là bức tranh đời sống thực một thời đã qua: cuộc đời của những người dân nơi phố huyện chi sáng lên vài phút trong ngày.. Cảm xúc đầu tiên sâu đậm đến với người đọc là tình người giữa nh
Trang 13 Hướng dẫn tổng kết
a Ý nghĩa truyện?
(là bức tranh đời sống thực một thời đã qua: cuộc đời của những người dân nơi phố huyện chi sáng lên vài phút trong ngày Những cuộc đời của chị em Liên
có nắng cũng chỉ là nắng trong vườn Thạch Lam làm sống lại số phận của một thời Họ không hắn là những người bị áp bức nhưng từ cuộc đời họ, nhà văn đặt ra
câu hỏi: làm thế nào để thay đổi cuộc đời? Câu chuyện gợi ra sự thương cảm Nó
có giá trị hiện thực và nhân đạo
b Nghệ thuật truyện?
(Truyện vẫn rất hấp dẫn mặc dù không có cốt truyện Sự hấp dẫn ở chỗ tác giả khéo chọn những chi tiết hấp dẫn trong cảnh và tình để thể hiện chủ đề tư tưởng Tâm lí của nhân vật qua tác động của ngoại cảnh Ngôn ngữ giản dị, biểu
cảm và rất tinh tế.)
(Theo Phan Trọng Luận chủ biên, Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông, tập 1, NXB Giáo dục, 1996)
5.3 Thạch Lam đến với văn xuôi như mang một sứ mệnh hoà giải: hoà giải
giữa thơ và văn xuôi, hiện thực và lãng mạn Không phải ông muốn làm trung gian, cầu nối mà cái tạng của ông nó thế Nó giúp hoà điệu các đối cực chính là
tâm hồn ông Hồn thơ Thạch Lam dạt dào niềm trắc ẩn Dành trọn tấm lòng cho những con người bình thường, bất hạnh mà vẫn thanh cao trên mặt đất đầy nhọc nhằn, khốn khổ này Tâm hồn nhà văn ưa kiếm tìm chất thơ trong thiên nhiên và
tâm hồn con người D6 là niềm trắc ẩn Khám phá con người, ông ít quan tâm đến ngoại hình, hành động mà đặc biệt chú ý đến nội tâm Trong đời sống nội tâm lại
ít quan tâm đến suy lí mà là suy cảm Nói theo nghĩa hẹp, ít quan tâm đến tâm lí
mà đến tâm hồn với tất cả những biến thái tính vi nhất của nó Mô tả hiện thực
trong tâm hồn và bằng tâm hồn làm nên thơ bằng văn xuôi, một thứ hương hoàng
lan thanh tao được chưng cất bởi những nỗi đời Và thể loại truyện ngắn - trữ tình
phải được chọn như một lôgích tất yếu như một sự giao thoa hoa giai
Hai đứa trể bình di như đời sống và sâu xa cũng như đời sống
Trước hết là không khí truyện Tạo được sinh khí cho truyện là dấu hiệu của tài năng văn xuôi Bước vào thế giới Hai đứa trể, ta bị bầu không khí đó xâm
chiếm, ngấm vào lòng, len vào hồn Đó là không khí của một miền quê đang mất dần sinh khí; sự không khí của sự lụi tàn, mòn mỏi Nó toát lên từ không gian đến thời gian, cảnh vật đến đồ vật, từ giọng điệu đến nhịp điệu của truyện Tất cả nói
âm thầm rằng cái phố huyện này là một miền đời lãng quên, miền đất đang tàn lụi trong lãng quên Cái không khí ấy cứ vây phủ ta từ đầu đến cuối Đó là thành công
đầu tiên và cuối cùng của Thạch Lam trong truyện này
Trang 2Cốt truyện lu mờ, giải thể trước tâm trạng lấn át Hai dita trể kết cấu dựa theo những diễn biến tâm hồn của nhân vật Liên Đó là những biến thái tinh vi của một tâm trạng buồn, mơ hồ và khắc khoải Mở ra những xao động vừa gợn lên lúc chiều về trên phố huyện, xao xác hơn khi đêm về Xốn xang hơn đôi chút khi có đoàn tàu chạy qua Cuối cùng lắng, khép lại khi đi vào giấc ngủ Cả phố huyện hiện ra trong tâm hồn Liên và đến với người đọc qua tâm hồn cô bé Chất thơ của
