Nhằm vào mục tiêu “ Dạy chữ để dạy ngời” việc học tập lịch sử để “ Ôn cố nhi tri tân” Nhắc cái cũ để biết cái mới có tác dụng trọng việc đào tạo thế hệ trẻ thành những thanh niên yêu nớc
Trang 1Bộ môn lịch sử ở nhà trờng phổ thông Việt nam
Về lí luận và thực tiễn, bộ môn lịch sử đã đợc thừa nhận có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Nội dung và phơng pháp dạy học mang tính chất thời đại và giai cấp rõ rệt Việc nhận thức
vị trí, chơng trình, SGK lịch sử ở n… ớc ta sau cách mạng tháng tám ( 1945), nhất là từ sau triển khai cải cách giáo dục(1981) là việc cần thiết
I Vài nét về việc dạy học lịch sử ở Việt Nam trớc năm 1945.
Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời Từ xa, nhân dân ta đã coi trọng việc lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ Trong các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, ca dao có nhiều yếu tố của tri thức lịch
sử, phản ánh nhiều sự kiện lớn của công cuộc dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Lịch sử của dòng họ, địa phơng( xã, huyện, tỉnh, miền) ra đời
từ khá lâu, có tác dụng không nhỏ vào việc giáo dục truyền thống, lòng tự hào và trách nhiệm đối với quê hơng, Tổ Quốc
Từ sau khi nớc nhà thoát khỏi sự đô hộ của phong kiến phơng Bắc ( Thề kỉ thứ X) Nền giáo dục dân tộc hình thành và phát triển Lịch
sử giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy học, thi cử để tuyển chọn nhân tài Tuy có những hạn chế về thời đại và giai cấp, việc dạy học lịch sử thời phong kiến dân tộc có nhiều khởi sắc Nhằm vào mục tiêu
“ Dạy chữ để dạy ngời” việc học tập lịch sử để “ Ôn cố nhi tri tân” (Nhắc cái cũ để biết cái mới) có tác dụng trọng việc đào tạo thế hệ trẻ thành những thanh niên yêu nớc>Nhiều tác phẩm sử học đợc biên soạn
nh Đại Việt Sử kí của LêVăn Hu ( thế kỉ XIII), Đại Việt sử kí toàn th của Ngô Sĩ Liên ( Thế kỉ XV), các tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan
Trang 2Huy Chú, của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn là công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc có giá trị, đợc sử dụng để làm tài liệu học tập Loại SGK lịch sử chẳng có bao nhiêu, nh Quốc sử tiểu học của Phạm Đình
Hổ ( thế kỉ XIX) hoặc Việt sử tân ớc toàn biên của Hoàng Đạo Thành( Cử nhân năm 1881) Về phơng pháp học tập, tuy không thoát khỏi cách học kinh viện, khoa cử, song cũng có nhiều kinh nghiệm hay trong trình bày, giảng giải lịch sử, liên hệ tri thức về quá khứ với hiện tại
Thực dân Pháp xâm chiếm và thống trị nớc ta, cũng hình thành một nền giáo dục ngu dân, phục vụ chế độ thuộc địa của chúng Lịch sử chỉ
đợc dạy ở cấp tiểu học với quan niệm phản động, xuyên tạc quá khứ trong việc mạt sát các cuộc đấu tranh của quần chúng, chông áp bức bóc lột, ca tụng giai cấp thông trị, biện hộ cho những hành động xâm lợc, đô hộ của thực dân ở bậc cao đẳng tiểu học(tơng đơng với các lớp cấp II hiện nay) học sinh không đợc học lịch sử dân tộc, mà chỉ học lịch sử Pháp, xem nh quốc sử
