Hơn thế nữa, độ phổ biến của lặp từ vựng không chỉ trải dài trên văn bản mà còn thể hiện cả ở sự có mặt nhiều lần của nó trong một cặp phát ngôn, tức là thể hiện ở cả sự lặp phức.. Để th
Trang 12 Những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ
+ HS đọc đoạn 1, hình dung cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ về cảnh sắc thiên nhiên một buổi sáng đầu thu được nhìn từ cửa sổ căn phòng của mình + GV hỏi: Qua cái nhìn và cảm nhận của Nhĩ - một bệnh nhân hiểm nghèo đang sốngnhững ngày cuối cùng của cuộc đời mình, em thấy cảnh vật thiên nhiên được tả theo trình tự nào? Có tác dụng gi?
+ HS theo dõi, trả lời
s Định hướng:
Cảnh vật được tả theo tầm nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu, rộng: từ những bông bảng lăng ngay phía ngoài cửa
số đến con sông Hồng, đến vòm trời và sau cùng là bãi bồi bên kia sông
+ GV hỏi: Cụ thể, từng cảnh được miêu tả như thế nào? Nhận xét về các mau sac của cảnh vật
+ HS nhận xét, phân tích, phát biểu
s Định hướng:
Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc hơn; Dòng sông màu đỏ nhạt nhụ rộng thêm;
Vòm trời nh cao hơn;
Bờ bái màu vàng thauH xen màu xanh non
- Đọc liên hệ cảm nhận sang thu của Hữu Thỉnh: Béng nhận ra hương ổi
có đám mây mùa hạ, vắt nứa minh sang thu
- Nhận xét: cảm nhận tỉnh tế, cảnh vật vừa quen vừa lạ, tưởng chừng như lần đầu tiên cảm thấy tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó
+ GV hỏi: Đọc những câu hỏi của Nhĩ va thai d6 im lặng của Liên, người đọc cảm thấy hình như anh đã nhận ra điều gì về bản thân?
+ HS đọc, suy luận, trả lời
+ HS đọc lại hai câu nói của Nhĩ và của Liên: Anh cứ yên tâm ; Suốt đời anh chỉ làm em khổ ; Có hề sao đâu, miễn là anh sống qua một số cử chỉ
và thái độ của chị đối với chồng, qua suy tư và tình cảm của Nhĩ với vợ, phát biều về phẩm chất và tình cảm của người phụ nữ này
Trang 2+ GV bổ sung và định hướng: Nhớ lại những ngày đầu quen nhau, yêu nhau, cưới nhau, nhiều năm chung sống, xây dựng øgia đình, đến những ngày bệnh tật này, Nhĩ càng thấu hiểu vợ với lòng biết ơn sâu sắc và cảm động Đó
là người con gái bên kia sông mặc áo nâu, chít khăn mỏ qua g1ờ đã thành người đàn bà thành thị nhưng tâm hồn Liên vẫn nguyên vẹn những nét tần tảo, chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa Từ tình yêu thương và hi sinh vô bờ ấy, nghĩ rộng
ra, Nhĩ đã tìm thấy cái chỗ dựa, cái sức mạnh tinh thần chính là từ tổ ấm gia đình, từ tình yêu thương chung thuỷ của người vợ tao khang Hình ảnh so sánh với bãi bồi mùa lại mùa, năm lại năm càng màu mỡ phù sa bồi đắp được liên tưởng thật là sát hợp
+ GV hỏi: Vì sao Nhĩ lại nảy sinh khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông vào chính buổi sáng hôm ấy?
+ HS phân tích, suy luận, phát biểu
s Định hướng:
Sáng đầu thu ấy, khi chợt nhận ra tất cả vẻ đẹp của cảnh vật rất đỗi bình dị
và gần gũi qua cửa số, đồng thời cũng hiểu rằng mình sắp phải từ biệt cuộc đời, trong Nhĩ bỗng bừng lên khao khát được chính mình đặt chân lên cánh bãi bồi bên kia sông Điều ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa trong cuộc sống — những giá trị thường bị người ta bỏ qua — nhất là thời tuổi trẻ, khi con người còn đang đắm đuối với những khát khao xa vời Những khi ta đã già, đã từng trải, khi ta đã bệnh nặng, đã nằm liệt trên giường, thì khát khao lại bừng dậy; và lần này còn chen vào những ân hận xót
xa Càng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ trên thế gian này mà đến tận cuối đời lại không thể lên đò, sang bãi để bước đi trên bến sông quê, giãm chân lên dai phù sa êm mịn của quê hương Đây là niềm ân hận, xót xa lực bat tong tam,
và có lẽ còn hơn thế, như là có cái gì không phải với quê hương và tuổi trẻ của mình
+ GV nêu tiếp vấn đề: Nhĩ nhờ con sang sông để làm gì? Ước vọng của anh có thành công? Vì sao? Từ đây, anh lại rút ra một quy luật nào nữa trong cuộc đời con người? Quy luật ấy được thể hiện ở câu văn nào? Ngoài quy luật
ấy, còn quy luật øì khác?
+ HS thảo luận tự đo
Không tự mình làm được cái việc đơn giản đi sang bên kia sông, Nhĩ chợt nảy ra sáng kiến nhờ con trai đi thay mình, cảm nhận thay mình Nhưng đứa con không hiểu hàm ý của cha (Anh cũng không giải thích cho nó hiểu vì thật khó giải thích!) nên làm theo một cách miễn cưỡng và trên đường đi, lại bị cuốn hút vào trò chơi phá cờ thế ở ngay bên đường, để lỡ chuyến đò sang sông
Trang 3duy nhất trong ngày Anh không trách, giận con, vì biết nó chưa hiểu ý mình Anh trầm ngâm rút ra quy luật đời người: thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình Anh đã thế và bây giờ con anh cũng thế Con anh phải đến vài chục năm nữa, khi nó đã già như anh có lẽ mới cảm thấy cái hấp dẫn ở bờ sông bên kia Vài lần vòng vèo, chùng chình thì đã hết một cuộc đời
và có nhiều cái đã không thể làm lại được Con anh lỡ một chuyến đò ngang duy nhất trong ngày, thì ngày mai nó có thể sang sông Nhưng còn anh thì không bao giờ còn có thể tự mình qua sông được nữa!
Một quy luật khác được rút ra từ trải nghiệm của Nhĩ là sự cách biệt, khác nhau giữa các thế hệ gia trẻ, cha — con Họ là những người thân yêu, ruột thịt của nhau, rất thương yêu nhau nhưng đâu có hiểu nhau Đó là quy luật đáng buồn Làm thế nào để các thế hệ thật hiểu nhau, bổ sung cho nhau, đem lại niềm vui cho nhau, khi chưa muộn?
+ GV hỏi tiếp: Phân tích hành động kì quặc của Nhĩ ở đoạn cuối cùng Điều đó có ý nghĩa gì?
