Quan niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề • Dạy học nêu vấn đề xuất phát từ nhận thức cho rằng: con người chỉ tích cực tư duy khi ở vào hoàn cảnh có vấn đề nảy sinh, khi con người phát
Trang 1Bài 2:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
LỚP BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CỐT CÁN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MÔN : GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Trang 2Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học nhằm góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực và những công dân mới năng động, sáng tạo, thích ứng với kinh tế thị trường, có phẩm chất và năng lực để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 3• Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh, lấy học sinh “làm trung tâm” Đặc trưng của dạy học tích cực hóa hoạt động của học sinh là thông qua việc tổ chức các hoạt động của học sinh, giúp học sinh hoạt động một cách tích cực, tăng cường học tập cá thể phối hợp với hoạt động hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
• Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh không phải là phủ nhận sạch trơn các phương pháp dạy học truyền thống, hoặc sao chép những phương pháp xa lạ không phù hợp với nước ta Vấn đề là ở chỗ: kế thừa, tiếp thu có chọn lọc phương pháp truyền thống và của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, phù hợp với điều kiện của đất nước
Trang 4• Đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động không
những khộng hạ thấp vai trò của người
thầy, mà trái lại càng phát huy cao độ
tính chủ đạo, khả năng sáng tạo của
người thầy Vai trò của người thầy trong
dạy học tích cực hóa hoạt động của học
sinh là người thiết kế, tổ chức quá trình
học tập của học sinh nhằm hướng dẫn
hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để học
sinh nắm vững kiến thức, hình thành kỹ
năng, thái độ, tình cảm, niềm tin theo yêu
cầu của môn giáo dục công dân
•
Trang 5• Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn quát triệt nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn với thực tiễn” Thông qua việc đa dạng hóa các hoạt động dạy học, gắn goạt động dạy học với hoạt động xã hội, hoạt động lao động và những hoạt động thực tiễn khác
ở địa phương để học sinh có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ, củng cố niềm tin, kỹ năng tổ chức hoạt động thực tế của học sinh
Trang 6Đổi mới phương pháp dạy học phải kế thừa những thành quả giáo dục, dạy học môn Đạo đức ở tiểu học, Giáo dục công dân ở trung học cơ sở, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ nhận thức của bậc trung học phổ thông Đồng thời đổi mới phương pháp dạy học phải tranh thủ được các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại như là những phương tiện phục vụ đắc lực cho quá trình dạy học như máy vi tính, mạng internet…
Trang 7I PHƯƠNG PHÁP NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
• 1 Quan niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
• Dạy học nêu vấn đề xuất phát từ nhận thức cho rằng: con người chỉ tích cực tư duy khi ở vào hoàn cảnh có vấn đề nảy sinh, khi con người phát hiện các mâu thuẫn của lý thuyết hay thực tế mà tư duy cũ không giải quyết được một cách tốt nhất.
• Những thành tựu dạy học gần đây cũng cho thấy trong quá trình dạy học có những mâu thuẫn giữa yêu cầu dạy học càng cao, khả năng tư duy ngày càng sáng tạo của học sinh với việc tổ chức dạy học còn lạc hậu Điều đó khiến họ nghĩ đến biện pháp tăng thời gian học tập trên lớp để truyền thụ được nội dung tri thức ngày càng nhiều.
Trang 8• Nhưng như vậy e rằng quá tải sẽ dẫn đến hạn chế chứ
không phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh.
• Một cách khác là tăng hiệu quả giờ dạy bằng cách cải tiến các phương pháp dạy học, nội dung chương trình và cả hình thức tổ chức dạy học.
• Cuối cùng, họ đã đi đến kết luận rằng: quy luật chung để tích cực hóa hoạt động học của học sinh là nhờ họ độc lập trong việc giải quyết các tình huống có vấn đề Ngày nay, dạy học nêu vấn đề đã phát triển thành một kiểu dạy học hiện đại Thực chất của kiểu dạy học này là tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều kiện hoạt động của học sinh nhằm giúp học sinh độc lập giải quyết các vấn đề học tập
Trang 9• Như vậy, dạy học nêu vấn đề là
hoạt động có chủ đích của giáo viên,
bằng cách đặt vấn đề học tập và tạo ra
các tình huống có vấn đề, hướng dẫn
học sinh tiếp thu nhằm giải quyết các
vấn đề học tập, tạo điều kiện cho việc
lĩnh hội tri thức mới và cách hành động
mới, hình thành năng lực sáng tạo cho
học sinh.
