Tăng huyết áp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, nhưng theo thống kê, những người nhiều tuổi, người lao động trí óc hoặc người có cuộc sống khó khăn phải bươn chải, mưu sinh, người có
Trang 1còn 50ml, uống một lần trong ngày Dùng phối hợp chữa tê thấp, đau mình
mẩy: rễ sâm cau, hà thủ ô, hy thiêm mỗi thứ 20g, thái nhỏ, ngâm với 500ml
rượu trắng, trong 7-10 ngày, càng lâu càng tốt; ngày uống hai lần, mỗi lần
30ml Chữa sốt xuất huyết: sâm cau 20g (sao đen), cỏ nhọ nồi 12g, trắc bách diệp 10g (sao đen), quả dành dành 8g (sao đen), sắc uống làm 2-3 lần trong ngày
Để chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, lấy sâm cau 10g, sâm bố chính, trâu cổ, kỷ tử, ngưu tất, tục đoạn, thạch hộc, hoài sơn, cáp giới mỗi vị 12g; cam thảo nam, ngũ gia bì mỗi thứ 8g Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống Hoặc sâm cau 20g, ba kích, phá cố chỉ, hồ đào nhục, thục địa mỗi vị 16g, hồi hương 4g, sắc uống ngày một thang
Trong dân gian, khi ngâm rượu chim bìm bịp với tắc kè, người ta thường cho thêm cả sâm cau để tăng thêm hiệu lực tác dụng
Bài thuốc “Nhị tiên thang” gồm sâm cau, ba kích, dâm dương hoắc, tri mẫu, hoàng bá, đương quy mỗi thứ 12g được dùng dưới dạng thuốc sắc đã chữa bệnh cao huyết áp, nhất là đối với phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, đạt kết quả hơn 70%
Ghi chú: Dùng sâm cau liều cao kéo dài sẽ gây cường dương mạnh, làm tinh hao kiệt lực Người hư yếu, thể trạng kém không nên dùng
DS Đỗ Huy Bích
Dùng sáp ong chữa trị viêm ống tai ngoài
Viêm ống tai ngoài là hiện tượng viêm tuyến bã nhờn và nang lông ở ống tai
ngoài Bệnh tương đối hay gặp do thói quen ngoáy tai bằng các dụng cụ không vô khuẩn, lau tai quá nhiều làm xước da, qua đó vi khuẩn, nấm xâm nhập vào và gây viêm Phần ống tai ngoài lớp da dính sát vào xương chỉ cách bằng một tổ chức dưới da rất mỏng nên khi bị viêm, người bệnh sẽ rất đau ảnh hưởng nhiều đến lao động và sinh hoạt Triệu chứng đau sớm và đau nhiều làm người bệnh không thể bỏ qua và thường phải đi khám sớm Bệnh nhân đau nhiều bên tai bệnh, đau tăng khi nhai và ngáp, đau giật lan tỏa bên thái dương và lan ra nửa đầu Đồng thời bệnh nhân có thể xuất hiện ù tai và nghe kém ấn nắp tai hoặc kéo vành tai bệnh nhân rất đau Soi tai lúc đầu thấy một gờ đỏ nhỏ, sau to dần, chạm vào rất đau, khối viêm này có thể lan rộng hình thành viêm ống tai ngoài tỏa lan hay khu
Trang 2trú lại tạo thành nhọt, che lấp một phần ống tai đôi khi chít hẹp hoàn toàn Y học
cổ truyền gọi nhọt ống tai ngoài là “nhĩ sang” Sau đây xin giới thiệu phương thuốc
từ sáp ong có tác dụng chữa bệnh này
Sáp ong được lấy từ những tầng ong sau khi đã lấy hết mật cho vào nước nấu cho chất sáp tan thành nước để nguội sáp nhẹ nổi lên trên, gạn nước lấy sáp đổ vào khuôn Sáp ong giàu vitamin A Trong 10g sáp ong tổ chứa 4.096 đơn vị quốc
tế vitamin A Tính chất chữa bệnh của sáp ong được công nhận từ thời cổ xưa Hyppocrate đề nghị bôi một lớp sáp lên đầu và cổ khi bị viêm họng, mọi loại sáp đều có tính làm dịu và làm ấm, nhất là sáp mới Sáp tinh khiết là vách ngăn các bánh tổ ong trong đó ong đẻ trứng, nuôi ấu trùng và bảo quản mật là chất cơ bản của các thuốc cao dán, làm mát hay làm nóng làm mềm các khối u cứng, sáp ong hút chất độc ra Điều trị tại chỗ xông hơi sáp ong được thực hiện trong 5