+ HS đọc và phân tích
s Định hướng:
Khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi vào bờ đất bên này sông, Nhĩ thu hết tàn lực đu mình, nhô mình ra ngoài, øl1ơ một cánh tay gầy khoát khoát như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó Đó là một hành động có vẻ kì quặc, thật ra có thể giải thích:
- Anh đang hối hả g1ục cậu con trai đang mái xem cờ thế, nhanh chân cho kip chuyến đò
- Thức tỉnh mọi người hãy sống khẩn trương, sống có ích, đừng la cà, chùng chình, dềnh dàng ở những cái vòng vèo vô bổ mà chúng ta rất dé sa da,
để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi
và bền vững
- Một chỉ tiết mang tính biểu tượng
- Hoạt động 5
HUONG DAN TONG KET VA LUYEN TAP
1 Có thể tóm tắt như thế nào về nhận vật Nhĩ? (Em có biết Nhĩ bao nhiêu tuổi? Làm nghề øì? Cuộc đời anh cụ thé ra sao? )
(* Gợi ý: Khó biết những điều trên, vì tác giả không chủ tâm tả rõ Nhân vật Nhĩ là nhân vật tư tưởng chứ không phải là nhân vật số phận, nhân vật tính cách Nhà văn, qua một tình huống đặc biệt của nhân vật, đã gửi gắm nhiều quan sát, suy ngẫm, triết lí về cuộc đời và con người Nhưng nhân vật không bị
Trang 4biến thành cái loa phát ngôn của tác giả Những chiêm nghiệm, triết lí đã chuyển hoá vào trong đời sống nội tâm nhân vật, với diễn biến tâm trạng dưới
sự tác động của hoàn cảnh được miêu ta tinh tế, hợp lí nhưng không đữ dội, da điết như trong một số truyện khác của Nguyễn Minh Châu (Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, )
2 Vậy, chủ đề của truyện ngắn là gì?
(Gợi ý: HS đọc ý 1 Ghỉ nhớ trong SGK: những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương)
3 Những đặc sắc nghệ thuật của truyện?
(Gợi ý:
+ Hệ thống hình ảnh biểu tượng, nhiều nghĩa tạo nên chiều sâu khái quát, triết lí của truyện:
- Hình ảnh thiên nhiên sang thu — hình ảnh quê hương gần gũi, quen thuộc
mà vẫn ánh lên vẻ đẹp bình dị của một hàng cây, một con thuyền, dòng sông, bến đò, bãi bồi
- Hình ảnh những bông hoa bằng lăng nhợt nhạt cuối mùa, tiếng đất lở ban đêm và cuộc sống bệnh tật đang vào g1a1 đoạn cuối của NHI
- Đứa con trai (thăng Tuấn sa vào đám cờ thế) với sự chùng chình, vòng vèo khó tránh khỏi trên đường đời của con người
- Hành động và cử chỉ của Nhĩ ở cuối truyện và tâm sự gửi gắm của tác
.?
gia
- Nét đặc sắc của những hình ảnh biểu tượng này là ở chỗ nó vẫn đậm tính
tả thực, không biến thành tượng trưng, ước lệ, nhưng đặt vào tình huống truyện, buộc người đọc phải nghĩ theo hướng ấy
+ Tình huống truyện giản dị mà bất ngờ và nghịch lí
+ Giọng kể chuyện giàu ngẫm ngợi, triết lí mà vẫn cảm xúc, trữ tình
4 HS làm bài tập 1, phần Luyện tập SGK
* Luu y: Thién nhiên vừa mang nghĩa tả thực vừa mang nghĩa biểu tượng: màu sắc biến đối tinh tế Hình ảnh hoa bằng lăng, bầu trời, bãi bờ, dòng sông, con thuyền, bến quê HS có thể lựa chọn một trong những hình ảnh trên
5 HS lam bai tap 2 SGK
(Gợi ý: Doan van giàu tính triết lí, kết quả của sự trải nghiệm cả cuộc đời của nhân vật, thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện)
6 Tự liên hệ bản thân, nếu có, hãy kể lại một lần chùng chình, vòng vèo trong cuộc sống của em
7 Đọc thêm một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong tập Bến quê
và đọc tham khảo bài viết sau:
Trang 5BEN QUE
Tạ Hữu Yên Mỗi khi qua sông thăm bạn, tôi nhớ về những bến quê quen thuộc Những làng quê nào có dòng sông chảy qua đều là nơi có những bến nước, con đò, cánh buồm và câu hát
về cánh cò qua sông, đàn sáo sang sông Bến quê, nơi có những xóm chài với dăm ba
mảnh thuyền quăng lưới, với tiếng gõ lanh canh dưới lòng thuyền suốt dọc triền sông chiều nắng nhạt Bến quê, nơi có cái xóm lẻ với những rặng tre xanh và vài ba cây sung đến độ quả chín thường gọi đàn chim sáo về Và, những quả sung chín rụng đầy mặt sông Đấy là quà của cây nơi xóm lề tặng cho đàn cá vẫn thường quần quanh nơi bến nước xanh mơ Bến quê thời kháng chiến, chiều chiều, đêm đêm có những đoàn dân công hoả tuyến sang đò, những đơn vị bộ đội qua sông Mặt sông xanh in bóng những vành mũ tre bọc vải
dù có tấm lưới đan Những vành mũ tai bèo và những vành lá nguy trang loà xoà còn ngai ngái hương rừng, hương vườn
Qua sông nhớ mãi con đò, Chiều quê nắng nhạt, cánh cò nhẹ tênh;
Mây xanh dam vét bong bénh, Cánh diều ai thả chung chênh cuối làng
Nói đến bến quê, tôi bỗng nhớ đến lần về thăm quê hương Ninh Bình, thăm cố đô Hoa
Lư phía bên trong đền vua Đinh, vua Lê và bến Sào Khê Thời xưa, Sào Khê là bến nước nơi kinh thành, bến của thủy binh thời Đinh, thời Lê tập trận Từ bến nước này, thuyền rồng của vua Lí Thái Tổ dời kinh đô Hoa Lư về thành Đại La để rồi có kinh đô Thăng Long nghìn năm lịch sử Sào Khê cũng như nhiều bến nước khác, ví như bến Đoan Hùng thuộc sông
Lô, bến Tàm Xá thuộc Hà Nội, bến Đô Chủ thuộc Ninh Bình, bến Bình Than thuộc Hải Dương, không chỉ đã đi vào lịch sử mà còn là những điểm đỏ của vùng quê, điểm hẹn của
du lịch
Mát hơn ca dao là bến nước làng tôi Nơi con đò đưa khách qua sông ôm như đưa võng Nơi tiễn những con thuyền ra biển rộng
Nơi tôi sinh ra trong khúc hát đò đưa
Đã có nhiều bài thơ, bản nhạc viết về bến quê, nhưng tôi tâm đắc với câu ca dao mà
ta có thể nhặt được ở bất cứ vùng đất chân quê nào:
Cây đa, bến nước, mái đình, Nghìn năm sâu đậm nghĩa tình quê hương
(Báo An ninh Thủ đô, số 1517 (2352), ra ngày 5 - 7 - 2005)
Trang 6CHAT THO TRONG BEN QUE