• Vấn đề nêu ra trong giảng dạy và
học tập có thể là một câu hỏi, một luận
đề phải chứng minh, lý giải hay bác bỏ
Vấn đề bao giờ cũng đòi hỏi giải quyết
Vấn đề học tập được đặt ra khi giảng
bài, tọa đàm, khi học sinh nghiên cứu
sách giáo khoa
Trang 10• Đặc trưng của dạy học nêu vấn đề:
• Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề là những yếu tố tất yếu Không thể chỉ có nêu vấn đề mà không giải quyết, cũng như không chỉ có giải quyết vấn đề mà không nêu vấn đề.
• Giải quyết vấn đề sẽ giúp học sinh hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng.
• Kết quả của dạy học nêu vấn đề không chỉ là tổng số những tri thức mà học sinh sẽ thu nhận được mà còn hình thành ở học sinh ý nghĩa bên trong của các sự kiện, hiểu biết bản chất của sự vật, hiện tượng
Trang 11Nội dung chương trình môn giáo dục công dân mang tính trừu tượng, khái quát hóa cao, tính chất đa lĩnh vực Nên nó càng đòi hỏi một phương pháp dạy học có hiệu quả: phương pháp dạy học nêu vấn đề Phương pháp này giúp học sinh phát triển tư duy, nắm chắc kiến thức, nhất là khi học sinh tự mình đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
Trang 12DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
Thầy: Thông báo. Thầy: Đưa học sinh vào tình
huống có vấn đề.
Trò: Tiếp thu, lưu trữ thông
Trò: Tái hiện, vận dụng. Trò: Vận dụng những điều đã
học.
Kết quả: Thu được tri thức
mới dựa vào thông báo (bài
giảng) của thầy.
Kết quả: Thu được tri thức mới, thu được cách thức hoạt động trí tuệ mới.
• Có thể so sánh kiểu dạy học truyền thống với dạy học
nêu vấn đề như sau:
• Như vậy, dạy học nêu vấn đề là quá trình nhận thức
độc đáo của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 132 Những giai đoạn cơ bản của dạy học nên vấn đề
• a) Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề
• Vấn đề được nêu để dạy học là vấn đề học tập Nó là mới đối với học sinh, nhưng trong khoa học, nó là vấn đề đã được giải quyết, kiểm nghiệm trong thực tế.
• Vấn đề là những câu hỏi, những thắc mắc, là bản thân hoạt động tìm kiếm các câu trả lời của người học.
• Vấn đề nêu ra có thể là đơn giản, có thể là phức tạp Điều quan trọng là giáo viên cần khéo liên hệ với tri thức cũ, vốn hiểu biết của học sinh để giải quyết vấn đề mới
Trang 14• Muốn nêu vấn đề, giáo viên cần phải nắm chắc sách
giáo khoa Đây là tài liệu quan trọng nhất vì nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản, đúng đắn đã được kiểm nghiệm.
• Để nêu vấn đề có hiệu quả, giáo viên cần chú ý:
• - Khi giảng dạy phải liên hệ chặt chẽ sự phát triển của các khoa học triết học, kinh tế chính trị, đạo đức, pháp luật.
• - Khi nêu những vấn đề thực tế, giáo viên cần diễn đạt một cách chặt chẽ dưới dạng mâu thuẫn chưa được giải quyết.
• - Khi nêu vấn đề, phải chú ý tới nguyên lý về sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn Giáo viên cần gợi ý để học sinh có thể tự nêu vấn đề, giải quyết vấn đề
Trang 15• b) Giai đoạn giải quyết vấn đề
• Giải quyết vấn đề phụ thuộc vào vấn đề nêu ra Cơ sở để giải quyết vấn đề là nội dung kiến thức trong sách giáo khoa và vốn hiểu biết của giáo viên và học sinh Muốn giải quyết vấn đề có hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị một cách chu đáo, chia những vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ phù hợp với trình độ của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức từ đơn giản đến phức tạp.
