1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

THUY SAN BIEN DONG

21 310 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 293 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí địa lý biển Đông Đất nước Việt Nam ngoài phần lãnh thổ đất liền rộng hơn 330 nghìn km2 con một vùng biển nằm ở phía Đông rộng lớn với diện tích hơn 1 triệu km2 là một vùng biển kí

Trang 1

BIỂN ĐÔNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Trang 2

I KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG

1 Vị trí địa lý biển Đông

Đất nước Việt Nam ngoài phần lãnh thổ đất liền rộng hơn 330 nghìn km2 con một vùng biển nằm ở phía Đông rộng lớn với diện tích hơn 1 triệu km2 là một vùng biển kín giàu tiểm năng

về khoáng sản và khả năng phát triển ngành thủy sản

Trang 3

II ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN

NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

1 Vị trí địa lý

- Biển Đông là một biển rộng lớn thông với

Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

- Nằm ở nơi gặp gỡ của các luồng di cư sinh vật

xứ nóng và xứ lạnh.

- Biển Đông cũng là nơi hội lưu của các con

sông lớn đổ từ lục địa ra biển.

vì vậy có nguồn sinh vật biển phong phú cộng với nguồn thức ăn dồi dào, thuận lợi để pt ngành nuôi trồng thủy sản

Trang 4

Việt Nam nằm ở vị trí hội tụ của các dòng hải lưu phía Bắc xuống và phía Nam lên.

Trang 5

2 Các điều kiện về tự nhiên

- Nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào

- Nguồn gen động thực vật biển đa dạng,

nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế

Trang 6

3 Điều kiện kinh tế xã hội

- Định hướng phát triển kinh tế xã hội

Việt Nam và vai trò của Biển Đông.

- Nhu cầu nguồn thủy sản phục vụ cho

nhu cầu đời sống và chế biến ngày càng cao

- Thị trường tiêu thụ thủy sản ngày càng

được mở rộng

- TRình độ khoa học kỹ thuật được nâng

cao và ngày càng phát triển

Trang 7

II HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Hoạt động của ngành nuôi trồng thủy sản dựa vào lợi thế của biển Đông được chia làm 2 loại:

Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước lợ

gắn với các đầm phá ven biển.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước măn ( nuôi trên biển)

Trang 8

1 Nuôi thuỷ sản nước lợ

- Là hoạt động kinh tế ương, nuôi các loài thuỷ sản trong vùng nước lợ cửa sông,

ven biển Ở đây “nước lợ” được hiểu là môi trường có độ mặn dao động mạnh theo mùa.

- Đối tượng nuôi chủ yếu các loài tôm: Tôm sú, tôm he, tôm bạc thẻ, tôm nương, tôm rảo và một số loài cá như cá vược (chẽm), cá

mú (song), cá chình

Trang 9

- Hình thức nuôi gồm chuyên canh một đối tượng và xen canh, luân canh giữa nhiều đối tượng hoặc nuôi trong rừng ngập mặn

- Gần đây, mô hình nuôi hữu cơ (nuôi tôm trong điều kiện gần như tự nhhiên, không sử dụng hoá chất, kháng sinh, chất kích thích) bắt đầu được áp dụng và

mở rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

-2 Nuôi, trồng động, thực vật nước mặn

a Nuôi thuỷ sản nước mặn (nuôi biển)

- Là hoạt động kinh tế ương nuôi các loài thuỷ sản mà nơi sinh trưởng cuối cùng của

chúng là ở biển.

- Hình thức nuôi chủ yếu là lồng bè hoặc nuôi trên bãi triều.

- Đối tượng nuôi chính là tôm, tôm hùm,

cá biển (cá mú, cá giò, cá hồng, cá cam…),

nhuyễn thể (nghêu, sò huyết, ốc hương, trai

ngọc…).

Trang 11

b Trồng rong câu, rong sụn

- Những tỉnh trồng rong câu chủ yếu ở Việt Nam là Hải Phòng, Thừa Thiên Huế và Bến Tre Rong sụn là loài mới được nhập và trồng có kết quả, đang được nhân rộng ở nhiều địa phương ở miền Trung và Nam Bộ.

