Bảo quản: Để nơi khô mát Công dụng của Mai mực Mực là một loài động vật sống ở vùng nước có độ mặn cao, vùng đáy có cát pha bùn, nhât là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống, giữa 2 cồn c
Trang 1Bạch Công Tấn sưu tầm
Thành phần hóa học:
Hoa: sơ bộ thấy có: chất nhầy dính, trong đó có saponarin C21H24O12
Vỏ rễ sơ bộ thấy chất nhầy
Công dụng: - Hoa: Theo Đông y, hoa râm bụt kép vị ngọt, tính bình, có tác
dụng trừ thấp nhiệt, làm mát máu, chữa viêm niêm mạc dạ dày và ruột, chẩy máu đường ruột, lỵ, phụ nữ bạch đới, chữa cả nôn mửa, ỉa chảy
Liều uống: 10 – 20g (hãm sắc uống)
Hoa tươi nghiền nát với dầu vừng bôi chữa bỏng
- Vỏ rễ: vị ngọt, sáp, tính bình Chủ yếu dùng chữa bệnh ngoài da ngứa ghẻ,
lở, eczema, hoặc đun nước tắm rửa
Theo Thiềm tây trung thảo dược: Dùng hạt gọi là Triều thiên tử có tác dụng: nhuận phổi, tiêu đờm, chữa ho, đờm xuyễn
Bảo quản: Để nơi khô mát
Công dụng của Mai mực Mực là một loài động vật sống ở vùng nước có
độ mặn cao, vùng đáy có cát pha bùn, nhât là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống, giữa 2 cồn cát
Mai mực
Tên khoa học: Sepia sp- họ Cá mực (Sepiadae)
Tên khác: Ô tặc cốt - Hải phiêu tiêu (TQ) – Os de Seiche (Pháp) Cuttle bone
(Anh)
Bộ phận dùng: Mai của con cá Mực rửa sạch, phơi khô (Os Sepiae)
Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1983) và Dược điển Trung Quốc (1963), (1997)
Mô tả: Ở nước ta có nhiều loại mực:
1 Mực nang: Sepia esculenta Hoyle còn gọi là Ô tặc (TQ)
2 Mực ống: Sepia andculenta Hoyle Steen – Strup còn gọi là Mực cơm -châm Ô tặc (TQ) đều thuộc họ cá Mực (Sepiadae)
Mực là một loài động vật sống ở vùng nước có độ mặn cao, vùng đáy có cát pha bùn, nhât là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống, giữa 2 cồn cát Mực
thường sống từng đàn ở tầng nước đáy, khi kiếm mồi mới nổi lên tầng nước trên Hầu hết khi bơi lội trong nước, mắt mực lồi ra, màu da luôn luôn thay đổi
để dễ lẩn tránh và bắt mồi Lúc nguy biến thì mực bơi lội giật lùi và phun mực
ra làmcho nước vùng đó đen lại, kẻ địch loá mắt, rồi tìm cách lẩn trốn
Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy ánh sáng, mực tập trung rất đông Mực rất thích ăn các loài trứng cá, tôm, cá con và những động vật nhỏ khác trong nước
Miền biển nước ta nơi nào cũng có Mực: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hoà
Thu hoạch chế biến: Mùa thu hoạch mai Mực từ tháng 3 đến tháng 9 (chủ yếu
là vào tháng 4-6) là thời kỳ Mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ Thu nhặt lấy những
Trang 2mai mực trôi giạt vào bờ biển hoặc mai mực bỏ đi khi ăn cá mực Loại bỏ tạp chất, rửa sạch bằng nước trong, rồi đem phơi khô
Ô tặc cốt hình bầu dục dài, dẹt, gần phẳng, ở giữa dày, thường dài 10-16,5
cm, rộng 3,5 – 6.65cm, ở giữa dày 0,65 – 13 cm, rộng 3,5 – 6,65 cm Lưng màu trắng hay màu trắng vàng nhạt, có nhiều nốt chấm nhỏ nổi lên, thành