truyện được khởi lên từ những rung động tâm hồn như thế
Văn học 1930 —- 1945 hay nói đến những không gian nhỏ hẹp, chật chội, lãng
quên, nhưng tỉnh nhỏ, tỉnh lẻ, phố huyện, ngõ hẹp, ga xép Nhưng ít có miền đất
nào lại thấm thía như cái phố huyện này Ban ngày, bị mờ đi trong ánh ngày và
những hoạt động ít nhiều sôi động, người ta không thấy; những khi chiều đến, phố huyện lại hiện nguyên dạng là một miền quê tiêu điều xơ xác, mỏi mòn Để không
khí lụi tàn đọng lại thành ấn tượng rõ nét, nhà văn chọn cảnh một buổi chiều tàn, một phiên chợ tan kéo tới đêm tàn Trên đó hiện lên những kiếp người tàn, những
đồ vật tàn Chỉ cần một chiều, một lát cắt thời gian như thế mà người đọc đã có thể cảm nhận được mọi chiều Hôm qua cũng thế, hôm nay và ngày mai cũng thế! Câu Chiêu, chiều rồi! không phải là lời của Thạch Lam mà là lời của Liên, là tiếng kêu thầm thì, ngậm ngùi và thảng thốt Thế là một buổi chiều nữa của đời mình đã lại
về rồi Là lại phải đối mặt với tất cả sự nghèo nàn, thưa thớt, lèo tèo của con phố
này Chứng kiến cảnh thiên nhiên trong ánh tà dương lặng thầm và u uất: Tiếng
trống thu không đơn điệu, ngọn gió hoang vu, những âm thanh của đồng quê hoang đại, lại quen nhàm, buồn chán Đêm đến, âm thanh càng thưa thớt, mờ nhạt Đom đóm trên đồng và tinh tú trên trời hoà lẫn trong cùng một màu đen trải dài tới
vũ trụ Như một cái lưới vô hình đang phủ bọc lấy mọi người Chọn phiên chợ tàn
mới thấy hết được sự tiêu điều, xơ xác của quê nghèo Chỉ cần nhìn bãi rác và cảnh trẻ con đi nhặt rác cũng đủ thấy càng hiện rõ cảnh nghèo
ĐÊM XUỐNG
Những cư dân kiếm ăn nhờ đêm tối cũng kéo ra Mẹ con chị Tí có lẽ là những
nhân vật điển hình lay lắt của phố huyện Đã biết không bán được gì mà vẫn phải
đi Đó không phải là sống mà là sự cầm cự trong vô vọng Bà cụ Thi điên là sản phẩm nhỡn tiền dễ sợ nhất của nhịp sống mỏi mòn
Bao quanh họ là những đồ vật tàn: ngôi quán ọp ẹp, cái chõng sắp gãy, cây đàn còm, manh chiếu rách, bát sứt, chậu sắt dúm dó Đáng sợ hơn nữa, những hình
ảnh ấy giễu qua trước mắt Liên như một vòng đời phố huyện Tương lai chỉ là sự kéo dài của hiện tại ngán ngẩm Đó là hai đứa trẻ của một thế giới già nua, hai mầm cây non đâm lên từ một mảnh đất khô cằn Liệu tương lai của chúng sẽ ra sao? Chúng sẽ lại tàn tạ, héo úa như bao cây ở đây Hãy cứu tương lai của những
Trang 3đứa trẻ, tương lai của phố huyện và của thế giới này Cần phải đem lại thế giới
khác đáng sống hơn Đó là tiếng kêu thốn thức của Thạch Lam qua từng dòng chữ
của Hai đứa trẻ Tiếng kêu của lòng trắc ẩn mênh mông, sắc thái riêng tư tưởng nhân đạo của Thạch Lam
Cả truyện đặt trong sự tương tranh của bóng tối và ánh sáng Ánh sáng vẫn còn nhưng yếu thế; bóng tối đã xuất hiện và bắt đầu lấn át, đậm dần, ngập dần, lan
dần và ngự trị khắp phố huyện, nhấn cả miền quê vào biển tối mênh mông, không đáy Mặt trời dần tắt, còn lại ánh sáng leo lét của những ngọn đèn, rồi ánh sáng
đom đóm, ánh sao yếu ớt Dùng ánh sáng để tả bóng tối Mỗi cư dân kiếm sống về
đêm, có một ngọn đèn, mỗi người chính là ngọn đèn tù mù, leo lét Sự có mặt của những ngọn đèn chỉ càng làm cho bóng tối trở nên dày đặc, mênh mông hơn