Hoang Thi Mai Truyện ngắn trữ tình là một trong những khuynh hướng tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX Đặc điểm hình thức nổi bật của loại truyện nàu là truyện không có chuyện, lời văn giàu cảm xúc Bến quê (1985) cũng có những đặc điểm ấy nhưng khác với nhiều truyện ngắn cùng loại của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếch miêu tả cảm xúc, rung động và những biến chuyển tỉnh tế trong tâm hồn nhân vật không phải là mục đích cuối cùng của Nguyễn Minh Châu Không phải ngẫu nhiên khi Bến quê được xem như bản di chúc viết sớm của tác giả Đích cuối cùng hướng tới là những trải nghiệm sâu sắc; những triết lí sâu xa về cuộc sống, con người Cốt truyện không tổ chức theo diễn biến sự việc mà theo diễn biến tâm trạng, cảm xúc và mạch suy tư, triết lí của nhân vật Cách kết cấu ấy góp phần tạo nên chất thơ cho truyện
Bến quê xây dựng trên một tình huống nghịch lí: Nhĩ (nhân vật chính) từng đi khắp mọi nơi trên trái đất bỗng đột nhiên bị bệnh hiểm nghèo - bại liệt Chính trong thời gian này anh mới phát hiện về đẹp của bãi bồi bên kia sông, nơi bến quê thân thuộc Trong anh thức dậy khao khát mãnh liệt được đặt chân sang vùng đất ấy Nhưng căn bệnh quái ác đã cột chặt Nhĩ vào giường Nhờ con trai thực hiện giúp mình khao khát cuối đời ấy, nhưng trên đường đi, cậu lại bị cuốn vào đám chơi cờ thế và bị lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày Xoay quanh khao khát riêng tư trong sáng, đau đớn và bình dị nhưng sâu xa, tình huống này tạo nên chất thơ của truyện Tạo ra một chuỗi tình huống nghịch lí, Bến quê dẫn người đọc nhận ra những qui luật sâu xa, phổ biến của đời người Có lẽ trước đó anh và cả những người thân của anh không thể ngờ rằng sẽ có ngày anh phải nằm liệt Nhưng điều
đó đã xảy ra Với tình huống này, tác giả không nhằm mai mỉa hay đả kích hoặc chứng minh những chân lí quen: ở hiển gặp lành, tham thì thâm như trong cổ tích Ông muốn người đọc nhận thức một qui luật, rằng cuộc đời đầy những điều bất trắc; nghịch lí vượt ra ngoài hiểu biết và toan tính của con người Đó là qui luật vô fhường phổ quát không chỉ ở cõi tiên mà ở cả cõi người
Nghịch lí truyện càng tăng theo cốt truyện Đến lúc bị cột chặt vào giường bệnh, Nhĩ mới phát hiện được về đẹp bình dị, quyến rũ hết sức của bãi bồi bên kia sông Nhĩ mới cảm nhận sâu sắc cái tình quê, tình người mộc mạc, đầy ân nghĩa, ân tình hiển hiện nơi ông giáo Khuyến, của bọn trẻ con hàng xóm Tình người thiêng liêng đánh thức tận ngõ ngách tâm hồn Nhĩ, để sáng nay anh mới biết yêu da diết những bàn tay trẻ con chua lòm mùi nước dưa như yêu từng hơi thở còn lại của đời mình
Cũng cho đến lúc này anh mới để ý, mới ngẫm kĩ những người thân xung quanh;
ngắm kĩ đứa con trai, thấy nó càng lớn càng giống anh; ngắm vợ, thấy Liên mặc áo vá lần
đầu tiên, chân rón rén, tần tảo mới hằn vào ý nghĩ của anh Mất cả đời bôn tau, tim kiếm
Trang 7khắp chân trời góc bể, Nhĩ mới nhận ra qui luật giản dị: Cuộc sống quanh ta mang vẻ đẹp
bình dị nhưng hết sức sâu xa Gia đình là nơi nương tựa vững chắc nhất khi ta gặp bất
hạnh
Xác định đúng mục đích cuộc đời đâu phải giản đơn Nhĩ đã theo đuổi những chân trời xa lắc để bỏ qua những chân trời gần gũi Bãi bồi bên kia sông — miền đất mơ ước ở ngay trước cửa số, sát ngay khuôn cửa nhà Nhĩ Vậy mà gần hết cuộc đời dài anh chưa hề
đi đến Điều này mới khó hiểu, khó chấp nhận và đau đớn Đến lúc cậu con mải chơi sà vào đám cờ thế bên hè phố Nhĩ mới nhận ra qui luật phổ biến của đời người, rằng con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái vòng vèo, chùng chỉnh Mơ ước là động lực của sáng tạo và sự sống Nhưng sống là lựa chọn Lênh đênh qua bao bến bờ,
cuối cùng Nhĩ mới nhận thấy bến quê là cái bến đỗ bình yên nhất của tâm hồn và cuộc đời mình Để sống mà không phải xót xa, nuối tiếc, hãy biết nhận chân giá trị đích thực của cuộc sống; biết yêu quí những gì gần gũi xung quanh, nhận ra mục đích chân chính của cuộc đời mình và cố gắng nhanh chóng thực hiện nó khi còn chưa quá muộn Những triết lí
đó được rút tỉa từ bao trải nghiệm, niềm say mê pha lẫn ân hận đau đớn của nhân vật Vì vậy Bến quê chính bản di chúc giàu chất thơ, xúc động và thuyết phục
Những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng trong Bến quê: ám ảnh trong suốt truyện là hình ảnh bãi bồi bên kia sông ví như sự vẹn nguyên của tâm hồn đẹp, là biểu tượng của hồn quê trong tréo, dam thắm, chân trời mơ ước, bến đỗ bình yên, chốn đi về của hồn người, ấn dụ kín đáo về mục đích chân chính của đời người Đó là những gì cao quí, thiêng liêng mà thiết thân, gần gũi, bằng tình yêu và nỗ lực, ta có thể vươn tới như bãi phù sa màu
mỡ bên kia, rất gần nhưng vẫn cách một dòng sông và không có những cây cầu
Đối lập với nó là cái bờ đất lở bên này gợi nhiều liên tưởng đến cuộc đời hiện tại của Nhĩ Hình ảnh đêm đêm những tâng đất lở âm ẩm oa vào giấc ngủ đã hình tượng hóa tình
trạng thức nhận của Nhĩ, như nhắc nhở anh rằng, quí thời gian còn lại của anh rất ngắn Những bông hoa bằng lăng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn cũng vậy Bởi vậy, những ngày cuối cùng tuy sống trong đau đớn, bệnh tật nhưng anh đã sống cuộc sống thực sự sâu sắc,