• Giai đoạn này đòi hỏi học sinh phải huy động tri thức, vốn sống để giải quyết vấn đề Giáo viên cần khéo gợi ý để học sinh tự giải quyết, tạo ra sự hứng thú bằng cách bêu những câu hỏi gợi mở, giải quyết từng vấn đề Giáo viên cũng cần nêu ra những giả định, nhằm khắc sâu trí nhớ, phát triển trí tuệ cho học sinh
Trang 16• c) Giai đoạn hệ thống hóa kiến thức
• Sau khi giải quyết vấn đề, việc hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản một cách có hệ thống Hệ thống hóa kiến thức là sự sắp xếp kiến thức theo một trình tự nhất định, có liên quan chặt chẽ với nhau Tức là bảo đảm tính khoa học của bài giảng, thể hiện phương pháp tư duy khoa học, nhấn mạnh những vấn đề thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những giá trị đạo đức… Đồng thời, giáo viên cần quan tâm đến việc uốn nắn những suy nghĩ, hành động không đúng đắn
Trang 17• 3 Các kiểu dạy học nêu vấn đề
• a) Trình bày nêu vấn đề
• Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề Nó được sử dụng khi truyền thụ những kiến thức mang tính trừu tượng hóa,
khái quát hóa cao mà học sinh không thể tự mình giải quyết được.
• Trong khi thực hiện phương pháp này, giáo viên dường như phải thực hiện toàn bộ các giai đoạn của dạy học nêu vấn đề Thông qua cách trình bày nêu vấn đề, học sinh hiểu bài, nắm vững được kiến thức và học cách tư duy
Trang 18• b) Tìm tòi bộ phận
• Một bài giảng thường có nhiều đề mục, mỗi đề mục có khi lại có những tiểu mục Mỗi đề mục hay tiểu mục có liên quan đến một vấn đề cụ thể Nó có liên quan đến nhau và là từng phần của bài giảng Phương pháp này dùng để truyền thụ tri thức trong mỗi bộ phận Tùy theo từng đề mục, giáo viên đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo điều kiện để học sinh tham gia nêu và giải quyết vấn đề
Trang 19• c) Nêu vấn đề toàn bộ
• Đây là mức độ cao nhất của kiểu dạy học nêu vấn đề Thực chất của kiểu dạy học này là: dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề cụ thể nào đó trong bài học
• Để sử dụng tốt kiểu dạy học nêu vấn đề này, giáo viên cần chú ý tới khả năng tư duy của học sinh và các điều kiện chon phép học sinh tự giải quyết vấn đề Giáo viên chuẩn bị kỹ trọng tâm, trọng điểm và mối liên hệ giữa các phần với nhau, mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới…
Trang 20• Việc chia thành các mức độ trong dạy học nêu vấn đề
là cần thiết Nhưng tuỳ theo khả năng của giáo viên, nội dung của từng bài mà có cách sử dụng phù hợp Hơn nữa phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn với các phương pháp khác, không nên coi dạy học nêu vấn đề là phương pháp vạn năng Bởi vì các phương pháp khác đã xuất hiện từ lâu, đã và đang phát huy tác dụng quan trọng.
• Phương pháp dạy học nêu vấn đề phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh Nhưng phương pháp này khó vận dụng Nó đòi hỏi giáo viên phải có tay nghề vững vàng, nhiều thời gian Giáo viên nên chọn những bài có nội dung không bao gồm nhiều vấn đề phức tạp để vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
Trang 21III PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
• 1 Quan niệm về phương pháp đàm thoại
• Trong giáo dục công dân, đàm thoại được coi là một phương pháp dạy học mà việc truyền thụ tri thức của giáo viên và lĩnh hội tri thức của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, gợi ý của giáo viên và câu trả lời của học sinh nhằm đạt hiệu quả dạy học cao.
