1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Kỳ hoa dị thảo part 5 doc

20 337 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hải Diệp Những phương thuốc bí truyền chữa tăng huyết áp Cập nhật lúc 10h50" , ngày 03/10/2006 Theo quan niệm của y học cổ truyền Đông y, tăng huyết áp là hội chứng thuộc phạm vi các c

Trang 1

Nhiều bộ phận của cây ngọc lan có tác dụng làm thuốc:

Hoa: Thu hái khi mới chớm nở, dùng tươi hoặc phơi sấy nhẹ cho khô Dược

liệu có vị đắng, cay, tính ấm dùng chữa ho, viêm mũi, xoang

Chữa ho: Lấy 30 g hấp cách thủy với 40 g mật ong, lấy nước uống

Chữa đau bụng kinh ở phụ nữ: Ngọc lan 20 g, ý dĩ nhân 30 g, hạt đậu ván trắng

30 g, hạt mã đề 5 g sắc uống trong ngày

Chữa viêm mũi, xoang, có chảy nước mũi: Hoa ngọc lan còn xanh sấy khô

giòn, tán bột mịn đựng vào lọ nút kín, mở lọ để ngửi và hít mạnh để bột thuốc bay vào mũi, ngày 2-3 lần, rất hiệu quả

Lá: Dùng chữa viêm phế quản mạn tính ở người già Lấy lá ngọc lan 30 g, lá

cây dừa 30 g thái nhỏ phơi khô, giun đất đã chế biến 5 g dùng sắc uống

Ngoài ra, lá ngọc lan (bánh tẻ) rửa sạch, giã nát, đắp chữa mụn nhọt sưng tấy

Vỏ thân cây: Lấy vỏ thân cây cạo sạch lớp vỏ mỏng bên ngoài, rửa sạch, thái

mỏng, phơi khô, dùng sống hoặc tẩm giấm sao vàng Lấy 30 g sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày để chữa sốt, kinh nguyệt không đều, đại tiện khó

BS Hải Diệp

Những phương thuốc bí truyền chữa tăng huyết áp

Cập nhật lúc 10h50" , ngày 03/10/2006

Theo quan niệm của y học cổ truyền (Đông y), tăng huyết

áp là hội chứng thuộc phạm vi các chứng huyễn vựng (chóng mặt, hoa mắt), đầu thống (nhức đầu), thất miên (mất ngủ)

Tăng huyết áp có thể do nhiều nguyên nhân như: xơ mỡ động mạch, bệnh thận, tiền mãn kinh,

Những thể tăng huyết áp theo Đông y

Theo lương y Nguyễn Công Đức (khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP.HCM), Đông y quan niệm bệnh tăng huyết áp có những thể sau: thể can thận hư; thể âm hư hỏa vượng; thể tâm tỳ hư, thể đàm thấp

Thể âm hư hỏa vượng thường gặp ở người trẻ và phụ nữ lúc "giao thời" - thời

Đo huyết áp là

cách đơn giản

nhất phát hiện

bệnh tăng huyết

áp

Trang 2

điểm tiền mãn kinh Triệu chứng biểu hiện thường là: hoa mắt, chóng mặt, ù tai, miệng khô, đắng, ít ngủ, mạch huyền sác (mạch nhanh, cứng) và hay cáu gắt

Nếu trường hợp bệnh thiên về âm hư, thì những triệu chứng sẽ là: chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, lòng bàn tay bàn chân nóng, mạch huyền

tế sác (mạch cứng, nhỏ, nhanh)

Còn nếu thiên về hỏa vượng, thì sẽ bị đau đầu dữ dội, mắt đỏ, táo bón, họng khô, đầu lưỡi đỏ, mạch huyền sác hữu lực (mạch nhanh, mạnh) Còn tăng huyết áp thể can thận hư hay gặp ở người lớn tuổi, bị xơ cứng động mạch, triệu chứng biểu hiện thường là: nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, hoảng hốt, ít ngủ, hay mê, lưng đau, gối mỏi, miệng khô, mặt đỏ, mạch huyền tế sác (nếu bệnh thiên về âm hư)