Ta còn gặp cảm quan triết học của Thạch Lam trong lối mô tả ánh sáng và âm
thanh Đó là những dấu hiệu của sự sống Bóng tối và tịch mịch là dấu hiệu của hư
vô Sự sống hiện tại đang đuối dần Quá khứ là Hà Nội, là ánh sáng và âm thanh
sôi động lấp lánh, ầm 1 Tạo ra tương phản phố huyện và thủ đô, hiện tại và quá khứ, bóng tối và ánh sáng, hư vô và sự sống, bất hạnh và hạnh phúc Quá khứ đã qua Hiện tại đáng buồn chán, tương lai vô vọng Gửi mơ tưởng xa xôi vào đoàn tàu chạy qua mỗi đêm một lần như ảo ảnh tương lai Ngậm ngùi quá khứ, buồn hiện tại, khao khát tương lai bằng ảo ảnh mơ hồ Đó là những đường nét lớn trong tâm trạng của Liên
Sau khi đoàn tàu ầm 1 chạy qua, phố huyện thu mình trong đêm tối như một
miền đất chết, như chưa từng có phố huyện trên đời Nhưng chúng cố đợi để
được sống nhịp sống sôi động cuối cùng, chưa chịu thoả hiệp Chúng thèm sống
biét bao!
Sớm bị cuộc sống cướp đi cuộc sống tuổi thơ nhưng hai đứa trẻ vẫn là hai đứa
trẻ Chúng sống không thể thiếu niềm vul, trò vui, đồ chơi Nhưng ở đây biết tìm
đâu ra Những thú vui ấy cũng thành xa xỉ Và đoàn tàu trở thành niềm vui duy nhất Với bé An, đoàn tàu cũng chỉ là thứ đồ chơi Đợi tàu, đón tàu để được góp
mình vào sự đông vui, vui ghé, vu1 nhờ, vui lay Doan tau cua thiên hạ trở thành
cuộc chơi hờ của An Thật tội nghiệp!
Nhưng hơn tất cả, đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới khác, hoàn toàn tương
phản với phố huyện Chạy đến từ Hà Nội, chạy đến từ tuổi thơ đã mất, đoàn tàu là tia hồi quang cho chúng được nhìn lại tuổi thơ trong chốc lát Hình ảnh đoàn tàu còn gợi cho chúng rằng, ở đâu đó ngoài phố huyện này còn có một cuộc sống khác
tươi vui hơn, đáng sống hơn Cuộc sống ở đây như cái ao tù, ao đời đang dần nhấn
chìm hai chị em Cố thức đợi tàu vừa là những nỗ lực vừa mơ hồ vừa rõ rệt của chị
em Liên để ngoi lên bám vào cái phao tinh thần, để khỏi chết chìm trong đầm lầy của sự mỏi mòn buồn chán
Trang 4Tiếc rằng đoàn tàu chạy qua cũng chăng khác gì ảo ảnh mà thôi! Trẻ con đợi
tàu, trong mắt người đời là việc trẻ con, không đâu, bâng quơ, vô nghĩa Thạch
Lam nhận ra khát khao đổi đời của hai đứa trẻ và đâu phải chỉ của riêng hai đứa trẻ? Cần phải hay đổi hiện tại, đem đến thế giới khác xứng đáng với con người,
trong đó ai cũng có quyền hi vọng chứ không phải lụi tàn trong vô vọng ở cái miền đời bị lãng quê này
(Theo Chu Văn Sơn, trong Phân tích — bình giảng tác phẩm văn học 11,
NXB Giáo dục, 1999)
5.4 Hai đứa trể là một truyện không có cốt truyện Thử tóm tắt cốt truyện (2) làm gì có cốt truyện mà tóm tắt! Toàn bộ truyện là một mảnh đời nơi phố huyện nhỏ đang chầm chậm diễn ra chung quanh chị em Liên vào một buổi chiều tối mùa hè Nhớ về một kỉ niệm êm đềm mà mỗi chi tiết đều gây xúc động, gợi nhớ
một thời đã qua
Cảm xúc đầu tiên sâu đậm đến với người đọc là tình người giữa những dân
nghèo nơi phố huyện vào một thời khắc bình lặng của cuộc sống Có người nhấn
mạnh vào cuộc sống nghèo khổ, bế tắc được miêu tả trong truyện như một giá trị Đúng là như vậy Nhưng nếu coi đây là giá trị của truyện thì phải nói truyện tố cáo