có ý nghĩa Hình ảnh con đò mỗi ngày chỉ qua lại một lần duy nhất giữa hai bờ như là cơ hội của con người nhiều khi chỉ có một mà bỏ qua là vĩnh viễn không bao giờ đã đạt tới chân trời mơ ước Đặc biệt hình ảnh Nhĩ ở đoạn cuối tập trung sự thức tỉnh con người, khi con đò ngang đã cập bờ bên này mà con trai vẫn mải chơi, người cha hai mắt long lanh, chứa nỗi mê say đầy đau khổ, cố thu sức tàn đu mình ra ngoài, giơ một cánh tay gầy quộc khoát khoát như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó Sự giục giã của người cha hay chính là sự độc thoại, lời nhắn gửi tha thiết của tác giả với con người và chính mình: hãy nhanh chóng dứt ra khỏi cái chùng chình để đến đích chân chính của cuộc đời khi còn chưa muộn
Trang 8Truyện kết ở hình ảnh chiếc đò ngang đã cham bờ bên này Nó đã sẵn sàng đưa người sang bờ bên kia cập bến bãi bồi, đến miền mơ ước Cơ hội đã đến Ai biết đón bắt kịp sẽ thành đạt, ai chùng chình, vòng vèo, chậm trễ sẽ ôm niềm thất vọng, đau khổ, ân hận cho đến lúc chết Nhĩ là minh chứng cho kinh nghiệm đau đớn đó
Tuy tính luận đề còn hơi lộ, nhưng Bến quê vẫn là tác phẩm sâu sắc Một phong cách trần thuật giàu tính triết lí mà vẫn đậm đà chất thơ; một kết thúc mở và gợi cảm, một hệ thống hình ảnh nhiều sức khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng Đó là truyện ngắn hay của Nguyễn Minh Châu, của văn học Việt Nam hiện đại cuối thế kỉ XX
Tạp chí Giáo dục, số 155; tr 27-28, 33
8 Soạn bài Những ngôi sao xa XÔI
Tiết 138 + 139 TIENG VIET
ON TAP PHAN TIENG VIET
A Két qua cGn dat
+ Hệ thống hoá kiến thức về:
— Khởi ngữ và các thành phần biệt lập
— Liên kết câu và liên kết đoạn văn
— Ngh1a tường minh và hàm ý
+ Tích hợp với các văn bản Văn và Tập làm văn đã học
+ Rèn luyện kĩ năng sử dụng các thành phần câu; nghĩa tường minh và hàm ý
B Thiết kế bỏi dạy — học
ON TAP KHOI NGU VA CAC THANH PHAN BIRT LAP
+ GV yêu cầu tìm hiểu các ví dụ:
a Xáy cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu
hồ cho nó (Kim Lân, Làng)
b 1m tôi cũng đập không rõ Dường như vật duy nhất vân bình tĩnh, phớt
lờ mọi biến động chung là chiếc kừứn đồng hồ (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao
xa XÔI)
c Đến lượt cô gái từ biệt Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, nhĩ người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay Cô nhìn thẳng vào
Trang 9mắt anh — những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
d - Thưa ông, chúng cháu ở Gia Lâm lên đấy q Đi bốn năm hôm moi lên đến đây, vất vd quá! (K1m Lân, Lang)
+ Sau đó, GV gợi dẫn HS trả lời các câu hỏi:
1 Gọi tên các thành phần câu được In đậm
— Câu a: "xây cái lăng ấy" là khởi ngữ
— Câu b: "dường như” là thành phần tình thái
— Câu c: "những người con gái nhìn ta như vậy” là thành phần phụ chú
— Câu d: "ha ông" là thành phần gọi — dap; "vat va qua!" 14 thành phần cảm thán
2 Lập bảng theo mẫu trong SGK:
xây cái lăng ấy | dường như vất vả quá thưa ông những người con
Bến quê là một câu chuyện về cuộc đời — cuộc đời vốn rất bình lặng quanh
ta — với những nghịch lí không dễ øì hoá giải Hình như trong cuộc sống hôm nay, chúng ta có thể gặp ở đâu đó một số phận giống như hoặc gần giống như
số phận của nhân vật Nhĩ trong câu chuyện của Nguyễn Minh Châu? Người ta
có thể mải mê kiếm danh, kiếm lợi để rồi sau khi đã rong ruổi gần hết cuộc
đời, vì một lí do nào đó phải nằm bẹp dí một chỗ, con người mới chợt nhận ra
rằng: gia đình chính là cái tổ ấm cuối cùng đưa tiễn ta về nơi vĩnh hằng! Cái chân lí giản di ấy, tiếc thay, Nhĩ chỉ kịp nhận ra vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình Nhĩ đã từng "đi tới không sót một xó xinh nào trên trái đất", nhưng khi chẳng may bị mắc bệnh hiểm nghèo, liệt toàn thân thì cuộc sống của anh lại hoàn toàn phụ thuộc vào những người khác Nhưng chính vào cái khoảnh khắc mà trực giác đã mách bảo cho anh biết rằng cái chết đã cận kề thì trong anh lại bừng lên những khát vọng thật đẹp đẽ và thánh thiện Có thể nói, Bến quê là câu chuyện bàn về ý nghĩa của cuộc sống, nhân vật Nhĩ là một nhân vật tư tưởng; nhưng là thứ tư tưởng đã được hình tượng hoá một cách tài hoa và có khả năng gây xúc động mạnh mẽ cho người đọc
Trang 10* Các thành phần biệt lập:
— Thành phần phụ chú: cuộc đời vốn rất bình lăng quanh ta
— Thành phần tình thái: hình như
— Khởi ngữ: cái chân lí giản đị ay
— Thanh phan cam than: tiéc thay
ÔN TẬP VỀ LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN
+ GV yêu cầu HS tìm hiểu các ví dụ:
a Ở rừng mùa này thường như thế Mưa Nhưng mua đá Lúc đầu tôi không biết Nhưng rồi có tiếng lanh canh số trên nóc hang Có cái gì vô cùng sắc xé không khí ra từng mảnh vụn Gió Và tôi thấy đau, ướt ở má
(Lê Minh Khué, Những ngôi sao xa x61)
b Từ phòng bên kia một cô bé rất xinh mặc chiếc áo may ô con trai và vẫn còn cẩm thu thu một đoạn đây sau lưng chạy sang Cô bé bên nhà hàng xóm đã quen với công việc này Nó lễ phép hỏi Nhĩ: "Bác cần nằm xuống phải khong a?"
(Nguyễn Minh Cháu, Bến qué)
c Nhưng cái "com — pa" kia lấy làm bất bình lắm, tỏ vẻ khinh bỉ, cười kháy tôi như cười kháy một người Pháp không biết đến Nã Phá Luân, một người Mĩ không biết đến Hoa Thịnh Đốn vậy! Rồi nói:
— Quên à! Phải, bây giờ cao sang rồi thì để ý đâu đến bọn chúng tôi nữa! Tôi hoảng hốt, đứng đậy nói:
— Đâu có phải thế! Tôi
(Lỗ Tấn, Cố hương)
+ Sau đó, GV gợi dẫn HS trả lời câu hỏi:
1 Gọi tên phép liên kết được thể hiện bằng các từ ngữ in đậm
— Đoạn trích a: sử dụng phép nối (nhưng, nhưng rồi, và)
— Đoạn trích b: sử dụng phép lặp từ vựng (cô bé); phép thé đại từ (cô bé — nô)
— Doan trích c: sử dụng phép thế đại từ (bây giờ cao sang rồi thì để ý đâu đến bọn chúng tôi nữa — thế!)