Nếu bệnh thiên về dương hư, sẽ có những triệu chứng: sắc mặt trắng, lưng, chân, gối yếu mềm, đi tiểu nhiều, liệt dương, di mộng tinh, mạch trầm tế (mạch chìm, nhỏ) Tăng huyết áp thể tâm tỳ hư hay gặp ở người già có kèm theo bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mãn tính Triệu chứng biểu hiện thường thấy: sắc mặt trắng, da khô, mệt mỏi, ít ngủ, ăn uống kém, thường đi tiêu phân lỏng, đầu choáng, mắt hoa, rêu lưỡi nhợt Nếu mắc bệnh ở thể đàm thấp (thể này thường gặp ở những người béo phệ, nghiện thuốc lá, uống rượu nhiều, cholesterol máu cao ), triệu chứng biểu hiện: ngực tức, tim đập mạnh, khó thở, hồi hộp, chân, tay tê, đầu nhức căng, chóng mặt, hoa mắt, ăn ngủ kém

Nữ trinh tử

Cổ phương và bí phương chữa trị

Tăng huyết áp sẽ nặng hơn nếu gặp các yếu tố thuận lợi Cần kìm chế bản thân tránh giận dữ, lo lắng, nghĩ ngợi, buồn rầu quá mức để tránh bệnh nặng thêm; sinh hoạt lao động thường ngày cần có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý; tập luyện thể dục, các bài dưỡng sinh nhẹ nhàng,

Trang 3

Theo lương y Nguyễn Công Đức, để chữa các

thể bệnh tăng huyết áp, Đông y có những

phương thuốc cổ phương, bí truyền (bí

phương), hay thuốc nam, hoặc kết hợp châm

cứu Nếu bệnh ở thể âm hư hỏa vượng, thì

phép chữa sẽ là tư âm tiềm dương Bài thuốc cổ

phương cho trường hợp này có tên Thiên ma câu đằng ẩm, gồm các vị thuốc: thiên ma, chi tử (mỗi vị 8gr), bạch linh, đỗ trọng, ngưu tất, hoàng cầm (mỗi loại 12gr), câu đằng, tang ký sinh, dạ giao đằng, ích mẫu (mỗi thứ 16gr) và 20gr thạch thuyết minh (vỏ bào ngư) Tất cả đem sắc uống mỗi ngày một thang Tùy trường hợp, nếu nhức đầu nhiều thì thêm vào vị thuốc cúc hoa 12gr Nếu khó ngủ thì thêm táo nhân 20gr và bá tử nhân 12gr Nếu bệnh thể âm hư hỏa

vượng mà thiên về âm hư, thì bài thuốc dùng thích hợp gồm những vị: trạch tả, bạch linh, đơn bì (mỗi vị 12gr), sơn thù, hoài sơn (mỗi vị 16gr), kỷ tử, cúc hoa (20gr mỗi vị) và 32gr thục địa Đem sắc uống mỗi ngày một thang Đặc biệt ở bệnh tăng huyết áp thể âm hư hỏa vượng, Đông y còn có bí phương hiệu

nghiệm đó là bài Kỷ cúc địa hoàng gia giảm, gồm các vị thuốc: kỷ tử, cúc hoa, sơn thù, đơn bì (mỗi loại 10gr), hoài sơn, quy bản (mỗi loại 16gr), thục địa, đơn sâm (mỗi loại 20gr) và 30gr mẫu lệ Tất cả đem sắc uống mỗi ngày một thang