• Phương pháp đàm thoại được thực hiện bằng cách giáo viên nêu câu hỏi và tổ chức cho học sinh trả lời Đồng thời, nó cũng có thể được tiến hành bằng cách trao đổi giữa học sinh với nhau, hoặc tự mỗi học sinh đặt câu hỏi yêu cầu giáo viên giải quyết
Trang 22• Phương pháp này được dùng rất phổ
biến, nhất là các môn khoa học xã hội
Trong môn giáo dục công dân, nó có thể
dùng để gợi lại tri thức cũ để tiếp thu kiến
thức mới Nó giúp học sinh hiểu sâu hơn
kiến thức cũ, làm nền cho việc tiếp thu kiến
thức mới và không bị gián đoạn trong nhận
thức Nó cũng có thể được giáo viên dùng để
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh hoặc
kiểm tra, đánh giá khả năng nhận thức, tiếp
thu bài giảng của học sinh.
• Đàm thoại có tác dụng rất cao trong
việc phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng
tạo cho học sinh
Trang 23Cách nêu câu hỏi trong môn giáo dục công dân phụ thuộc vào hình thức trao đổi, nội dung kiến thức, khả năng của giáo viên và trình độ của học sinh Nhưng thông thường các câu hỏi mà giáo viên nêu ra mang tính chất bài tập nhận thức, nó đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức một cách tổng hợp Nếu học sinh trả lời được câu hỏi đó sẽ nắm được kiến thức cơ bản của bài học.
Trang 242 Các kiểu đàm thoại
• Căn cứ vào cách thức tổ chức hoạt động dạy học có thể chia thành hai loại đàm thoại:
• a) Đàm thoại có chủ đích
• Đàm thoại có chủ đích là phương pháp đàm thoại mà giáo viên nêu ra một hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm hướng dẫn học sinh tiếp thu được kiến thức cơ bản trong bài giảng.
• Hệ thống câu hỏi mà giáo viên nêu ra có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận với các khái niệm, phạm trù, tiếp thu kiến thức cơ bản…
Trang 25Đàm thoại có chủ đích có thể có các loại sau:
• - Đàm thoại diễn giải:
• Đàm thoại diễn giải thường được giáo viên dùng để giảng giải các khái niệm, phạm trù Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi trên cơ sở những dấu hiệu bản chất của các khái niệm, phạm trù, mối liên hệ giữa chúng với kiến thức học sinh đã có để kích thích tư duy, liên tưởng nhằm hiểu được vấn đề.
• Đương nhiên mỗi loại phạm trù, khái niệm, giáo viên cần có cách đàm thoại, diễn giải riêng, vì mỗi loại khái niệm đều có cách nêu dấu hiệu bản chất riêng
Trang 26- Đàm thoại dẫn dắt:
• Giáo viên căn cứ vào kiến thức của bài mà nêu ra một hệ thống câu hỏi theo một trật tự nhất định nhằm giúp học sinh dần dần tiếp thu được kiến thức cần lĩnh hội.
• Đàm thoại dẫn dắt giúp học sinh hiểu được, nắm được kiến thức của từng đề mục trong bài và của toàn bài.
• Dựa vào hệ thống câu hỏi và những gợi ý của giáo viên cùng với vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của mình, học sinh sẽ lần lượt trả lời câu hỏi, tiếp thu dần kiến thức mới một cách tích cực, chủ động
Trang 27Trong một bài giảng, có hệ thống câu hỏi xuyên suốt toàn bài, cũng có những câu hỏi tương ứng với các đề mục trong bài Cho nên giáo viên cần có hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu kiến thức từng phần, trong từng phần lại có thể có các câu hỏi nhằm tìm hiểu kiến thức cơ bản, có thể có câu hỏi nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức…
• Điều đáng chú ý là những câu hỏi mà giáo viên nêu ra cần đảm bảo tính hệ thống chặt chẽ, phù hợp với trình độ của học sinh
Trang 28- Đàm thoại tìm tòi:
• Đó là phương pháp mà giáo viên nêu ra các câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức cần thiết đã thu nhận được trong học tập và trong hoạt động thực tiễn để tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra.
• Đối với học sinh trung học phổ thông, tư duy logic đã khá phát triển, các em có khả năng phân tích, tổng hợp nhất định, nếu giáo viên sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ kích thích, phát triển tư duy cho học sinh.
•
Trang 29b) Đàm thoại tự do
• Đàm thoại tự do là hình thức đàm thoại mà dựa trên nội dung của bài học, giáo viên, học sinh cùng đặt ra những câu hỏi và cùng trả lời các câu hỏi đó nhằm giúp học sinh hiểu sâu, rộng hơn nội dung bài học.
•Trong đàm thoại tự do, giáo viên cần lưu ý:
• Nội dung của môn học được thiết kế chung, thống nhất trong toàn quốc, nhưng nó lại được giảng dạy ở từng địa phương Vì vậy, học sinh có thể đưa ra những vấn đề rất cụ thể đang diễn ra ở địa phương, có những vấn đề vượt quá thẩm quyền của giáo viên Cho nên giáo viên cần khéo gợi ý về mặt lý luận để học sinh tiếp tục suy nghĩ, và có thể chủ động tìm kiếm câu trả lời.
Trang 30Trong điều kiện hiện nay, trên Thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, có những vấn đề chưa được giải quyết Học sinh có thể nêu những câu hỏi bất ngờ, khó Trong trường hợp này, giáo viên cần vận dụng lý luận, định hướng suy nghĩ cho học sinh, có như vậy mới kích thích được sự ham hiểu biết của học sinh.
• Trong đàm thoại tự do, còn có sự trao đổi giữa học sinh với học sinh
Trang 313 Những yêu cầu chung khi sử dụng phương pháp đàm thoại
• Phương pháp đàm thoại có những ưu điểm lớn Nó kích thích học sinh tích cực, độc lập trong suy nghĩ nhằm trả lời đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng vấn đề Nó bồi dưỡng cho học sinh khả năng diễn đạt bằng lời nói, tạo ra không khí sôi nổi trong giờ học Giáo viên thu được tín hiệu ngược một cách nhanh chóng, đánh giá được ngay kết quả giảng dạy của mình, nhờ vậy điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học.
• Tuy vậy, nếu giáo viên sử dụng không khéo léo sẽ dễ mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp Bởi vì, nó dễ dẫn đến xu hướng đối thoại giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, khó thu hút vào hoạt động chung, vào vấn đề cơ bản
Trang 32Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên chú ý một số điểm sau:
• - Giáo viên cần sử dụng các hình thức đàm thoại một cách linh hoạt Tức là tùy nội dung của bài mà có hình thức đàm thoại thích hợp Đàm thoại có thể giảng kiến thức mới, có thể củng cố kiến thức cũ…
• - Câu hỏi mà giáo viên nêu ra phải được sắp xếp một cách hợp lý, có hệ thống.
• Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác cả về nội dung và từ ngữ, giúp học sinh hiểu rõ để thực hiện các thao tác tư duy.
• Câu hỏi phải phù hợp với nội dung của bài, khi giáo viên nêu câu hỏi liên hệ cần sát thực tế
Trang 33Câu hỏi phải vừa sức đối với học sinh, không nên nêu câu hỏi quá dễ khiến học sinh thỏa mãn, chủ quan về vốn hiểu biết của mình Câu hỏi phải nhằm phát huy trí tuệ của mọi thành viên trong lớp học, tức là bảo đảm vừa sức chung và vừa sức riêng.
• - Giáo viên cần khuyến khích tự do tư tưởng, tạo ra không khí tranh luận thoải mái Đối với những câu trả lời hay, cần động viên ngay Ngược lại, đối với những câu trả lời sai về lập trường quan điểm, về kiến thức, giáo viên cần uốn nắn kịp thời, khéo léo, tránh thái độ gay gắt gây mất tự tin nơi học sinh.
• Một vấn đề nữa là câu hỏi đặt ra phải tuân thủ những yêu cầu sư phạm Các loại câu hỏi và hình thức tổ chức trao đổi phải đúng với những dự định sư phạm