2 Lập bảng kết quả phân tích ở câu hỏi I:
Trang 11* Doc tham khao:
1 Phép "Lap ty vung":
Lặp từ vựng là dạng thức liên kết phổ biến nhất trong văn bản Hơn thế nữa, độ phổ biến của lặp từ vựng không chỉ trải dài trên văn bản mà còn thể hiện cả ở sự có mặt nhiều lần của nó trong một cặp phát ngôn, tức là thể hiện ở
cả sự lặp phức Trong nhiều trường hợp, tính hợp nghĩa hay tính trực thuộc của phát ngôn chính là hậu quả của việc tránh lặp từ vựng phức này
Hiện tượng lặp từ vựng phổ biến đến mức giữa nó và tính liên kết của văn bản tồn tại một mối quan hệ hai chiều
Trước hết, ở một văn bản liên kết, tất yếu phải có lặp từ vung Day 1a hau quả do mâu thuẫn giữa tính hình tuyến của văn bản với tính nhiều chiều của hiện thực gây ra Bởi lẽ các đối tượng của hiện thực luôn năm trong những mối quan hệ đa dạng khác nhau và được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Để thực hiện được những mối quan hệ và những góc độ xem xét ấy trong một văn bản hình tuyến, bắt buộc đối tượng phải xuất hiện nhiều lần, tức là bắt buộc tên gọi của đối tượng phải lặp lại
Mặt khác, ở bất kì một chuỗi câu nào, nếu đã có lặp từ vựng thì sự liên kết cũng xuất hiện Nếu hai câu có chứa những từ được lặp lại thì chấc hắn là chúng bàn về cùng một chủ đề Như thế, lặp từ vựng là một dạng thức liên kết dùng để liên kết chủ đề của văn bản
Phép lặp từ vựng có thể được xem xét, phân loại dưới nhiều góc độ Căn cứ vào kích thước của chủ tố và lặp tố, ta có thể phân biệt lặp từ và lặp cụm từ; trong lặp cụm từ lại phân biệt lặp hoàn toàn và lặp bộ phận Căn cứ vào bản
chất từ loại của chủ tố và lặp tố, có thể phân biệt lặp cùng từ loại và lặp chuyển
từ loại Căn cứ vào chức năng làm thành phần phát ngôn của chủ tố và lặp tố,
có thể chia ra lặp cùng chức năng hoặc lặp chuyển chức năng
1.1 Khi lặp bộ phận tức là khi lặp tố chỉ là một bộ phận (bộ phận chính) của chủ tố thì sau lặp tố nhất thiết phải có đại từ chỉ dấu hiệu (này, ấy, đó ) đi kèm
"của giai cấp công nhân và nhân dân lao động” = "ấy
Trong trường hợp chủ tố là cụm từ chỉ tên cơ quan, tổ chức thì việc lặp
bộ phận chính của nó không nhất thiết đòi hói sự có mặt của đại từ dấu hiệu
Trang 12Vi du:
Hội phổ biến khoa học và kĩ thuật có nhiệm vụ rất lớn trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước Hội cần được củng cố và phát triển tốt xuống tận các cơ sở
(Hồ Chí Minh)
Khi lặp chuyển từ loại (lặp chuyển từ loại là hiện tượng thường gặp khi động từ ở chủ ngôn chuyển thành danh từ ở kết ngôn) thì trước lặp tố phải có các danh từ khái quát (sự, việc ) để danh ngữ hoá động từ, và sau lặp tố cũng phải có đại từ dấu hiệu đi kèm
1.2 Một vấn đề nữa cũng có phần liên quan đến các đại từ là việc đồng nhất các đối tượng (vật quy chiếu) của chủ tố và lặp tố Thoạt nhìn tưởng như
đã là lặp từ vựng thì vật quy chiếu của chủ tố và lặp tố luôn luôn là một; song thực ra, vấn đề không đơn giản như vậy
Ví dụ:
Có một người nào đó đứng lên cười hà hà Một người nào đó hút thuốc lào ung UC
(Ma Văn Kháng)
Trong hai phát ngôn trên, cụm từ một người nào đó" được lặp lại; nhưng
rõ ràng là chủ tố và lặp tố biểu thị hai đối tượng khác nhau Như vậy, phải chăng là nội dung của hiện tượng lặp từ vựng ở đây đã "phản bội” lại hình thức của mình?
Vấn đề hoàn toàn không phải như thế; ở đây vẫn có cái chung được lặp lại,
đó là "con người nói chung", nhưng "con người" này được thể hiện ở những
"bản" khác nhau; nghĩa là không có hai sự vật nào đồng nhất với nhau hoàn toàn Chỉ có điều là ý đồ của người nói ra sao: nhấn mạnh vào sự đồng nhất hay
Trang 13sự khác biệt, hoặc là thái độ "trung hoà"? Ngôn ngữ luôn có đầy đủ mọi phương tiện để phục vụ cho việc thể hiện những ý đồ khác nhau đó Chẳng hạn:
a Để diễn đạt một sự trung hoà (không biết một hay hai sự vật quy chiếu, không biết số lượng các "bản” của mỗi vật quy chiếu nhiều hay ít), người ta có thể nói: Người ta đứng lên cười hà hà Người ta hút thuốc lào ùng uc
b Để nhấn mạnh vào sự đồng nhất, có thể nói: (Có) một người (nào đó) đứng lên cười hà hà Người ấy hút thuốc lào ùng ục
c Để nhấn mạnh vào sự khác biệt, có thể nói:
— Có người đứng lên cười hà hà Có người hút thuốc lào ung uc
— Một người đứng lên cười hà hà Một người hút thuốc lào ung uc
— Người thì đứng lên cười hà hà Người thì hút thuốc lào ùng uc
— Có một người nào đó đứng lên cười hà hà (Có) một người nào đó hút thuốc lào ung uc
Có thể nhấn mạnh vào sự khác biệt, thậm chí cả khi đối tượng được biểu thị bằng tên riêng (khi đó sẽ được nhận thức như hai đối tượng trùng tên): Một ông Nam đứng lên cười hà hà Một ông Nam hút thuốc ldo ung uc Như vậy là, để nhấn mạnh vào sự khác biệt, người ta có thể sử dụng nhiều
phương tiện khác nhau: lặp từ phiếm chỉ "nao" (d6), "ai" (d6), "dau" (d6) ; lap
từ "có" chỉ sự tồn tạ; lặp từ "thì"; lặp số từ không xác định "một"
Còn để nhấn mạnh vào sự đồng nhất thì người ta dùng các đại từ dấu hiệu
"ấy, đó" (có thể kết hợp với các từ "cái, các")
Từ đây có thể thấy một quy tắc là không thể đồng thời dùng cả hai loại phụ
tố đồng nhất và khu biệt Việc vi phạm nguyên tắc này có thể xem như một loại lỗi liên kết văn bản
Ví dụ: Ông đã cho tôi một bài học tuyệt vời Chỉ tiếc là ông đã cho tôi một bài học ấy quá châm (K A)
Trong ví dụ trên, cần bỏ từ "một” ở phát ngôn thứ hai
1.3 Vé mat su dụng, phép lặp từ vựng có khả năng truyền cho văn bản tính chính xác, rõ ràng, chặt chẽ Chính vì vậy mà nó được dùng phổ biến để lặp các thuật ngữ trong văn bản khoa học, hành chính và một phần trong các văn bản chính luận