những đường vân nửa vòng gần như hình bành Mặt ngoài có bọc một lớp màng cừng mà giòn Bụng màu trắng, có khi kèm màng mỏng trong suốt, màu vàng, ngoài ra còn có những lớp vân hình lượn sóng
Thể nhẹ, chất xốp, giòn, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ cắt ngang có những vân nhỏ rõ rệt hình bình hành, hơi cong về phía lưng Bỏ màng cứng ở lưng đi, cọ sát bằng tay thì có rất nhiều bột phấn màu trắng rơi xuống
Mai mực mùi hơi tanh, vị hơi mặn mà rít lưỡi Mai mực khô, trong ngoài đều màu trắng, nguyên vẹn, không vỡ vụn là tốt
Mai mực phải nguyên mai to, dài từ 15cm trở lên, hoặc có thể vỡ đôi, vỡ ba Không lấy loại vụn nát, ruột bị vàng, đen hay lơ, Thuỷ phần an toàn dưới 5p100
Thành phần hoá học: Trong mai mực có các muối calci carbonat (83p100),
calci phosphat, Natri chlorid, các vết lưu huỳnh, iốt các chất hữu cơ và chất keo
Công dụng: Theo đông y, mai mực vị mặn, tính ấm, vào 2 kinh Can, Thận Có
tác dụng thông huyết mạch, trừ hàn thấp, cầm máu
Dùng chữa các chứng bệnh nôn ra máu, chảy máu cam, ỉa ra máu, trĩ ra máu,
tả lỵ lâu ngày suy yếu, viêm ruột mạn tính đau dạ dày, tá tràng, phụ nữ kinh nguyệt bế tắc, băng huyết, lậu huyết (rỉ máu), khí hư, âm hộ sưng đau, lở loét, tai chảy mủ
Liều dùng: Ngày 5-10g dưới dạng thuốc bột
Dùng ngoài da: Viện mắt dùng những thỏi Ô tặc cốt vót nhỏ thành bút chì, tẩm dịch Palmatin chlorid 1-5p100 để đánh mắt hột, kết quả tốt
Nhân dân ta tán bột mịn rắc lên vết thương để cầm máu (lượng vừa đủ) Phối hợp trong thuốc trị bệnh dạ dày - ruột
Còn dùng làm bột thuốc đánh răng Ngoài ra thường dùng để đánh mặt kính cho sạch vết bẩn
Bài thuốc:
Bài số 1: Chữa nôn ra máu: Ô tặc cốt tán thật nhỏ, ngày uống 4-5 lần, mỗi lần
1-2g chiêu với nước cơm hay nước sắc Bạch cập (10g hay 20g Bạch cập sắc với 300ml nước)
Bài số 2: Phụ nữ bị lở loét âm hộ: Ô tặc cốt thiêu tồn tính, trộn với lòng đỏ
trứng gà bồi vào vết lở loét đã rửa sạch đó
Bảo quản: Để nơi khô ráo
Biệt dược (phối hợp): Gastrogel – Sogastrol
Tác dụng của giun đất Có tác dụng thanh nhiệt, lưu thông hệ kinh lạc, chặn cơn đau kinh giật, chặn cơn hen xuyễn, lợi niệu
Tác dụng của giun đất
Trang 3Bạch Công Tấn sưu tầm
Tên khoa học: Pheretina asiatica Mich-Lumbricus terrestris, họ Cự dẫn
(Megascolecidae)
Tên khác: Địa long – Khâu dẫn (TQ)
Bộ phận dùng: Cả con giun đất khoang cổ đã chế biến khô (Lumbricus)
Mô tả: Con giun đất to dài 11-30 cm, đường kính 0,5-1,2 cm Thân có nhiều
đốt, màu hơi tím nâu, bóng, gần đầu có 1 khoang trắng
Thường sống ở nơi đất ẩm, nhiều mùn, khắp nước ta đều có
Gin ăn chất mùn hữu cơ thối nát lẫn trong đất, thải bã và đất ra ngoài
Thu hoạch chế biến: Có thể bắt giun quanh năm Lấy nước bồ kết, hoặc nước rau nghể, nước chè đổ vào những nơi có nhiều giun, giun sẽ bò ra Bắt lấy thả vào tro r ơm, dội nước ấm sạch chấy nhầy nhớt
