SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT SẦM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT SẦM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, ÔN THI THPT QUỐC GIA VÀ
HỌC SINH GIỎI
Người thực hiện: Nguyễn Anh Tú Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Hoá
THANH HOÁ NĂM 2016
Trang 2II Mục đích nghiên cứu. 2
III Đối tượng nghiên cứu. 3
IV Phương pháp nghiên cứu. 3
I Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. 4
II Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
III Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường. 17
Trang 3A MỞ ĐẦU
I Lí do lựa chọn đề tài.
là yếu tố quyết định tới sự thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước”
Do vậy, Đảng và nhà nước đã đề ra yêu cầu phải : “ Đổi mới căn bản và toàn diệngiáo dục”
Trước thực tế đó, ngành Giáo dục – Đào tạo phải kịp thời đổi mới mục tiêu
và phương thức giáo dục, đào tạo để trang bị cho nguời học hệ thống tri thức cơbản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đào tạo thế hệ trẻ của đất nước, trở thànhnhững con người phát triển toàn diện về năng lực và phẩm chất đạo đức, góp phầntích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cho sự phát triểnchung của xã hội
Khoa học hoá học đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đócủa Đảng , Nhà nước và ngành giáo dục
Với sự đóng góp to lớn của bộ môn hoá học ở trường THPT, đòi hỏi nhữngkiến thức mà giáo viên truyền thụ và học sinh tiếp nhận phải chính xác, có tínhkhoa học cao về cả lí thuyết và đặc biệt là kĩ năng thực hành hoá học
Với đặc thù là bộ môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn, vì vậy,trong việc dạy và học, bộ môn hoá học phải được gắn liền với thực hành thínghiệm Song thực tiễn việc dạy và học bộ môn hoá học ở trường THPT vẫn là:
- Lí thuyết chưa gắn liền với thực hành
- Hiện nay chưa có tài liệu nào trình bày về kỹ năng thực hành thí nghiệm vàrèn luyện kỹ năng thực hành thí nghiệm hóa học ở trường THPT
Thực trạng trên đã làm cho kỹ năng thực hành thí nghiệm của học sinh cóphần hạn chế và thường mắc những sai lầm cơ bản Điều này là hoàn toàn khôngphù hợp với mục tiêu đào tạo con người mà Đảng và nhà nước đã đề ra
Trước những yêu cầu và thực trạng như trên, Tôi thấy việc rèn luyện kỹ năngtrong thực hành thí nghiệm để hoàn thiện kiến thức và kỹ năng cho học sinh là vấn
đề cần thiết Vì vậy, Tôi chọn đề tài: “ Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng
thực hành thí nghiệm hóa học ở trường trung học phổ thông, ôn thi THPT quốc gia và học sinh giỏi”.
II Mục đích nghiên cứu.
Tôi lựa chọn đề tài này với những mục đích như sau:
- Phân tích một số sai lầm thường gặp trong dạy học thực hành thí nghiệm hóa học ở trường trung học phổ thông
- Thiết kế và xây dựng hệ thống các bài tập trắc nghiệm nhằm khắc phục các sai lầm và rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm hóa học
- Giúp học sinh và các bạn đồng nghiệp có tư liệu dạy học và ôn thi học
Trang 4sinh giỏi, thi THPT quốc gia.
học trong trường trung học phổ thông
III Đối tượng nghiên cứu.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, Tôi tập trung vào các vấn đề sau:
- Phân tích những sai lầm mà học sinh thường mắc phải trong thực hành thínghiệm hóa học ở trường trung học phổ thông
- Xây dựng hệ thống các bài tập trắc nghiệm củng cố kỹ năng thực hành thínghiệm hóa học ở trường trung học phổ thông
IV Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này, Tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Tham khảo các tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo trình thí nghiệm… và các tài liệu khác có liên quan
- Khảo sát thực tiễn ở trường trung học phổ thông, kết hợp với các phương pháp hỗ trợ như: quan sát, ghi chép, thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh…
+ Lớp đối chứng: 12A5
- Sử lý kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê
Trang 5B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình giảng dạy các tiết thực hành thí nghiệm tại trường trung họcphổ thông, Tôi nhận thấy học sinh đang còn mắc những sai lầm cơ bản như:
1 Khi sử dụng và bảo quản dụng cụ thí nghiệm.
- Khi sử dụng và bảo quản ống nghiệm, học sinh thường mắc một số sai lầmnhư: Kẹp ống nghiệm không đúng vị trí, cho lượng hoá chất không đúng quy định,bảo quản ống nghiệm chưa đúng cách…
- Khi sử dụng dụng cụ lấy hoá chất, học sinh thường mắc một số sai lầmnhư: sử dụng không đúng loại dụng cụ, dùng chung dụng cụ lấy hoá chất, kíchthước dụng cụ, vạch chia dụng cụ, vị trí đặt mắt, sử dụng dụng cụ không đúngcách…
- Khi sử dụng các dụng cụ đốt nóng, nung nóng học sinh thường mắc phảimột số sai lầm như: Đặt sai vị trí ngọn lửa, nung không đúng cách, sử lý các dung
cụ sau khi nung không đúng cách…
- Khi sử dụng các loại cân học sinh thường mắc phải một số sai lầm như: Sửdụng không đúng loại cân, cân không đúng cách…
- Trong phòng thí nghiệm hoá học thường sử dụng nhiều loại nút như cao su,bấc, lie, nhựa, thuỷ tinh Tuỳ theo tính chất của các hoá chất đựng trong chai, lọ
mà chọn nút cho thích hợp
2 Khi sử dụng và bảo quản hoá chất.
- Do không nắm vững tính chất của kim loại kiềm là những chất có khả năngphản ứng hoá học mạnh, khả năng hút ẩm mạnh nên khi sử dụng và bảo quản cáckim loại kiềm, học sinh thường mắc phải một số sai lầm như: bảo quản không đúngcách, không làm sạch lớp dầu trước khi sử dụng, xử lí kim loại kiềm còn dư sauphản ứng không đúng cách …
- Trong quá trình sử dụng các chất để làm khô các chất khí, chất rắn học sinhthường chỉ quan tâm tới việc hoá chất nào hút ẩm mạnh mà không chú ý đếnnguyên tắc của việc làm khô là chất làm khô và chất được làm khô không đượcphản ứng với nhau Vì vậy thường dẫn đến việc chọn sai chất làm khô
- Các bài toán chuẩn độ đòi hỏi kết quả với độ chính xác cao Do đó hoá chấtdung để chuẩn độ và các thao tác làm phải chính xác Khi tiến hành chuẩn độ bằngdung dịch kiềm học sinh thường lấy nồng độ ghi bên ngoài làm nồng độ để tínhtoán dẫn dến sai sót rất lớn Vì trong quá trình pha chế, sử dụng và bảo quản cácdung dịch kiềm dể dàng tác dụng với CO2 trong không khí hoặc quá trình thoát hơinước làm cho nồng độ bị sai lệch so với nồng độ ghi ở ngoài dẫn đế kết quả chẩn
độ không chính xác Do đó trước khi chuẩn độ phải tiến hành chuẩn độ lại dungdịch kiềm bằng dung dịch axit chuẩn
- Khi tiến hành thí nghiệm, học sinh thường có thói quen sử dụng ngay cácchất sau khi điều chế mà không qua quá trình làm sạch các chất đó, dẫn đến sự sai
Trang 6lệch của các hiện tượng xảy ra cũng như kết quả tính toán.