Trong phong trào giải phóng dân tộc, lịch sử đợc xem nh một công
cụ đấu tranh, một vũ khí sắc bén trong tay các nhà yêu nớc Việt nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, mà Phan Bội Châu là tiêu biểu Với nhiều tác phẩm lịch sử, cụ Phan đã khơi dậy lòng yêu nớc, ý chí đấu tranh chông xâm lợc Đông Kinh Nghĩa Thục cũng chú trọng đến việc phổ biến, giảng dạy lịch sử dân tộc để thức tỉnh đồng bào, song phải
đến Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, sử học Việt nam nói chung và việc dạy học lịch sử nói riêng mới có sự chuyển biến lớn
Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào Việt nam, Nguyễn ái Quốc đã vận dụng những quan điểm, nguyên lý của duy vật lịch sử để nghiên cứu nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc và thế giới,
Trang 3nhằm tố cáo chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh nhân dân, xác định con ờng cứu nớc đúng Các bài viết, tác phẩm nh : bản án chế độ thực dân Pháp, Đờng cách mệnh, Lịch sử nớc ta có nhiều nội dụng lịch sử giá trị, và là những công trình sử học Mác Xít đầu tiên ở nớc ta Hơn nữa Nguyễn ái Quốc đã thực sự giảng dạy nh một giáo viên lịch sử ở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng tại Quảng Châu( Trung Quốc) những năm 1925 – 1927, ở trờng đại học phơng đông cho các học viên việt nam, ở các lớp học của một số cán bộ ở Pắc bó Những bài viết và sách của ngời đã đi vào cuộc sống của nhân dân ta lúc bấy giờ
đ-nh đ-những tài liệu giáo khoa lịch sử Ngời cũng để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý về phơng pháp giảng dạy, nh xác định kiến thức cơ bản, cách trình bày sinh động, cụ thể, có hình ảnh, việc liên hệ
đối chiếu tài liệu lịch sử quá khứ với hiện taị để rút kinh nghiệm, bài học…
Có thể nói rằng, nhân ta coi trọng và có kinh nghiệm trong việc dạy học lịch sử, để lại cho chúng ta nhiều bài học quý cần nghiên cứu, khai thác và vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện ngày nay Việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, sâu sắc về dạy học lịch sử ở Việt Nam là yêu cầu quan trong đợc đặt ra, nhằm rút ra nhiều bài học quý cho công cuộc cải cách giáo dục bộ môn hiện nay
II.Môn lịch sử trong nhà trờng phổ thông Việt Nam 1945 –1975.
Cũng nh các môn học khác, việc dạy học bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông từ cách mạng tháng tám 1945 đến nay trải qua nhiều giai đoạn phát triển
Năm học đầu tiên sau cách mạng, Đại hội giáo giới toàn quốc tháng tám 1946 đã khẳng định ba nguyên tắc xây dựng giáo dục mới của Việt nam là: Dân tộc, khoa học, đại chúng Tuy nhiên trong hoàn
Trang 4cảnh gặp nhiều khó khăn các trờng vẫn phải tạm thời áp dụng chơng trình cũ ( tức là “ chơng trình Hoàng Xuân Hãn” ban hành dới thời chính phủ Trần Trọng Kim chứ cha có thay đổi đáng kể ).