- Nhìn chung, với những nỗ lực trong việc

mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản; ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất giống;

Trang 12

chú trọng những đối tượng nuôi thế mạnh của

từng vùng;

áp dụng phương thức nuôi tiên tiến, đem lại hiệu quả cao, nhất là áp dụng công nghệ nuôi công nghiệp chu trình khép kín, ít thay nước đối với đối tượng tôm sú; phát triển các khu nuôi trồng thuỷ sản công nghệ cao, v.v…

hoạt động nuôi, trồng các loài động, thực vật thuỷ sinh

đã thu được kết quả vượt bậc, tỷ lệ sản lượng thuỷ sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thuỷ sản đã tăng từ

29,16% năm 2001 đến 35,08% năm 2003

Trang 13

- Nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc đã trở

thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với

trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các

thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoá với các

ngành kinh tế khác.

- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn theo từng năm suốt từ 1981 tới nay, từ 230 nghìn ha

năm 1981 lên 384,6 nghìn ha năm 1986, đến nay đã

đạt hơn 1 triệu ha

Trang 14

- Điều căn bản là khi tỷ trọng diện tích nuôi mặn, lợ tăng lên, nhất là nuôi tôm thì sản lượng nuôi, nhất là sản lượng nuôi đưa vào xuất khẩu đã tăng nhanh

chóng và hiệu quả kinh tế có bước nhảy vọt

- Thời kỳ này thuỷ sản đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá đã được khẳng định từ giữa những năm

80 và gặt hái thành quả

Trang 15

-Từ năm 1990 trở lại đây với tôm nuôi cho xuất

khẩu là mũi đột phá quan trọng

- Năm 1991, diện tích nuôi trồng thuỷ sản mới đạt 520.000 ha, sản lượng đạt 335.910 tấn,

- đến năm 1996 diện tích nuôi trồng thuỷ sản là

585.000 ha, sản lượng nuôi trồng đạt 411.000 tấn,

- năm 2000, diện tích nuôi là 652.000 ha, sản

lượng đạt 723.110 tấn,

- năm 2003 sản lượng nuôi trồng đã đạt hơn 1 triệu tấn

Trang 17

- Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực,

phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung

- Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát

triển, hiệu quả tốt Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh

nghiệp và ngư dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông

nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo

Trang 18

- Diện tích có khả năng nuôi trồng hải sản trên

biển rộng lớn hơn 400.000 ha vùng vịnh và đầm phá; nhiều vùng biển có điều kiện phát triển như Quảng Ninh - Hải Phòng hơn 200.000 ha, khu

vực ven biển miền trung từ Thừa Thiên - Huế

đến Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 41.000 ha, khu vực Ðông và Tây Nam Bộ có hơn 62.000 ha, vịnh Văn Phong tỉnh Khánh Hòa 20.000 ha

- Giống loài thủy sản nuôi phong phú, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cá cam,

cá hồng, cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm, bào ngư,

nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao, nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô

Trang 19

- Những năm gần đây, hình thức nuôi lồng bè

đang có bước phát triển ở một số tỉnh như:

Quảng Ninh, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa, Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu với các đối tượng tôm

hùm, cá song, cá cam, cá giò, v.v Những địa

phương phát triển mạnh là Quảng Ninh, Khánh Hòa và một số tỉnh khác

- Năm 2001, tổng số lồng nuôi trên biển là 23.989 chiếc, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là 19.912

chiếc, nuôi cá biển là 4.077 chiếc Năm 2004 tổng

số lồng bè nuôi tôm, cá trên biển đã tăng đến

38.965 lồng, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là

30.115 lồng, nuôi cá là 8.850 lồng Sản lượng nuôi lồng bè nước mặn năm 2001 chỉ đạt 2.635 tấn,

năm 2004 đạt hơn 10.000 tấn

Trang 20

- Hiện nay, ở nước ta đang nuôi trồng thủy sản biển với nhiều hình thức nuôi đa dạng Tổng giá trị nuôi thủy sản biển (chưa kể giá trị thông qua xuất khẩu) ước đạt 3.700 - 3.800 tỷ đồng tương đương 230 - 240 triệu USD

- Ngành thủy sản dự kiến đến năm 2010 nuôi cá biển ở nước ta ước đạt khoảng 200.000 tấn, nuôi nhuyễn thể đạt 380.000 tấn, rong biển đạt 50.000 tấn khô đuổi kịp và vượt các nước tiên tiến trong khu vực và vùng lãnh thổ về trình độ nuôi hải

sản trên biển Ðây là ngành quan trọng trong

phát triển kinh tế thủy sản của nước ta.

Ngày đăng: 15/07/2014, 19:00

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w