- Bảo quản hoá chất và dụng cụ thí nghiệm chưa đúng cách
3 Trong thao tác tiến hành thí nghiệm
- Khi thu khí học sinh có thể mắc một số sai lầm như sau: Thu bằng phương pháp đẩy nước đối với các khí có khả năng tan trong nước, thu vào ống để ngữa đốivới các chất khí nhẹ hơn không khí…
- Khi tiến hành thí nghiệm, học sinh có thể mắc sai lầm khi lắp đặt dụng cụthí nghiệm như: Lắp sai vị trí, sử dụng không đúng dụng cụ…
II Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Bằng phương pháp khảo sát thực tiễn ở trường trung học phổ thông Sầm Sơn,kết hợp với các phương pháp hỗ trợ như: quan sát, ghi chép, thăm dò ý kiến giáoviên và học sinh…Tôi thấy trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm việc dạy vàhọc thực hành thí nghiệm hóa học ở trường trung học phổ thông hiện đang còn tồntại một số vấn đề sau:
- Mặc dù đã được đầu tư trang bị phòng thí nghiệm hoá học, dụng cụ và hoáchất nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu cần thiết
- Hầu như ở các trường trung học phổ thông chưa có giáo viên chuyên phụtrách phòng thí nghiệm nên:
+ Việc sử dụng và bảo quản dụng cụ cũng như hoá chất thí nghiệm còn rất nhiều hạn chế
+ Việc chuẩn bị dụng cụ và hoá chất cho các buổi thực hành là chưa tốt, làmgiảm hiệu quả của buổi thực hành
- Một bộ phận giáo viên còn có tâm lí “ ngại ” làm thí nghiệm
- Thời lượng dành cho các tiết thực hành trong chương trình hóa học phổthông còn hạn chế
- Học sinh lần đầu được tiếp xúc với các dụng cụ và hoá chất cũng nhưtrang thiết bị thực hành nên còn nhiều bỡ ngỡ
- Còn mắc nhiều sai sót trong quá trình giải các bài tập về nội dung, thao tácthí nghiệm hóa học
III Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trước những thực tế và yêu cầu cấp bách như vậy, Tôi xin phân tích và đưa
ra một số bài tập để khắc phục các sai lầm và rèn luyện kỹ năng trong thực hành thínghiệm hoá học ở trường trung học phổ thông
1 Bài tập rèn luyện kỹ năng trong sử dụng và bảo quản dụng cụ thí nghiệm.
1.1: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng và bảo quản ống nghiệm.
Đề khắc phục sai lầm đồng thời củng cố những kỹ năng sử dụng và bảo quảnống nghiệm giáo viên có thể cho học sinh làm các bài tập:
Bài tập 1: Khi kẹp ống nghiệm, nên kẹp vào vị trí nào trên ống:
Trang 7C 1/3 ống nghiệm từ trên xuống D 2/3 ống nghiệm từ trên xuống.
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C.
Bài tập 2: Khi làm thí nghiệm với ống nghiệm xong, cần:
A Vệ sinh sạch sẽ ống nghiệm
B Không cần vệ sinh ống nghiệm
C Bỏ luôn ống nghiệm vừa làm thí nghiệm đi
D Cả A, B, C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A.
1.2: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng dụng cụ lấy hoá chất
Giáo viên có thể khắc phục những sai lầm và cũng cố kỹ năng sử dụng dụng
cụ lấy hoá chất cho học sinh bằng các bài tập:
Bài tập 1: Khi cần lấy một dung dịch hoá chất, dụng cụ được sử dụng là:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C - Tức là vạch chia giới hạn phải gần với con
số có nghĩa nhất, để giảm thiểu hiện tượng sai số.
Bài tập 3: Khi cần lấy một lượng dung dịch, phải đặt mắt ở vị trí nào:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Đây là vị trí đọc số đo chính xác nhất.
1.3: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các dụng cụ nung nóng.
Để khắc phục những sai lầm và cũng cố kỹ năng sử dụng dụng cụ đốt nóng,giáo viên có thể cho học sinh làm các bài tập:
Bài tập 1: Khi tiến hành đun nóng ống nghiệm, cần đặt vào vị trí nào của ngon lửa
đèn cồn:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Vì ở vị trí này nhiệt độ của ngọn lửa là lớn nhất.