ngày Bệnh nhân trong tư thế nằm nghiêng vuông góc với mặt giường, ống tai bị viêm hướng lên trên, đốt một đầu ống giấy cuộn tẩm sáp, đầu kia úp thẳng góc với lỗ tai cách ống tai ngoài khoảng 0,2 - 0,3cm Che mặt bằng một tờ giấy
thường để tránh tàn rơi vào mặt Mỗi lần điều trị đốt 3 cuộn giấy, mỗi cuộn đốt cho đến khi còn khoảng 3cm thì thay cuộn mới Hơi sáp ong có tác dụng chống viêm, giảm đau, sát khuẩn, thúc đẩy quá trình tạo mủ Nếu những bệnh nhân sau điều trị 5 ngày mà không hiệu quả sẽ được chích rạch và làm thuốc tai tại chỗ theo y học hiện đại Tuy nhiên, điều trị nhọt ống tai ngoài bằng xông hơi sáp ong là một phương pháp điều trị có hiệu quả, đặc biệt ở những bệnh nhân được điều trị sớm
ThS Phạm Bích Đào
Chuối sẽ giảm stress?
Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn Đó là những biểu hiện thông
thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc sống hiện đại
Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ Có rất
nhiều loại thực phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo Vì vậy,
việc lựa chọn đúng loại và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn
sảng khoái
Thực đơn hoàn thiện
Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ý Trong bữa ăn cần có đủ
Trang 3rau, ngũ cốc và hoa quả Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị
hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt
Đối với thần kinh yếu
Bột mỳ là dưỡng chất an toàn nhất Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh
mỳ hoặc các loại bánh quy trong ngày Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối Thói quen uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh
Uống nhiều nước
Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày Cần loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè
đen
Làm nóng cầu chì năng lượng
Bằng những thực đơn sau:
- Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần
- Salát hoa quả gồm chuối, dứa
- Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ
Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc
vỏ, 1 thìa mật ong, 150 mg sữa tươi Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống
không hoặc kèm với đá bào Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của não bộ
Phòng và chữa tăng huyết áp bằng Đông y Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch
Phòng và chữa tăng huyết áp bằng Đông y
Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch Áp lực này phụ thuộc vào 4 yếu tố:
- Sức co bóp của tim Tim bóp càng mạnh áp lực càng lớn
- Sức cản của mạch - mạch mềm sức cản ít, mạch dày cứng sức cản tăng
- Khối lượng tuần hoàn (lượng máu trong hệ tuần hoàn, bình thường người lớn
có từ 4 đến 5 lít máu)
Trang 4- Chất lượng của máu: Trong máu có các thành phần protein, đường, mỡ, các muối (Na, K, Ca, P), các chất kim loại Cu, Zn, Al, Au, các chất nội tiết, tế bào máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu
Khi các thành phần trên tăng làm chất lượng máu (hay còn gọi là độ nhớt của máu) tăng, độ nhớt tăng sẽ làm áp lực máu vào thành mạch tăng
Khi đo huyết áp được 2 số đo: huyết áp tâm thu tức là thời điểm tim co bóp tống máu đi nuôi cơ thể và huyết áp tâm trương là giai đoạn tim dãn thu máu về tim Nếu số đo huyết áp bằng hoặc lớn hơn 140/90mmHg được coi là huyết áp tăng Nếu số đo 90/70mmHg là huyết áp thấp
Như vậy tăng huyết áp là tên bệnh của tây y Ở người tăng huyết áp thường có các triệu chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, hay quên, tê đầu chi, đau vùng thắt lưng, tiểu đêm, miệng đắng, mất ngủ, mệt mỏi
Tuy nhiên có những người tình cờ đi khám bệnh mới biết mình bị tăng huyết áp
Đa số người tăng huyết áp thường béo bệu Nhưng cũng có người gầy kiểm tra huyết áp cũng tăng
Căn cứ các triệu chứng trên đông y quy bệnh vào các tạng: can, thận, tỳ với các hội chứng huyễn vựng, thất miên, đàm trệ
Theo đông y có 3 nguyên nhân gây tăng huyết áp
Thứ nhất là khí hậu và thời tiết bất thường kéo dài, trong đó cần tránh gió và ẩm
thấp Gió (phong) dễ tác động vào tạng can, can rối loạn dễ sinh chóng mặt hoa mắt, đau đầu, mất ngủ.Ẩm thấp hại tỳ (tỳ ghét thấp) tỳ bị hại sẽ sinh rối loạn vận hóa, vận hóa rối loạn sẽ sinh đàm Đàm là sản vật bệnh lý, lưu hành khắp cơ thể,
nó tắc ở đâu sinh bệnh ở đó, đàm thấp thường gây cảm giác người nặng nề, chóng mặt hoa mắt khi đổi thời tiết đau đầu, mất ngủ, trí nhớ giảm
Thứ hai là thất tình Thất tình là chỉ 7 trạng thái tình cảm quá mức
Mừng quá hại tâm, tức giận uất ức kéo dài hại can, buồn quá hại phế, lo nghĩ quá hại tỳ Kinh sợ quá hại thận Tâm, can, tỳ, phế, thận là các cơ quan trong cơ thể, đảm bảo cho cơ thể sống khỏe mạnh và phát triển Nếu các cơ quan này yếu sẽ sinh bệnh Đặc biệt đối với tâm can, thận rối loạn hoạt động sẽ có triệu chứng như bệnh tăng huyết áp Tăng huyết áp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới,
nhưng theo thống kê, những người nhiều tuổi, người lao động trí óc hoặc người
có cuộc sống khó khăn phải bươn chải, mưu sinh, người có nhiều toan tính,
người bị oan ức, bị chèn ép nhiều thường hay bị bệnh tăng huyết áp (và một số bệnh khác như bệnh đái tháo đường, suy nhược thần kinh, tâm thần, v.v ) Tây
y gọi thất tình là stress
Trang 5Thứ ba là chế độ sinh hoạt và ăn uống Mọi hoạt động nên có mức độ vì sách đã
dạy “thái quá bất cập” - cái gì quá đều có hại Ăn nhiều chất cay nóng hại phế, ăn nhiều chất đắng hại tâm, ăn nhiều chất chua hại can, ăn nhiều chất nhờn béo hại
tỳ Đại danh y Tuệ Tĩnh đã dạy: Muốn khỏe mạnh, tránh bệnh tật cần: “Bế tinh, dưỡng khí, tổn thân/Thanh tâm, quả dục, thư chân, luyện hình”
Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc chữa tăng huyết áp
Bài 1: Bạc hà 8g, tỏi 12g Sắc uống hằng ngày hoặc ngâm rượu uống 10 giọt/lần, ngày 2 lần
Bài 2: Bạch truật bán hạ thiên ma thang:
Bạch truật 12g, bán hạ 12g, thiên ma 12g Sắc uống chữa đờm nghịch, đau đầu, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp
Bài 3: Bổ can thang:
Bạch thược 12g, mạch môn 12g, thục địa 12g, can khương 8g, mộc qua 12g, xuyên khung 8g, đương quy 12g, táo nhân 12g Sắc uống ngày 1 thang, tác dụng
bổ can âm, chữa chóng mặt, đau đầu, thiếu máu
Bài 4: Kỷ cúc địa hoàng thang:
Bạch cúc hoa 8g, phục linh 8g, thục địa 12g, câu kỷ 12g, sơn dược 12g, trạch tả 8g, đan bì 8g, sơn thù 8g Sắc uống ngày 1 thang, chữa can thận hư, đau đầu, hoa mắt
Bài 5: Long đởm tả can thang:
Can thảo 6g, liên kiều 12g, sinh địa 12g, chi tử 8g, long đởm thảo 10g, trạch tả 12g, hoàng cầm 12g, mộc thông 12g, sa tiền 12g, hoàng liên 8g Sắc uống ngày 1 thang, tác dụng chữa uất nhiệt ở kinh can, miệng đắng, đau bên mạng sườn Bài 6: Thiên ma câu đằng ẩm:
Tang ký sinh 12g, thạch quyết minh 8g, ngưu tất 12g, phục thần 10g, thiên ma 12g, sơn chi 8g, câu đằng 10g, đỗ trọng 10g, hoàng cầm 12g, ích mẫu 12g Sắc uống ngày 1 thang, tác dụng bình can giáng nghịch, đau đầu hoa mắt, ngủ kém, mạch căng cứng
PGS.TS Dương Trọng Hiếu
Cây sắn dây chữa bệnh
Củ sắn dây (Đông y gọi là cát căn) vị ngọt cay, tính bình, có tác dụng giải độc, thải nhiệt Nó được dùng chữa sốt, nhiệt ở miệng, nhức
Trang 6đầu do sốt, khát nước, đi lỵ ra máu Ngày dùng 8-20 g dưới dạng thuốc sắc Một số đơn thuốc có củ sắn dây:
- Chữa cảm mạo sốt cao: Củ sắn dây 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo
5 g, thược dược 4 g, sinh khương 5 g, cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc còn
200 ml, chia 3 lần uống trong ngày
- Bột rắc những nơi mồ hôi ẩm ngứa: Bột sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, hòa thạch 20 g, trộn đều, tán nhỏ, rắc những nơi ẩm ngứa
- Chữa trẻ sốt: Củ sắn dây 20 g, thêm 200 ml nước sắc còn 100 ml, cho trẻ uống trong ngày
- Chữa rắn cắn: Khi bị rắn độc cắn, lấy lá sắn dây tươi giã vắt lấy nước
uống, bã đắp lên vết rắn cắn
Hà thủ ô
Món ăn bài thuốc phòng chống bạc tóc Dần theo năm tháng và tuổi tác, mái tóc bạc dần là một quy luật khó tránh khỏi Thông thường, ở vào tầm tuổi trên dưới 50, hiện tượng này bắt đầu xuất hiện và tiệm tiến dần cho đến khi mái đầu trở lên bạc trắng hoàn toàn
Món ăn bài thuốc phòng chống bạc tóc
ThS Xuân Mai
Dần theo năm tháng và tuổi tác, mái tóc bạc dần là một quy luật khó tránh khỏi Thông thường, ở vào tầm tuổi trên dưới 50, hiện tượng này bắt đầu xuất hiện
và tiệm tiến dần cho đến khi mái đầu trở lên bạc trắng hoàn toàn Thế nhưng,
vì nhiều lý do khác nhau, có người tóc bạc xuất hiện quá sớm hoặc quá nhanh khiến cho dù muốn hay không, người ta cũng khó tránh khỏi tâm trạng buồn phiền Đó là chưa nói đến hiện tượng bạc tóc có thể còn kèm theo các chứng trạng bệnh lý hoặc lão suy khác đang diễn ra âm thầm trong thân thể
Y học cổ truyền cho rằng tóc là phần dư của huyết, thận tàng tinh, tinh sinh huyết, cho nên tóc là phần tươi tốt biểu hiện ra bên ngoài của thận Khi thận
hư, huyết thiếu thì tóc sớm bạc, khô gãy và dễ rụng Để phòng chống hiện
Trang 7tượng bạc tóc, y học cổ truyền sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau nhằm mục đích bổ dưỡng tinh huyết, nhu nhuận lông tóc, trong đó có một liệu pháp khá độc đáo là dùng các món ăn - bài thuốc Bài viết này xin được giới thiệu một số món ăn bài thuốc để bạn đọc tham khảo:
Bài 1: Mỗi ngày dùng 50g đậu đen hầm với xương lợn làm canh ăn Hoặc dùng đậu đen 250g, vừng đen 100g, bạch quả 30 hạt, hà thủ ô 150g, tất cả sao chín, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày ăn 30g Hoặc dùng đậu đen đồ chín, phơi khô, sao thơm, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày ăn
2 lần, mỗi lần 6g, nhai kỹ rồi chiêu với nước muối nhạt
Bài 2: Hà thủ ô chế 300g, thỏ ty tử 400g, phá cố chỉ 250g Các vị sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày Công dụng: tư bổ can thận, cường thân kiện thể, dùng cho người bị bạc tóc sớm có kèm theo các triệu chứng đầu choáng mắt hoa, lưng đau, gối mỏi, tinh thần mỏi mệt, ăn kém, đại tiện lỏng loãng
Bài 3: Hà thủ ô chế, nữ trinh tử, tang thầm (quả dâu chín) mỗi thứ 12g; hạn liên thảo (cỏ nhọ nồi) 10g Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày Công dụng: dưỡng âm, tư bổ can thận, dùng cho người bị bạc tóc sớm có kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, hay đau đầu chóng mặt, thị lực giảm sút, lưng gối đau mỏi, hay quên, ngủ kém
Bài 4: Hà thủ ô 20g, gan lợn 250g, mộc nhĩ 30g, cải bắp 50g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ Sắc kỹ hà thủ ô lấy nước bỏ bã; gan lợn rửa thật sạch, thái
miếng, ướp gia vị rồi dùng lửa to rán qua; cải bắp và mộc nhĩ rửa sạch thái chỉ Cho gan lợn vào đun với nước sắc hà thủ ô một lát, kế đó cho cải bắp và mộc nhĩ vào, tiếp tục đun sôi vài phút là được, chế đủ gia vị, dùng làm canh ăn hằng ngày
Bài 5: Mạch môn (bỏ lõi) 120g; thiên môn, thục địa, kỷ tử, đương quy mỗi vị 30g; nhân sâm, ngưu tất mỗi vị 15g; sinh địa, hà thủ ô mỗi vị 60g Tất cả sấy khô, thái vụn, đem ngâm với 5.000ml rượu trắng, sau 30 ngày thì dùng được, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20ml Công dụng: bổ khí dưỡng huyết, ích thọ diên niên, dùng cho người bị bạc tóc sớm, rụng tóc nhiều kèm theo các triệu chứng như cơ thể suy nhược, da nhợt, chán ăn, mất ngủ, hay hồi hộp, dễ đổ mồ hôi, suy giảm khả năng tình dục
Bài 6: Kỷ tử, hà thủ ô, mật ong mỗi vị 120g; đương quy, sinh địa, thiên môn mỗi
vị 60g; đẳng sâm, thỏ ty tử, phá cố chỉ, sơn thù mỗi vị 20g; ngưu tất 90g; rượu trắng 3.000ml Các vị thuốc sấy khô, thái vụn, đem ngâm với rượu, sau 7-10 ngày thì dùng được, uống đều đặn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20ml Công dụng:
Trang 8bổ can thận, dưỡng tinh huyết, dùng cho người bị bạc tóc sớm có kèm theo các triệu chứng lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, ăn kém, tinh thần mỏi mệt, dương sự suy yếu, răng rụng, tai ù tai điếc
Bài 7: Hà thủ ô 180g; ngưu tất 240g; kỷ tử 120g; thục địa, sinh địa, thiên môn, mạch môn, đương quy, nhân sâm mỗi vị 60g; nhục quế 30g; bạch khúc (men rượu) 500g, gạo nếp 7.000g Các vị thuốc sấy khô, tán vụn; bạch khúc tán mịn; gạo nếp đồ thành xôi rồi trộn đều với bột thuốc và bạch khúc, cho vào hũ, bịt kín miệng, ủ ở nơi ấm áp, sau 14 ngày thì bỏ bã lấy nước, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 10-30ml Công dụng: bổ can thận, dưỡng khí huyết, tăng tinh, dùng cho người bị bạc tóc sớm có kèm theo các triệu chứng phiền táo mất ngủ, lưng đau, gối mỏi, ăn kém, hay hoa mắt chóng mặt