Đối với các loại từ không phải thuật ngữ và đối với các loại văn bản khác thì ngược lại, nói chung cần phải tránh lặp từ vựng vì sự xuất hiện quá nhiều của nó gây nên cảm giác đơn điệu, nhàm chán - hiện tượng này rất phổ biến trong các bài viết của học sinh Cần cố gắng đạt tới sự đa dạng, phong phú của văn bản bằng cách dùng các phương thức liên kết khác để thay cho nó Chẳng hạn các phương thức: phép thế (thế đồng nghĩa, thế đại từ), phép tỉnh lược (tỉnh lược mạnh, tỉnh lược yếu), phép nối, phép liên tưởng,
Trang 14Đó là nguyên tắc chung Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lặp từ vung vẫn có thể được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật trong các văn bản văn học Trường hợp thứ nhất là khi lặp từ vựng có sự phối hợp nhất định với lặp ngữ pháp Vì lặp từ vựng tự thân nó đã chứa lặp ngữ âm nên khi phối hợp với lặp ngữ pháp, nó tạo nên tính nhịp điệu, tính nhạc cho văn bản Trường hợp này thường gặp trong các văn bản kí, chính luận
Hôm nay thì nó lả đi rồi Tai nó ù, mắt nó loá Nó nằm vật ở lề đường Miệng nó há hốc ra mà thở
Hôm nay thì nó lả đi rồi Tai nó ù Mắt nó loá Miệng nó há hốc ra vì đói
Bí quyết của việc lặp đoạn như một thủ pháp nghệ thuật là trong cả đoạn lặp phải có một chỗ khác biệt Nhờ đó mà, một mặt sự lặp lại có tác dụng nhấn
mạnh vào hiện tượng được nói đến; mặt khác nó là cái nền để làm nổi rõ sự khác biệt Chẳng hạn, trong ví dụ trên, nếu đoạn mở đầu chỉ là sự miêu tả hiện tượng một cách khách quan ( mà thở) thì đoạn cuối nói đến nguyên nhân của hiện tượng ấy ( vì đói) Sự khác biệt đó có thể đạt đến mức đối lập
Trong các văn bản kí, việc lặp lại các phát ngôn mở đầu hoặc kết thúc các đoạn văn có khả năng góp phần tạo nên tính nhịp điệu và tăng sức thuyết phục của bài kí
Một đặc điểm nữa của phép lặp từ vựng trong các văn bản văn học là nó có thể có dạng liên kết bắc cầu trên một khoảng cách rất lớn, có khi từ đầu đến cuối văn bản Trong việc phân tích văn bản, nhiều khi chính những mối liên kết lặp từ vựng bắc cầu này là cái chìa khoá để hiểu văn bản
Trang 152 Phép lặp ngữ pháp:
Lặp ngữ pháp là một dạng thức của phương thức lặp thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể lặp lại cả một số hư từ mà chủ ngôn đã sử dụng Nói cách khác, đó là dạng thức lặp mà chủ tố và lặp tố là mô hình cấu trúc của phát ngôn và các hư từ
Cách hiểu phép lặp ngữ pháp như trên phân biệt nó với khái niệm "song hành cú pháp" hay "sóng đôi cú pháp" thường được nhắc đến trong phong cách học và phong cách học văn bản
Lặp ngữ pháp bao gồm hai mức độ: lặp cú pháp (cấu trúc phát ngôn) và lặp
từ pháp (các hư từ), trong đó lặp cú pháp là cơ bản
Lặp cú pháp được hiểu là lặp cấu trúc của chủ ngôn nói chung, chứ không phải là cấu trúc nòng cốt hay cấu trúc đầy đủ Tuỳ theo mức độ phức tạp của từng phát ngôn cụ thể mà khái niệm "cấu trúc" nói đến ở đây có thể trùng với cấu trúc nòng cốt hoặc được cụ thể hoá bằng cấu trúc đầy đủ, thậm chí tới cấu trúc chi tiết của từng thành phần phát ngôn Theo đó, hai phát ngôn, chẳng hạn như “Napôlêông là tướng” và "Người mang tên Napôlêông là một vị tướng đại tài" không thể xem là có liên kết lặp cú pháp, mặc dù chúng có cùng cấu trúc nòng cốt (C — V)
Nếu đồng thời với việc lặp cấu trúc, hư từ cũng được lặp lại thì độ gắn bó của haI phát ngôn càng cao hơn
Tất nhiên, những trường hợp như vậy không nhiều Tuyệt đại đa số phát ngôn lặp ngữ pháp trong văn bản đều có liên kết nội dung, mà rõ nhất là liên kết chủ đề Điều này thể hiện ở chỗ lặp ngữ pháp thường xuyên có lặp từ vựng
đi kèm
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn, có thể phân loại phép lặp ngữ pháp thành bốn kiểu: lặp đủ, lặp khác, lặp thừa và lặp thiếu Nếu căn cứ vào mức độ lặp thì có thể chia phép lặp ngữ pháp thành hai nhóm: lặp hoàn toàn (toàn bộ cấu trúc) và lặp bộ phận (một bộ phận của cấu trúc) Còn
Trang 16nếu căn cứ vào tính cân đối của chủ ngôn và kết ngôn (chủ yếu là vào độ dài của chúng) thì lặp ngữ pháp cũng chia thành hai nhóm: lặp cân và lặp lệch San đây là các kiểu lặp ngữ pháp cụ thể:
(Nguyên Thị Như Trang)
Kiểu lặp này rất phổ biến trong các văn bản tiếng Việt, nhất là các văn bản cổ
Ví dụ:
Tướng khi ra trận, không hỏi vợ con là tô ra đã dâng mình cho nước Vua khi sai tướng, không dám khinh thường việc lê, là tỏ ra tôn trọng việc dung người
(Trần Quốc Tuấn) Hoặc trong cách nói của đồng bào miền núi:
Chỉ có đầu của làng nó rơi xuống đất thì đầu con ma làng mình mới chắp lại được Chỉ khi nào ngọn mác làng này đính máu làng nó thì cái nợ này mới trả xong Mày là con trai, mày cầm mác Mày là con gái, mày nhắc lũ đàn ông Mày còn nhỏ, mày để bụng Mày lớn lên, mày phải đi rình
(Nguyễn Chí Trung) Một đặc điểm của lặp đủ tiếng Việt là nó thường kéo theo sự cân đối về ngữ âm, trước hết là về số lượng âm tiết Phát ngôn càng ngắn thì sự đòi hỏi tính cân đối của số lượng âm tiết càng cao, thậm chí phải đạt tới sự tương ứng của từng âm tiết
Trang 172.2 Lap khac:
Lặp khác thuộc nhóm lặp cân va lặp bộ phận; trong đó kết ngôn chỉ lặp lại một bộ phận cấu trúc của chủ ngôn Như vậy là cấu trúc của hai phát ngôn này øiao nhau và mỗi phát ngôn có một phần khác nhau riêng Tất nhiên là muốn
để sự giao nhau về cấu trúc này được coi như một phương tiện liên kết thì phần ø1ao (bộ phận lặp lại) phải đủ lớn và là bộ phận chủ yếu
Toàn bộ cấu trúc của chủ ngôn được lặp lại trong kết ngôn, do đó lặp thừa
là lặp hoàn toàn; nhưng lại thuộc nhóm lặp lệch vì ngoài cấu trúc của chủ ngôn, trong kết ngôn còn chứa thêm một bộ phận nào đó không có trong chủ ngôn (phần thêm vào), tức là cấu trúc của chủ ngôn được bao hàm trong cấu trúc của kết ngôn Như vậy, tên gọi "lap thừa” ở đây có nghĩa là "thừa" về thành phần cấu trúc và thừa so với cấu trúc của chủ ngôn Còn nếu xét về mặt nội dung thì tất nhiên là thêm lời sẽ thêm ý, nội dung chỉ càng đầy đủ thêm chứ không bao ø1ờ thừa
Tuỳ theo đặc điểm của phần thêm vào mà ở lặp thừa có thể phân biệt ba trường hợp:
a Phần thêm vào là "những phụ tố” của các thành phần phát ngôn hoặc những yếu tố đồng loại của chúng Trong phát ngôn thứ ba ở ví dụ dưới đây, đó
là định tố của chủ ngữ và trạng tố của vị ngữ:
Kế hoạch Taylo đã tiêu tan Kế hoạch Mắc Namana cũng phá sản Kế hoạch "leo thang" mà hiện nay đế quốc Mĩ đang cố gắng thực hiện ở miền Bắc cũng nhất định sẽ thất bại
(Hồ Chí Minh)
nw
b Phần thêm vào cũng có thể là "các thành phần" đồng loại hoặc các thành phần phụ của phát ngôn Trong phát ngôn thứ hai ở ví dụ dưới đây, đó là vị ngữ đồng loại:
Hoa vạn thọ thì đôn hậu Hoa đào thì duyên dáng và khôi ngô
(Nguyễn Chí Trung)
Trang 18c Phần thêm vào còn có thể là "các vế của một câu ghép" Tuy nhiên, trong trường hợp này, phải có đầy đủ cơ sở để chứng minh sự gắn bó về nội dung giữa các vế của kết ngôn
Việt Bắc đã gọi Hà Nội đã cho đà Huế đã xông lên Bảo Đại đã nộp ấn kiếm, xin tự hạ Đệ
(Hồng Châu)
Sự khu biệt giữa ba phát ngôn lặp lại ngữ pháp chủ yếu là khu biệt về không gian (Việt Bắc — Ha Noi —- Huế), còn giữa vế lặp và vế thêm vào ở phát ngôn thứ ba thì không những không có sự khu biệt, mà còn có sự gắn bó chặt chẽ về không gian (Bảo Đại đóng đô tại Huế)
Như vậy, phần thêm vào "không bao giờ" là những thành phần nòng cốt của phát ngôn, chúng bao giờ cũng có quan hệ lỏng lẻo với phần lặp
2.4 Lặp thiếu:
Cấu trúc của chủ ngôn chỉ có một bộ phận được lặp lại ở kết ngôn Lặp thiếu thuộc nhóm lặp lệch và lặp bộ phận Bộ phận của chủ ngôn không được lặp lại trong cấu trúc của kết ngôn gọi là "phần không lặp" Tuỳ theo đặc điểm của phần không lặp mà lặp thiếu cũng có thể phân biệt ba trường hợp:
a Phần không lặp là "một hoặc một số thành phần phát ngôn" Những thành phần này được xem như dùng chung cho cả (các) phát ngôn có liên kết lặp ngữ pháp với nó ở phía sau Đó có thể là trạng ngữ (kết ngôn thường là một câu)
Ví dụ:
Chúng ta đêu biết rằng trình độ khoa học, kĩ thuật của ta hiện nay còn rất thấp kém Lê lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều Cách thức làm việc còn năng nhọc Năng suất lao động còn tháp kém Phong tục tập quán còn lạc hậu
(Hồ Chí Minh)
Trang 19b Phần không lặp có thể là "một vế” (trước hoặc sau) của phát ngôn ghép
Ví dụ:
Bom hất Viên ngã xuống, Viên lập tức đứng dậy Một quả bom nữa lại hất Viên ngã xuống, Viên lại đứng dậy
(Nguyên Thành Long) 2.5 Khi sử dụng phép lặp ngữ pháp cần hết sức chú ý đến các kiểu lặp thừa
và lặp thiếu, tránh tình trạng mất cân đối về nhịp điệu do sự kết hợp của hai kiểu này gây nên
Trang 20Phép lặp ngữ âm như một dạng thức liên kết phát ngôn được sử dụng trong mọi loại văn bản, nhưng nó được thể hiện rõ nhất trong các loại văn vần (thơ, phú, hò, vè ) Đây là lí do để ta thấy những bài đồng dao rất dễ nhớ dễ thuộc, còn những bài "thơ tự do” mặc dù có liên kết nội dung, nhưng do thiếu lặp ngữ
âm nên rất khó nhớ, khó thuộc
Trong cuốn "Làm thơ như thế nào?", Malacốpxk1 nhận xét: "Vần đưa ta quay trở lại dòng trước, buộc ta nhớ lại nó Vần bắt tất cả các dòng thể hiện cùng một tư tưởng phải đứng cạnh nhau Vần liên kết các dòng, vì vậy chất liệu của nó cần phải vững vàng hơn chất liệu phần còn lại của các dòng” 3.1 Trong văn vần, tất cả các phương tiện liên kết ngữ âm đều được tận dụng: song trước hết phải kể đến việc lặp số lượng âm tiết Đây là phương tiện liên kết được sử dụng trong văn vần của mọi ngôn ngữ
Trong tiếng Việt, lặp số lượng âm tiết có thể chia thành lặp bắc cầu, lặp đều và lặp hỗn hợp
— Lặp bắc cầu có ở thể thơ lục bát với số lượng âm tiết 6/8 — 6/8 bắc cầu qua nhau và ít phổ biến hơn là ở thể thơ tứ lục (bắt chước Hán văn) với số lượng âm tiết 4/6 — 4/6 bắc cầu qua nhau
— Lặp đều thì tuỳ theo số lượng âm tiết mà chia thành thơ bốn chữ (như mấy bài hát đồng dao), thơ năm chữ (ngũ ngôn), thơ sáu chữ (lục ngôn), thơ bảy chữ (thất ngôn)
— Lap hỗn hợp gặp ở thể thơ song thất lục bát với số lượng âm tiết 7/7 — 6/8
— 7/7 - 6/8 lặp tiếp giáp và bắc cầu qua nhau
Phương tiện thứ hai phổ biến trong văn vần là lặp âm tiết hoặc lặp vần Lặp
âm tiết sử dụng nhiều trong các ngôn ngữ biến hình Trong tiếng Việt, hình thức lặp vần phổ biến hơn
Các phương tiện lặp ngữ âm khác như lặp phụ âm đầu, lặp thanh điệu ít được sử dụng hơn vì chúng khó được nhận biết và đòi hỏi công phu hơn
3.2 Trong văn xuôi tiếng Việt, phương tiện lặp ngữ âm phổ biến hơn cả là lặp số lượng âm tiết Phương tiện này trong văn xuôi thường đi kèm với dạng thức lặp ngữ pháp
Trang 21Hiện tượng lặp âm tiết với tư cách lặp ngữ âm thuần tuý cũng có thể gap, song thường mang tính chất chơi chữ rõ rệt
Ví dụ:
Cố bắt chước nó làm việc bí mật không được, tôi đành cho nó công khai
Và cũng khai quá chừng Quần tôi và gạch lớp lênh láng những nuóc
(Nguyễn Công Hoan) Lặp vần cũng có được sử dụng, nhưng rất ít, chủ yếu là trong các văn bản
kí Độ liên kết của phương tiện này ở đây không đáng kể