chưa mạnh mẽ, chưa gay gắt Đặt cạnh Tốt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê, Chí
Phèo thì đúng như vậy Nhưng điều đó lại không đúng với dụng ý của tác giả và gía trị thực của truyện Cuộc sống nghèo khổ chỉ là cái nền để nhà văn tả những
quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường Tình người
bàng bạc khắp thiên truyện, toả ra trong từng quan hệ nhỏ nhất, tầm thường nhất
giữa chị em Liên với nhau và với những người hàng phố Ngay trong cách cư xử
của Liên với bà Thi cũng thấy sự ấm áp cảm thông
Ấn tượng thứ hai là ngòi bút tả cảnh, tả tình của Thạch Lam Ông đã miêu tả những rung động cực điểm của những linh hồn trẻ thơ, những thiếu nữ nghèo, mới
lớn, trong những cảnh sống bình thường, tĩnh lặng Ở nét tâm lí này, Liên gần gũi
với những cô gái trong ca dao tần tảo, thảo hiền Nét tâm lí được Thạch Lam tả với
su nang niu, tran trong Ngoi but ghi lại những ước mơ chập chờn, chưa định hình han trong tâm hồn Liên khi con tàu đêm lướt qua Sự tương phản giữa ước mơ và
thực tế không làm tan vỡ ước mơ; trái lại cái mêng mang, yên tinh cua dém qué va đồng ruộng như kéo dài cái ước mơ chập chờn kia khiến cho nó khó quên đối với
cả người trong truyện và người đọc
Tả ít, gợi nhiều Trong chiều sâu của chữ là thái độ trân trọng cua tac gia Cảnh vật bao trùm là êm ả và đượm buồn Thời gian trôi từ chiều đến đêm được tả bằng những nhận xét giàu cảm xúc Màu sắc cảnh vật nhòe đi trong ánh sáng chiều tà hoặc sẫãm lại trong bóng đêm Màu đỏ của than hay lấp lánh của đồng,
Trang 5kền trong ánh sáng đèn điện cũng không thay đổi được gam màu xám của cảnh vật
mà ngược lại Âm thanh chậm rãi, khẽ khàng
Hai đứa trể không hấp dẫn người đọc bằng những tính cách sắc nét, những
tình huống l¡ kì hoặc ướt át Nó hấp dẫn bằng chính vẻ đẹp cuộc sống bình thường
đã được khám phá ra, bằng chính ngòi bút tinh tế và giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả
(Theo Nguyễn Thanh Hồng, trong 7 hạch Lam - về tác gia, tác phẩm
NXB Giáo dục, 2001)
Tiết 39 - 40 TIẾNG VIỆT
NGU CANH
A Két qua cGn dat
1 Kiến thức: Nắm được khái niệm ngữ cảnh trong hoạt động giao tiếp ngôn
ngữ cùng với những nhân tố của nó
2 Tích hợp với văn bản Hai đứa trẻ, với tập làm văn ở các bài văn nghị luận
3 Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng nói, viết phù hợp với ngữ cảnh, kĩ năng lĩnh hội
trong hoạt động giao tiếp
B Thiết kể bài day — hoc
Hoạt động I HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM NGỮCẢNH
* GV yêu cầu HS tìm hiểu mục I trong SGK và trả lời các câu hỏi:
9
1 Tại sao câu "Giờ muộn thé nay ma họ chưa ra nhỉ?" ở mục I.1 được coi là một câu vu vơ?
2 Tại sao vẫn câu trên trong đoạn văn trích ở mục I 2 được coi là một câu xác định?
3 Theo em, hiểu một cách đơn giản thì ngữ cảnh là gì?
* GV gợi dẫn HS trao đối, thảo luận và trả lời:
1 Câu ở mục I.1 được coi là một câu vu vơ, vì không thể xác định được:
a Các nhân vật giao tiếp: a1 nói, ai nghe, vi trí xã hội của người nói, người nghe, quan hệ ø1ữa người nói và người nghe,
b Thời g1an, không gian câu đó xuất hiện: lúc nào, ở đâu
c Đối tượng được nói đến: “Họ” là những a1?