Hoàng cầm

Nếu tăng huyết áp thể can thận hư, phép chữa bổ can thận âm (nếu âm hư) và

ôn dưỡng can thận (nếu dương hư) Phương thuốc cổ phương chữa trị trong trường hợp can thận âm hư là dùng bài thuốc: thục địa 32gr, hoài sơn, sơn thù (16gr mỗi loại), bạch linh, trạch tả, đơn bì (mỗi loại 12gr), đương quy, bạch thược (mỗi loại 8gr) Nếu là can thận dương hư, thì cũng với bài thuốc như trên, nhưng gia thêm các vị, ba kích, ích trí nhân, thỏ ty tử (mỗi thứ 12gr) và 16gr đỗ trọng Và bí phương ở thể này gồm có bài Nhất quán tiên gia giảm, với những vị thuốc: sa sâm, huyền sâm, sinh địa, câu đằng, hạ khô thảo, hạn liên thảo, thạch thuyết minh, táo nhân (mỗi vị 16gr), đương quy, mạch môn, kỷ tử, cúc hoa, trần bì, nữ trinh tử (mỗi vị 10gr) và 6gr xuyên luyện tử Sắc uống ngày một thang (nếu can thận âm hư) Nếu âm dương lưỡng hư thì dùng bí phương Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm, với các vị: 32gr thục địa, 20gr câu đằng, cùng sơn thù, hoài sơn, hải tảo, cúc hoa, tiên liên bì, đan sâm, xuyên khung (mỗi vị 16gr), bạch linh, đơn bì, trạch tả (mỗi vị 12gr) và 4gr nhục quế Sắc uống ngày một thang

phù hợp với sức khỏe mỗi người, giữ tinh thần thoải mái trước lúc đi ngủ; ăn uống điều độ, hạn chế rượu, bia, thuốc lá

Trang 4

Bạch linh

Trường hợp tăng huyết áp thể tâm tỳ hư, thì cổ phương có bài Quy tỳ thang gia giảm, gồm: đảng sâm, bạch truật, hoa hòe, tang ký sinh, táo nhân, long nhãn, ngưu tất (mỗi loại 12gr), hoàng cầm, viễn chí, mộc hương, đương quy (mỗi loại 8gr) Sắc uống ngày một thang Và bí phương trong trường hợp này là bài Ôn dương giáng áp, gồm: thái tử sâm, đan sâm, bạch linh (mỗi vị 20gr), hoàng kỳ, phụ tử chế, tiên linh bì, bá tử nhân, trạch tả, táo nhân (mỗi vị 16gr), đào nhân, sinh khương (mỗi vị 10gr) và 6gr quế chi Sắc uống mỗi ngày một thang

Đơn bì

Còn tăng huyết áp thể đàm thấp, thì bài cổ phương, gồm: thiên ma, câu đằng, ngưu tất, hoa hòe, ý dĩ (mỗi vị 16gr), bán hạ, bạch truật (mỗi vị 12gr), trần bì, bạch linh (mỗi vị 8gr) và 6gr cam thảo Sắc uống ngày một thang Bí phương trong trường hợp này là bài Giả quyết thất vị thang, với các vị: hoàng kỳ, đại giả thạch (mỗi vị 30gr), đảng sâm, bạch linh (mỗi vị 16gr), bạch truật, cam thảo (mỗi vị 10gr), 24gr thảo thuyết minh, 12gr bán hạ, 8gr trần bì Sắc uống mỗi ngày một thang Với những cổ phương và bí phương trên, mỗi đợt trị liệu

thường là khoảng 2 tuần

Ngài tằm đực trị "yếu sinh lý"

Cập nhật lúc 08h31" , ngày 04/10/2006

Con tằm, ngoài việc cung cấp sợi tơ dệt vải, còn cho nhiều sản phẩm chữa bệnh như: tằm chín, tằm vôi, nhộng tằm, kén tằm, phân tằm, đặc biệt

là ngài tằm

Ngài tằm được hình thành như sau: Khi chín, con tằm sẽ nhả tơ kết thành kén theo bọc thân mình và chuyển dần thành nhộng Đến độ phát triển chín muồi, nhộng mọc cánh và chân rồi cắn kén chui ra thàng ngài

Chỉ ngài tằm đực mới

dùng để trị yếu sinh

lý Ảnh: encarta

Trang 5

Ngài tằm, tên thuốc trong y học cổ truyền là tàm nga, có vị mặn, bùi béo, mùi thơm, tính ấm

Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã dùng ngài tằm chế biến tán thành bột, cho uống mỗi lần 8g với rượu vào lúc đói để chữa đái buốt do chứng lậu

Hoặc lấy bột ngài tằm trộn với mật ong, bôi trong miệng chữa chứng "phong chúm miệng" ở trẻ em gây cứng lưỡi, khóc không ra tiếng Dùng ngoài: ngài tằm giã nát, đắp chữa những vết cắn do sau hoặc côn trùng độc