Ngộ độc nấm: Cách đề phòng và cấp cứu tại chỗ
Nấm ăn và nấm độc
BS.Kim Liên
Từ thời xưa, nấm đã được con người dùng làm thức ăn và được coi là một thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng Nước ta có nhiều loại nấm ăn tốt, như nấm hương, nấm mỡ, nấm rơm, nấm rạ, nấm mối, nấm tràm, nấm trứng, mộc nhĩ, v.v
Phân tích thành phần hoá học, trong 100g nấm hương khô có tới 36g protid, 4g lipid, 23,5g glucid, 17g xenluloza, 184mg canxi, 606mg photpho, 35mg sắt, các vitamin B1, B2, PP Trong 100g mộc nhĩ cũng có 10,6g protid, 0,2g lipid, 65g glucid, 7g xenluloza, 357mg canxi, 201mg photpho, các vitamin B1, B2, PP, caroten Các loại nấm khác như nấm mỡ, nấm rơm, nấm trứng, v.v cũng có nhiều chất dinh dưỡng tương tự Như vậy, nấm là một thực phẩm tốt có nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là có một hàm lượng protid cao, chứa hơn 20 loại axit amin khác nhau, trong đó có một số loại gần bằng lượng có trong thịt động vật như tryptophan, cystine, histidine, arginine, v.v
Trong thiên nhiên có nhiều loài nấm quí, nhưng cũng có không ít nấm độc, ăn nhầm phải có thể chết người Những nấm độc nguy hiểm nhất thường là
những nấm tán thuộc giống Aminita, như nấm tán độc xanh đen (Aminita
phalloides), nấm tán độc trắng (Aminita verna), nấm ruồi (Aminita muscaria), nấm độc có mũ xám tím (Aminita pantherina), v.v Những loài nấm này
thường mọc trong rừng, ven rừng, trên các bãi cỏ, gây ra trên 90% vụ ngộ độc nấm chết người
Để phân biệt nấm ăn với nấm độc, người ta đã có nhiều nhận xét, như nấm
Trang 9độc có màu sặc sỡ, có mùi hắc, v.v nhưng thực tế không hoàn toàn đúng như thế Có những nấm màu trắng dịu, vị thơm ngon mà vẫn rất độc như loại nấm tán độc trắng (Aminita verna) Vì vậy không thể nhìn bề ngoài để phân biệt nấm độc với nấm ăn, mà cần có kinh nghiệm và sự hiểu biết kỹ về các loài nấm, và chỉ ăn những nấm đã được xác nhận chắc chấn là ăn được
Cách đề phòng và cứu chữa tại chỗkhi có người ngộ độc nấm
Có nhiều loài nấm độc, chứa nhiều chất độc khác nhau gây ra những dấu hiệu nhiễm độc nặng nhẹ khác nhau Xu hướng hiện nay người ta chia chúng làm hai nhóm chính : Nhóm nấm độc phá huỷ cấu trúc các tế bào cơ quan và nhóm gây độc lên hệ thần kinh và tiêu hoá Trong nhóm thứ nhất người ta phân lập được các độc tố aminitin và phaloidin có thể phá huỷ các tế bào, nhất là tế bào gan, làm gan bị huỷ hoại nhanh chóng Nhóm này gồm một số lớn nấm độc thuộc giống Aminita mà đại diện là Aminita phalloides
Trong nhóm nấm độc sau, người ta phân lập được nhiều chất độc, chủ yếu là chất muscarin gây độc trên thần kinh Đại diện cho nhóm nấm này là nấm ruồi Aminita muscaria
Nhóm thứ nhất chứa chất phaloidin rất độc đối với tế bào gan Người ăn phải nấm này thường có triệu chứng ngộ độc muộn sau 6 giờ với hội chứng tiêu hoá (viêm dạ dày - ruột cấp, nôn, đau bụng, tiêu chảy), viêm gan hoại tử (gan to đau, vàng da) và suy thận cấp Ngộ độc loại nấm này thường rất nặng, tử vong cao