d Thời điểm của sự phủ định: "Chưa ra" tính từ thời điểm nào?,
Trang 62 Câu ở mục I.2 là câu xác định, vì:
a Nhân vật xác định: Câu nói đó là của nhân vật chị Tí; chị Tí nói câu đó với những người cùng cảnh áo ngắn như mình: chị Liên, bác Siêu, gia đình bác xẩm
b Thời gian, không gian xác định (buổi tối, nơi phố huyện nhỏ)
c Đối tượng được nói đến xác định: mấy người phu gạo hay phu xe, hoặc mấy
chú lính lệ trong huyện hay người nhà thầy thừa đi gọi chân tổ tôm
d Thời điểm của sự phủ định: tính từ buổi tối
3 Hiểu một cách đơn giản thì ngữ cảnh là những yếu tố giúp cho câu nói trở
nên cụ thể, khiến người nghe, người đọc có thể dễ dàng xác định được nhân vật øiao tiếp (gồm những ai), nội dung giao tiếp (nói về cái gì, việc gì, quan hệ gì, ), thời gian và không gian giao tiếp (lúc nào, ở đâu)
Hoạt động 2 TÌM HIỂU CÁC NHÂN TỐ CỦA NGỮCẢNH
* GV yêu cầu HS tìm hiểu mục II trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1 Ngữ cảnh gồm có những nhân tố nào?
2 Các nhân tố của ngữ cảnh có quan hệ gì?
* GV gợi dẫn HS trao đối, thảo luận và trả lời:
1 Ngữ cảnh gồm có những nhân tố sau:
a Nhân vật giao tiếp:
- Gồm tất cả các nhân vật tham gia giao tiếp: người nói (viết), người nghe
(đọc)
— Nếu chỉ có một người nói và một người nghe thì ta có song thoại
— Nếu có nhiều người tham gia và luân phiên vai nói —- nghe cho nhau (họp lớp, tổ, hội thảo ) thì ta có một cuộc hội thoại
— Mỗi người nói, nghe đều có một "vai" nhất định: vai dưới (con cái nói với cha mẹ, học trò nói với thầy cô, nhân viên nói với sếp, nhỏ tuổi nói với lớn tudi ), vai trên, vai bình đẳng (bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương ) Các vai này hình
thành quan hệ giao tiếp (thân mật gần gũi, khách sáo quan cách, nhiệt tình, hờ hững )
b Bối cảnh ngoài ngôn ngữ:
b.1 Bối cảnh giao tiếp rộng (bối cảnh văn hoá): bao gồm toàn bộ những nhân
tố xã hội, địa lí, chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ ấy (người Việt nói tiếng Việt) Đây là những yếu tố ở bên ngoài ngôn ngữ, nó tạo thành một môi trường ngôn ngữ chi phối các nhân vật giao tiếp
và cả quá trình sản sinh cũng như lĩnh hội lời nói Đối với văn bản văn học, bối
Trang 7cảnh văn hoá chính là hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Nó chi phối cả nội dung va
hình thức của tác phẩm, vì thế người ta còn nói nhà văn lớn không phải là người đứng trên thời đại của mình mà là tinh hoa của thời đại mình
b.2 Bối cảnh giao tiếp hẹp (bối cảnh tình huống): đó là nơi chốn, thời gian
xuất hiện câu nói cùng với những sự việc, hiện tượng xác định Nhờ tính cụ thể
này, mỗi câu nói đều có một tình huống xác định và do đó tình huống giao tiếp luôn luôn thay đổi một cách linh hoạt, sinh động; sự thay đối ấy sẽ chi phối nội dung, hình thức và cả "khẩu khí" của các câu nói
b.3 Hiện thực được nói tới, bao gồm:
- Hiện thực bên ngoài các nhân vật giao tiếp, gồm các sự kiện, các biến cố, các sự việc, hoạt động diễn ra trong thực tế đời sống (thiên nhiên, xã hội) như: sấm, chớp, bão, dông, thuy triều, chim bay, vượn hót, sông chảy, sương mù , tai nạn giao thông, chiến tranh, bom rơi đạn nổ, máy bay nhào lộn, tên lửa bay lên, đá
bóng, bơi lội, thi đấu quyền anh, trò chơi cướp cờ, trò chơi bịt mắt bắt dê
- Hiện thực bên trong (tâm trạng) các nhân vật giao tiếp, gồm các trạng thái như: hưng phấn, lạnh nhạt, nồng nhiệt, dửng dưng, hờ hững, miễn cưỡng, buồn vui, yêu ghét, ức chế, kín đáo, cới mở, giận dữ, yêu thương
- Các hiện thực này không chỉ làm nên "thông tin miêu tả" (thông tin về các
sự kiện, biến cố ), mà quan trọng hơn, còn làm nên "thông tin bộc lộ” (thái độ
tình cảm của các nhân vật giao tiếp đối với nhau và đối với nội dung được các bên
nói tới, ví dụ: đang không ưa nhau mà một người lại đem chuyện hùn vốn làm ăn
ra bàn thì thật vô ích, đang đói lạnh toát cả người mà đem chuyện thơ phú ra nói thì chẳng ai buồn nghe!)