Để làm thuốc bổ thận, tráng dương, ích tinh đặc trị liệt dương, di tinh, hoạt động sinh lý yếu, người ta thường chỉ dùng ngài tằm đực, nhất là loại chưa giao phối

Nhưng làm thế nào để phân biệt và thu bắt được toàn ngài tằm đực Qua

nghiên cứu theo dõi, một hiện tượng sinh học lý thú đã được phát hiện là đúng

5 giờ sáng mỗi ngày thì ngài tằm đực đồng loạt cắn kén chui ra và từ 6 giờ sáng trở đi, ngài tằm cái mới cắn kén chui ra

Tuy lác đác trong ngày, vẫn có trường hợp cả con đực và con cái cắn kén chui

ra, nhưng hầu như chắc chắn từ 5 giờ đến 6 giờ sáng là có thể thu được toàn ngài tằm đực Về hình dáng, ngài tằm đực nhỏ, toàn thân có màu nâu sẫm, bụng thon, còn con cái to hơn, màu nâu nhạt, bụng phình ra vì mang nhiều trứng

Ngài tằm đực đã được xác định chứa chất methyltestosteron (một nội tiết tố nam) có hoạt tính sinh học cao và tác dụng làm tăng lượng của túi tinh trên động vật thí nghiệm

Ngài tằm đực thu được đem vặt cánh, bỏ đầu và chân, rồi phơi hoặc sấy khô Khi dùng, đem dược liệu sao vàng Có thể dùng tươi

Dược liệu được dùng theo những công thức sau:

- Ngài tằm đực 7 con, sao giòn, tán nhỏ mịn; tôm he bóc vỏ 20g, giã nhuyễn, hai thứ trộn đều với 2 quả trứng gà Đem rán hoặc hấp chín Ăn một lần trong ngày

- Ngài tằm đực 100g, dâm dương hoắc 60g, kim anh 50g, ba kích 50g, thục địa 40g, sơn thù 30g, ngưu tất 30g, kỷ tử 20g, lá hẹ 20g, đường kính 40g Tất cả thái nhỏ, phơi khô, ngâm với 2 lít cồn 40 độ, càng lâu càng tốt Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30ml trước hai bữa ăn chính và khi đi ngủ

Ngài tằm đực còn được bào chế với cá ngựa, nhung hươu và nhiều vị thuốc bổ khác có nguồn gốc thực vật như nhân sâm, hà thủ ô, ba kích thành dạng cao (chiết xuất bằng cồn 70 độ) và viên bao với tên gọi là bipharton có tác dụng

Trang 6

tăng trọng và kích thích sinh dục theo Chương trình nghiên cứu kết hợp y học

cổ truyền và y học hiện đại cảu Nhà nước

Theo DS Hữu Bảo

Quý ông nên "sợ" cam thảo

Cập nhật lúc 10h30" , ngày 27/10/2006

Cam thảo có mặt trong phần lớn các thang thuốc Đông y nhờ tác dụng điều hòa vị thuốc, giải độc và trị bệnh Tuy nhiên, nam giới nên hạn chế dùng nó vì vị thuốc này có thể làm suy giảm khả năng tình dục

Cam thảo có tên khoa học là glycyrrhiza glabra, dùng làm thuốc dưới dạng rễ khô ngâm nước sôi, dạng trích tinh lỏng, trích tinh khô

Cam thảo thường được dùng để phòng ngừa rối loạn tim mạch, điều trị các chứng viêm loét dạ dày-tá tràng, viêm dạ dày mãn; làm dịu các triệu chứng viêm khớp và đau thấp khớp; trị đau họng, viêm amiđan, ho, nhiễm virus; ngăn ngừa các bệnh dị ứng, hội chứng tiền kinh nguyệt; giải độc gan…

Ngoài ra, các nhà khoa học thuộc Đại học New York (Mỹ) đã phát hiện hoạt chất acid glycyrrhizic (AG) trong cam thảo có khả năng ngăn ngừa virus herpes kích hoạt dạng ung thư Kaposi sarcoma