Lấy đinh căng đầu đuôi lên tấm gỗ, lấy dao rạch từ đầu đến đuôi, lấy nước ấm rửa sạch đất cát trong bụng rồi phơi hay sấy khô Cơ nơi chỉ rửa sạch chất nhờn bên ngoài cơ thê giun (không mổ bên trong) rồi phơi hay sấy khô
Thành phần hoá học: Sơ bộ thấy giun đất chứa một số chất như: Lumbritin,
lumbrolysin, hypoxanthin, xanthin, terestrolumbrolysin, một số chất béo, acid béo, cholesterin, cholin, guanin, adenin, guanidin
Công dụng: Theo đông y, giun đất vị mặn, tính lạnh vào các kinh Trường, Vy,
Thận
Có tác dụng thanh nhiệt, lưu thông hệ kinh lạc, chặn cơn đau kinh giật, chặn cơn hen xuyễn, lợi niệu
Một số tác giả đã chứng minh tác dụng hạ sốt (do lumbrifebrin) tác dụng giãn khí quản, tác dụng kháng histamin, hạ huyết áp và ức chế sự co bóp của ruột non, tác dụng phá huyết (do lumbritin) theo các phương pháp y học duợc lý hiện đại
Liều dùng: 5-10g
Lưu ý: người thể hư hàn, không được uống
Bài thuốc:
Bài số 1: Chữa chứng thấp đàm ứ huyết làm cho kinh lạc không lưu thông, đau
nhức khớp xương, viêm sưng đỏ, tiểu tiện vàng và khớp ít:
Thiên nam tinh 6g
Tán bột, phun rượu với bột, làm thành hoàn uống
Bài số 2: Hạ sốt, chặn cơn kinh giật, sốt cao:
Bài số 3: Chữa sốt cao, k inh giật
Tán bột, làm thành hoàn, mỗi ngày uống 3g
Trang 4Bài số 4: Chữa thấp nhiệt, bí đái, có kết sỏi trong hệ tiết niệu:
Giun đất khoang cổ - Củ tỏi – Lá khoai lang: lượng như nhau,giã nát, nhào đều, đắp trên rốn (có thể kết hợp uống lợi niệu khác)
Bài số 5: Chữa hen phế quản
Cam thảo sống 15g
Tán bột, trộn đều Mỗi lần uống 3g, ngày 2 lần
Bảo quản: Để nơi khô, mát
Biệt dược (phối hợp): Bổ dưỡng hoàn ngũ thang
Dứa - vị thuốc đa năng
Cập nhật lúc 13h36" , ngày 25/04/2007
Dứa không chỉ làm tan sỏi thận mà còn trợ giúp tiêu hóa, tẩy tế bào chết trên da Tuy nhiên, không nên dùng dứa cho những người đang bị chảy máu
Có 3 loại dứa chính:
Loại hoàng hậu: Thịt quả vàng đậm, giòn, thơm, ngọt
Quả nhỏ, mắt quả lồi, loại dứa này có phẩm chất cao nhất Dứa hoa, thơm, hay dứa Tây thuộc loại này
Loại Cayenne: Thịt quả vàng ngà, nhiều nước, ít thơm và
vị kém ngọt hơn dứa hoa Quả rất to, vì thế còn gọi là dứa độc bình
Loại Spanish: Thịt quả vàng nhạt có chỗ trắng, vị chua, hương kém thơm và
nhiều nước hơn dứa hoa Quả kích thước trung bình, mắt sâu Dứa ta, dứa mật… thuộc loại này
Dứa không chỉ giàu vitamin và khoáng mà còn chứa bromelin - một enzym có tác dụng thủy phân protein thành các acid amin có tác dụng tốt trong tiêu hóa
Ở pH 3,3, chất này có tác dụng như men pepsin của dịch vị; còn ở pH 6, nó có tác dụng như men trypsin của dịch tụy Do đó, sau những bữa ăn có nhiều thịt, nên tráng miệng vài miếng dứa Chất bromelin tập trung nhiều nhất trong lõi quả
Dân gian thường dùng dịch ép quả dứa chưa chín làm thuốc tẩy, nhuận tràng Quả dứa chín nướng cháy, gọt bỏ vỏ, mỗi ngày ăn 1 quả, ăn trong 4 ngày giúp chữa huyết áp cao… Đặc biệt, nhiều người dùng quả dứa chín chữa bệnh sỏi thận có hiệu quả: Lấy một quả dứa chín để nguyên vỏ, khoét ở cuống quả một
lỗ nhỏ, lấy 7-8 g phèn chua giã nhỏ nhét vào, dùng thân dứa vừa khoét đậy lại, đem nướng trên than hồng (hoặc vùi vào lửa) cho cháy sém hết vỏ, thịt quả
Trang 5Bạch Công Tấn sưu tầm
chín mềm Để nguội, vắt lấy nước uống, mỗi ngày 1 quả Sỏi thận sẽ bị bào mòn dần và tan hết, nếu sỏi nhỏ thì có thể tiểu tiện ra được
Tây y dùng bromelin của dứa làm tăng hệ miễn dịch, ức chế quá trình viêm, bôi lên nơi tổn thương (vết thương, vết bỏng, vết mổ) để làm sạch các mô hoại tử, mau lành sẹo Bromelin làm tăng hiệu quả kháng sinh và thuốc chữa hen Nó cũng có tác dụng làm giảm di căn ở các bệnh ung thư
Thịt quả dứa còn được dùng làm mặt nạ nhằm lột nhẹ lớp tế bào sừng phía ngoài, bộc lộ lớp da non phía trong mịn màng và trắng hơn
Cẩn thận khi dùng dứa
Dứa có tác dụng phân hủy fibrin chống tụ huyết nên có tài liệu khuyên: Những người có bệnh chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu (người hay chảy máu cam, sốt xuất huyết, vết thương lớn, phụ nữ băng huyết…) không nên ăn dứa
Không nên ăn dứa tươi vào lúc đói, vì các acid hữu cơ của dứa và bromelin tác động mạnh vào niêm mạc dạ dày, ruột, dễ gây nôn nao, khó chịu
Dứa cũng gây ngộ độc (dân gian thường gọi là “say dứa”) Sau khi ăn dứa
30-60 phút, bệnh nhân thấy khó chịu, ngứa khắp người, nổi mày đay, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, có thể mạch nhanh nhỏ, khó thở, huyết áp hạ Nếu ngộ độc nhẹ, khoảng 3 giờ sau nạn nhân sẽ khỏi Nếu nặng, nạn nhân khó thở, trụy tim mạch, mê man và tử vong
Dân gian cho rằng bệnh nhân ăn phải “dứa có nọc rắn phun” Thực ra, thủ phạm là một loại vi nấm có độc tính cao Vi nấm thường có trên mặt đất ẩm, phát triển mạnh trong mùa hè, trùng với mùa dứa chín Dứa mọc ở sát đất, thu hái xong cũng để dưới đất; vỏ dứa xù xì, mắt dứa làm thành những cái hốc là nơi cư trú tốt cho nấm Mặt khác, dịch bào của dứa có độ ẩm, có hàm lượng đường cao và pH acid là những điều kiện thuận lợi cho nấm độc phát triển Nếu dứa bị dập nát, dịch bào thấm ra, nấm sẽ phát triển, có điều kiện xâm nhập sâu vào trong quả dứa, gây độc cho người ăn
Để phòng ngừa tai biến này, khi mua cần chọn dứa tươi và nguyên lành
Không ăn dứa dập nát, gọt dứa phải gọt dày cho hết lớp vỏ, cắt sâu cho hết mắt dứa, xát qua ít muối rồi rửa sạch, mới bổ ra ăn
Chữa rôm sảy bằng dưa hấu
Cập nhật lúc 15h04" , ngày 27/04/2007
Trang 6Để chữa rôm sảy cho trẻ em, lấy dưa hấu 1 quả ngâm nước lạnh, sau 1 giờ giã nát vỏ để xoa, tắm cho trẻ
Ngoài ra, dưa hấu còn có các tác dụng sau:
Nước giải khát mùa hè: Nước dưa hấu tươi phòng chữa
được tất cả các chứng có hỏa - nhiệt - thấp, sốt cao, khát nước, miệng khô đắng, chán ăn, táo bón, tiểu đỏ sẻn Nếu
bị cảm nắng (trúng thử) và các triệu chứng đó nặng hơn gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy (do thấp nhiệt), vẫn cho uống nước dưa hấu và phối hợp thêm đạm đậu sị 2g, hương nhu 8g, sắc uống
Thức ăn tráng miệng mùa hè: Có tác dụng tốt sau khi uống rượu và ăn các
thức ăn sinh nhiều nhiệt như thịt dê, thịt chó…
Cháo thanh nhiệt: Dưa hấu 1 kg, cát cánh 25 g (thái nhỏ), đường phèn 100 g,
gạo tẻ 100 g Hoặc dùng vỏ dưa hấu và lạc mỗi thứ 200 g, mạch nha 100 g, ý
dĩ 100 g Có thể ăn liền một tuần khi mệt mỏi, chán ăn
Trẻ em cảm sốt: Vỏ dưa hấu 1 kg, chè xanh 10 g, bạc hà 15 g, nấu nước
uống Hoặc dưa hấu 1.500 g, cà chua 250 g (bỏ vỏ, hạt), vắt lấy nước uống
Phụ nữ có thai và người cao tuổi bí tiểu: Nhân hạt dưa hấu 15 g, giã nát trộn
với 15 g đường, nấu nước uống ngày một lần
Say rượu: Uống nhiều nước dưa hấu
Không nên để dưa hấu đã cắt trong tủ lạnh, vì dưa hấu bản chất nhiều nước nên sẽ bị đông lại, khi ăn có thể gây viêm họng lợi, buốt răng và rối loạn tiêu hóa
(theo SK & ĐS)
Những bài thuốc được chế biến từ cây cau Dùng chữa các chứng bệnh giun sán, ăn không tiêu, đầy bụng, tức ngực, tả lỵ, viêm ruột, thủy thũng
Những bài thuốc được chế biến từ cây cau
Tên khoa học: Areca catechu L., họ Dừa (Palmae) hoặc họ Cau (Arecaceae) Tên khác: Binh lang – Tân lang – Aréquier (Pháp) – Areca (Anh
Mô tả: Cây cau là một cây sống lâu năm, thân mọc thẳng, cao độ 15 – 20m,
đường kính 10 – 15cm, thân tròn, không chia cành, không có lá, có nhiều đốt
do vết lá cũ rụng, chỉ ở ngọn mới có một chùm lá to, rộng, xẻ lông chim Lá có
bẹ to Hoa tự mọc thành buồng, ngoài có mo bao bọc, hoa đực ở trên, hoa cái
ở dưới Hoa đực nhỏ màu trắng ngà, thơm mát Quả hạch, hình trứng, to gần bằng quả trứng gà, lúc đầu xanh, vỏ bóng nhẵn, khi già biến thành màu vàng
Trang 7Bạch Công Tấn sưu tầm
đỏ Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn, giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát
Cây cau được trồng ở khắp nơi trong nước ta, nhất là vùng Thanh Hóa, Nghệ
An Trồng bằng quả, sau 5 – 6 năm mới thu hoạch, đó là cau nhà, còn gọi là Gia tân lang, có loại cau tứ thời (Cau bốn mùa), cây thấp đã có quả, ra quả quanh năm
Cau rừng (Areca oleracea Linn cùng họ) còn gọi là Sơn tân lang, cây bé, hạt nhỏ, nhọn và chắc hơn Vùng Nghệ An, Thanh Hóa có nhiều Hiện nay ta thu mua cả hai loại cau nhà và cau rừng
I- Cau (Hạt)
Hạt quả cau già (Semen Arecae) phơi khô, gọi là Tân lang hay Bình lang (TQ)
Đã được ghi vào Dược điển Trung Quốc (1997), Dược điển Việt Nam (1977)
Thu hái chế biến: Bình lang: Mùa thu hoạch khoảng tháng 9 – 12 (không kể
loại cau tứ thời) lấy quả thật già, róc bỏ vỏ ngoài và vỏ già, lấy nguyên hạt ở trong đem phơi sấy thật khô
- Binh lang không mùi, vị đắng, chát
Loại Binh lang hạt già răng ngựa, khô chắc (nặng, chìm trong nước) da màu nâu nhạt, không mốc mọt, nguyên hạt, da ít nhăn nheo là tốt
Thủy phần an toàn dưới 10p100
Dược liệu phải chứa ít nhất 0,3p.100 alcaloid toàn phần tính theo arecolin
(DĐVN - 1977)
Thành phần hóa học: Trong hạt cau có tanin, tỷ lệ trong hạt non độ 70p100
nhưng khi chín chỉ còn 15 – 20p100 Hoạt chất chính là 4 alcaloid (tỉ lệ độ
0,4p100) chủ yếu là arecolin C8H13NO2, arecaidin C17H11NO2, guvacin C6H9NO2 guvacolin C17H11NO2 Ngoài ra còn có mỡ béo (14p100) các đường (2p100), muối vô cơ và một sắc tố đỏ
Công dụng:
1- Binh lang: Theo Đông y, vị chát, đắng, cay, tính âm, vào 2 kinh Vị, Đại
trường
Có tác dụng tẩy giun, làm tiêu chất tích đọng, đưa hơi xuống, lợi tiểu
Dùng chữa các chứng bệnh giun sán, ăn không tiêu, đầy bụng, tức ngực, tả lỵ, viêm ruột, thủy thũng
Liều dùng: 3 – 10g, dùng sống hay có thể sao lửa nhẹ, sắc uống
Về mặt dược lý, tác dụng của arecolin gần giống các chất pelletierin, pilocarpin, muscarin Arecolin gây chảy nước bọt rất nhiều và làm tăng bài tiết dịch vị, dịch tràng, làm co nhỏ đồng tử Dung dịch Arecolin bromhydrat 1p100 có thể dùng
để giảm nhãn áp trong bệnh glôcôm Với liều nhỏ, arecolin kích thích thần kinh, liều lớn gây liệt thần kinh
Dung dịch hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, 20 phút sau khi thuốc vào tới ruột, con sán bị tê liệt không bám vào thành ruột được nữa
Lưu ý: Người do yếu mệt mà sinh đầy, trẻ em và phụ nữ có thai không được
dùng Binh lang
Bài thuốc:
Bài số 1: Chữa đau bụng, đầy bụng, tẩy giun đũa:
Trang 8Binh lang 5g
Chế thành thuốc viên, uống
Bài số 2: Chữa sán:
Nước 600ml (3 bát) sắc lấy 1 bát, uống sáng sớm, chia làm nhiều lần trong vòng 30 phút, khi đi ngoài ngồi vào chậu nước ấm
Bài số 3: Chữa sán:
Nhân hạt bí đỏ (Nam qua tử) 30g
Tán nhân hạt bí thành bột Sắc hạt cau lấy nước, uống bột hạt bí với nước hạt cau
Bài số 4: Chữa sán:
(Trẻ em giảm một nửa Nếu dùng dược liệu khô, người lớn 250g trẻ em 120g) Sơn tra rửa sạch, bỏ hạt Từ 3 giờ chiều bắt đầu ăn dần dần, đến 10 giờ tối ăn hết, không ăn cơm tối Sáng hôm sau lấy 30g hạt cau, thêm nước, đun sôi lấy 1 chén chè con, uống làm 1 lần, cho hết Nằm nghỉ trên giường Khi muốn đại tiện, gắng gượng nhịn một lúc lâu rồi hãy đi đại tiện
Bài số 5: Tẩy giun đũa, sán:
Sắc uống Uống khi đói
Bài số 6: Chữa hàn thấp, cước khí thời kỳ đầu, chân đùi sưng đau, hoặc tức
ngực, buồn nôn:
Bài số 7: Chữa khí trệ, đau bụng, đại tiện khó:
Hạt cau – Chí thực – Ô dược – Mộc hương: Các vị lượng như nhau (Mỗi thứ 6g) Sắc lấy nước đặc uống
II- Cau (Vỏ quả)
Vỏ quả cau già (Pericarpium Arecae) phơi khô, gọi là Đại phúc bì (TQ)
Trang 9Bạch Công Tấn sưu tầm
Đã được ghi vào DĐVN (1983), DĐTQ (1997)
Thu hái chế biến: Vỏ quả cau róc ra đem đập cho tơi, ngâm vào nước, vớt ra
phơi khô rồi lại đập tơi, cho róc lớp da ngoài
Đa phúc bì: không mùi, vị nhạt
Loại đa phúc bì vỏ khô, mềm, màu vàng ngà, không lẫn tạp chất là tốt
Thành phần hóa học: Cũng chứa các alcaloid như hạt cau: Arecolin,
arecaidin, guvacolin, guvacin nhưng tỷ lệ thấp
Công dụng:
- Đại phúc bì: Theo Đông y, vị cay, tính hơi ấm, vào 2 kinh Tỳ và Vị
Có tác dụng đưa hơi đi xuống, làm tiêu thoát nước
Dùng chữa các chứng bệnh thủy thũng cước khí, bùng đầy tức (tác dụng chậm nhẹ, không mạnh như Binh lang)
Liều dùng: 5 – 10g Sắc uống
Lưu ý: Người thế hư, sức yếu dùng phải cẩn thận
Bài thuốc:
Bài số 1: Thuốc bột chính khí gia giảm: Chữa chứng thấp, cản trở tiêu hóa, khí
trệ, trướng đầy:
Phục linh bì 12g
Cuộng Hoắc hương 6g
Sắc uống
Bài số 2: Bột Đại phúc bì, chữa chân sưng phù:
Hạt cau 9g
Hạt củ cải (La bạc tử) 9g
Bông kinh giới 6g
Sắc uống
Ngày 09/06/2005 Theo sách "Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược" - Nhà xuất bản Y học
Trang 10Những bài thuốc chữa cảm mạo từ cây tía tô Cây tía tô là một loại cỏ mọc hàng năm, cao 0,5-1m, thân thẳng đứng có lông Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn mép có răng cưa rõ rệt, màu tím hay xanh tím, trên có lông Hoa nhỏ, màu trắng hay tím nhạt, mọc nhỏ, vẫn gọi nhầm là hạt, hình cầu độ 1mm, màu nâu nhạt
Những bài thuốc chữa cảm mạo từ cây tía tô
Tên khoa học:
1.Perilla ocymoides L = Tía tô ta
2.Perilla frutescens var acuta (Thunb) Kudo = Tía tô tàu (Trung Quốc), đều thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae)
Tên khác: Tử tô (Trung Quốc) - Mắng la (HMông) – Cùng pô (Dao) – Perilla
(Leaf, Stem) (Anh)
Bộ phận dùng:
Lá tía tô bánh tẻ tươi hoặc đã chế biến khô (Folium Perillae) gọi là Tử tô diệp hay tô diệp (Trung Quốc)
Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1983) và Dược điển Trung Quốc
(1963),(1997)
Thân cành tía tô (Caulis Perillae) gọi là Tử tô ngạnh hay tô ngạnh (Trung
Quốc)
Đã được ghi vào Dược điển Trung Quốc (1997)
Quả tía tô già phơi khô (Fructus Perillae) gọi là Tử tô tử hay tô tử (Trung Quốc),
ta vẫn gọi nhầm là hạt tía tô
Đã được ghi vàoDược điển Trung Quốc(1963)
Mô tả cây: Cây tía tô là một loại cỏ mọc hàng năm, cao 0,5-1m, thân thẳng
đứng có lông Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn mép có răng cưa rõ rệt, màu tím hay xanh tím, trên có lông Hoa nhỏ, màu trắng hay tím nhạt, mọc nhỏ, vẫn gọi nhầm là hạt, hình cầu độ 1mm, màu nâu nhạt
Có 2 loại:
- Perril ocymoides var purpurecens, lá màu tím hung
- Perril ocymoides var bicolor, lá màu lục, chỉ có gân màu hung
Tía tô được trồng ở khắp nơi và mọc hoang một số nơi vùng núi cao mát (Sa
Pa, Tam Đảo) trong nước ta để làm gia vị và làm thuốc, trồng bằng hạt tháng
1-2 Tránh nhầm lẫn với tía tô dại (Hytis Suaveolens (L.) Poit, cùng họ Hoa môi
Lá cũng có một ít tinh dầu, một số nơi dùng chữa cảm mạo (nhưng chưa được chính thức))
Thu hái chế biến:
1.Lá tía tô thu hái khi cành lá đang phát triển tốt, hái lấy những lá bánh tẻ, phơi nắng thật nhanh rồi phơi trong bóng râm cho khô
Lá tía tô có mùi thơm đặc biệt, vị hơi cay, hơi ngọt