Nhóm thứ hai chứa chất muscarin rất độc đối với thần kinh Các triệu chứng ngộ độc loại nấm này thường xuất hiện sớm, trong vòng 1 - 2 giờ sau khi ăn Người bệnh có hội chứng cường phó giao cảm, đồng tử co hẹp, buồn nôn và nôn, đau bụng, tiêu chảy, vã mồ hôi, chảy nước mắt, nhiều dãi, khát nước, co giật, mạch chậm, truỵ mạch
Để đề phòng ngộ độc nấm, tốt nhất ta chỉ ăn những loại nấm đã quen biết,
chắc chắn là nấm ăn được Tuyệt đối không ăn những nấm lạ Những người mới ở miền xuôi lên miền núi hoặc ở những nơi khác đến, khi hái nấm phải hỏi kinh nghiệm đồng bào địa phương thật cụ thể, chắc chắn, vì thực tế rất khó phân biệt nấm ăn với nấm độc
Ngoài ra chúng ta cần chú ý một số loài nấm ăn cũng có thể trở nên độc trong những trường hợp nấm bị ôi thiu, nấu không kỹ, hoặc khi có rượu trong máu
Vì vậy chúng ta không nên ăn nấm bị giập nát, những nấm đã ôi thiu; phải cẩn thận khi thu hái và chế biến nấm, đồng thời không nên uống rượu khi ăn nấm vì rượu làm tăng thẩm thấu độc tố nấm vào máu
Trang 10Về cách cứu chữa người bị ngộ độc nấm tại gia đình, ta phải bình tĩnh tìm
mọi cách làm cho bệnh nhân nôn ra hết thức ăn như móc họng, hoặc lấy lông
gà rửa sạch ngoáy họng cho bệnh nhân nôn, v.v cho đến khi nôn ra nước trong
Cho người bệnh uống than hoạt tính để hấp phụ chất độc trong ống tiêu hoá càng sớm càng tốt Người lớn cho uống 20 - 30g pha với 100 - 200ml nước sạch quấy đều Trẻ em tuỳ theo tuổi giảm bớt liều lượng
Nếu không có sẵn than hoạt có thể cho uống các loại nước đậu xanh giã nát, nước ngô non cũng có tác dụng hút bớt chất độc, sau đó gửingay người
bệnh đến bệnh viện gần nhất để rửa dạ dày và dùng các thuốc giải độc Gửi cả các chất nôn của bệnh nhân đến bệnh viện để xét nghiệm tìm chất độc của loại nấm giúp điều trị đúng hướng vì tuỳ theo loại nấm có chất độc khác nhau, tình trạng ngộ độc và cách điều trị cấp cứu cũng khác nhau Ngoài cách xử trí ngộ độc thức ăn chung như gây nôn, rửa dạ dày, hấp phụ chất độc bằng than hoạt, người bệnh còn được dùng những thuốc và biện pháp điều trị đặc hiệu với loại nấm gây ngộ độc
Cây đậu rựa
Phòng chống bệnh tiểu đường bằng món ăn từ đậu Các món ăn được chế biến từ đậu nói chung đều ngon, rẻ tiền, dễ tiêu và có khả năng
phòng chống được nhiều căn bệnh mạn tính
Phòng chống bệnh tiểu đường bằng món ăn từ đậu
Các loại đậu như đậu xanh, đậu đen, đậu ván, đậu đỏ đều có nhiều đạm, đặc biệt là trong đậu tương hay còn gọi là đậu nành hàm lượng đạm rất cao (34%) Hơn nữa, đậu còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng (đặc biệt là canxi) rất cần cho sự phát triển hệ xương của trẻ em, phụ nữ có thai và người cao tuổi Các món ăn được chế biến từ đậu nói chung đều ngon, rẻ tiền, dễ tiêu và có khả năng phòng chống được nhiều căn bệnh mạn tính Trong thực liệu học cổ
truyền, người xưa đã biết dùng những món ăn chế biến từ các loại đậu để
phòng chống chứng tiêu khát, một căn bệnh mà ngày nay được gọi là đái tháo đường hay tiểu đường Dưới đây, xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết
Bài 1: Biển đậu 100g, cà chua 150g, thịt lợn nạc 50g, dầu đậu nành 10g, xì dầu