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tiến sĩ Mahmoud Mosaddegh thuộc Đại học Y khoa Shaheed Beheshti (Iran), hoạt chất AG trong cam thảo làm giảm lượng nội tiết tố nam testosteron, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của nam giới Thí nghiệm trên 20 nam giới khỏe mạnh dùng chiết xuất 1,3 g rễ cam thảo khô mỗi ngày (tương đương với 400 mg AG) trong 10 ngày cho thấy, lượng testosteron giảm đáng kể so với người bình thường Vì thế, Ủy ban châu Âu khuyến cáo nam giới không nên tiêu thụ quá 100 mg AG mỗi ngày (tương

đương 0,3 g rễ cam thảo khô)

Ngoài ra, cam thảo còn có một số tác dụng phụ khác như cao huyết áp, nhiễm độc Nghiên cứu của Đại học Yorshire (Mỹ) cho thấy phụ nữ ăn nhiều cam thảo (khoảng 0,2mg/ngày) có nguy cơ bị cao huyết áp dẫn đến đột quỵ Ngoài ra, việc hấp thu nhiều AG trong cam thảo sẽ gây sụt giảm kali, dẫn đến xương yếu, dễ gãy

Chất glycyrrhizine trong cam thảo là nguyên nhân gây ra các triệu chứng nhiễm độc như nhức đầu, tăng huyết áp, uể oải, giữ nước và natri, tăng bài tiết kali và đôi khi dẫn đến tim ngừng đập Vì thế, không nên dùng cam thảo khi bị rối loạn chức năng gan, yếu thận, cao huyết áp, mang thai

Rễ cam thảo Ảnh:

SGGP

Trang 7

Cần thận trọng khi dùng chung cam thảo với thuốc Tây, đề phòng các tương tác xấu: Phối hợp cam thảo với các thuốc trị bệnh tim thuộc nhóm digitaline và dẫn xuất có thể làm tăng tính nhạy cảm của thuốc; dùng chung với các thuốc lợi tiểu có thể gây mất nhiều kali; dùng chung với nhóm corticoid sẽ làm tăng hoạt tính và tác dụng phụ của thuốc

Rau khúc chữa ho

Rau khúc mọc hoang dại ở khắp nước ta, gồm 2 loại khúc nếp (được dùng làm bánh khúc) và khúc

tẻ Lá rau khúc có tinh dầu còn được dùng ở dạng tươi hoặc khô để làm thuốc

Theo Đông y, rau khúc vị ngọt, tính bình, có công dụng trị ho, tiêu đờm Sau đây là một số bài thuốc:

Chữa chứng hen suyễn: Nếu bị lên cơn suyễn thì lấy một nắm rau khúc tươi

rửa sạch vò nát, cho vào niêu đất với một miếng gừng giã dập, đổ vào khoảng

500 ml nước sắc còn 200 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày

Chữa ho, viêm họng: Khi bị ho, viêm họng, sưng amiđan thì lấy rau khúc tươi

rửa sạch nhai dập cùng với vài hạt muối rồi nuốt từ từ cả bã và nước Ngày dùng như thế 3-4 lần, rất hiệu nghiệm Hoặc lấy một nắm rau khúc tươi sắc với

300 ml nước còn 100 ml, chia uống 3 lần trong ngày

Chữa cảm sốt: Nếu bị cảm sốt, lấy rau khúc đã phơi khô 30 g sắc cùng với

hành và gừng (mỗi thứ khoảng 10 g), chia làm 3 lần uống trong ngày, rất hiệu nghiệm

BS Đỗ Minh Phương

Thương nhĩ tán - bài thuốc hay chữa viêm mũi dị ứng

Cập nhật lúc 14h14" , ngày 24/10/2006

Trang 8

Không chỉ thuốc Tây mới giúp bạn thoát khỏi các triệu chứng khó chịu của viêm mũi dị ứng Bài thuốc cổ nổi tiếng của Trung Quốc Thương nhĩ tán có hiệu quả tốt với bệnh này, công thức chỉ gồm 4 vị thuốc dễ kiếm

Bệnh viêm mũi dị ứng đang có xu hướng tăng do môi trường ngày càng ô

nhiễm Các thống kê cho thấy cứ 16 người thì một mắc bệnh này Hơn 6,3% dân số mắc bệnh này

