập trong các công trình nghiên cứu này đều được các tác giả chia theo từng tuần Các văn bản được sử dụng trong các công trình trên phần lớn đều là những văn bản trong sách giáo khoa Cụ thể như trong phân môn Tập đọc, các tác giả thường sử dụng ngay văn bản của phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt lớp 2 rồi viết lại câu hỏi tìm hiểu bài dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm Còn một số tác giả lại sử dụng những văn bản trong SGK Tiếng Việt của các lớp cao hơn để thiết kế bài tập Các công trình nghiên cứu trên đều có tác dụng giúp HS củng cố, ôn luyện kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt Tuy nhiên vì các công trình này đều sử dụng văn bản đã có trong SGK nên không khơi gợi được hứng thú với HS cũng như không giúp mở rộng thêm vốn hiểu biết về văn học, cuộc sống cho HS
2.2 Lịch sử nghiên cứu “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2”
Hiện nay, có rất nhiều đầu sách tham khảo tuy nhiên chỉ có một số ít tác giả sử dụng khoảng 30 – 40% sử dụng ngữ liệu giống văn bản trong sách giáo khoa Các tác giả đều bám sát các đơn vị kiến thức trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 để xây dựng nội dung cho các cuốn sách của mình Các tác giả cũng đã xây dựng hệ thống bài tập trên ngữ liệu có tính tương đồng về nội dung với các văn bản trong SGK Một số công trình của các tác giả như :
- Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Ly Kha (2014), Vở luyện tập Tiếng Việt 2,
Nhà xuất bản Đà Nẵng
- Lê Phương Nga (2011), Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt lớp 2, NXB
Đại học Sư phạm
Trang 13- Nguyễn Trí Dũng, Hoàng Minh Hương, Phan Phương Dung, Nguyễn
Thanh Thủy (2013), Cùng em học Tiếng Việt lớp 2, NXB Hà Nội
- Đặng Thị Trà, Trần Thị Hằng (2009), Bài tập Tiếng Việt nâng cao lớp
2, Nhà xuất bản Sư phạm, Hà Nội
Tuy nhiên, chưa có công trình nào sử dụng toàn bộ ngữ liệu khác với văn bản trong SGK khi xây dựng bài tập Tiếng Việt cho HS lớp 2, nhưng các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã là gợi ý quan trọng cho tôi thực
hiện công việc “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn
những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng được hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trên
ngữ liệu có tính tương đồng với văn bản trong sách giáo khoa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài
- Điều tra thực trạng việc dạy - học Tiếng Việt lớp 2
- Tìm các văn bản tương đương và xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
- Thực nghiệm sư phạm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trên những văn bản Tiếng Việt tương đương với văn bản trong sách giáo khoa
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập luyện tập kiến thức Tiếng Việt trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 Tuy nhiên luận văn chỉ tập trung xây dựng hệ thống bài tập cho hai phân môn: TĐ và LTVC bởi đây
là hai phân môn sử dụng nhiều văn bản nhất
- Giới hạn phạm vi thực nghiệm : Việc thực nghiệm được thực hiện tại trường tiểu học Kim Đồng (Quận Ba Đình – Hà Nội), trường tiểu học Nguyễn
Du (Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã vận dụng phương pháp nghiên cứu lí luận để làm những việc sau :
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí lứa tuổi, đặc điểm tư duy, ngôn ngữ của HS Tiểu học,… qua đó xác định tiền đề cho việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 2
- Nghiên cứu các tài liệu về ngôn ngữ học, văn bản để tìm ra cơ sở khoa học trong việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho HS lớp 2
- Nghiên cứu SGK môn Tiếng Việt (SGK, SGV) để việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho HS bám sát những chủ điểm, mục tiêu đề ra
- Nghiên cứu các tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn, thơ,… phù hợp với lứa tuổi Tiểu học để tìm ngữ liệu cho hệ thống bài tập Tiếng Việt
5.2 Phương pháp thống kê, phân loại
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã chọn và phân loại các tài liệu để sử dụng cho việc thay thế văn bản trong SGK Do vậy phương pháp này được vận dụng trong quá trình thống kê chủ điểm các tuần học trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, phân loại các dạng bài tập, phiếu điều tra, bài kiểm tra của
HS để đưa ra những kết luận cần thiết của đề tài
Trang 155.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sau khi đã thống kê, phân loại các tư liệu thay thế, tôi đã vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để chọn lọc ra những tư liệu tốt nhất để sử dụng
5.4 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã được dự giờ của một số đồng nghiệp trong và ngoài trường Tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để quan sát, tìm hiểu về chất lượng dạy - học, hoạt động dạy - học, xu thế dạy - học môn Tiếng Việt (các phân môn TĐ, LTVC) ở Tiểu học, từ đó rút ra những nhận định về thực trạng dạy học môn Tiếng Việt để có phương hướng trong việc xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với HS lớp 2
5.5 Phương pháp thực nghiệm
Cuối cùng, phương pháp thực nghiệm đã được vận dụng trong quá trình thiết kế, xây dựng hệ thống bài tập các phân môn TĐ, LTVC cho HS lớp 2 ở trường 2 Tiểu học là trường Tiểu Học Kim Đồng (Quận Ba Đình) và trường Tiểu học Nguyễn Du (Quận Hoàn Kiếm, HN) Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS (bằng phiếu điều tra, bài kiểm tra) có so
+ Cụ thể hóa các dạng bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
+ Góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học các phân môn thuộc môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai trong 3 chương:
Trang 16Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài
tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
Chương 2 : Hệ thống bài tập Tiếng Việt dành cho học sinh lớp 2
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Phần cuối luận văn là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 17- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn và phát huy sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Những mục tiêu trên được cụ thể hóa thành mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 2 (phân môn TĐ, LTVC) như sau:
1.1.1.1 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của phân môn Tập đọc
- môn Tiếng Việt lớp 2
Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về
Trang 18thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh
Yêu cầu về kĩ năng:
Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS
a Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng
- Ngắt nghỉ hợp lí
- Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hay đọc lí nhí)
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/phút
b Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc
c Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài
- Nghe – hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô
- Nghe – hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn
d Nói :
- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc
- Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc
Yêu cầu về kiến thức :
Kiến thức tiếng Việt và văn học (chỉ làm quen và nhận biết thông qua các bài thực hành kĩ năng):
a, Ngữ âm và chữ viết
- Nắm được một số quy tắc chính tả
- Nhớ được bảng chữ cái
Trang 19- Biết phân biệt văn xuôi, văn vần
- Nhận biết các nhân vật trong truyện
- Nhận biết đoạn văn, khổ thơ
1.1.1.2 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của phân môn Luyện
từ và câu - môn Tiếng Việt lớp 2
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh
a Mở rộng vốn từ và cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về từ loại (từ chỉ người, con vật, đồ vật, cây cối; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ
Trang 20c Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và thích học tiếng Việt
1.1.1.3 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của phân môn Tập làm văn - môn Tiếng Việt lớp 2
Phân môn Tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc Trong giờ Tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và các bài tập (nói, viết) xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành của văn bản
a Rèn luyện cho HS các kĩ năng nói, viết, nghe, đọc, phục vụ cho việc học tập và giao tiếp, cụ thể :
- Nắm được các nghi thức lời nói tối thiểu, như : chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn, …; biết sử dụng chúng trong một số tình huống giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơi công cộng
- Nắm được một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày, như : khai bản tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, nhận hoặc gọi điện thoại, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu,…
- Kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi
- Nghe – hiểu được ý kiến của bạn, có thể nêu ý kiến bổ sung, nhận xét b.Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc; bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy
1.1.2 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh
1.1.2.1 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt trong việc đạt mục tiêu về kiến thức cho học sinh lớp 2
Chương trình SGK được biên soạn theo hướng đồng tâm do đó những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh tiếp nhận được qua bộ SGK Tiếng
Trang 21Việt lớp 2 có ảnh hưởng đến chương trình của các lớp sau này Do đó những ngữ liệu được chọn để thiết kế bài tập cho HS cần có tính tương đồng với văn bản trong SGK (về thể loại, chủ đề) Vì vậy, hệ thống bài tập này luôn bám sát vào chương trình Tiếng Việt lớp 2, đảm bảo ôn luyện đúng kiến thức trọng tâm trong chương trình Do vậy việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc ôn luyện, khắc sâu kiến thức đã học, giúp HS đạt được mục tiêu về kiến thức của môn Tiếng Việt
1.1.2.2 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt trong việc đạt mục tiêu về kĩ năng cho học sinh lớp 2
Môn Tiếng Việt là một môn gắn với việc thực hành cao Hàng ngày học sinh lại được tiếp xúc thường xuyên với các văn bản sẵn có trong sách giáo khoa nên nhìn chung không còn mới mẻ với các em Tuy nhiên, hệ thống bài tập Tiếng Việt là tập hợp những dạng bài tập phong phú, mới mẻ dành cho
HS Các bài tập này không chỉ nhằm mục đích ôn luyện kiến thức đã học trong chương trình mà còn tạo cơ hội cho HS được rèn luyện sâu hơn bốn kĩ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết
Ví dụ: Phân môn TĐ trong chương trình lớp 2 hiện nay chủ yếu chỉ rèn luyện cho HS kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm mà xem nhẹ việc rèn kĩ năng đọc hiểu Bởi lẽ hệ thống câu hỏi sau các bài tập đọc trong chương trình đa phần là câu hỏi tự luận Một giờ học chỉ có vài HS được tham gia trả lời nên hầu hết các em có kĩ năng đọc hiểu kém Trong khi đó, hệ thống các bài tập của phân môn TĐ mà chúng tôi xây dựng có nhiều câu hỏi dưới hình thức trắc nghiệm khách quan nên tạo cơ hội cho tất cả HS đều được trả lời câu hỏi tìm hiểu về nội dung bài đọc Nhờ đó mà kĩ năng đọc hiểu được nâng cao hơn Như vậy, hệ thống bài tập Tiếng Việt đã bổ sung, rèn luyện thêm những
kĩ năng mà HS còn yếu hoặc thiếu hụt qua chương trình học Do đó nó có vai
trò rất quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu về kĩ năng cho HS lớp 2
Trang 221.1.2.3 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt trong việc đạt mục tiêu về thái độ cho học sinh lớp 2
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt, chúng tôi đã cân nhắc và lựa chọn các ngữ liệu không những tương đồng với văn bản trong SGK về thể loại và chủ đề mà các ngữ liệu này còn có nội dung hấp dẫn, mang tính giáo dục, tính nghệ thuật cao Vì thế hệ thống bài tập này không chỉ
có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng cho
HS lớp 2 mà đây còn là nguồn tư liệu phong phú, bổ sung thêm những tri thức
về đời sống, văn học, nghệ thuật,… cho HS Tính mới mẻ của ngữ liệu kích thích trí tò mò và khơi gợi hứng thú học tập cho HS Đồng thời, thông qua những ngữ liệu này, HS được bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương, đất nước, yêu ngôn ngữ của tổ quốc mình, hình thành ý thức giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ
Như vậy, hệ thống bài tập Tiếng Việt thực sự cần thiết và quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu về thái độ cho HS lớp 2
1.1.3 Cơ sở tâm lí học
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2
Học sinh tiểu học được chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn đầu là giai đoạn học sinh các lớp 1,2,3 và giai đoạn cuối tiểu học là học sinh lớp 4, 5
Ở giai đoạn đầu, HS chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang học tập Đây là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó Hoạt động học tập có vai trò quan trọng đối với HSTH Cùng với sự phát triển về thể chất và dựa vào những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Tuy vậy học sinh lớp 2 là lớp giữa của giai đoạn đầu bậc Tiểu học
vì vậy ở lứa tuổi này học sinh đã bắt đầu chuyển dần từ tư duy cụ thể, cảm
Trang 23tính sang tư duy trừu tượng, khái quát hơn Do vậy các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể
để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
Ở giai đoạn đầu tiểu học, hình ảnh tưởng tượng cũng đơn giản, chưa vững bền và dễ thay đổi Chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
Lên lớp 2, học sinh đã đọc thông, viết thạo Tuy nhiên tư duy ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế do đó cần phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ bằng nguồn tư liệu phong phú hơn Đồng thời, thay đổi các hình thức luyện tập cho trẻ đỡ nhàm chán Những việc làm này góp phần làm phong phú vốn ngôn ngữ, nâng cao khả năng tư duy, trí tưởng tượng cho trẻ
1.1.3.2 Đặc điểm tư duy ngôn ngữ của học sinh lớp 2
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và là công cụ tư duy của con người
Ngôn ngữ thường được chia làm hai loại đó là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Đối với học sinh những lớp đầu cấp Tiểu học, ngôn ngữ của các em còn bị hạn chế do vốn sống còn ít ỏi Ngôn ngữ viết lại càng hạn chế hơn Nhiều khi các em hiểu song không biết phải diễn đạt ra như thế nào Do đó, học sinh lớp 1 thường gặp khó khăn trong việc nói hoặc viết thành câu hoàn chỉnh Còn HS lớp 2 lại gặp khó khăn khi diễn đạt ở phân môn Tập làm văn
Do vậy, muốn HS lớp 2 học tốt phân môn này, người giáo viên phải cung cấp
Trang 24cho các em một vốn từ nhất định Đồng thời giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ cũng như cách sử dụng các từ đó trong từng ngữ cảnh nhất định Bên cạnh đó thì việc hiểu nghĩa của từ phát triển rất mạnh ở HS tiểu học Nếu trước tuổi đi học, các em chỉ có thể hiểu được khoảng 3500 từ đến 4000 từ thì những năm sau đó, các em có thể hiểu được khoảng 8000 từ Mặt khác, HS tiểu học cũng dần hình thành những suy diễn ngôn ngữ cho phép hiểu nhiều hơn những gì được nói ra và đây cũng là một trong những đặc trưng phát triển ngôn ngữ của lứa tuổi này HS tiểu học không chỉ hoàn thiện ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ mà phải hình thành cho HS năng lực đọc, viết thành thạo [19,tr 158-159] Muốn vậy, người giáo viên cần cung cấp cho học sinh các dạng bài tập đọc và luyện từ và câu phong phú, phù hợp với từng chủ điểm
Như vậy việc “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2” là rất thiết thực cho giáo viên trong việc nâng cao khả năng diễn đạt của học sinh
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.4.1 Khái quát về văn bản
Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định
Ðặc trưng của văn bản thể hiện qua các tính chất: tính hoàn chỉnh, tính thống nhất, tính liên kết và tính mạch lạc Trong đó tính hoàn chỉnh và tính liên kết là hai đặc trưng cơ bản
- Tính hoàn chỉnh
Tính hoàn chỉnh của văn bản thể hiện ở hai mặt: nội dung biểu đạt và cấu trúc Trong đó, tính hoàn chỉnh về mặt nội dung có ý nghĩa quyết định Xét về mặt nội dung, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi đề tài và chủ
Trang 25đề của nó được triển khai một cách đầy đủ, chính xác và mạch lạc Nếu đề tài, chủ đề triển khai không đầy đủ, vượt quá giới hạn hay thiếu chính xác, mạch lạc thì văn bản sẽ vi phạm tính hoàn chỉnh
Xem xét các văn bản dẫn chứng chúng ta sẽ thấy rõ đặc điểm vừa nêu Trong bài Thằng Bờm, các câu văn đều tập trung vào hai đối tượng chính là thằng Bờm và phú ông Mặt khác, các câu còn tập trung vào việc triển khai cuộc trao đổi giữa họ theo diễn tiến từ đầu đến khi kết thúc
Xét về mặt cấu trúc, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi các phần, các đoạn, các câu trong từng đoạn được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự hợp
lí, thể hiện một cách đầy đủ, chính xác, và mạch lạc nội dung của văn bản Sự hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của văn bản còn chịu sự chi phối gián tiếp của phong cách ngôn ngữ văn bản Tuỳ vào phong cách ngôn ngữ, cấu trúc của các văn bản thuộc phong cách hành chánh phải tuân thủ khuôn mẫu rất nghiêm ngặt Các văn bản thuộc phong cách khoa học cũng ít nhiều mang tính khuôn mẫu, thể hiện qua bố cục của các phần Riêng văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như thơ, truyện, ký thì thường có cấu trúc linh hoạt
- Tính liên kết
Tính liên kết của văn bản là tính chất kết hợp, gắn bó, ràng buộc qua lại giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản Ðó là sự kết hợp, gắn bó giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương với nhau, xét về mặt nội dung cũng như hình thức biểu đạt Trên cơ sở đó,tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức
a) Tính liên kết nội dung:
Nội dung văn bản bao gồm hai nhân tố cơ bản: đề tài và chủ đề Do đó, tính liên kết về mặt nội dung thể hiện tập trung qua việc tổ chức, triển khai hai nhân tố này, trên cơ sở đó hình thành 2 nhân tố liên kết: liên kết đề tài và liên kết chủ đề
Trang 26Liên kết đề tài là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản trong việc tập trung thể hiện đối tượng mà văn bản đề cập đến Trong bài Thằng Bờm, các câu đều tập trung vào hai đối tượng: Thằng Bờm và phú ông Liên kết chủ đề là sự tương hợp mang tính lô-gích về nội dung nghĩa giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản Ðó là sự tương hợp về nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận giữa các câu, các đoạn, các phần trong văn bản Một văn bản được xem là có liên kết lô-gích khi nội dung miêu tả, trần thuật, bàn luận giữa các câu, các đoạn, các phần không rời rạc hay mâu thuẫn với nhau, ngoại trừ trường hợp người viết cố tình tạo ra sự mâu thuẫn nhắm vào một mục đích biểu đạt nào đó
Xem lại bài Thằng Bờm, chúng ta thấy, nội dung trần thuật giữa các câu thể hiện rõ qua hành động mang tính chất đề nghị trao đổi của phú ông và thái độ, phản ứng của thằng Bờm trước các đề nghị cụ thể Thằng Bờm đã lần lượt từ chối hết đề nghị này đến đề nghị khác của phú ông cho đến khi phú ông đưa ra nắm xôi, thằng Bờm đồng ý Ðến đó, cuộc trao đổi kết thúc Ðó là biểu hiện cụ thể của liên kết chủ đề trong bài đồng dao này
b) Liên kết hình thức
Liên kết hình thức trong văn bản là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản xét trên bình diện ngôn từ biểu đạt, nhằm hình thức hoá, hiện thực hoá mối quan hệ về mặt nội dung giữa chúng
Như đã nói, liên kết nội dung với hai nhân tố đề tài và chủ đề thể hiện qua mối quan hệ giữa các câu, các đoạn, các phần , xoay quanh đề tài và chủ
đề của văn bản Mối quan hệ này mang tính chất trừu tượng, không tường minh Do đó, trong quá trình tạo văn bản, người viết (người nói) bao giờ cũng phải vận dụng các phương tiện ngôn từ cụ thể để hình thức hoá, xác lập mối quan hệ đó Toàn bộ các phương tiện ngôn từ có giá trị xác lập mối quan hệ về nội dung giữa các câu, các đoạn là biểu hiện cụ thể của liên kết hình thức
Trang 27Liên kết hình thức trong văn bản được phân chia thành nhiều phương thức liên kết Mỗi phương thức liên kết là một cách tổ chức sự liên kết, bao gồm nhiều phương tiện liên kết khác nhau có chung đặc điểm nào đó Nhìn chung, liên kết hình thức bao gồm các phép liên kết: lặp ngữ âm, lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, liên tưởng, đối nghịch, thế đại từ, tỉnh lược cấu trúc, lặp cấu trúc và tuyến tính Các phép liên kết này sẽ được xem xét cụ thể trong tổ chức của đoạn văn - đơn vị cơ sở và là đơn vị điển hình của văn bản Các phép liên kết này cũng được vận dụng giữa các đoạn, phần trong văn bản Ðiều đó có nghĩa là liên kết hình thức thể hiện ở nhiều cấp độ trong văn bản Trong văn bản, liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, liên kết nội dung quy định liên kết hình thức
1.1.4.2 Đề tài – chủ đề của văn bản
Văn bản dù ngắn hay dài đều đề cập đến một hay một vài đối tượng nào
đó trong hiện thực khách quan hay trong hiện thực tâm lí, tình cảm của con người Ðối tượng này chính là đề tài của văn bản
Gắn liền với đề tài là sự triển khai của người viết, nói về đề tài, tức sự miêu tả, trần thuật hay bàn luận về đề tài Nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận cơ bản, bao trùm lên toàn văn bản là chủ đề của đề tài Ví dụ:
Thằng Bờm
Thằng Bờm có cái quạt mo, Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng bờm chẳng lấy trâu, Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng bờm chẳng lấy mè, Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng bờm chẳng lấy lim, Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Trang 28Bờm rằng bờm chẳng lấy mồi, Phú ông xin đổi nấm xôi, Bờm cười
Bài ca dao trên đề cập đến hai đối tượng: thằng Bờm và phú ông Nội dung trần thuật cơ bản về hai đối tượng đó là cuộc trao đổi Như vậy thằng Bờm và phú ông là đề tài của văn bản; còn cuộc trao đổi là chủ đề của nó Tổng hợp hai nhân tố này, ta xác định được nội dung cơ bản của văn bản: cuộc trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm
Đề tài của văn bản thường mang tính hiển ngôn, còn chủ đề của văn bản có thể mang tính hàm ngôn hay hiển ngôn Tính hiển ngôn hay hàm ngôn của chủ đề văn bản có thể do phong cách ngôn ngữ văn bản hay do phong cách tác giả chi phối Nhìn chung, trong các loại hình văn bản phi hư cấu (văn bản thuộc phong cách khoa học, chính luận, hành chánh), chủ đề thường được hiển ngôn Trong các loại hình văn bản hư cấu (văn bản thuộc phong cách nghệ thuật), chủ đề thường mang tính hàm ngôn, nhiều tầng, nhiều lớp nghĩa
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng việc dạy - học Tiếng Việt lớp 2
Sau khi hoàn thành chương trình học lớp 1, học sinh bước vào lớp 2 đã được trang bị một phần quan trọng đối với việc học Tiếng Việt đó là biết đọc, biết viết Các em đã được làm quen với phân môn Tập đọc từ giữa học kì 2, bắt đầu được học cách tìm hiểu bài để hiểu nội dung văn bản Sang lớp 2, học sinh tiếp tục được học phân môn Tập đọc và thêm phân môn mới là Luyện từ
và câu Tuy nhiên, qua một quá trình giảng dạy, tìm hiểu và dự giờ các tiết học Tiếng Việt lớp 2 ở phân môn Tập đọc và Luyện từ và câu, tôi nhận thấy việc dạy học Tiếng Việt hiện nay nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của môn học Cụ thể như sau :
- Đối với phân môn Tập đọc :
Trang 29+ GV thường chỉ chú trọng việc rèn đọc tiếng cho học sinh mà xem nhẹ hoặc bỏ qua việc rèn kĩ năng đọc hiểu Học sinh mới chỉ cố gắng để đọc đúng,đọc trôi chảy chứ chưa hiểu nội dung văn bản Một số từ khó trong bài tập đọc, nhiều học sinh chưa hiểu được nghĩa của từ GV mới chỉ dừng lại ở việc giải nghĩa từ thông qua việc đọc phần chú giải ở cuối mỗi bài đọc, chưa
có ý thức giúp học sinh hiểu nghĩa hay mở rộng nghĩa của các từ khác Đặc biệt trong những văn bản nghệ thuật như truyện, thơ,… có nhiều từ khóa thể hiện nét đặc sắc về nghệ thuật hoặc truyền tải tâm tư, tình cảm của tác giả nhưng giáo viên lại bỏ qua việc giải nghĩa từ khóa đó, khiến cho học sinh chưa hiểu, chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp và tâm tư, tình cảm đó Bên cạnh đó, việc không hiểu hết nghĩa của từ và nội dung văn bản sẽ làm hạn chế khả năng diễn đạt của các em trong phân môn Tập làm văn Bởi mỗi chủ điểm đều có các dạng bài Tập làm văn tương ứng Việc học tốt phân môn Tập đọc
sẽ giúp các em vận dụng cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh của các tác giả để làm bài của mình
+Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài trong sách giáo khoa thường dưới hình thức trả lời miệng, có rất ít câu hỏi tìm hiểu bài dưới dạng trắc nghiệm hay câu hỏi tự luận Do vậy trong giờ học TĐ, chỉ một số ít các em học sinh khá giỏi có thể tham gia trả lời câu hỏi cuối bài, đại đa số các em còn lại thường thụ động nghe mà không hiểu hoặc không được bày tỏ ý kiến cá nhân Những học sinh kém hơn có thể không cần tư duy vì chỉ một số bạn trả lời được đã trả lời rồi Các em có thể chỉ phải nhắc lại một cách máy móc Một tình trạng phổ biến nữa ở các tiết học TĐ là khi trả lời câu hỏi, HS thường đọc lại cả câu, thậm chí cả đoạn văn trong sách giáo khoa mà không biết tự diễn đạt theo ý của mình vì hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài trong sách giáo khoa hiện nay thiếu hẳn những câu hỏi để rèn cách trình bày, diễn đạt cho học sinh
Trang 30- Đối với phân môn LTVC : Ở phần mở rộng vốn từ, giáo viên thường chỉ cho học sinh tìm các từ ngữ theo chủ điểm mà quên mất việc giúp các em vận dụng những từ ngữ đó vào cuộc sống, giao tiếp hằng ngày hay áp dụng vào việc đặt câu, viết đoạn văn Do đó, những từ ngữ các em học được qua các bài tập mở rộng vốn từ dần dần bị mai một, quên lãng và lại trở thành những từ ngữ mới mẻ đối với học sinh Tiết học thường được tiến hành máy móc, thiếu tính sáng tạo, không có liên hệ thực tế hay giúp mở rộng vốn hiểu biết cho các em Còn trong những bài tập luyện cách sử dụng các loại dấu câu, GV thường chỉ dừng lại ở việc chữa cách điền dấu đúng/sai mà chưa khái quát cách sử dụng dấu câu như thế nào cho phù hợp, đúng quy tắc Bên cạnh
đó, các bài tập đặt câu theo mô hình (Ai là gì ?, Ai làm gì ?, Ai thế nào?) GV cũng chỉ dừng ở mức rèn cho HS đặt câu đúng mẫu câu, chưa khuyến khích hay hướng dẫn các em đặt câu văn hay, có hình ảnh Vì thế hiệu quả, chất lượng dạy- học chưa đạt được mục tiêu mà môn Tiếng Việt đã đề ra
1.2.2 Thực trạng việc xây dựng bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
Theo chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo, hiện nay học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày Buổi sáng, học sinh được học chương trình chính khóa còn buổi chiều thường dùng để hoàn thành các bài tập mà các em còn thiếu trong giờ học chính Ngoài ra, buổi chiều giáo viên có thể tận dụng thời gian để ôn tập, củng cố kiến thức cho những học sinh yếu, kém và bồi dưỡng cho học sinh khá, giỏi Chính vì vậy đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị một số lượng bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh Với những học sinh yếu, kém, giáo viên phải xây dựng một hệ thống bài tập ngoài sách giáo khoa khác với hệ thống bài tập dùng để bồi dưỡng học sinh khá, giỏi Tuy nhiên trên thực tế, việc làm này không phải lúc nào cũng thực hiện được
- Về phía học sinh : có những trường hợp các em không kịp hoàn thành bài tập chính khóa nên phải hoàn thiện vào buổi chiều Do đó, các em sẽ
Trang 31không còn thời gian để tìm hiểu các bài tập mà giáo viên có thể cung cấp cho các em để củng cố và nâng cao kiến thức Vậy muốn khắc phục tình trạng trên, cả giáo viên và học sinh cùng phải cố gắng để hoàn thành các bài tập trong chương trình sách giáo khoa vào buổi học chính khóa Từ đó mới có thời gian để luyện tập thêm
- Về phía giáo viên : bên cạnh những giáo viên rất nhiệt tình, tâm huyết với nghề, với trẻ còn có một bộ phận lớn giáo viên ngại thiết kế bài tập để kèm cặp thêm cho học sinh Có chăng họ chỉ lấy những bài có sẵn trong các sách tham khảo mà không cần quan tâm những bài tập đó có phù hợp với trình độ của học sinh hay không Hoặc có chăng chỉ là sưu tầm những tư liệu nhưng không có sự phân hóa với từng đối tượng học sinh Do đó chưa phát huy được hết tác dụng của hệ thống văn bản thay thế Bên cạnh đó, một số
GV thường chỉ chú trọng cho HS luyện viết chính tả, luyện viết chữ đẹp mà sao lãng việc củng cố kiến thức, kĩ năng của môn LTVC hay rèn kĩ năng đọc cho học sinh Vẫn còn nhiều GV chưa có kĩ năng thiết kế bài tập cho HS do thiếu sự nghiên cứu tài liệu, chưa nắm vững phương pháp xây dựng bài tập tiếng Việt
Chính vì những nguyên nhân trên mà việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua những văn bản tương đương cho học sinh còn nhiều hạn chế
Trang 32Tiểu kết chương 1
Từ thực trạng giáo dục hiện nay và dựa trên những cơ sở khoa học chính là cơ sở cho việc “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua những văn
bản tương đương cho học sinh lớp 2” Việc xây dựng hệ thống bài tập tiếng
Việt là việc làm thiết thực, góp phần đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ cho HS Dựa vào những đặc điểm tâm lí, tư duy, ngôn ngữ của học sinh, tôi thấy các em có nhu cầu được củng cố, ôn tập và mở rộng những kiến thức mới mà nguồn kiến thực trong sách giáo khoa thì bị hạn chế Do đó, cần phải cung cấp thêm cho học sinh những tri thức mới thông qua các văn bản tương đương với văn bản trong sách giáo khoa
Hệ thống bài tập được thiết kế trên những văn bản tương đương đó góp phần rất lớn trong việc cung cấp tri thức, tạo hứng thú học tập cho các em Hệ thống bài tập được phân hóa để giúp các HS yếu, kém có thể củng cố được những kiến thức chưa chắc Đồng thời, có những bài tập nhằm phát triển tư duy cho những học sinh khá, giỏi Từ đó, giúp các em hiểu, tự tin để từ đó say
mê hơn với việc học tập, khơi gợi tình yêu với các phân môn mới tương đối khó với các em (phân môn LTVC, TLV)
Từ những lí do trên, tôi nhận thấy việc “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2” là thực sự cần thiết cho cả HS và giáo viên Đây cũng là một nguồn tư liệu quan trọng giúp cho giáo viên trong việc thiết kế hệ thống bài tập cho HS
Trang 33Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT
DÀNH CHO HỌC SINH LỚP 2
2.1 Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu có tính tương đồng với văn bản trong sách giáo khoa
2.1.1 Tính tương đồng về thể loại văn bản
Các văn bản trong SGK môn Tiếng Việt lớp 2 rất phong phú và đa dạng về thể loại, bao gồm: thơ, truyện, văn miêu tả, văn bản khoa học, văn bản hành chính (đơn, thư, bưu thiếp)…
Trong quá trình thiết kế, xây dựng hệ thống bài tập cho HS, cần nghiên cứu văn bản trong SGK thuộc thể loại nào, từ đó lựa chọn ngữ liệu có cùng
thể loại với văn bản đó
2.1.2 Tính tương đồng về nội dung của văn bản
Nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 2 được học trong 35 tuần, gồm
15 chủ điểm (mỗi chủ điểm học trong 2 tuần, riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần, tuần 9, tuần 18 và 27 ôn tập) Cụ thể:
Học kì 1 tập trung vào mảng “ Học sinh – Nhà trường – Gia đình” gồm
8 chủ điểm : Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà
Học kì 2 tập trung vào mảng “ Thiên nhiên – Đất nước” gồm 7 chủ
điểm: Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân
Các văn bản trong mỗi chủ điểm đều có đề tài thuộc chủ điểm đó Ví dụ: trong chủ điểm Trường học, các văn bản đều nói về học sinh và nhà trường Như vậy, lựa chọn ngữ liệu có tính tương đồng về nội dung với văn bản trong SGK tức là phải chọn những ngữ liệu có đề tài thuộc các chủ điểm nói trên
Trang 342.2 Hệ thống bài tập cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã xây dựng, thiết kế hệ thống bài tập theo hướng lựa chọn các ngữ liệu có tính tương đồng về cả nội dung
và thể loại với văn bản trong SGK
2.2.1 Hệ thống bài tập phân môn Tập đọc
2.2.1.1 Chủ điểm Bạn bè
Qua chủ điểm Bạn bè, HS cần đạt được mục tiêu sau:
- Đọc trơn toàn bài Đọc đúng các từ ngữ dễ phát âm sai do ảnh hưởng của tiếng địa phương
- Biết nghỉ hơi hợp lí sau dấu chấm, dấu phẩy và giữa các cụm từ
- Biết đọc phân biệt lời kể chuyện với lời các nhân vật
- Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nhận thức được tình cảm bạn bè gắn bó
Đề bài: Đọc câu chuyện sau
Thăm bạn ốm
Hôm nay đến lớp Thấy vắng Thỏ Nâu Các bạn hỏi nhau Thỏ đi đâu thế ? Gấu liền nói khẽ
“Thỏ bị ốm rồi Này các bạn ơi Đến thăm Thỏ nhé !”
Gấu thì mua khế Mèo thì mua chanh Hươu mua sữa bột
Trang 35Nai sữa đậu nành
Chúc bạn khỏe nhanh Cùng nhau đến lớp
(Theo Trần Thị Hương) Bài tập: Em hãy khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi dưới đây:
3 Gấu rủ các bạn đi đâu?
a Đi mua khế, mua chanh
b Đi mua sữa
c Đi thăm bạn ốm
4 Gấu, Mèo, Hươu, Nai mong muốn điều gì?
a Mong bạn ăn khỏe
b Mong bạn nhận những món quà của bạn bè
c Mong bạn mau khỏe để cùng nhau đến lớp
2.2.1.2 Chủ điểm Ông bà
Qua chủ điểm Ông bà, HS cần đạt được mục tiêu sau:
- Đọc trơn toàn bài Biết ngắt nghỉ hơi hợp lí sau dấu chấm, dấu phẩy
và giữa các cụm từ
- Biết đọc phân biệt lời kể chuyện với lời các nhân vật
- Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
Trang 36- Nhận thức được trách nhiệm của con cháu đối với ông bà Từ đó giáo
dục các em cách cư xử, thể hiện tình cảm đối với ông bà
Đề bài: Đọc câu chuyện sau
Bà nội
Bố mẹ đón bà nội ở quê ra dưỡng bệnh Sáng ra, nhà chỉ có hai bà cháu Vi học bài, còn bà quét dọn, lau nhà, rửa ấm chén Học bài xong, Vi định giúp bà nấu cơm thì bà bảo Vi để bà làm Vi thích quá, chạy sang nhà
Vừa lúc ấy, mẹ đi làm về Mẹ vội vàng vào bếp:
- Bà để con làm Bà đang ốm mà
Bà cười:
- Mẹ làm đỡ hai mẹ con một chút có sao đâu
Nghe mẹ và bà nói chuyện Vi vội chạy xuống bếp:
- Bà ơi, bà nghỉ đi Cháu sẽ giúp mẹ nấu cơm
Bài tập: Đánh dấu gạch chéo (x) vào câu trả lời đúng:
a Vì sao bố mẹ Vi đón bà nội ở quê lên?
Vì muốn bà nghỉ ngơi, dưỡng bệnh
Vì muốn bà chăm sóc Vi
Vì muốn bà giúp việc nhà
b Bà đã làm gì?
Bà nghỉ ngơi, dưỡng bệnh
Bà dạy Vi học bài
Trang 37 Bà làm mọi việc cho Vi
c Vi cảm thấy thế nào sau buổi đi học về?
Có bà làm cho tất cả, thật tuyệt!
Bà rất khỏe
Bà đã già, rất ốm yếu
d Nhờ mẹ, Vi hiểu ra điều gì?