c Văn cảnh: bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản,
đi trước hoặc đi sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó (âm, tiếng, từ, câu, đoạn văn)
Văn cảnh được xác định cả ở ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói, cả ở văn bản đơn
thoại (độc thoại) và văn bản đối thoại
Hoạt động 3 TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA NGỮCẢNH
* GV yêu cầu HS tìm hiểu mục III trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1 Cho biét vai trò của ngữ cảnh đối với quá trình sản sinh văn bản
2 Cho biết vai trò của ngữ cảnh đối với quá trình lĩnh hội văn bản
* GV gợi dẫn HS trao đối, thảo luận và trả lời:
1 Đối với quá trình sản sinh văn bản (nói, viết): Ngữ cảnh chính là môi trường sản sinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi phối cả nội dung và hình thức
của phát ngôn
Trang 82 Đối với quá trình lĩnh hội (nghe, đọc): Nhờ ngữ cảnh mà khi lĩnh hội, người
nghe (đọc) có thể dễ dàng giải mã các phát ngôn để hiểu được các thông tin miêu
tả và thông tin bộc lộ
* GV chỉ định 1 HS đọc chậm, rõ Gh¡ nhớ trong SGK
Hoạt động 4 HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP
Bai tap I
Đây là hai câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần ŒGiuộc Các câu này xuất phát từ bối cảnh: tin tức về kẻ địch đã có từ mười tháng nay rồi, nhưng chưa thấy lệnh
quan Trong khi chờ đợi, người nông dân cảm thấy chướng tai gai mắt trước những
hành vi của kẻ thù
Bài tập 2
Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương sắn liền với tình huống giao tiếp cụ thể: đêm khuya, tiếng trống canh dồn dập mà người phụ nữ vẫn cô đơn, trơ trọi Hiện thực
được nói tới trong hai câu thơ là hiện thực bên trong, tức là tâm trạng ngậm ngùi
chua xót của nhân vật trữ tình
Bài tập 3
Từ hoàn cảnh của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, hoàn cảnh sống của nhà thơ, chúng ta có thể hiểu bà Tú là người phụ nữ tần tảo, hi sinh vì chồng vì con
Bài tập 4
Hoàn cảnh sáng tác chính là ngữ cảnh của các câu thơ trong bài Rõ nhất là sự
kiện vào năm Đinh Dậu (1897), chính quyền mới do thực dân Pháp lập nên đã tổ
chức cho các sĩ tử Hà Nội xuống thi chung ở trường Nam Định Trong kì thi đó,
Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Ðu-me đã cùng vợ đến dự Những sự kiện đó
chính là ngữ cảnh tạo nên các câu thơ
Bai tap 5
Bối cảnh giao tiếp hep là: Trên đường đi, hai người không quen biết gặp nhau Trong tình huống đó, người hỏi muốn biết về thời gian để tính toán cho công việc
riêng của mình (có kịp đến điểm hẹn đúng giờ không, nên tiếp tục đi hay nghỉ, đi
bình thường hay phải tăng tốc, )
Trang 9TUẦN II
Tiết 41 — 42 VAN HOC CHU NGUOI TU TU
A Két qua cGn dat
Giúp HS:
- Cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao, đồng thời hiểu
thêm quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua nhân vật này
- Hiểu và phân tích được nghệ thuật của truyện: tình huống truyện độc đáo, không khí cổ xưa, thủ pháp đối lập, ngôn ngữ góc cạnh, giàu giá trị tạo hình
* Những điểm cần lưu ý
Nếu Vang bóng một thời là tác phẩm có giá trị nhất của Nguyễn Tuân trước cách mạng thì Chữ người tử tà là truyện ngắn đặc sắc nhất trong Vang bóng một
thời Huấn Cao lại là linh hồn của truyện ngắn Vậy, cần tập trung phân tích, làm
nổi bật không chỉ những phẩm chất cao đẹp hơn người của ông Huấn mà qua đó
còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và bút pháp lãng mạn, phong cách độc đáo của
nhà văn Từ một Cao Bá Quát bất khuất, tài hoa trở thành ông Huấn Cao — người
tử tù cho chữ quản ngục - là sáng tạo nghệ thuật của bậc thầy Nguyễn Tuân
* Trọng tâm bài học: hình tượng Huấn Cao; nghệ thuật truyện
B Chuan bị của thay va tro
- Ảnh phóng to chân dung Nguyễn Tuân; tác phẩm Vang bóng một thời; một bức thư pháp trên giấy dó viết chữ Tâm, Đức, Trí, hay Phúc, Lộc, Thọ
— Nguyễn Tuân -— về tác gia, tác phẩm; Nguyễn Tuân toàn tập
C Thiết kế bởi dạy — học
Hoạt động I TỔ CHỨC KIỂM TRA BÀI CŨ
(Hình thức: vấn đáp)
1 Phân tích hình anh bong tdi trong truyện ngắn Hơi đứa trẻ
2 Phân tích cảnh đợi tàu qua cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Liên
Trang 103 Vì sao nói Hai đứa trể như một bài thơ buồn bằng văn xuôi trong sáng và
tinh tế?
4 Phân tích một câu văn giàu chất nhạc, chất thơ trong Hai đứa trẻ
Hoạt động 2 DẪN VÀO BÀI
1 Nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp độc đáo Nguyễn Tuân đã tìm thấy và xây dựng thành một tuyệt tác; đó là tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940), trong
đó bật lên đỉnh cao nhất: truyện ngắn Chữ người tử tù (khi đăng tạp chí Tao đàn
(1939) có nhan đề Dòng chữ cuối cùng
2 Dựa vào những câu chuyện do người cha (cụ tú Nguyễn An Lan) kể lại về
nhà nho, nhà thơ, anh hùng Chu Thần Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân sáng tạo nên hình tượng nhân vật Huấn Cao (ông huấn đạo — giáo thụ họ Cao), thổi linh hồn cho truyện ngắn Chữ người tử tà Cho đến bây giờ — và có lẽ còn lâu nữa, người ta
vẫn không thể biết dòng chữ cuối cùng ông Huấn để lại cho quản ngục nhà lao
tỉnh Sơn là dòng chữ gì! Nhưng điều đó không mấy quan trọng Chỉ biết rằng nhân cách, khí phách và tâm hồn nhân vật và tác giả thì vẫn sáng mãi
Hoạt động 3 HƯỚNG DẪN ĐỌC — HIỂU KHÁI QUÁT
1 Về tác gia Nguyễn Tuân (1910 — 1987)
* GV cho HS xem một số ảnh, tranh về Nguyễn Tuân trong các thời kì khác
nhau
* HS đọc và tóm tắt những ý chính trong 77ểu dân; nhớ lại một tác phẩm đã học của Nguyễn Tuân ở THCS (Có 72, lớp 6)
* GV nhấn mạnh những điểm chủ yếu:
- Quê Hà Nội, nhà văn lớn thế kỉ XX, có bản lĩnh, phong cách tài hoa độc
đáo, nhà tuỳ bút số một của Việt Nam
- Những tác phẩm chính: Vang bóng một thời (tập truyện ngắn, 1940), Một chuyến đi (tuỳ bút), Chiếc lư đông mắt cua (tuỳ bút, Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Chuyện nghề (1986)
- Giới thiệu truyện ngắn Chữ người tử tà (1939) và tác phẩm Vang bóng một
thoi (1940)
Vang béng mot thoi 1a tap truyén ngan (11 truyện) lãng mạn, lấy đề tài những chuyện cũ, chuyện xưa mà đến bấy giờ còn vang bóng Nhân vật chính trong các truyện là những nhà nho tài tử, tài hoa, bất đắc chí sống trong thời kì Hán học suy
vi, Tây tàu nhố nhăng, mâu thuẫn sâu sắc với xã hội, buông xuôi bất lực, coi
thường danh lợi, cố giữ thiên lương và sự trong sạch của tâm hồn Họ thường cố
lấy cái tôi tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục, đề cao