Thương nhĩ tán (còn gọi là Thương nhĩ tử tán) là bài thuốc của danh y Nghiêm Dụng Hoà (Trung Quốc) Thành phần gồm thương nhĩ tử (hạt ké đầu ngựa) 7

g, tân di hoa 15 g, bạch chỉ 30 g, bạc hà 1,5 g Tất cả sấy hoặc phơi khô, tán thành bột mịn, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6 g Theo cổ nhân, nếu dùng nước sắc củ hành và lá trà tươi để uống bột thuốc thì rất tốt

Thương nhĩ tán có tác dụng làm thông mũi, chống đau đầu, thường được dùng

để trị các chứng bệnh về mũi xoang mà Tây y vẫn gọi là viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp và mạn tính, viêm xoang cấp và mạn tính với triệu chứng chảy nước mũi, hắt hơi nhiều, ngạt mũi

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, hạt ké đầu ngựa (thương nhĩ tử) có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, ức chế miễn dịch, hưng phấn hô hấp Bạch chỉ giúp kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giải nhiệt Tân di hoa tiêu viêm, giảm phù nề, chống dị ứng, kháng khuẩn, làm hưng phấn hô hấp Còn bạc hà cũng có tác dụng giảm đau, kháng khuẩn, kháng virus, chống viêm, giảm ho, trừ đàm, giảm ngứa và lợi mật

Ngoài dạng bột truyền thống, Thương nhĩ tán còn được sử dụng dưới hai hình thức: dùng nguyên bài sắc uống hoặc gia giảm theo thể trạng và tính chất bệnh

lý Khi sắc, cần cho bạc hà vào sau, còn tân di phải chùi hết lông hoặc cho vào túi vải để tránh gây ngứa

Hiện nay, bài thuốc Thương nhĩ tán được sản xuất thành nhiều biệt dược dưới các dạng hoàn mềm, hoàn cứng, trà tan, cốm thuốc, viên nang , rất tiện lợi cho bệnh nhân Có thể kể đến các tên Tỵ viêm hoàn, Tỵ viêm phiến, Tỵ uyên hoàn do Trung Quốc sản xuất, có gia giảm một số vị thuốc, hoặc viên nang Fitôrhi-f sản xuất ở Việt Nam, giữ nguyên công thức cổ của Nghiêm Dụng Hòa

ThS Hoàng Khánh Toàn

Bệnh viện 108

Ké đầu ngựa - một

trong 4 vị của bài

Thương nhĩ

tán Ảnh: Ucdavis

Hoa Thiên lý - Một loài cây giá trị

Trang 9

Cây thiên lý có tên khoa học là Telosma cordata (Burm.f) Merr, thuộc họ

Asclepaadaceae, thường được trồng làm giàn dây leo làm cảnh cho bóng mát trong vườn hoặc trước sân nhà ở các nước như Thái lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc, Việt Nam, một số nước Châu Âu, Châu Phi

calcium, 53mg phosphor, 1,2mg sắt, 1,17mg tiền sinh tố A, 0,19g sinh tố B1,

0,13mg B2, 1,1mg PP, 48mg sinh tố C và các khoáng chất cần cho cơ thể như calci, phospho, sắt, kẽm; là thức ăn ngon và bổ dưỡng của người Việt Nam dùng nấu canh hoa thiên lý với thịt, canh cua thiên lý, thiên lý xào tép, hoa thiên lý chiên giòn

Ngoài ra, hoa thiên lý còn có giá trị dược học dùng giải nhiệt, an thần, mệt mỏi, đau lưng