Bài tập 2: Khi nung nóng các chất rắn cần:
A Đặt vào chén sứ và nung trực tiếp trên ngọn lửa đèn cồn
B Đặt trực tiếp trên lưới amiăng và nung trên ngọn lửa đèn cồn
C Đặt vào cốc thuỷ tinh và nung trực tiếp trên ngọn lửa đèn cồn
D Đặt vào chén sứ và nung trên lưới amiăng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D.
Bài tập 3: Sau khi nung nóng các vật bằng thuỷ tinh, phải đặt chúng trên:
Trang 8C Trên vật ẩm và lạnh D Đặt vào chậu thuỷ tinh đựng nước.
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A - Vì nếu đặt trên các vật ẩm và lạnh thì dụng
cụ bằng thuỷ tinh rất dễ bị vỡ.
1.4: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các loại cân.
Để khắc phục những sai lầm và cũng cố kỹ năng sử dụng các loại cân, giáoviên có thể cho học sinh làm các bài tập:
Bài tập1: Khi cần cân một lượng chất có khối lượng là 1,00 gam, ta dùng loại cân
có độ sai số đến:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D – Đây là loại cân đo chính xác nhất.
Bài tập2: Khi sử dụng cân cần chú ý những điều gì:
A Không để trực tiếp hoá chất lên cân
B Phải kiểm tra xem cân đã ở vị trí thăng bằng hay chưa
C Không được cầm quả cân bằng tay
D Cả A, B, C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D
1.5: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các loại nút chai, lọ.
Để rèn luyện các kỹ năng sử dụng nút chai, lọ giáo viên có thể sử dụng cácbài tập sau:
Bài tập 1: Không dùng nút cao su để đậy các chai, lọ đựng hoá chất nào sau đây:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A Nút cao su không dùng để đậy các chai, lọ có chứa các chất có khả năng ăn mòn cao.
Bài tập 2: Một lọ đựng dung dịch axit sunfuric, ta dùng loại nút nào sau đây để đậy
lọ dung dịch trên:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B.
2 Bài tập rèn luyện kỹ năng trong sử dụng và bảo quản hóa chất.
2.1: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng và bảo quản kim loaị kiềm.
Để khắc phục những sai lầm và củng cố kỹ năng sử dụng và bảo quản kimloại kiềm cho học sinh thông qua các bài tập:
Bài tập 1: Cách bảo quản và sử dụng kim loại kiềm nào sau đây đúng:
A Bảo quản trong dầu và lấy ra sử dung ngay
B Bảo quản trong lọ thuỷ tinh và lấy ra sử dụng ngay
C Bảo quản trong dầu và khi sử dụng phải làm sạch lớp dầu bên ngoài
D Bảo quản trong lọ thuỷ tinh và làm sạch lớp bên ngoài khi sử dụng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C - Bảo quản trong dầu để ngăn không cho kim
Trang 9loại kiềm phản ứng với các chất trong môi trường và khi sử dụng phải làm sạch lớp dầu bên ngoài để phản ứng diễn ra dễ dàng.
Bài tập 2: Các mẫu kim loại kiềm còn dư sau thí nghiệm, phải được xử lí bằng:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Vì Na phản ứng một cách êm dịu với ancol etylic nên không gây nguy hiểm trong quá trình xử lí.
2.2 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng hoá chất làm khô
Giáo viên có thể củng cố kiến thức và kĩ năng sử dụng chất làm khô cho họcsinh thông qua các bài tập
Bài tập 1: Khi cần làm khô khí H2S có thể sử dụng hoá chất nào trong các hoáchất sau:
A H2SO4 đậm đặc B P2O5 C CaO D Cả 3 chất trên
Hướng dẫn: Khi lựa chọn học sinh thường lựa chọn đáp án : “D: Cả 3 chất trên” Học sinh đã không lưu ý rằng:
H 2 SO 4 đậm đặc có tính oxi hoá mạnh, H 2 S có tính khử nên xảy ra phản ứng:
3H 2 SO 4 + H 2 S 4SO 2 + 4 H 2 O CaO là một oxit bazơ, H 2 S có hơi nước thì có tính axit yếu nên có phản ứng.
CaO + H 2 S CaS + H 2 O
P 2 O 5 là một oxit axit nên không phản ứng với H 2 S, đồng thời là chất hút ẩm mạnh
Do đó, đáp án đúng phải là: B : P2O5
Bài tập 2: Hóa chất nào sau đây có thể dùng để làm khô khí NH3
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C.
2.3 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng dung dịch kiềm để chuần độ
Để củng cố kiến thức và kĩ năng cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng cácbài tập:
Bài tập: Khi tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch kiềm phải:
A Sử dụng ngay dung dịch kiềm để chuẩn độ
B Phải chuẩn độ lại dung dịch kiềm trước khi chuẩn độ
C Phải chuẩn độ nhiều lần
D Cả B và C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D – Vì khi đó kết quả chuẩn độ mới đạt độ chính xác cao nhất.
2.4 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng sản phẩm điều chế để làm chất phản ứng
VD: Khi điều chế khí CO2 bằng phản ứng
CaCO3 + 2HCl CaCl2 + H2O + CO2Khí CO2 sinh ra thường có lẫn HCl, do đó khi cho khí thu được vào dung dịchCa(OH)2 ngoài phản ứng
Ca(OH)2 + CO2 CaCO3 + H2O
Trang 10Còn có phản ứng:
Ca(OH)2 + 2 HCl CaCl2 + 2 H2OCaCO3 + 2 HCl CaCl2 + H2O + CO2
Do đó, Khí CO2 thoát ra phải sục qua H2O để loại bỏ hết HCl
Bài tập : Người ta điều chế khí Cl2 bằng cách cho MnO2 tác dụng với HCl đặc đunnóng hỗn hợp Cách thu nào sau đây được Cl2 tinh khiết nhất
A khí sinh ra được dẫn ngay vào bình thu
B Khí sinh ra được dẫn qua bình nước sau đó dẫn vào bình thu
C Khí sinh ra được lần lược dẫn qua bình 1 đựng dung dịch NaOH, bình 2 đựng H2SO4 đặc rồi dẫn vào bình thu khí
D Khí sinh ra được lần lược dẫn qua bình 1đựng dung dịch NaCl, bình 2 đựng H2SO4 đặc rồi dẫn vào bình thu khí
Hướng dẫn: Khí Cl 2 sinh ra có lẫn HCl bay hơi, Nên phải loại bỏ HCl bằng cách dẫn khí qua dung dịch NaCl hoặc nước cất, không dùng dung dịch NaOH vì NaOH phản ứng với Cl 2 Sau đó dẫn qua H 2 SO 4 đặc để loại bỏ hơi nước thu được
Cl 2 khô, tinh khiết.
Do đó, đáp án đúng là: D
2.5 Rèn luyện kỹ năng khi bảo quản các loại hoá chất.
Để rèn luyện kỹ năng bảo quản các loại hoá chất, giáo viên có thể sử dụngcác loại bài tập sau:
Bài tập 1: Để bảo quản các hoá chất như KMnO4, AgNO3, KI có thể dùng dụng cụnào sau đây:
C Bình thuỷ tinh màu đen D Bình thuỷ tinh không màu có nút cao su
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C: Các hoá chất trên đều là những chất dễ bị phân huỷ khi tiếp xúc với ánh sáng nên phải bảo quản trong bình thuỷ tinh màu đen.
Bài tập 2: Những yếu tố nào sau đây có thể ảnh hưởng tới việc bảo quản các hoá
chất:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D.
3 Bài tập rèn luyện kỹ năng trong thao tác tiến hành thí nghiệm
3.1 Rèn luyện kỹ năng về cách thu khí.
Vì vậy, để cũng cố cho học sinh về kĩ năng thu khí, giáo viên có thể sử dụng các bài tập:
không khí như: O2, Cl2, HCl, NO2, CO2, SO2…
không khí như: H2, NH3, N2, CH4