Bà đang bệnh, cần được chăm sóc
Bà không làm gì được nữa
Mẹ sẽ giúp Vi mọi việc
2.2.1.3 Chủ điểm Cha mẹ
Qua chủ điểm Trường học, HS cần đạt được mục tiêu sau:
- Đọc trơn toàn bài
- Biết ngắt hơi đúng ở các câu có nhiều dấu phẩy
- Bước đầu biết bộc lộ cảm xúc qua giọng đọc
- Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nhận thức được trách nhiệm, tình cảm của mình đối với mọi người trong gia đình Qua đó giáo dục HS cách thể hiện tình cảm với cha mẹ
Đề bài: Đọc câu chuyện sau
Cha tôi
Mẹ tôi mất từ lúc tôi lên hai Cha nuôi tôi từ thuở ấy Người dùng xe xích lô để kiếm sống Đấy cũng là chiếc nôi đưa tôi đi khắp nẻo đường thành phố Tôi lớn lên trong sự nhọc nhằn thức khuya dậy sớm, nai lưng đạp xích lô của cha
Hằng ngày, cha phải thay phần việc của mẹ: lo từng mớ rau, quả cà và
cả việc vá may
Sáng nào cũng vậy, cha dậy rất sớm để đưa, đón khách Nhiều hôm hàng phố đã cơm nước xong, ngồi xem ti vi, cha mới đạp xe về nhà
Trang 38Cha rất quý chiếc xích lô Người bảo nó đã nuôi sống cả nhà mình
c Chiếc nôi mây
2 Người bố trong câu chuyện trên đã làm gì để nuôi sống gia đình?
a Chữa xe xích lô
b Buôn bán, vá may
c Đạp xe xích lô chở người, hàng hoá
3 Tại sao người bố trong câu chuyện trên rất quý chiếc xích lô?
a Vì chiếc xích lô rất đẹp
b Vì chiếc xích lô là kỉ vật của vợ ông để lại
c Vì chiếc xích lô giúp ông nuôi cả nhà
2.2.1.4 Chủ điểm Anh em
Qua chủ điểm Anh em, HS cần đạt được mục tiêu sau:
- Đọc trơn toàn bài Biết nghỉ hơi hợp lí sau dấu chấm, dấu phẩy và giữa các cụm từ dài
- Biết đọc phân biệt giọng kể và giọng nhân vật
- Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nhận thức được trách nhiệm của anh em trong một gia đình Từ đó
giáo dục các em cách cư xử, thể hiện tình cảm của anh ,chị em với nhau
Đề bài: Đọc câu chuyện sau
Trang 39Một người anh
Sơn được anh trai tặng cho một chiếc xe đạp nhân ngày sinh nhật Một lần phóng xe lượn ở công viên, Sơn thấy một cậu bé ngắm nhìn chiếc xe của mình với vẻ rất ngưỡng mộ
- Chiếc xe của cậu đẹp thật! - Cậu bé trầm trồ
- Anh trai mình tặng nhân ngày sinh nhật đấy - Sơn trả lời, không giấu nổi vẻ tự hào, mãn nguyện
- Thế à? Ước gì mình có thể… - Cậu ta ngập ngừng
Sơn đoán cậu ta đang ước có một người anh như anh của Sơn Nhưng cậu thở dài nói tiếp, làm Sơn rất bất ngờ:
- Giá mình có thể… trở thành một người anh như thế
Nói rồi, cậu đi về phía chiếc ghế đá gần đó, nơi có đứa em trai nhỏ tàn tật đang ngồi Sơn nghe cậu nói rất dịu dàng với em:
- Đến ngày sinh nhật nào đó của em, anh sẽ mua tặng em một chiếc xe lăn nhé!
Bài tập : Em hãy khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi dưới đây:
1 Cậu bé ở công viên nói gì khi ngắm xe đạp của Sơn?
a Chiếc xe khỏe thật
b Chiếc xe đẹp thật
c Xe của cậu đấy à?
2 Sơn khoe chiếc xe do anh trai tặng với thái độ thế nào?
a.Tự hào, mãn nguyện
c Trầm trồ
3 Nghe câu trả lời của Sơn, cậu bé ước gì?
Trang 40a Ước mình cũng có một người anh
b Ước mình giúp được em trai đi xe đạp
c Ước mình trở thành một người anh mua được xe cho em
Qua chủ điểm Bốn mùa, HS cần đạt được mục tiêu sau:
- Đọc trơn toàn bài Biết ngắt nghỉ hơi hợp lí sau dấu chấm, dấu phẩy
và giữa các cụm từ
- Biết đọc phân biệt lời kể chuyện với lời các nhân vật
- Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nhận thức được trách nhiệm của mình đối với thiên nhiên Từ đó
giáo dục các em ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường
Đề bài: Đọc bài thơ sau
Mùa thu
Trời trong xanh áo mới Hương cốm gọi thu về Vườn chín thơm hồng, bưởi Hương dập dờn bay xa
Mùa thu về trong gió Mùa thu về trong cây Mật ngọt dâng sóng sánh Ong, bướm mải mê say
Đất ngỡ ngàng màu nắng Sông ngỡ ngàng màu mây Rộn ràng nghe tiếng trống Bạn bè tay trong tay
( Nguyễn Trọng Hoàn)