Cây có dạng hình thân thảo, dây leo; hoa mọc thành chùm ở nách lá, trổ hoa vào

mùa hè, tỏa hương thơm vào ban đêm nên còn có tên Dạ lài hương, nước ngoài gọi

là Queen of the night (Hoàng hậu của màn đêm)

tính, có thể trồng quanh năm

Để trồng thiên lý người ta thường chọn hom dây có đường kính 5-10mm, cắt thành từng đoạn 30-80cm và xử lý thuốc trừ nấm bệnh rồi ươm trong bầu hoặc trong chậu Cây thiên lý có thể trồng trong bồn có giàn cho dây leo làm cây cảnh ở trước nhà, trong vườn hoặc trồng ở ngoài ruộng Đất trồng cây thiên lý thích hợp là thịt pha cát, đất phải tơi xốp, thoát thủy tốt; nếu trồng ở ruộng phải cày xới cho tơi nhuyễn, lên líp cao 40cm, rộng 40cm, đào hố kích thước 30x40cm Để cây thiên lý phát triển tốt

và có hình dáng đẹp, người trồng phải thường xuyên chăm sóc như tưới nước đủ ẩm,

loài sâu bệnh như rệp, nấm muội Trồng thiên lý ngày nay có thể mang lại thu nhập trên 50 triệu đồng/ha

Cây thiên lý đã gắn với tình cảm người Việt Nam qua những câu ca dao như

Thương chồng nấu cháo le le, nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen hay lời nhạc Tóc em dài em cài bông hoa lý, thấy em cười, anh để ý anh thương, đôi ta chung một con

đường, đường đi xây dựng quê hương đẹp giàu (Phạm Thúy Hoan) hoặc kỷ niệm

nào êm êm bằng những chiều bên giàn thiên lý (Hoàng Thi Thơ)

Công dụng của Thiên lý Lá và hoa tươi dùng làm rau nấu canh (mát bổ) Bệnh viện Thái Bình dùng lá thiên lý chữa các bệnh lòi dom, sa dạ con có kết quả tốt

Công dụng của Thiên lý

Trang 10

Tên khoa học: Telosma cordata (Burm.f.) Merr (Aslepias cordata

Burm.f.Pergularia minor Andr., Pergularia odoratissima Weght, Aslepias

odoratissima Roxb), họ Thiên lý (Aslepiadaceae)

Tên khác: Hoa lý – Hoa thiên lý – Dạ lài hương

Bộ phận dùng: Lá của cây thiên lý (folium Telosmae cordatae)

Mô tả cây: Là cây nhỏ, mọc leo, thân có ít lông, nhất và bộ phận non Lá hình

tim, thuôn, khía mép khoảng 5 – 8mm về phía cuống, đầu lá nhọn, có lông trên các gân lá Phiến lá dài 6 – 11cm, rộng 4 – 7,5 cm, cuống có lông, dài 12 – 20

cm Hoa thành xim tán, màu vàng nhạt, rất thơm, cuống có lông, to, dài 10 – 12mm, mang nhiều tán lá mọc liền nhau Quả đại dài 6,5 – 9,5cm, rộng 12 – 14mm

Thiên lý được trồng nhiều nơi trên đất nước ta nhiều ở miền Bắc, làm hoa cảnh

- Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Philipin cũng có

Thu hoạch chế biến: Hái lá tươi chọn những lá bánh tẻ, hoa hái khi sắp hoặc

mới chớm nở

Thành phần hóa học: Theo Đỗ Tấn Lợi và Ngô Văn Thu thấy trong nhân và lá

thiên lý có alcaloid

Công dụng: Lá và hoa tươi dùng làm rau nấu canh (mát bổ)

Bệnh viện Thái Bình dùng lá thiên lý chữa các bệnh lòi dom, sa dạ con có kết quả tốt

Bài thuốc: Bệnh viện Thái Bình dùng chữa lòi dom

Lá thiên lý bánh tẻ Muối ăn

10g 5g

Giã nhỏ, lá thiên lý với muối Thêm 30ml nước cất Vắt lấy nước, dùng nước này đắp vào dom đã rửa sạch, ngày đắp 2 lần

Có thể chế tạo thành thuốc mỡ.:

Dung dịch thiên lý (như trên) 10 ml

Vasellin Lanolin

50g 40g

Cho tất cả vào cối đánh kỹ thành thuốc mỡ Đánh như trên

Chữa sa dạ con; cũng làm như trên, nhưng chỉ có hiệu quả với những trường hợp nhẹ

Hạt chanh giảm ho, giải độc

Hạt chanh, một dư phẩm thường bị loại bỏ khi sử dụng quả chanh, lại là vị

Ngày đăng: 23/07/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN