ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMPHAN NHƯ QUỲNH THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH Chuyên ngành: LL và PP dạy học bộ m
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN NHƯ QUỲNH
THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: LL và PP dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS LÊ A
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dungnghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất
kỳ hình thức nào Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn tráchnhiệm về nội dung luận văn của mình
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
PHAN NHƯ QUỲNH
Trang 3LỜI CẢM ƠNTrước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS Lê A, người đã trựctiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hướng nghiên cứu Nhờ đó tôi mới có thể hoànthành được công trình nghiên cứu của mình.
Tiếp theo tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSPThái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu Xin cùngbày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trung tâm Thông tinthư viện trường ĐHSP, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến BGH, các thầy cô trong tổ Văn của hai trườngTHCS Bắc Sơn và trường THCS Phúc Thuận đã tạo điều kiện tốt cho tôi đến thực nghiệm
sư phạm để hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm,động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
PHAN NHƯ QUỲNH
Trang 4MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Trang
Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục chữ cái viết tắt iv PHẦN MỞ ĐẦU
1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Các phương pháp nghiên cứu 10
6 Cấu trúc luận văn 11
7 Dự kiến đóng góp của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP 13
1.1 Cơ sở lí thuyết 13
1.1.1 Lý thuyết về bài tập 13
1.1.2 Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Khảo sát bài tập trong SGK, SBT Ngữ văn 8 20
1.2.2 Thực trạng dạy học phần Tiếng Việt trong Ngữ văn 8 – THCS 24
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 27
2.1 Thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp 27
Trang 52.2 Nguyên tắc thiết kế bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 28
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích hình thành và phát triển năng lực giao tiếp 28
2.2.2 Nguyên tắc phù hợp với trình độ của học sinh 29
2.2.3 Nguyên tắc hệ thống: Các bài tập phải được sắp xếp trên một cơ sở thống nhất, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp 29
2.3 Hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp 31
2.3.1 Giới thiệu chung về hệ thống bài tập 31
2.3.2 Miêu tả hệ thống bài tập 32
2.3.3 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập 44
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 60
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 60
3.3 Nội dung và cách thức thực nghiệm 61
3.4 Kết quả và nhận xét đánh giá 76
3.4.1 Kết quả thực nghiêm 76
3.4.2 Nhận xét 78
PHẦN KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 7Với định hướng dạy Tiếng Việt (TV) là dạy trong giao tiếp, bằng giao tiếp nhằm mụctiêu quan trọng nhất là củng cố và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh (HS), bài tậpchiếm một vị trí vô cùng quan trọng: từ việc giới thiệu bài, hình thành kiến thức mới,đặc biệt là luyện tập, giáo viên (GV) đều sử dụng các kiểu loại bài tập khác nhau.
Như vậy, bài tập là một phương tiện chủ yếu trong quá trình dạy học TV ở trườngphổ thông, nó vừa đảm đảm bảo cho việc tiếp thu lí thuyết lại giúp các em hình thànhnhững kĩ năng tương ứng
1.2 Bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp bảo đảm cho quan điểm giao tiếp được triển khai đạt hiệu quả
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp là một xu hướng hiện đại được rấtnhiều nước thực hiện và đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận Tuy nhiên việcdạy học ở ta còn nặng về dạy học kiến thức ngôn ngữ, quá tải với cả thầy và trò Người
ta đã sai lầm khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là những khái niệm, tri thức và sảnphẩm của TV là hệ thống các khái niệm Từ đó dẫn đến có một lớp người hiểu được TVnhưng không thể sử dụng thành thạo nó trong giao tiếp Tác giả Lê A trong bài viết “DạyTiếng Việt là dạy một
Trang 8hoạt động và bằng hoạt động” cho rằng: “Quá trình dạy học TV cho học sinh (HS) cần tổchức các hoạt động và nổi bật là dùng hoạt động ngôn ngữ để giao tiếp” [3, tr62] Theoquan điểm ấy ta xác định được nội dung dạy học TV là dạy giao tiếp, đích hướng tới là giaotiếp và phương pháp hướng tới cho học sinh là hoạt động thông qua giao tiếp Lí luận dạyhọc hiện đại quan tâm đến năng lực của người học Hiện nay trong công cuộc đổi mới toàndiện trong đó có đổi mới mục tiêu môn học chương trình hướng vào năng lực Điều đó cónghĩa là xem học sinh phù hợp với năng lực nào, năng lực nào phù hợp với thực tế xã hộiđòi hỏi, trong đó xem năng lục nào là cần thiết, cốt lõi thì hình thành Năng lực hoạtđộng giao tiếp trở thành năng lực cơ bản trong dạy học môn TV Lịch sử hình thành vàphát triển con người đều gắn với ngôn ngữ đặc biệt là trong các hoạt động mang tính chấtcộng đồng Giao tiếp ở khắp mọi nơi, phổ biến rộng rãi vì vậy mà nó trở thành thứ quantrọng thiết yếu với mọi người nói chung và với HS nói riêng Dạy học TV theo quan điểmgiao tiếp gợi ý xác định nội dung cơ bản của phân môn TV ở nhà trường phổ thông làhình thành năng lực giao tiếp và nội dung chương trình là hoạt động giao tiếp: nghe – nói– đọc – viết của HS Chương trình hướng đến chuẩn bốn kĩ năng đồng thời cũng trang bịcho HS những kiến thức về TV Ngoài ra phải dạy cho HS những quy tắc giao tiếp, ở đâykhông đơn thuần là quy tắc ngôn ngữ học mà là những quy tắc tổng hợp phù hợp với cácnhân tố giao tiếp tức là dạy HS những quy tắc xử lí thông tin trong giao tiếp Từ xa xưaLão Tử đã dạy rằng: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”.Trải qua nhiều lần nhận định và đổi mới giáo dục, trong Nghị quyết 29/NQ – TW ngày4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam Về Đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế cũng đã khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáodục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
Trang 9toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [35, tr.3] Lí luận dạy học hiện đại cũng chorằng “năng lực” không thể hình thành do học tập mà phải qua rèn luyện Hay nói mộtcách khác đi là người ta đã bắt đầu quan tâm tới hệ thống bài tập để qua đó phát huynăng lực, bồi dưỡng phẩm chất có sẵn của học sinh Ta cũng thấy rõ rằng học sinh sẽ nắmvững kiến thức hơn thông qua làm bài tập, đặc biệt đối với TV ta đưa các em vào nhữngtình huống giao tiếp cụ thể thì kĩ năng sử dụng TV của các em sẽ được hình thành rấtnhanh chóng Như vậy, vai trò của bài tập trong dạy học là rất quan trọng, cần thiết và nóđảm bảo cho quan điểm giao tiếp được triển khai có hiệu quả.
1.3 Việc xây dựng và triển khai hệ thống bài tập hiện nay chưa thực sự dựa trênquan điểm giao tiếp và mang lại hiệu quả
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng hầu hết các bài tập trong Sách giáo khoa
(SGK), Sách bài tập (SBT) vẫn dừng lại ở dạng bài tập nhận diện lí thuyết không phát huyđược sự tích cực, sáng tạo và hứng thú cho HS Hệ thống bài tập như SGK và SBT thiết kếchỉ mô phỏng kiến thức lí thuyết mà không thực hiện được mục tiêu dạy học TV trongnhà trường Trong quá trình dạy học, quan điểm giao tiếp phải được thấm nhuần trongcác khâu từ việc chuẩn bị bài, việc dạy lí thuyết và hướng dẫn HS thực hành luyện tập.Đồng thời quan điểm giao tiếp cũng chi phối trực tiếp từ mục tiêu, nội dung, phương pháp
và khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập TV của HS Thực tế cho thấy những nội dung vừatrình bày chưa có sự hiện diện trong hệ thống bài tập TV 8, GV chỉ chú ý dạy lí thuyết, hệthống bài tập cũng được tuyệt đối triển khai giống như trong SGK mà không có sự bổsung, sáng tạo và linh hoạt Phương pháp giao tiếp không được phát huy tác dụng trongkhi GV hướng dẫn HS thực hành luyện tập, các em không được trải nghiệm những tìnhhuống giao tiếp cụ thể, gần gũi trong cuộc sống cho nên giờ học chưa đạt được mụctiêu quy chuẩn của giờ học Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp GV phải đưa HS củamình vào các tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các bài tập thựchành
Trang 10giao tiếp thì mới giúp các em phát triển được năng lực giao tiếp, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Tiếng Việt 8 từ các tài liệu dạy học đến cách dạy, cách học,cách đành giá kết quả học tập cũng như kết quả học tập Tiếng Việt của học sinh.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống bài tập và việc triển khai hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếp trongquá trình dạy học Tiếng Việt ở lớp 8
3 Lịch sử nghiên cứu
3.1 Những nghiên cứu về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Tiếng Việt, với vai trò là một phân môn quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhàtrường phổ thông, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệthống TV, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp.Mặt khác, TV là một công cụ giao tiếp và tư duy nên phân môn này còn đảm nhận mộtchức năng kép mà các môn học khác không có, đó là chức năng trang bị cho HS công cụ đểgiao tiếp
Khi bàn về những quan điểm tâm lí học hoạt động có liên quan đến việc dạy và họcngôn ngữ, Trương Dĩnh đã đề cao quan điểm dạy học bản ngữ dựa trên lý thuyết hoạtđộng lời nói Ông khẳng định: “Trên quan điểm coi hoạt động lời nói trong giao tiếp nhưmục đích dạy học, dạy ngôn ngữ, đặc biệt là bản ngữ, phải thông qua hoạt động giao tiếpgiữa thầy và trò để tổ chức cho HS phân tích mẫu hành vi lời nói trong giao tiếp, quan sáthành vi lời nói giao tiếp trong thực tiễn, nghiên cứu các văn bản giao tiếp trích dẫn đểnâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản ngữ, mặt khác, trên cơ sở đã có ý thức về nănglực giao tiếp, tổ chức cho HS sáng tạo các hành vi lời nói trong giao tiếp, ( ), tức là dạy cho
HS ứng xử sáng tạo trong giao tiếp ở môi trường có tính thực tiễn nhất của
Trang 11đời sống” [8, tr.161] Đồng thời tác giả cũng coi trọng việc xây dựng các bài tập tìnhhuống để rèn luyện năng lực giao tiếp cho HS Đây cũng là một trong những cơ sở gópphần định hướng cho việc dạy và học TV đạt hiệu quả cao hơn Giáo trình Phương phápdạy học Tiếng Việt (tập 2, Nxb Giáo dục, 2001) do nhóm tác giả: Nguyễn Trí - Lê A - LêPhương Nga biên soạn có tất cả tám chương, trong đó các tác giả dành hẳn một chương
để nói về quan điểm giao tiếp trong dạy học TV Trong chương này (chương một) các tácgiả nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp Những cơ sở của quan điểm giaotiếp trong dạy học tiếng Việt Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong việc dạy họcTiếng Việt Hai vấn đề: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? được Lê A bàn đến trong bài viết DạyTiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động (Tạp chí Ngôn ngữ số 4/2001) Tác giảchú ý đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trình tự dạy học TV cùng với một sốthao tác cơ bản khi dạy học (Thao tác phân tích - phát hiện; Thao tác phân tích - chứngminh; Thao tác phân tích - phán đoán); Giới thiệu về phương tiện dạy học Graph (sơ đồmạng để trình bày những vấn đề cần truyền đạt) Sau khi trình bày về các vấn đề trên, tácgiả nhấn mạnh: “Tri thức về tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực sựvận dụng vào hoạtđộng giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ” [3,tr65] Có thể nói bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức các hoạt động dạy học,lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học tiếng Việt theo quan điểmgiao tiếp Cũng trong tạp chí Ngôn ngữ số
4/2001, Nguyễn Minh Thuyết trao đổi về Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạnSGK TV (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở Bài viết này giới thiệu một sốquan điểm cơ bản trong việc biên soạn hai bộ sách trên: Quan điểm dạy giao tiếp; Quanđiểm tích hợp; Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS Mặc dù bài viết trên
đã được công bố cách đây nhiều năm, nhưng những quan điểm ấy vẫn còn có giá trị và
có thể áp dụng vào việc biên soạn SGK Ngữ văn, định hướng cho việc giảng dạy TV đúngvới mục tiêu
Trang 12của phân môn này Vấn đề giao tiếp cũng được Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San đềcập trong giáo trình Tiếng Việt (tập 3, Nxb Giáo dục, 2002) với các nội dung cụ thể như:Các chức năng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp: những sự biến đổi và chuyểnhóa Vai trò của các quan hệ hệ thống trong hoạt động giao tiếp Nguyên tắc hệ thống vàquan điểm giao tiếp trong dạy - học tiếng Việt Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San khẳngđịnh: “Quan điểm giao tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưngbản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng (…) Ngôn ngữ (…) cần phải hoạt động đểthực hiện chức năng giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện,vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp” [31, tr.231 - 232] Bàn về “độ phổbiến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng: “Quanđiểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học”[27, tr114] Về nội dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở “Cách bố trí thờilượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không tập trung vào việc nhận diệncác hiện tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục vụ chohoạt động giao tiếp” [27, tr.114] Về phương pháp dạy học, quan điểm giao tiếp được thểhiện ở điểm:“Các kiến thức và kĩ năng trong phân môn Luyện từ và câu được rèn luyệnthông qua nhiều bài tập gắn với yêu cầu về tập làm văn ở lớp 5 hoặc với các tình huốnggiao tiếp tự nhiên” [27, tr116] Kèm theo những nội dung trình bày là những ví dụ(VD)sinh động Do trình bày dưới dạng hỏi - đáp, nên tài liệu này chỉ dừng ở giới hạn cungcấp những gợi ý có tính chất định hướng cơ bản về nội dung, hình thức tổ chức dạy họcmôn Tiếng Việt ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp Mặt khác, do tính chất đồng tâm vàtính phổ quát của vấn đề, những gợi ý có tính định hướng đó không chỉ dừng ở giới hạncho một lớp và một bậc học cụ thể mà còn có tác dụng định hướng cho việc dạy học TV ởphổ thông nói chung theo quan điểm giao tiếp Trong
Trang 13bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trườngphổ thông hiện nay (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2006), Vũ Thị Thanh Hương đã đề cập và phântích khá sâu khái niệm “năng lực giao tiếp”, đã dẫn ra những ý kiến khác nhau của cáchọc giả (Chomsky, Campbell & Wales, Hymes, Murby, Canale & Swain, Bachman) xoayquanh khái niệm “năng lực giao tiếp” Tác giả bài viết so sánh đối chiếu các nội dung kiếnthức TV được trình bày trong các chương trình TV hiện hành (của Bộ Giáo dục và Đào tạo)với các nội dung của mô hình lí thuyết về “năng lực giao tiếp” Từ khái niệm “năng lực giaotiếp”, người viết tìm hiểu chương trình dạy TV trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ 21
và nhận xét: “Có thể nói, trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi được tiếpcận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục tiêu giảngdạy Tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ thông hiện nay” [12, tr10] Tác giả bàiviết tiến hành khảo sát chương trình TV ở các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung củachương trình có thực sự đảm bảo cung cấp đủ kiến thức để giúp các em hình thành và rènluyện tốt năng lực giao tiếp?” [12, tr10] Tác giả có trình bày kết quả khảo sát và kết thúcbài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn Một trong số những người nghiên cứu về dạy
TV trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp – Lê Thị Bích Hồng – đã khẳng định sựcần thiết phải sử dụng tình huống giao tiếp trong dạy Tiếng Việt: “Trong dạy học, để giúp
HS tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạtđộng tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suynghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, GV cần xây dựngcác tình huống giao tiếp” [10, tr32] Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những định nghĩatương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũngnhư những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó,tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy TV.Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng
Trang 14cho GV và sinh viên ngành giáo dục tiểu học) (Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân, Nxb Giáodục, 2008) có đề cập đến vấn đề dạy học nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản theo quanđiểm giao tiếp Do mục đích và giới hạn của giáo trình, những vấn đề về dạy nghĩa của từ,câu, đoạn văn, văn bản ở đây chỉ dừng lại ở giới hạn dạy học cho HS tiểu học Tuy nhiên,người quan tâm vẫn có thể tìm thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạyhọc các đơn vị mang nghĩa theo quan điểm giao tiếp cho HS trung học Hoạt động giaotiếp với dạy học Tiếng Việt ở tiểu học (Nxb Đại học Sư Phạm, 2009) là một giáo trình cóích cho những GV, những người nghiên cứu quan tâm đến việc dạy TV trong nhà trườngnhư thế nào để có hiệu quả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã nghiên cứu khá sâu
và rõ ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy học TV ở tiểu học Giáotrình gồm ba chương: Chương một đề cập đến vấn đề giao tiếp và hoạt động giao tiếp;chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao tiếp; chương ba – phần trọngtâm, có ý nghĩa thực tiễn – Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Giáo trình đãvạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động dạy học TV trong nhà trường theo quan điểm giaotiếp: từ việc lựa chọn các tri thức TV, xác lập các quy tắc sử dụng TV đến việc xác địnhcác kĩ năng sử dụng TV cần rèn luyện cho HS Và việc lựa chọn, sử dụng các phương pháp,hình thức tổ chức nào trong dạy học TV,… giáo trình đều nêu rõ Tuy giáo trình chỉ giớihạn trong việc dạy học TV ở Tiểu học nhưng đối với các GV dạy TV ở Trung học cơ sở hay ởTrung học phổ thông thì đều tìm thấy ở giáo trình này những định hướng làm cơ sở choviệc dạy TV một cách có hiệu quả theo quan điểm giao tiếp
3.2 Những nghiên cứu về bài tập và bài tập Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp
Có thể nói hầu hết các tài liệu dạy tiếng, các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
về đề tài phương pháp dạy học TV đều trực tiếp hay gián tiếp bàn đến bài tập Côngtrình trình bày toàn diện và sâu sắc, được đông đảo giáo viên
Trang 15vận dụng là “150 bài tập rèn luyện viết đoạn văn” của tác giả Nguyễn Quang Ninh Trongcông trình này, tác giả đã trình bày quan niệm về đoạn văn, các kiểu đoạn văn theo cấutrúc hoặc chức năng và giới thiệu một hệ thống bài tập đa dạng, được sắp xếp khoa học vàbảo đảm các yêu cầu sư phạm.
Tác giả Trịnh Thị Lan có bài viết khá hay về Yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập TVdưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp: “Theo quan điểm dạy học TV hướng vàohoạt động giao tiếp, việc thiết kế bài tập TV phải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khảnăng giao tiếp cho HS Dạy học TV sử dụng phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổchức dạy học quan trọng nhất Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vậndụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đếnđặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [13]
Những tài liệu trên có đề cập về quan điểm giao tiếp và có động chạm tới việc thiết
kế bài tập TV theo quan điểm giao tiếp Tuy nhiên tất cả chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu líthuyết, hoặc có luận văn đã triển khai nhưng nó lại chưa đầy đủ và cụ thể ở một lớp họcnào Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theođịnh hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh Những tài liệu trên là những cơ sởvững chắc giúp chúng tôi thực hiện được luận văn này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết về quan điểm giao tiếp và thực tiễn dạy học Tiếng Việt, kếthừa những thành quả đã đạt được, luận văn xậy dựng và hướng dẫn thực hiện hệ thốngbài tập Tiếng Việt ở lớp 8 theo quan điểm giao tiếp nhằm góp phần nâng cao năng lực giaotiếp của học sinh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và triển khai hệ thống bàitập
Trang 16- Bài tập và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra và đánh giá khả năng thực thi và hiệu quảcủa hệ thống bài tập
5 Các phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết là phương pháp phân chia các tài liệu
lí thuyết thành các đơn vị kiến thức, giúp nhà khoa học nắm được bản chất từng đơn vịkiến thức và toàn bộ vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở kiến thức đã được phân tích, ta tổnghợp chúng lại thành một hệ thống để thấy được mối quan hệ biện chứng của chúng vớinhau, từ đó giúp ta hiểu đầy đủ sâu sắc về lí thuyết đang nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tổng hợp lí thuyết trong chương 1, chương
2 của luận văn Trên cơ sở tiếp thu những tài liệu có sẵn, chúng tôi đã nghiên cứu, tổng hợp
để tạo ra những tri thức mới cần thiết cho luận văn của mình
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Đây là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi theo những nội dung xác địnhnhằm thu thập thông tin khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người đượcđiều tra Phương pháp này được chúng tôi áp dụng trong chương 1 và chương 3 nhằmkhảo sát hệ thống bài tập TV trong SGK và SBT Ngữ văn 8 và thăm dò ý kiến của giáo viên
và học sinh về hệ thống bài tập mà chúng tôi thiết kế
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng vàchất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tácđộng tới chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra Đây là phương phápđặc biệt cho phép tác động lên đối tượng nghiên cứu một cách chủ động, can thiệp có ýthức vào quá trình diễn biến tự nhiên để hướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mongmuốn của nhà nghiên cứu
Trang 17Trong luận văn này, phương pháp thực nghiệm sư phạm được áp dụng ở chương 3nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả của việc áp dụng hệ thống bài tập tiếng TV lớp 8 theoquan điểm giao tiếp vào trong quá trình giảng dạy.
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu,kết luận, phụ lục luận văn gồm các chương sau: Chương 1: Cơ sở
lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và hướng dẫn
triển khai hệ thống bài tập
Trong chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tổng hợp những tài liệu cóliên quan đến bài tập, bài tập Tiếng Việt; quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của quanđiểm giao tiếp trong bài tập Tiếp đó chúng tôi tiến hành khảo sát hệ thống bài tập TVtrong SGK và SBT Ngữ văn 8; thăm dò ý kiến của GV và HS về bài tập và việc áp dụng quanđiểm giao tiếp trong quá trình dạy học Từ những nghiên cứu lí thuyết và việc khảo sátthực tế chúng tôi lấy đó làm tiền đề vững chắc để bước vào nghiên cứu, thiết kế hệ thốngbài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh
Chương 2: Thiết kế và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quanđiểm giao tiếp
Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu nguyên tắc thiết kế bài tập, thiết
kế mô phỏng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh và hướng dẫn sử dụng hệ thống bàitập ấy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trong chương này chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 trường: Trung học
cơ sở (THCS) Bắc Sơn và THCS Phúc Thuận để kiếm chứng phần nội dung đã nghiên cứu ởchương 2 Qua quá trình thực nghiệm chúng tôi đã thu được một số kết quả tương đốikhả quan: đa số học sinh học tập hăng hái, tích cực chủ động trong học tập; các em đãthực sự thích thú khi được trải nghiệm những tình huống giao tiếp trong thực tế, kết quả
mà các em đạt được sau khi dạy học thực nghiệm nhìn chung là tương đối Điều đó khẳngđịnh, việc
Trang 18thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh là đúng đắn, cần thiết và vô cùng hợp lí.
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Về lí luận: Góp phần làm sáng tỏ cho việc xây dựng và triển khai bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
- Về thực tiễn: Gợi ý cho giáo viên cách xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Tiếng Việt ở lớp 8 có hiệu quả
Trang 19PHẦN NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN
KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP1.1 Cơ sở lí thuyết
1.1.1 Lý thuyết về bài tập
Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” dùng để chỉ một hoạt động nhằm rènluyện thể chất và tinh thần Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phêchủ biên (HN 1994), thuật ngữ “Bài tập có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụngnhững điều đã học Thí dụ: bài tập đại số, bài tập ở lớp, .” Những định nghĩa trên mớigiải thích về mặt ngữ nghĩa chứ chưa làm rõ bản chất của khái niệm “bài tập”
Qua nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu quan niệm của nhà nghiêncứu Thái Duy Tuyên: “bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn
bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau:
Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, diễn tả trạng thái ban đầucủa bài tập, từ đó tìm ra phép giải, theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là “cái cho”, trongtoán học thì gọi là “giả thiết” Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, theo ngônngữ thông dụng thì đây là “cái phải tìm” Hai tập hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúnglại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phảibiến đổi chúng để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng
Tóm lại có thể hiểu bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm những điềukiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học , đòi hỏi người học phải có mộtlời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn củangười giải tại thời điểm mà bài tập được đưa ra.” [34, tr.223 – 225]
Trang 20Bài tập có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi Câu hỏi là thuật ngữ dùng để chỉ việcnêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng phổbiến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong dạy học Trong dạy học, câu hỏi mà giáoviên đưa ra là vấn đề mà giáo viên đã biết, học sinh đã học hoặc dựa trên cơ sở nhữngkiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh sáng tạo Vì vậy câu hỏi trong dạy họcthường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằngcách cho học sinh tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra cách giảiquyết mới Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là một nhiệm vụ đặt ra cho
HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả nhận thứcrèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho học sinh Về mặt hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà họcsinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu để giải quyếtbài tập HS phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm ra yêu cầu xác đáng
Môn học nào cũng vậy, để cụ thể hóa lí thuyết thì phải có thực hành Đúng như chaông ta từ thời xa xưa đã có câu “học đi đôi với hành”, điều đó quả không sai Trong quátrình dạy học bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc và bền vững hơn; có tác dụng rènluyện, hình thành và phát triển kĩ năng kĩ xảo cho các em; đây là phương tiện giáo dục tốt,
có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm cho học sinh Nếu chỉ có diễn xuông phần lí thuyếtthì GV không thể nào giúp cho HS hiểu được bản chất của vấn đề cần truyền tải Trênthực tế chúng ta cũng nhận thấy rõ ràng là tất cả các môn học người GV đều phải cụ thểhóa phần lí thuyết mình dạy bằng bài tập hay một vài ví dụ cụ thể
VD: Dạy bài: Trợ từ, thán từ
Để hình thành khái niệm về trợ từ, SGK đã trình bày và hướng dẫn học sinh thựchiện các bài tập:
(1) Nghĩa của các câu dưới đay có gì khác nhau? Vì sao có sự khác nhau đó?
- Nó ăn hai bát cơm
Trang 21- Nó ăn những hai bát cơm.
- Nó ăn có hai bát cơm
(2)Các từ những và có trong các câu ở mục (1) đi kèm từ ngữ nào trong câu vàbiểu thị thái độ gì của người nói đối với sự việc?
Tiếp theo là bài tập nhằm củng cố, khắc sâu và rèn luyện kĩ năng sử dụng trợ từ củahoạt động giao tiếp:
(3)Trong các câu sau đây, từ nào trong (các từ in đậm) là trợ từ, từ nào không phảitrợ từ?
a) Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này b) Chị
Dậu là nhân vật chính của tác phẩm “Tắt đèn ” c) Ngay tôi
cũng không biết đến việc này
d) Anh phải nói ngay điều này cho cô giáo biết e) Cha
tôi là công nhân
f) Cô ấy đẹp ơi là đẹp
g) Tôi nhớ mãi những kỉ niệm thời niên thiếu
h) Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên
(4) Giải thích nghĩa của các trợ từ được in đậm trong các câu sau:
a) Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâmtanh bẩn xâm phạm đến Mặc dù non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một làthư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà
b) Hai đứa mê nhau lắm Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả Nhưng
họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu, cảcưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc
c) Tính ra cậu vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo a !
d) Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười
Trang 22Như vậy, bài tập Tiếng Việt vừa là cách thức ôn tập củng cố tri thức lí thuyết vừa làphương tiện giúp HS rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ để ứng dụng chúng mộtcách thuần thục trong hoạt động giao tiếp hằng ngày.
1.1.2 Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập
1.1.2.1.Quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp củangôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho HS Dạy học TV dướiánh sáng của quan điểm giao tiếp được thể hiện ở việc vận dụng lý thuyết của quan điểmgiao tiếp vào quá trình dạy học
Theo tác giả Lê A quan niệm:“Dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp, trong
và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh” [3, tr62].Định nghĩa này đã đề cập tới ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học TV thể hiện ở “dạy học Tiếng Việt là dạy hoạtđộng giao tiếp” bởi TV là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để giao tiếp, khi nói tớingôn ngữ là nói tời hoạt động giao tiếp và ngược lại
Thứ hai, bàn về cách thức dạy học ở trường phổ thông: “dạy học Tiếng Việt làtrong và bằng giao tiếp” Xác định môi trường dạy học TV phải là môi trường giao tiếp vìthế ngữ liệu và bài tập phải được lấy ra từ thực tiễn cuộc sống, là sản phẩm của giao tiếptrong môi trường thực tiễn Khi GV dạy học nên cho HS quan sát cụ thể tình huống, chocác em thực hiện chính sự giao tiếp đó để HS trải nghiệm và tự rèn luyện TV cho mình Dạyhọc TV không phải nhiệm vụ độc tôn của phân môn TV, mà nó nằm ở trong tất cả cácmôn học trong nhà trường Môi trường giao tiếp thực tế là điều kiện vô cùng quan trọng,
GV cần phải phát huy kĩ năng sư phạm của mình để giờ dạy TV phải là giờ giao tiếp.Dạy TV chính là hoạt động giao tiếp của HS, GV phải sử dụng TV tạo ra hoạt động giaotiếp thực tế và môi trường giao tiếp đó phải tạo được hứng thú cho HS trong quá trìnhhọc Ngoài giờ học kiến thức trên lớp, GV cho
Trang 23HS thực hành ngay tại lớp học hoặc trong môi trường giao tiếp cụ thể từ các buổi ngoại khóa của trường.
Thứ ba, mục tiêu cơ bản của dạy học TV là củng cố và nâng cao năng lực giaotiếp của HS HS cần giao tiếp TV theo đúng chuẩn mực, có phong cách riêng, bên cạnhmục tiêu chính trên nó còn giúp HS phát triển tư duy, phát triển nhân cách để hoàn thiệnbản thân Dạy học TV không chỉ đơn thuần là các tiết dạy về khoa học nghiên cứu TV màcòn là dạy cách giao tiếp cho HS Dạy học TV phải xuất phát từ chức năng giao tiếp mới cóthể giúp HS hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệuquả ở cả bốn dạng: nghe, nói, đọc, viết
1.1.2.2 Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập
Trong khi thiết kế bài tập Tiếng Việt, quan điểm giao tiếp được thể hiện trong nhữngphương diện cơ bản sau:
Một là, mục đích mà bài tập hướng tới phải là mục đích giao tiếp Mục đích củaviệc dạy học TV là giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp
Trước đây, theo quan điểm truyền thống thì dạy TV là dạy theo hướng tiếp cận trithức, hình thành hệ thống các khái niệm về TV Quan điểm này cho rằng làm sao để HSchiếm lĩnh được tri thức TV càng nhiều càng tốt, càng hiện đại càng tốt Đây là tư tưởngcực đoan khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là các khái niệm, tri thức và sản phẩm của
TV là hệ thống khái niệm; từ đó tạo ra một lớp người hiểu được TV nhưng không sử dụngthành thạo trong giao tiếp Trải qua một thời gian dài nghiên cứu tìm tòi các nhà nghiêncứu thấy rằng việc sử dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học TV nó như một sợi chỉ đỏxuyên suốt quá trình học TV của học sinh, đồng thời nó căn cứ vào bản chất thực sự của bộmôn: dạy Tiếng Việt là dạy giao tiếp
Từ mục đích ấy, bài tập phải đưa được HS vào tình huống giao tiếp cụ thể mà các em
có thể hiểu được, tiếp cận được chứ không nên đưa ra những tình huống xa rời thực tếkhiến các em khó hình dung
Trang 24VD: Dạy bài: Từ tượng thanh, từ tượng hình.
Phân tích giá trị gợi hình tượng của các từ tượng hình và tượng thanh trongđoạn văn sau:
Buổi sáng tinh mơ ngày chủ nhật Lan theo mẹ ra đồng gặt lúa Cánh đồng
lúa vàng óng ả trong sương sớm Gió thổi bông lúa đung đưa làm cho những hạt sươngdần rớt xuống Xa xa, mấy bác nông dân lom khom gặt lúa.Trong làn sương mờ ảo Lannghe thấy người ta tíu tít nói chuyện với nhau.Tiếng cười hahả, hô hố từ xa vanglại.Tiếng chim hót thánh thót.Lan thấy tâm hồn thật nhẹ nhàng
Việc GV đã đưa học sinh vào một tình huống giao tiếp cụ thể có nhân vật giao tiếp cóđích giao tiếp từ phân tích giá trị của các từ tượng thanh, từ tượng hình trong tình huống
ấy giúp học sinh thấy Tiếng Việt đơn giản và gần gũi với các em hơn
Hai là, quan điểm giao tiếp thể hiện trong cách thức xây dựng nội dung ngữ liệucủa bài tập gắn với thực tế giao tiếp
Khi thiết kế bài tập cho HS, GV nên xây dựng nhiều tình huống giao tiếp
cụ thể diễn ra xung quanh các em Bắt nguồn từ những điều đơn giản trong cuộc sống,
từ cách nói năng, cư xử với mọi người trong xã hội, các mối quan hệ trong gia đình và ngoài
xã hội… tất cả có thể đưa vào trong nội dung bài tập để HS có thể hình dung và tiếp cận trithức lí thuyết về TV một cách nhanh chóng nhất Trong khi xây dựng tình huống cho HS,trước hết cần hướng tới mục đích của việc dạy TV là dạy giao tiếp, rèn kĩ năng sử dụng TVtrong đời sống hằng ngày Sau khi đã xác định rõ mục tiêu ấy, chúng ta mới tính đếm đếnnội dung giao tiếp liên quan đến các tri thức lí thuyết trong SGK Bài tập tình huống mà GVxây dựng cho HS phải đưa các em đến một:
+ Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: nói, viết trong hoàn cảnh nào; ở đâu; khi nào
+ Nội dung giao tiếp cụ thể: nói, viết về cái gì;
+ Nhân vật giao tiếp cụ thể
Trang 25+ Phương tiện và cách thức giao tiếp cụ thể: nói, viết như thế nào; bằng phương tiệngì.
VD: GV xây dựng tình huống cho HS
Giờ tan học, em và các bạn chạy thật nhanh ra nhà xe để lấy xe đi về Vừa ra đến nơi
em nhìn thấy một em gái lớp dưới mình đang loay hoay ngồi lắp xích xe đạp giữa trờinắng chang chang Mọi người qua lại nhưng chả có ai quan tâm cả.Trong tường hợp ấy
em sẽ nói gì để giúp em gái đó? Em sẽ nói như thế nào để đảm bảo nguyên tắc lịch sựtrong giao tiếp?
→ GV hướng dẫn học sinh phân tích tình huống
+ Xác định hoàn cảnh giao tiếp: Tình huống trên diễn ra trong khu vực để xe của mộttrường phổ thời Thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp là giờ tan học buổi trưa
+ Xác định nhân vật giao tiếp: gồm có 2 nhân vật
+ Nội dung mà tình huống hướng tới: cách cư xử của bạn nam lớn tuổi với em gái lớpdưới khi thấy xe em bị hỏng giữa trưa nắng chang chang
+ Vai xã hội: trên – dưới; quan hệ xa lạ, mang tính chất xã giao
Sau khi đi phân tích một số khía cạnh của tình huống, GV cho HS trình bày cách xử
lí tình huống của mình HS sẽ có nhiều cách trả lời khác nhau nhưng đích cuối cùng phảiđạt được là bạn nam lớn tuổi giúp đỡ bạn gái lớp dưới sửa xe và qua đó dạy cho các bạncách ứng xử phù hợp với các đối tượng ngoài xã hội HS có thể tham khảo cách giải quyếttình huống như sau:
Bạn nam lớn tuổi chạy tới gần em gái lớp dưới và nói:
- Xe làm sao vậy em?
- Dạ nó bị tuột xích ạ Em lắp mãi mà không được
- Ừ Để đó đi, anh sẽ xem giúp
Bạn nam ấy lắp nhoáng một cái là được Em gái vui mừng, mồ hôi nhễ nhại nói:
- Cảm ơn anh Nếu không có anh chắc hôm nay em không về nhà được rồi
Trang 26Sau đó cả hai cùng ra về.
Ba là, kiểm tra đánh giá hiệu quả bài tập theo quan điểm giao tiếp
Trước đây chúng ta đánh giá học sinh nặng về kiến thức, kĩ năng chưa được chútrọng Đặc biệt đánh giá theo quan điểm giao tiếp lại càng chưa được thực hiện Quanđiểm giao tiếp yêu cầu việc kiểm tra, đánh giá phải có những chuyển biến cơ bản: từ kiểmtra, đánh giá kiến thức sang kiểm tra năng lực giao tiếp Muốn vậy, nội dung chính yếu củacác bài kiểm tra và thi chủ yếu phải là các hoạt động giao tiếp đọc, nghe, nói, viết bằng TVtrong những tình huống giao tiếp cụ thể
→ Như vậy, những nghiên cứu về mặt lí thuyết trên đây đã bước đầu làm sáng rõ vềquan điểm giao tiếp, về bài tập và sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập nóichung và bài tập TV nói riêng Đây sẽ là cơ sở vững chắc để chúng tôi tiếp tục nghiên cứunhững phần tiếp theo của luận văn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát bài tập trong SGK, SBT Ngữ văn 8
Bước đầu nghiên cứu về hệ thống bài tập trong SGK và SBT Ngữ văn 8 chúng tôichia hệ thống bài tập thành ba dạng lớn: Bài tập về từ ngữ và tu từ từ vựng; bài tập về ngữpháp; bài tập về hội thoại và hành động nói Cùng với đó là bốn dạng bài tập cơ bản đượcxác định là: Bài tập nhận diện, phân tích; bài tập chuyển đổi; bài tập sửa chữa; bài tập tạolập
Kết quả khảo sát chúng tôi trình bày trong bảng sau:
Trang 27Bài tập trong SGK
BT nhậndiện, phântích
BTchuyểnđổi
BT sửa chữa
BT tạo lập
1 Cấp độ khái quát của
14 Ôn tập và kiểm tra
phần tiếng Việt
Trang 28BT sửa chữa
BT tạo lập
1 Cấp độ khái quát của
Trang 2914 Ôn tập và kiểm tra
phần tiếng Việt
→ Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Đối với bài tập trong SGK:
Tổng số bài tập là 139 bài Trong đó bài tập nhận diện chiếm tỉ lệ lớn, đạt tới 99 bàitương đương 71,2% Tiếp đó là bài tập tạo lập với 26 bài tương đương 18,7% Bài tậpchuyển đổi chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt 2 bài trên tổng số
139 bài và tương đương 1,4% Cuối cùng là bài tập sửa chữa, chỉ có 1 bài và tương đương 0,7%
Trang 30+ Đối với bài tập trong SBT: SBT Ngữ văn ngoài việc hướng dẫn cách làm các bài tậptrong SGK còn bổ sung thêm một số bài tập củng cố kiến thức cho học sinh.
Tổng số bài tập là: 58 bài Trong đó bài tập nhận diện, phân tích là 39 bài tươngđương với 66,1%; bài tập chuyển đổi là 4 bài tương đương với 6,9%; bài tập sửa chữa là 4bài tương đương 6,9%; còn lại bài tập tạo lập là 11 bài tương đương 20,1%
Nhìn chung bài tập cả ở trong SGK và SBT Ngữ văn có dạng bài tập nhận diện,phân tích chiếm tỉ lệ cao, tiếp đó là bài tập tạo lập Hai dạng bài tập chuyển đổi và sửachữa chiếm tỉ lệ thấp và chưa được chú trọng tới
1.2.2 Thực trạng dạy học phần tiếng Việt trong Ngữ văn 8 – THCS
Chúng tôi tiến hành dự giờ trường THCS Bắc Sơn – thị xã Phổ Yên – tỉnh TháiNguyên và nhận thấy rằng HS của nhà trường đa phần gia đình bố mẹ là nông dân, làcon em dân tộc ít người, điều kiện kinh tế chưa thực sự ổn định Vì thế nên các emchưa có điều kiện tốt để học tập, ngoài thời gian học trên lớp các em còn phải tham giavào công việc gia đình, nhiều khi thời gian bị lấn lướt đi Một số ít các em mà gia đình
có điều kiện thì lại chưa thực sự chú tâm đến việc học của mình Việc các em tìm hiểusách báo tham khảo hay sử dụng mạng internet chỉ để thỏa chí tò mò chứ khôngphục vụ sâu sắc cho việc học tập
Điều cơ bản mà chúng tôi nhìn thấy là phân môn TV gần như bị bỏ quên trongchương trình Ngữ văn 8 Cả GV và HS đều cho rằng nó khó Chúng tôi công nhận là nó khónhưng nếu thực sự chú tâm và có một phương pháp truyền đạt tốt thì môn học này khôngcòn là nỗi lo của thầy và trò nơi đây
Sau khi điều tra qua bảng hỏi chúng tôi nhận thấy rõ ràng tâm lí sợ sệt của HS khiphải đối diện với phân môn TV Đa phần các em còn ngại ngùng và chưa thực sự muốntìm hiểu thứ ngôn ngữ mẹ đẻ này Điều mà các em nhận được từ việc học TV là hệthống những tri thức, những khái niệm, những
Trang 31khối kiến thức lí thuyết khổng lồ, đồ sộ mà không phải là cách sử dụng và áp những điều
đó và thực tiện cuộc sống Học TV đâu phải là học những khối lí thuyết ấy mà điều quantrọng là các em biết vận dụng những gì mình học vào trong thực tiễn cuộc sống
Về phía GV, đa phần các GV cũng cho rằng phân môn TV khó hơn cả Lên lớp với
HS phần này cũng chỉ qua loa Người GV, ngay chính bản thân họ không xác định được tầmquan trọng của TV và thời gian dành cho nó cũng không nhiều.Vì vậy dẫn đến hiện trạngphổ biến là khó nhớ, mau quên, học vẹt, học thuộc lòng chứ không hiểu bản chất vấn đề
Đa số các thầy cô tập trung vào việc truyền thụ những tri thức lí thuyết, những khối kiênthức TV khổng lồ mà chưa thực sự tập trung vào hướng dẫn HS tiến hành luyện tập Khihướng dẫn HS thực hành GV vẫn còn mang tâm lí “sợ ” thoát li lý thuyết từ SGK nênthiếu linh hoạt, ít sáng tạo và hầu như không có sự mở rộng Bên cạnh đó cũng phải nói tớiviệc GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, thiếu đầu tư nên bài dạy khô khan, không hấpdẫn và chưa kích thích được nhu cầu từ phía người học Không những thế, sự trì trệ, chậmtiến trong đội ngũ GV ở việc chưa áp dụng những phương pháp dạy học tích cực lại cànglàm cho TV trở nên khó khăn hơn với HS Vì không đưa được HS vào những tình huốnggiao tiếp thực tế, cụ thể nên khi hướng dẫn các em làm bài tập GV còn gặp nhiều khókhăn: HS mơ hồ về lí thuyết, GV chưa áp dụng được phướng pháp hướng dẫn học sinhthực hành hợp lí, không kích thích được tư duy của học sinh và tạo cảm giác nhàm chán.Các GV chủ yếu cho HS thực hiện những bài tập trong SGK đưa ra mà không có sự bổ sung
và mở rộng Cũng xuất phát từ những lí do trên mà HS trong giờ học không tập trung, lườisuy nghĩ và chưa tích cực làm bài tập Có nhiều em không làm bài tập ở nhà hoặc làm chỉmang tính chất đối phó Kết quả thu được từ các bài tập mà HS làm nhìn chung chỉ đạtmức trung bình, vẫn còn nhiều trường hợp yếu kém
Trang 32Từ những thực trạng đó chúng ta cần có những giải pháp tích cực để khắcphục, giảm dần tình trạng học đối phó ở HS, tạo điều kiện cho các em hứng thú với mônhọc vốn dĩ khô khan này Người GV phải là người khơi dậy được tiềm năng từ học trò, tíchcực tìm những phương pháp mới áp dụng vào giờ học để phát huy được tính tích cực,chủ động của HS; tạo tâm thế tốt cho các em bước vào giờ học Điều quan trọng hơn cả làngười GV phải đưa được HS vào những tình huống giao tiếp cụ thể để các em trải nghiệm,thực hành luyện tập từ đó rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh và giúp các em sử dụng nóđược thành thạo trong cuộc sống.
Tóm lại, những cơ sở lí luận và thực tiễn vừa nêu trên sẽ là tiền đề vững chắc đểchúng tôi bước vào việc nghiên cứu, thiết kế hệ thống bài tập Ngữ văn
8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh
Trang 33Chương 2XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8 THEO
QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
2.1 Thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp
Bài tập Tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung địnhhướng cho việc dạy học TV Thông qua việc thiết kế bài tập TV và hướng dẫn HS làm bàitập của GV, quá trình làm bài tập của HS, GV có thể kiểm tra kết quả hoạt động dạy củamình, HS củng cố được những tri thức TV vừa mới được tiếp nhận và nắm vững các kĩnăng sử dụng TV Ngày nay, việc dạy học TV được xác định là phải gắn bó chặt chẽ với việchình thành và nâng cao khả năng giao tiếp cho HS Điều này không chỉ là mục đích mà nócòn là phương thức trong dạy học TV.Việc dạy học TV phải quán triệt nguyên tắc hướngvào hoạt động giao tiếp Do đó khi thiết kế bài tập TV phải có những định hướng cụ thể,nhất định dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp, theo phương pháp giao tiếp
Theo quan điểm dạy học TV hướng vào hoạt động giao tiếp, việc thiết kế bài tập TVphải đảm bảo phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho học sinh Dạy học TV
sử dụng phương pháp giao tiếp như phương pháp tổ chức dạy học quan trọngnhất.Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được họcvào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tốtham gia vào hoạt động giao tiếp.Thực hành với bài tập TV là một khâu trọng yếu có ýnghĩa quyết định đối với việc hình thành kĩ năng sử dụng TV và ứng dụng TV trong đờisống của HS Bởi vậy, bài tập TV khi được thiết kế dưới ánh sáng của lí thuyết giao tiếp sẽthiết thực, hiệu quả hơn đối với GV, HS cũng như quá trình dạy TV Khi thiết kế bài tậpkhông nên lấy mục đích cung cấp và củng cố tri thức ngôn ngữ học về TV làm cơ bản màmục đích chính cần xác định là nhằm củng cố cho HS vốn tri thức nhất định về TV và kĩnăng sử dụng vốn tri thức ấy trong hoạt động giao
Trang 34tiếp Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định việc thiết kế bài tập TV phải tuân theo một hệthống các nguyên tắc mang tính nhất quán cao.
2.2 Nguyên tắc thiết kế bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích hình thành và phát triển năng lực giaotiếp
Như đã trình bày ở trên, việc dạy học TV theo quan điểm giao tiếp cái
đích mà ta hướng đến là giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp HSkhông chỉ nắm được tri thức lí thuyết mà còn biết áp dụng những tri thức ấy trong hoạtđộng giao tiếp của mình một cách thành thạo.Bài tập TV phải gắn với hoạt động giaotiếp của HS Cần đặt bài tập trong những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thểnghiệm, đồng thời sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức để xây dựngcác ngôn bản trong bài tập TV Những hoạt động giao tiếp cụ thể có thể là những tìnhhuống giao tiếp mà HS được trực tiếp tham gia, có thể là những tình huống giao tiếp ngoài
xã hội mà các em đủ khả năng nắm bắt
VD: Khi học bài “Trường từ vựng” giáo viên cho học sinh xác định những đơn vị từvựng nhỏ trong một trường từ vựng lớn thong qua các trường từ vựng gần gũi, thân thuộcvới các em học sinh như trường từ vựng về trạng thái cảm xúc: vui, buồn, phấn khởi, hạnhphúc, lo lắng, bồn chồn, sợ hãi…; trường từ vựng về các bộ phận trên cơ thể người: mắt,mũi, đầu, tay, chân…; trường từ vựng về dụng cụ nấu ăn: xoong, nồi, đũa, thìa, muôi, chảo…;trường từ vựng về các bộ phận trên khuôn mặt người: đầu, tóc, mắt, mũi, miệng, cằm, tai, …
Bên cạnh đó, người GV khi thiết kế bài tập TV cho học sinh cần tạo đượcnhững tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho HS Khi thiết
kế bài tập TV nên đưa những tình huống hấp dẫn được các em quan tâm và hứng thúthảo luận, các tình huống giao tiếp mang tính thời sự nóng hổi, phù hợp với tâm lí các em
Trang 35Chỉ ở trong những tình huống, những hoàn cảnh cụ thể như vậy HS mới dễ dàngnắm bắt được nội dung lí thuyết vừa học, đồng thời có kĩ năng sử dụng kiến thức ấy trongthực tiễn cuộc sống.
2.2.2 Nguyên tắc phù hợp với trình độ của học sinh
Những thành tựu của tâm lí học hiện đại đã khẳng định ở mỗi độ tuổi, học sinh
có những đặc điểm tâm lí tiếp nhận riêng biệt, có ngưỡng nhất định Việc xác định dunglượng về độ khó của bài tập tùy thuộc vào đặc điểm này của HS Khác với HS ở lứa tuổitiểu học, học sinh THCS là lứa tuổi có tâm lí phức tạp Ở giai đoạn này tâm lí các em mangtính bùng nổ và có phần nổi loạn khi gặp tác động do những thay đổi về mặt sinh lí cũngnhư những tác động từ môi trường sống xung quanh Giai đoạn này, về cơ bản tâm lícác em chưa được ổn định, vì thế mà tư duy chưa có sự hoàn thiện như học sinh THPT vàviệc định lượng độ khó của bài tập cũng khá phức tạp Người GV khi thiết kế bài tập phảitính đếm những khó khăn này để làm sao cho phù hợp với mức độ tiếp nhận của HS Nếubài tập dễ quá sẽ tạo cảm giác nhàm chán hay nếu bài tập khó quá sẽ khiến các em nảnlòng, tạo áp lực và dẫn đến cảm giác sợ hãi đối với môn học
2.2.3 Nguyên tắc hệ thống: Các bài tập phải được sắp xếp trên một cơ sở thống nhất, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
Nguyên tắc hệ thống yêu cầu các bài tập Tiếng Việt phải được sắp xếp
theo thứ tự hợp lí, bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
VD: Bài “Câu cảm thán ” trong SGK Ngữ văn 8 tập 2 trang 43 Phần luyện
tập trong SGK được trình bày như sau:
1 Hãy cho biết các câu trong đoạn trích sau có phải đều là câu cảm thán không Vì sao?
a.) Than ôi!Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được vớithế nước Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất
(Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay)
Trang 36b.) Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi !
(Thế Lữ, Nhớ rừng)c.) Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hang, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợcho những cwr chỉ ngu dại của mình thôi Tôi đã phải trải cảnh như thế Thoát nạn rồi, màcòn ân hận quá, ân hận mãi
(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu kí)
2 Phân tích tình cảm, cảm xúc được thể hiện trong những câu sau đây Có thể xếpnhững câu này vào kiểu câu cảm thán được không? Vì sao?
a.) Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn cho gầy cò con? (Ca
dao)b.) Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
(Chinh phị ngâm khúc)c.) Tôi có chờ đâu, có đợ đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
(Chế Lan Viên, Xuân)d.) Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng, dại dột của tôi Tôi biết làm thế nào bâygiờ?
(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu kí)
Trang 37tập số 2 vẫn thuộc dạng nhận diện, phân tích nhưng độ khó đã tăng lên thêm một bậc đòi hỏi học sinh phải tư duy mới tìm ra được đáp án chính xác.
Bài tập số 3 thuộc bài tập tạo lập (tạo lập sản phẩm theo yêu cầu nhất định) Bài tập số
4 thuộc về mặt tổng hợp lí thuyết, thiết nghĩ nên giao cho học
sinh về nhà tự tổng hợp
Về cơ bản chúng tôi nhận thấy rằng bài tập đã được thiết kế mang tính hệ thống, có
sự sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Tuy nhiên, nên bổ sung thêm 1hoặc 2 bài thuộc dạng bài tập sửa chữa hay chuyển đổi thay cho bài tập 4 thì HS sẽ có điềukiện nắm bắt bài học một cách chu toàn hơn, các em được luyện sâu hơn ở một dạng bàitập thực hành khác để từ đó đẽ dàng ứng dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thểtrong cuộc sống hằng ngày
2.3 Hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếp
2.3.1 Giới thiệu chung về hệ thống bài tập
Qua việc khảo sát hệ thống bài tập trong SGK chúng tôi nhận thấy rằng phân môn
TV trong chương trình Ngữ văn 8 có thể chia làm 3 loại: Loại bài tập về từ vựng và tu từ;loại bài tập về ngữ pháp; bài tập về hội thoại và hành động nói Đồng thời với việc khảo sátchúng tôi muốn xây dựng hệ thống bài tập riêng cho từng loại vì mỗi loại lại có những đặcthù riêng của nó
Dạng bài tập về nhận diện, phân tích và bài tập tạo lập có thể sử dụng chung cho
cả 3 loại bài tập nói trên nhưng đối với bài tập về từ vựng và tu từ thì ta lại phải bổ sungthêm bài tập phân loại, quy loại; bài tập điền từ và thay thế từ…; đối với bài tập về ngữpháp ta bổ sung thêm bài tập sửa chữa, bài tập chuyển đổi…
Vẫn là những loại bài tập ấy nhưng trong SGK Ngữ văn 8 chủ yếu để minh họa líthuyết về TV mà HS vừa được tìm hiểu; mang nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưathể hiện được rõ nét các nguyên tắc trong dạy học thực hành TV Thiết kế bài tập TiếngViệt 8 theo quan điểm giao tiếp hướng đích của công việc ấy là hình thành và phát triểnnăng lực giao tiếp cho HS, đưa các
Trang 38em vào những tình huống giao tiếp cụ thể, dễ tiếp cận trong cuộc sống hằng ngày Từ đóqua việc thực hành mà củng cố kiến thức vừa học lại có kĩ năng sử dụng TV trong mọi hoạtđộng giao tiếp Vì thế chúng tôi thiết kế mô phỏng hệ thống bài tập theo từng loại đểgiúp cho GV và HS dễ dàng hơn trong việc giảng dạy và lĩnh hội.
2.3.2 Miêu tả hệ thống bài tập
Trước khi đi vào miêu tả hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan điểm giao tiếpcho học sinh một cách chi tiết chúng tôi xin trình bày nội dung qua sơ đồ sau:
Trang 39BT rèn
và phát triển năng lực hành ngôn
BT phát triển năng lực ngôn ngữ
xã hội
BT phát triển năng lực chiến lược
Hệ thống bài tập tiếng Việt lớp 8theo quan điểm giao tiếp
BT điền
từ và thay thếtừ
BTtạolập
BT nhận diện, phân tích
BT chuyển đổi
BT thay thế
BTtạolập
Trang 402.3.2.1 Bài tập về từ ngữ và tu từ.
Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu đích thực Bản chất tín hiệu là tạođiều kiện cho ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của xã hội loài người.Từ vựng là mộttrong các bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, thiếu từ vựng thì không có bất cứ ngôn ngữnào.Thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp cũng được thể hiện trong từ Như vậy dạyhọc từ ngữ là một công việc quan trọng không thể thiếu trong chương trình TV ở trườngphổ thông
Trong giao tiếp, nếu không nắm được từ, người tiếp nhận sẽ không hiểu hết, thậmchí hiểu sai lệch ý của người phát, còn bản thân người phát lại khó làm cho người tiếpnhận hiểu được ý của mình Cùng với việc non yếu trong ngữ pháp, những non yếu trongviệc hiểu biết và sử dụng từ ngữ làm cho việc giao tiếp gặp nhiều khó khăn và không đạthiệu quả Điều đó chứng tỏ rằng để phát huy chức năng làm công cụ giao tiếp của ngônngữ, chúng ta nhất thiết phải hiểu được từ, có khả năng huy động và sử dụng được từ.Đặt việc dạy từ ngữ trong lí thuyết của hoạt động giao tiếp chúng ta lại càng nhận rõ hơntầm quan trọng của nó bởi lẽ mục đích cuối cùng của việc dạy từ ngữ là trang bị tri thức từngữ cho HS để các em có thể sử dụng nó trong giao tiếp hằng ngày một cách thuần thục.Chính vì vậy mà việc thiết kế hệ thống bài tập cho HS rèn luyện là vô cùng cần thiết
Trong SGK Ngữ văn 8 dành 8 tiết cho các bài học về từ ngữ và 2 tiết cho các bài học
về tu từ từ vựng Qua việc khảo sát bài tập về từ ngữ và tu từ từ vựng chúng tôi thấy hệthống bài tập trong SGK chủ yếu là mô phỏng lí thuyết, dạng bài tập nhận diện, phân tíchchiếm tỉ lệ lớn Mặc dù ở dạng bài tập ấy mức độ khó có sự điều chỉnh tăng lên nhưngthiết nghĩ hệ thống bài tập như SGK hiện hành đang dùng chưa mang lại hiệu ứng tốt chogiờ học Tâm lí học sinh sẽ không hứng thú với một dạng bài tập cứ lặp đi lặp lại màvẫn chỉ dừng ở mức độ nhận diện.Phần luyện tập trong SGK nên thiết kế đa dạng,thay đổi