1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý thuyết phát triển pptx

27 443 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

III- Sức mạnh của các lý thuyết mới của trường phái HĐH I - PHẢN ỨNG LẠI VỚI CÁC PHÊ BÌNH Vào cuối năm 1970, khi sức nóng của những lời chỉ trích của trườnghiện đại hóa đã lắng xuống, có

Trang 1

Lý thuyết phát triển

Đề tài: Các nghiên cứu điển hình của trường phái Hiện đại hóa

phục hưng ( trường phái Hiện đại hóa mới )

Giảng viên môn học: Nguyễn Minh Đức

Trang 2

NỘI DUNG

I - Phản ứng lại với các phê bình

II- Các nghiên cứu điển hình:

• Wong: Kinh doanh gia đình

• Davis: Xem xét lại tôn giáo của Nhật Bản

• Banuazizi: Cách mạng Hồi giáo ở Iran

• Huntington: Nhiều nước sẽ trở nên dân chủ?

III- Sức mạnh của các lý thuyết mới của trường phái HĐH

I - PHẢN ỨNG LẠI VỚI CÁC PHÊ BÌNH

Vào cuối năm 1970, khi sức nóng của những lời chỉ trích của trườnghiện đại hóa đã lắng xuống, có một sự phục hưng của nghiên cứu hiện đạihoá Giống như trường phái HĐH cổ điển, HĐH mới tập trung nghiên cứu

về sự phát triển của các nước thế giới thứ ba Sự phân tích về trường pháihọc này là ở mức độ truyền thống, và mục đích chính của họ là nhằm giảithích sự phát triển xảy ra chủ yếu, xuyên suốt bên trong những nhân tố như

là văn hoá – xã hội Trường phái học cổ điển làm nền móng cho trường pháimới, sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại Về cơ bản, chúng sẽ chia sẻ

sự giống nhau về từng phần của trường phái mới (có liên hệ với các nước ởphương Tây), đó là khái quát về lợi ích của các nước thế giới thứ 3

Tuy nhiên, có nhiều điểm khác nhau giữa trường phái cổ điển vàtrường phái mới Các thành viên của trường phái mới đã bắt đầu tìm hiểu.Một mặt, họ quay trở lại lợi dụng những nhà phê bình tư tưởng Mác của họnhư là những tuyên truyền viên, người mà đã hiểu sai lí luận của họ Mặtkhác, họ thẳng thắn đưa ra những giả định cơ bản của trường phái học hiệnđại Họ tránh sự xung đột xảy ra trong nhóm của họ Họ không do dự đểđưa ra 1 số giả định không rõ ràng về trường phái học cổ điển Những giảđịnh mới này rất khác trường phái học cổ điển của những người ủng hộtrường phái cũ

Đầu tiên, trường phái hiện đại mới tránh sự đối xử truyền thống và cáihiện đại như không chấp nhận những tư tưởng lệch lạc của nhau Nghiên

cứu trường phái hiện đại mới, nét truyền thống và hiện đại không chỉ có thể

Trang 3

song song cùng tồn tại mà chúng còn có thể xâm nhập và hoà trộn lẫn nhau.

Tiếp nữa, thay vì tranh cãi về truyền thống là sự cản trở phát triển , trườngphái hiện đại mới đã cố gắng thể hiện những lợi ích, vai trò của truyềnthống Những quan niệm mới đã được phát hiện trong những lần nghiên cứumới Những nhà nghiên cứu trường phái hiện đại hoá mới đã đặt trọng tâmnhiều về đặc điểm của truyền thống ( như là chủng tộc và tôn giáo) hơn họlàm trước đây

Thứ hai, có sự thay đổi trong phương pháp luận: thay vì nghiên cứu ở

cấp độ trừu tượng hoá cao, trường phái hiện đại hóa mới hướng tới sự tập trung vào từng trường hợp cụ thể Lịch sử thường thể hiện rõ ràng về giai

đoạn phát triển trong một đất nước cụ thể Thông thường trong trường pháihọc này được bổ sung tương đối như là nghiên cứu tại sao cùng một sự thiếtlập giống nhau lại có vai trò khác nhau trong đất nước khác nhau

Thứ ba, với thành quả của bảo vệ sứ mệnh lịch sử của trường phái họcmới này không giả định theo một hướng duy nhất của sự phát triển hướng về

phía Tây hiện đại Theo các nhà nghiên cứu, họ cho rằng các nước thế giới

thứ 3 có thể theo đuổi con đường phát triển vận mệnh của họ.

Cuối cùng, trường phái hiện đại hóa mới chú trọng nhiều hơn vào các

nhân tố bên ngoài (quốc tế) Mặc dù họ vẫn còn tập trung trên các yếu tố nội

bộ, nhưng họ không bỏ qua vai trò của các yếu tố bên ngoài trong việc địnhhình sự phát triển của các nước thế giới thứ 3 Ngoài ra, họ chú trọng hơnnữa về hiện tượng của sự xung đột Họ thường kết hợp các yếu tố xung độtgiai cấp , sự thống trị tư tưởng và cuộc cách mạng tôn giáo vào phân tích củahọ

Bảng 4.1 So sánh các nghiên cứu HĐH cổ điển với nghiên cứu của trường phái

HĐH mới Hiện đại hoá cổ điển Hiện đại hoá mới

Trang 4

• Quy mô phân tích Cấp quốc gia Tương tự

• Chính biến Các nhân tố bên trong: giá

trị văn hoá – xã hội và các

tổ chức xã hội

Tương tự

• Thuật ngữ chính Truyền thống và hiện đại Tương tự

• Hàm ý chính sách HĐH nói chung là có lợi Tương tự

Không được chú ý Chú ý nhiều hơn

Bởi vì sửa đổi một số giả định cơ bản của các trường phái hiện đại hoá

, các nghiên cứu hiện đại hoá mới đã mở ra một bước tiến mới của chu trình

nghiên cứu trong các phần sau đây Một số vấn đề nghiên cứu giải quyết

bằng các nghiên cứu hiện đại hoá mới sẽ được thảo luận Chẳng hạn như làm

thế nào để thúc đẩy kinh doanh hộ gia đình ở Hồng Kông? Tôn giáo dân

gian đã định hình hiện đại hoá của Nhật Bản như thế nào? Đạo Hồi đã liên

quan đến cuộc cách mạng Iran như thế nào? Và làm thế nào để môi trường

quốc tế ảnh hưởng tới sự phát triển dân chủ ở các nước thế giới thứ 3

II - CÁC NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH:

1 Wong: Kinh doanh gia đình

2 Davis: Xem xét lại tôn giáo của Nhật Bản

3 Banuazizi: Cách mạng Hồi giáo ở Iran

4 Huntington: Nhiều nước sẽ trở nên dân chủ?

Trang 5

1 WONG: KINH DOANH GIA ĐÌNH

Nghiên cứu của Wong (1988) bắt đầu với một phê phán của nhànghiên cứu lý thuyết hiện đại hóa cổ điển của gia đình truyền thống TrungQuốc Trong văn học hiện đại hóa cổ điển, các gia đình Trung Quốc đượcxem như một lực lượng mạnh mẽ của truyền thống lâu đời, làm yếu đi kỷluật công việc, cản trở việc lựa chọn thị trường tự do của lao động, khuyếnkhích cá nhân đầu tư, sự hợp lý hoá bị tắc nghẽn và ức chế sự nổi lên củamột doanh nghiệp Kết quả là các nhà nghiên cứu HĐH cổ điển chủ chươngloại bỏ các giá trị truyền thống gia đình Trung Quốc để hiệu quả kinh tếđược tăng lên Tuy nhiên, Wong lập luận rằng hiệu ứng kinh tế tiêu cực nàycủa các giá trị truyền thống Trung Quốc đã được phóng đại Ảnh hưởng củagia đình về tổ chức nội bộ của các doanh nghiệp ở Hồng Kông đặc biệt làviệc làm và quyền sở hữu gia đình Wong chứng tỏ rằng các gia đình có tácđộng tích cực đến phát triển kinh tế

Đầu tiên, ông đã chỉ ra có hình thức quản lý kiểu gia trưởng tại cácdoanh nghiệp của Hồng Kông Nghiên cứu của Wong (1988, p.137) cho thấy

có “ các tổ công nghiệp, những người thực hiện kiểm soát chặt chẽ, xa lánhcác đoàn đại biểu của quyền lực, trao trợ cấp phúc lợi nhân viên của họ nhưđặc ân, đóng vai người gìn giữ đạo đức cho cấp dưới của họ, trái ngược vớipháp luật về bảo hộ lao động và không được chấp thuận của các hoạt độngcông đoàn Wong chỉ ra rằng gia đình sẵn sàng cung cấp tạo văn hoá để bảotrợ hợp pháp một mối quan hệ ông chủ-khách hàng giữa chủ đi thuê vàngười làm thuê Nền tảng kinh tế của gia đình là nó sẽ giúp các doanhnghiệp thu hút và giữ chân người lao động trong ngành công nghiệp đầybiến động trong sản xuất này Hệ quả chính trị của gia đình là nó làm chậm

sự tăng trưởng của ý thức giữa các tầng lớp người lao động Wong khẳngđịnh rằng, lao động bất mãn được thể hiện nhiều hơn trong các hình thứchành vi cá nhân chẳng hạn như vắng mặt nhiều hơn so với các hành vi củaviệc thương lượng tập thể và đình công

Thứ hai, gia đình trị - tuyển dụng thân nhân của họ vào doanh nghiệp

- cũng có thể góp phần vào sự thành công của các công ty Hồng Kông.Wong lưu ý rằng hầu hết những người Trung Quốc sẽ nhờ người thân chocông việc chỉ như một phương sách cuối cùng Thân nhân thường chỉ là một

Trang 6

phần nhỏ của toàn thể các nhân viên trong công ty Mặt khác, với các công

ty nhỏ, các thành viên gia đình cung cấp một lực lượng đáng tin cậy và giá

rẻ Trong thực tế, họ mong rằng họ hàng thân thiết sẽ làm việc cứng hơn choviệc trả ít tiền lương hơn, giúp nâng cao sức cạnh tranh của các công tytrong thời kỳ suy thoái Nếu thành viên gia đình đang ở các vị trí quản lý,doanh nhân Trung Quốc thường cẩn thận trang bị cho họ với hình thức giáodục tốt như đào tạo tại chức Do đó, Wong lập luận rằng các nhà quản lý làhiếm khi nhân viên không đạt chuẩn với năng lực kém

Thứ ba, Wong chỉ ra chế độ gia đình sở hữu, vào năm 1978, có gần60% các nhà máy nhỏ ở Hồng Kông đã được sở hữu bởi cá nhân người chủ

và gia đình của họ Wong cũng chỉ ra rằng nguyên tắc gốc theo phụ hệ đãdẫn đến một đơn vị quan hệ họ hàng rời rạc và lâu dài của công ty, đó là lợicho quản lý hay nguồn lực kinh tế Thậm chí nếu gia đình phân chia đượcđưa ra, nó sẽ đi theo hình thức lợi nhuận hơn là phân mảnh vật chất của bấtđộng sản trong gia đình Với những đặc điểm của gia đình, Wong (1988,p.142) khẳng định rằng những thế mạnh cạnh tranh của các công ty gia đình

ở Trung Quốc là đáng kể

Ở đó tồn tại một biện pháp mạnh mẽ hơn lòng tin giữa các thành viêngia đình mà không liên quan giữa các đối tác kinh doanh, sự đồng thuậnđược dễ dàng đạt được hơn, sự cần thiết về khả năng là giảm Các yếu tốnày cho phép các công ty gia đình được thích nghi hơn trong hoạt động của

họ Họ có thể đưa ra quyết định nhanh chóng trong quá trình thay đổi hoàncảnh và duy trì bí mật lớn hơn bằng cam kết ít hơn để ghi lại bằng văn bản.Kết quả là họ hoàn toàn phù hợp để tồn tại và phát triển mạnh trong các tìnhhuống với mức độ rủi ro cao

Vì vậy, thay vì việc xem gia đình như phương pháp để phát triểnkinh tế, Wong lập luận cho một bản chất năng động kinh tế của kinh doanhgia đình Bản tính này liên quan đến gia đình như là một đơn vị cơ bản củacuộc cạnh tranh kinh tế, cung cấp động lực hướng tới sự đổi mới và rủi ro.Hơn nữa, Wong lập luận rằng bản chất này không chỉ tồn tại trong số cácnhà doanh nghiệp, mà trong tất cả các xã hội của Hồng Kông

Trang 7

Kinh doanh gia đình có ba đặc điểm phân biệt Thứ nhất là mức độcao, tập trung trong việc ra quyết định nhưng với mức độ thấp của cơ cấu tổchức Thứ hai, quyền tự chủ được đánh giá cao và tự làm việc được ưa thích.Các lý tưởng chung, các nhà quản lý và người lao động như nhau, trở thànhông chủ của chính mình Vì lòng trung thành không thể quản lý được giảđịnh, sử dụng lao động dựa trên thực tế chủ nghĩa gia trưởng, giám sát chặtchẽ đoàn đại biểu tối thiểu của các cơ quan như là một phương tiện đối phóvới tình trạng này Thứ ba, các công ty gia đình hiếm khi chịu đựng và họđang liên tục thông lượng Ngoài ra các doanh nghiệp đều không tham giavào quyền tự chủ kinh doanh.

Nếu gia đình đóng một vai trò quan trọng như vậy tại Hồng Kông, tạisao nó không nhận ra tiềm năng của nó trong quá khứ trên lục địa TrungHoa? Đối với Wong, giải thích nằm trong một mối quan hệ xã hôi bên ngoàicủa gia đình Mặc dù gia đình vẫn là một lực lượng kinh tế đang hoạt động,trong quá khứ có lẽ nó đã được kiểm tra bởi một nhà nước bận tâm tớinhiệm vụ hội nhập , kỳ dị sinh thái và môi trường kinh tế mà thành lập “cấp

độ cân bằng cái bẫy” Ở Hồng Kông, những ràng buộc bên ngoài của nhànước và môi trường được gỡ bỏ Như Hồng Kông được quản lý bởi một môitrường thuộc địa được loại bỏ Do đó, các gia đình tại Hồng Kông đã nhận

ra tiềm năng như là động cơ của phát triển kinh tế

Tóm lại, Wong chỉ trích các HĐH cổ điển để nhìn ra vai trò năngđộng của gia đình Trung Quốc trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế Xuhướng của họ để xem mọi người tách biệt rõ ràng giữa Châu Âu và TrungQuốc, kết quả không có khả năng của họ để hiểu được vai trò của gia đình.Wong tin rằng kinh nghiệm của Châu Âu về phát triển tư bản là không cókhả năng được nhân rộng ở Trung Quốc; mô kình khác nhau của cơ cấu xãhội Trung Quốc nhất thiết sẽ gây mô hình phân kỳ của HĐH Wong tiếp tụccho rằng gia đình Trung Quốc có thể khác của Hàn Quốc và các đối tác NhậtBản vì sự khác biệt trong cấu trúc xã hội Như vậy vai trò của gia đình HànQuốc và Nhật Bản trong phát triển kinh tế có thể là đặc biệt

Trang 8

2 DAVIS: XEM XÉT LẠI TÔN GIÁO Ở NHẬT BẢN

• Lý thuyết chạy vượt rào (Weber 1958)

• Lý thuyết rào cản (Davis 1987)

• Viết lại lịch sử tôn giáo của Nhật Bản

• Nhật Bản: xã hội công nghiệp hậu Khổng giáo

Lý thuyết chạy vượt rào

Theo Davis, Weber (1958) đã cung cấp một lý thuyết về rào cản làquá trình phát triển như là một cuộc thi chạy vượt rào mở rộng trải dài từvạch xuất phát (xã hội truyền thống) và đích (xã hội hiện đại) Trong cuộcđua này, đấu thủ chạy đua (tức là, các quốc gia đang phát triển) ai thànhcông trong việc khắc phục tất cả các hàng rào của khóa học được thưởng vớicác danh hiệu " hợp lý " và nền văn minh hiện đại

Sau đó những gì là những rào cản của sự phát triển? Để tới được đíchcần phải vượt qua các rào cản:

• Đầu tiên, các nhà phát triển phải vượt qua rào cản kinh tế để đạt đượcchính các đặc trưng cơ bản của hệ thống tư bản chủ nghĩa

• Thứ hai, rào cản chính trị - xã hội thay thế với mối quan hệ kinh tế và

tổ chức hành chính, pháp luật tách các địa điểm kinh doanh và khudân cư phân biệt tài sản cá nhân và tài sản công ty

• Thứ ba, rào cản tâm lý (thành tích, lợi nhuận… ) nét đặc trưng củatinh thần cũng như nghĩa vụ trong quá trình làm việc

Những sự nghiên cứu của Weber về tôn giáo bắt đầu một khuynhhướng của việc tìm kiếm những sự tương tự với đạo Tin lành trong Nhậtbản, Hàn Quốc, Singapore và các nước Thế giới thứ ba Vào những năm

1950, như được thảo luận trong chương 3, Bellah (1957) cho rằng Tokugawatôn giáo cung cấp nguồn của một "hệ thống giá trị trung ương" để đưa NhậtBản vào chủ nghĩa tư bản hiện đại Những năm 1980, Moshima (1982) lấyquan điểm của Bellah và lập luận cho rằng thành công của Nhật bản là do

Trang 9

lòng trung thành của Nho giáo, dân tộc và toàn xã hội và đặc biệt là tầng lớpSamurai với quan điểm lòng trung thành tuyệt đối Có thể được quy cho disản của Khổng Tử, Nhật Bản thất bại trong việc hấp thụ "chủ nghĩa tự do,quốc tế, và cá nhân của phương Tây mặc dù Nhật Bản nhập khẩu khoa học,công nghiệp và công Nghệ của các nước này

Ông cũng khẳng định với những nét đặc biệt về tôn giáo và văn hóa

đó mà Nhật Bản khó có thể hấp thụ được những sự tiến bộ của văn hóaphương Tây như là chủ nghĩa tự do, tinh thần quốc tế, chủ nghĩa cá nhân…trong khi Nhật Bản đang nhập khẩu công nghệ công nghiệp và khoa học củaphương Tây

Thiếu sót của Weber: Theo Davis, Weber và những người theo ông đãmắc một số lỗi sau trong quá trình nghiên cứu:

• Họ đã giả thiết tôn giáo là nguồn giá trị trung tâm làm ảnh hưởng tớitất cả các khía cạnh của xã hội hơn là một hệ thống giá trị trung tâm

Họ đã dựu nhiều vào đó để giải thích, đã quá chủ quan trong suy nghĩ

• Weber và những người theo ông đã có xu hướng nhấn mạnh vào nétđặc biệt của tôn giáo Nhật để giải thích sự thành công của nền kinh tế

mà không để ý tới các yếu tố khác như là thị trường, sự cạnh tranh,xung đột,… hoặc vai trò của chính phủ như là thuế, lương bổng, côngnghiệp…

Lý thuyết rào cản

Sau phê bình lý luận của Wrong là tới quan điểm lý luận của Davis về

lý thuyết hiện đại hóa

Nội dung chính nói về các mối quan hệ phức tạp giữa tôn giáo và sựphát triển ở Anh nói chung và ở Nhật Bản nói riêng

Sau khi bác bỏ lý thuyết trở ngại của Weber, Davis đưa ra một lýthuyết mới của chướng ngại vật Lý thuyết rào cản này nhìn vào tôn giáo chủyếu từ điểm nhìn của sự hiện đại hoá và phát triển, và ông giả định rằng trởngại trên con đường phát triển đơn giản chỉ có thể vượt qua trong quá trìnhchạy đua Davis cung cấp thêm tình hình tương tự từ quan điểm của xã hộitruyền thống cách thiết lập rào chắn như thế nào để bảo vệ mình khỏi sự tiến

Trang 10

bộ đột phá của các giá trị tư bản.Những gì xã hội truyền thống lo sợ không

phải là tiến bộ mà là sự hỗn loạn xã hội và suy đồi đạo đức do tự do thuơng

mại và thương mại mang lại

Trong việc trình bày lý thuyết của ông về chướng ngại vật truyền

thống, Davis mô tả xã hội truyền thống bao gồm 3 vòng tròn đồng tâm (xem

hình 4.1)

A – Xã hội

B – Các rào cản: tôn giáo, phépthuật, đạo đức, truyền thống dângian

C – Nền kinh tế (bị bao vây)

Hình 4.1 Mô hình xã hội truyền thống của Davis

• Vòng trong cùng (C) đại diện cho các nền kinh tế và giá trị của nó (ví

dụ thành tích và sự phổ biến)

• Vòng ở giữa (B) đại diện các “chướng ngại vật miễn dịch” mà xã hội

truyền thống dựng lên đối với nền kinh tế (gồm các điều cấm kị, phép

thuật, truyền thống tôn giáo, đạo đức, pháp luật, triết học, tôn giáo và

các loại tương tự)

• Vòng ngoài cùng (A) đại diện cho xã hội và các giá trị của nó

Davis khái niệm về vòng giữa là tạo ra từ các tổ chức bảo vệ mà có

thể giữ cho nền kinh tế trong sự kìm hãm Vòng giữa này hoạt động một

cách tương tự như nền kinh tế đóng (1994) của Polany mà hạn chế phạm vi

của thị trường này bởi các nghi thức truyền thống và nghi lễ, bảo đảm rằng

thị truờng sẽ hoạt động trong giới hạn hẹp

Trong mô hình rào cản của Davis (1987) thì “phát triển kinh tế diễn ra

không chỉ khi một đối phương (nghĩa là hiện đại hoá hoặc phát triển) xâm

nhập quy mô các thành luỹ của xã hội mà còn khi những rào cản bị suy yếu

và sụp đổ”

Trang 11

Trong hình 4.2, các kẽ hở của các chướng ngại vật tôn giáo (được vẽ

bởi những đuờng chấm chấm) đã cho phép các nền kinh tế và giá trị của nó

mở rộng và xâm nhập vào phạm vi của xã hội Thông qua các ẩn dụ rào

chắn, Davis đã diễn giải lại sự phát triển của xã hội tư bản ở Phương Tây

Một nền kinh tế hợp lý ra đời không chỉ vì “sự sôi nổi của đạo Tin lành”

chiếm lĩnh thị truờng với “lòng nhiệt thành của Chúa” mà vì những ngưòi

theo đạo Cơ Đốc đã hững hờ,chống cự quá yếu với sự bóc lột Ở Anh, các

nhà thờ hầu như không có gì để nói về sự đau khổ (như nghèo đói, kìm hãm

và bóc lột) của sản xuất bởi đổi mới của đạo Tin lành

A – Xã hội (vòng ngoài cùng)

B – Các rào cản cũ

C – Nền kinh tế (đang pháttriển) (vòng trong cùng)

Mô hình rào chắn này nó cung cấp cách tiếp cận mới cho việc kiểm

tra mối quan hệ giữa tôn giáo và sự phát triển Thay vì tập trung vào việc đổi

mới cách nhảy qua rào cản thì cách tiếp cận mới của Davis cần thiết cho một

phân tích về các hoạt động của nhưng nguời bảo vệ tôn giáo và truyền thống

Davis cho rằng chúng ta phải cẩn thận các thuộc tính cho những nguời mới

có cùng 1 năng lực mà chúng ta gán cho sự đổi mới tiến bộ:

Chúng ta phải hướng dẫn cho họ khả năng lé tránh, lẩn trốn, giả mạo,

âm mưu, phối hợp, phản bội, sự thoả hiệp và thậm chí là phải đầu hàng kẻ

thù và phải làm thế nào để họ tự hào về sự phát triển đó như sự phát triển

của bản thân họ Cách hùng biện và chiến lược của họ đã góp phần tạo chiến

thắng và thực hiện một phần của tổng thể kế hoạch phát triển bản thân

Trang 12

Viết lại lịch sử tôn giáo của Nhật Bản

Sử dụng mô hình rào chắn của mình, Davis nỗ lực để diễn đạt lại mốiquan hệ giữa tôn giáo Nhật và sự phát triển Ông tập trung vào 2 khía cạnh:

(1) Các mặt tiêu cực của tôn giáo (Tại sao tôn giáo Nhật không cản trở

sự thay đổi?)

(2) Các măt tích cực của tôn giáo (Tôn giáo Nhật làm thế nào để thúcđẩy sự phát triển?)

Mặt tiêu cực: Davis cho rằng tôn giáo Nhật Bản đã đặt ra không có

cản trở sự thay đổi vì những lý do sau đây Thứ nhất, đối với Phật giáo, nó

đã làm gì để ngăn chặn sự phát triển nhanh chóng của các vùng nông thônNhật Bản Không giống như Hồi giáo, Phật giáo không tìm cách áp đặt luậtthần thánh ở trên xã hội mà cuối cùng ngăn cản sự thay đổi Ví dụ như Phậtgiáo áp đặt không hạn chế về nghề nghiệp của một người Những thầy tuPhật chỉ giới hạn những công tác của họ để tang và thực hiện những thóiquen của các nghi lễ tổ tiên

Thứ hai, từ Thần giáo không có những giáo chủ phổ thông để giám sátviệc thi hành những tuyên bố của mình để dành được các nguồn lực hiện đạihóa Davis (1987) đã làm sáng tỏ điểm này: “Nếu một lễ hội can thiệp vàolịch trình làm việc mới, nó được hoãn lại, cắt bớt, hoặc đơn giản chỉ giảmngày lịch Những điều cấm kỵ cổ là giới hạn sự giao tiếp với những ngườingoài một cách thận trọng bị bỏ qua hoặc bị lãng quên.”

Thứ ba, vì sự cùng tồn tại của Nho giáo, Phật giáo sang Thần giáo, cólòng khoan dung độ lượng phát triển các giá trị tôn giáo ở mức độ cao tạiNhật Bản Hơn nữa, Nhật Bản thậm chí còn phát triển giá trị thực tế củanhiều đảng phái tôn giáo Davis lập luận rằng mô hình về khoan dung tôngiáo này cho phép Nhật Bản vay mượn khoa học, công nghệ và văn hóa củathế giới phương Tây với chi phí tâm lý tối thiểu

Thứ tư, Nhật Bản đô thị hóa đã thúc đẩy một thế tục hóa của tôn giáo,dẫn đến điều này- tinh thần thế gian trong số những nhà buôn thành thị vànhững người học Nho giáo

Trang 13

Thứ năm, Davis quan sát sự bùng nổ sau chiến tranh trong các tôngiáo mới, với phong trào quần chúng lớn được thành lập bởi sức lôi cuốncủa những nhà lãnh đạo mà đánh những sự pha chế mới trong những chạnbát cũ của Thần giáo, Phật giáo, Kitô giáo và Nho giáo Những tôn giáo mớiđẩy mạnh sự kính trọng tổ tiên, chủ nghĩa vị chủng trước chiến tranh vànhững giá trị truyền thống khác Các thành viên của họ được tuyển chọn từcác phân đoạn dân số bị tổn thương bởi quá trình công nghiệp hóa nhanhchóng của Nhật Bản Không được bảo vệ bởi các ngành công nghiệp lớn haycác công đoàn lao động, bị áp bức là những bí phương luôn mang tính tôngiáo hay ảo thuật, như một câu thần chú mà có thể chăm sóc mọi điều hayhứa hẹn mơ hồ về sự xuất hiện của một "vị Phật Thích ca trong tương lai"người sẽ thiết lập mọi thứ Các tôn giáo mới của loại này đã giúp các tín đồđối phó với một thế giới tàn tạ, cho phép họ chấp nhận những gánh nặng bấtbình đẳng của một xã hội phát triển nhanh, và do đó hiếm khi có trong conđường phát triển.

Mặt tích cực:

- Ông cho rằng tôn giáo thường được sử dụng rộng rãi làm tăng năng

suất và hiệu quả làm việc

- Tôn giáo góp phần phát triển đạo đức nghề nghiệp

- Nền công nghiệp Nhật chú trọng vào việc truyền tải hoạt động tôngiáo đạo đức cho công nhân thông qua việc tham gia các hoạt động nghithức khác nhau, các buổi huấn luyện và giáo dục về tinh thần

Kết luận, các yếu tố tích cực của tôn giáo đối với sự phát triển kinh tế:

ở Nhật, tôn giáo tăng cường sự phát triển kinh tế thông qua việc phát triểnđạo đức nghề nghiệp, cân bằng tâm linh, hình thành tính cách người Nhật(đã là người Nhật thì phải làm việc chăm chỉ trung thành và ngay thẳng)

Tuy nhiên, Davis cũng lưu ý rằng ngành công nghiệp của Nhật bảnnhấn mạnh việc truyền tải hoạt động tôn giáo, đạo đức cho công nhân (từtrên xuống) thông qua cách tham gia các nghi thức khác nhau, các buổi huấnluyện và giáo dục về tinh thần Ngoài ra, đạo đức là công việc tuyên truyềntrong các lý thuyết của Nhật Bản làm việc của Morishima Nhấn mạnh tính

Ngày đăng: 13/07/2014, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w