Căn cứ vào "đặc điểm của các phương tiện" dùng làm chủ tố và đối tố, có thể phân loại phép đối thành bốn kiểu: đối bằng từ trái nghĩa, đối bằng từ không trái nghĩa (đối lâm thời), đối bằng dạng phủ định và đối bằng dạng miêu
tả Căn cứ theo "độ phức tạp" của các phương tiện, có thể chia phép đối thành hai nhóm: nhóm có cả yếu tố liên kết là từ và nhóm có ít nhất một trong hai yếu tố liên kết là cụm từ Căn cứ vào "tính ổn định của quan hệ đối lập" do các phương tiện trên tạo ra, có thể chia phép đối thành hai nhóm khác nhau: nhóm đối ổn định (quan hệ đối lập được xác định rõ ràng, chính xác) và nhóm đối không ổn định (quan hệ đối lập mờ nhạt, khó xác định)
Sau đây là từng kiểu đối cụ thể:
Trang 224.1 Đối trái nghĩa:
Theo Đỗ Hữu Châu, có thể định nghĩa từ trái nghĩa là "những từ thuộc cùng một trường nghĩa và có ít nhất một nét nghĩa có giá trị đối lập nhau, còn tất cả các nét nghĩa khác đều đồng nhất" Sự đồng nhất này làm thành cái nền cho sự đối lập được nổi bật hơn Sự đối lập đó là sự đối lập hai thái cực của cùng một thuộc tính, một hiện tượng Những thái cực này tồn tại cùng nhau, quy định lẫn nhau: "7rên là cái gì không đưới ( ) cái frên chỉ tồn tại khi có cái đưới, và ngược lại: mỗi quy định đều bao hàm cái đối lập với nó" (Lê-nin) Chính mối quan hệ chặt chẽ đó là cơ sở cho việc sử dụng từ trái nghĩa làm một kiểu liên kết văn bản rất quan trọng của phép đối Mọi danh từ, động từ, tính từ trái nghĩa đều có thể tham gia vào kiểu liên kết này ở mọi loại văn bản
Độ liên kết của kiểu đối này rất mạnh, nghĩa là không phải khi đọc đến đối
tố người đọc mới nhớ đến chủ tố, mà chỉ cần đọc chủ tố (thông qua liên tưởng bản ngỡ) người đọc đã nghĩ đến đối tố rồi Nó tạo áp lực về nội dung khiến cho trong kết ngôn có thể xuất hiện những tổ hợp từ không bình thường (phải đặt trong dấu nháy) Chẳng hạn, ta thường nói "nhà thơ lớn", không nói "nhà thơ nhỏ"; thế nhưng cơ chế của phép đối đã "hợp thức hoá” cách sử dụng đó một cách dễ dàng
Ví dụ:
Dấy Đào Lĩnh có 99 ngọn Vẻ đẹp của nó đã đi vào trong thơ của một nhà thơ lớn của dân tộc Và "nhà thơ nhỏ” của ngành ta đã quyết định một quy hoạch trồns rừng lên những đỉnh "thi son" do
(Lê Phương)
“SH
Trong kiểu đối trái nghĩa này, bên cạnh những cặp từ trái nghĩa "trực tiếp như trong các ví dụ trên, ta còn rất hay gap những cặp từ trái nghĩa “gián tiếp”
Trang 23Chất gián tiếp này có thể biểu hiện ở sự không tương ứng về hình thức của các từ
Việc sử dụng chéo như ví dụ trên vẫn giữ được sự đối lập trực tiếp về nội dung, nhưng không còn sự đối lập trực tiếp về hình thức Sự mất cân đối về hình thức này rất thích hợp ở đây, nó có tiết tấu phù hợp với câu văn, ý văn
Sự gián tiếp còn thể hiện ở việc đối qua dạng đồng nghĩa của từ trái nghĩa, chẳng hạn xuất phát từ các cặp từ trái nghĩa và đồng nghĩa trực tiếp sau:
khác nhauÍgiống nhau (= như nhau), hậu phương/tiền phương (= mặt trận)
Ta có hai cặp trái nghĩa gián tiếp: khác nhaM/nhw nhau, hậu phương /mặt tran Ching duoc su dung trong cac cau sau:
— Cong sé tam SA cái nào cũng hệt như nhau Nhưng hai bàn tay thì thuộc hai thế hệ khác nhau
Trang 24của nó xuất hiện tình trạng ngược lại là phần lớn các nét nghĩa đều loại trừ nhau
Kiểu đối này không chỉ áp dụng được cho những từ có từ trái nghĩa, mà quan trọng hơn là những từ không có từ trái nghĩa tương ứng cũng có thể áp dụng kiểu đối này một cách dễ dàng
— Cặp từ đồng nghĩa: bi quan = chan nan
— Tạo cặp đối gián tiếp: 5¡ quan/không chán nản
— Ta có từ nói khẽ” (quy ước là A)
- Phủ định A bằng tổ hợp; việc gì phải A, làm sao mà A được, làm gì phải
Trang 25Ở ví dụ thứ nhất, "chưa phải nhịn bữa nào" là cụm từ miêu tả trạng thái
"no", nó đối lập với từ "đói" ở kết ngôn Ở ví dụ thứ hai, "ngáy khò khò" là dạng miêu tả của trạng thái "ngủ", nó đối lập với trạng thái "thức" được thể hiện bằng dạng phủ định "không ngủ" ở kết ngôn
Kiểu đối miêu tả đem đến cho văn bản những sắc thái ý nghĩa phong phú
mà kiểu đối bằng từ trái nghĩa không có được Thử so sánh:
— Con chó của anh no Nhưng xác người chết đói ngập phố phường
— Nó cười rúc rích, , ngủ luôn Ông Sân thức, nằm cân nhắc một lúc nữa
Rõ ràng, trong trường hợp này, nếu đối bằng từ trái nghĩa thì sắc thái câu văn sẽ đơn điệu, nghèo nàn hơn nhiều
Đối miêu tả mang tính chất không ổn định và thuộc nhóm đối bằng cụm từ
4.4 Đối lâm thời:
Trong phép đối này, các từ làm chủ tố và đối tố vốn không phải là những từ trái nghĩa (trực tiếp hoặc gián tiếp), nhưng trong những văn cảnh hoặc tình huống nhất định, chúng lâm thời đối lập với nhau Có ba trường hợp đối lâm thời:
a Đối lâm thời qua “suy luận trung g1an”:
Ví dụ:
T1ruóc đó ít phút, bọn Mĩ kéo tới nớm born bừa xuống ven sông Rồi tất ca lại yén lang
(Nguyên Thế Phương) Cặp "bom — yên lặng” vốn không phải là những từ trái nghĩa, song ở hai phát ngôn này, chúng trở thành phương tiện liên kết của phép đối nhờ mối liên
hệ qua một mắt xích suy luận trung gian là "bom nổ" thì "ồn ào", mà "ồn ào" thì trái nghĩa với “yén lang”
Ví dụ khác:
Tôi không muốn là bướm Tôi chỉ muốn là tằm
(Lưu Quý Kì)
Suy luận: bướm - rong choi — v6 ich; tam — cần mẫn - có ích
Cặp trái nghĩa "vô ích — c6 ich" giúp cho "bướm" và "tằm" lâm thời đối lập nhau và trở thành phương tiện liên kết của phép đối
b Đối lâm thời do "áp lực của đối ổn định":
Vì nhóm đối ổn định (đối trái nghĩa, đối phủ định) có độ liên kết mạnh, cho nên trong nhiều cặp phát ngôn chứa đối ổn định, do áp lực của nó, thường kéo theo các cặp đối lâm thời