Ngày 19 tháng 12 năm1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu
Đất nớc chia thành hai vùng khác nhau với hai nền giáo dục khác nhau ở vùng tự do, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ngành giáo dục cách mạng non trẻ gặp rất nhiều khó khăn Thầy trò phải tản c về nông thôn Giáo viên vừa thiếu vừa chịu phần nào ảnh h-ởng của t tởng “ giáo dục trung lập” Do vậy về cơ bản các môn học trong đó có môn lịch sử vẫn thực hiện theo chơng trình cũ, chỉ sửa đổi một chút Chẳng hạn bớt phần lịch sử thế giới để tăng phần lịch sử cách mạng Việt Nam
Năm 1950 cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất đợc tiến hành, xác lập hệ thống giáo dục phổ thông duy nhất: 9 năm( cấp I: 4 năm, cấp II: 3năm, cấp III: 2 năm) xây dựng nhà trờng dân chủ nhân dân thiết thực phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến Chơng trình lịch sử đợc xây dựng và áp dụng từ năm học 1950 –1951 Tính đến năm 1954, chơng trình đã đợc sửa đổi 2 lần ( 1951 –1953) theo hớng giảm nhẹ khối l-ợng kiến thức cho phù hợp với thời gian học trong kháng chiến và tăng nội dung chống phong kiến, làm nổi bật vai trò của nông dân trong lịch sử nhằm thiết thực phục vụ thời kì phát động giảm tô giảm tức Nhìn chung chơng trình lịch sử trong kháng chiến đã có những thay
đổi căn bản so với chơng trình trớc đó Lịch sử đợc trình bày và giải thích trên quan điểm duy vật lịch sử, bỏ lối dạy theo triều đại với những chi tiết về các vua chúa Nội dụng lịch sử đợc lựa chọn theo quan niệm lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp, quần chúng nhân dân
là lực lợng sáng tạo ra lịch sử Do thời gian học tập eo hẹp, điều kiện
Trang 5học tập khó khăn nên kiến thức đợc tinh giản đến mức tối đa và hết sức thiết thực.
Tuy nhiên chơng trình môn lịch sử trong giai đoạn này vẫn còn bộc
lộ những hạn chế đáng kể Thời gian hạn hẹp nên chơng trình cha đảm bảo đợc tính khoa học Trong hai năm ở cấp III, số tiết 1,5 trên một tuần, học sinh phải học toàn bộ lịch sử thế giới từ cổ đại đén hiện đại Cấu trúc của chơng trình cũng cha hợp lí ( ở cấp II học sinh đợc học toàn lịch sử dân tộc mà không đợc biết chút nào về lịch sử thế giới; ng-
ợc lại hai năm ở cấp III học sinh chỉ đợc học lịch sử thế giới mà không
đợc nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc)
Cho tới nay, chung ta không có số liệu phản ánh chất lợng học tập môn lịch sử trong giai đoạn này Song theo đánh giá chung của Bộ giáo dục chất lợng dạy học còn thấp Sự đánh giá đó không chỉ căn cứ
ở mặt hạn chế của chơng trình mà còn ở các điều kiện dạy học khác
Về SGK tuy bộ giáo dục đã tổ chức hai trại tu th, song do tình hình chiến sự và thiếu điều kiện ấn loát nên hầu nh không xuất bản đợc cuốn sách giáo khoa nào Nhiều địa phơng cũng tổ chức viết SGK nh-
ng kết quả chỉ in đợc một hai cuốn với số bản rất hạn chế Giáo viên dạy môn sử phần lớn không đợc đào tạo và bồi dỡng đầy đủ nhiều ng-
ời từ các bộ môn khác kiêm nhiệm công việc này Điều kiện trờng sở nghèo nàn, nhiều trờng phải học vào ban đêm, thời gian dạy học rất thất thờng
Tóm lại: Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài với biết bao khó khăn
của nhà trờng cũng nh điều kiện sinh hoạt và học tập của học sinh mà tiếp tục duy trì đợc việc dạy học bô môn theo chơng trình mới là một
cố gắng rất lớn, đáng tự hào của thế hệ đi trớc
Cũng trong giai đoạn này, ở vùng tạm chiếm năm 1949 –1950 Bộ
Trang 6giáo dục của Ngụy quyền cũng tiến hành cải cách giáo dục Nguyên tắc xây dựng chơng trình môn lịch sử đợc đề ra là: Lịch sử nớc nhà, bấy lâu nay bị bỏ rơi, “ sẽ đợc đặt vào vị trí một môn học xứng đáng
và trình bày giảng dạy mộc cách khoa học” Nguyên tắc là nh vậy, song khi chọn lựa và trình bày nội dung lịch sử thì lại khác Ngay từ lớp đệ ngũ, học sinh đã phải học nhiều về lịch sử nớc Pháp Những sự kiện lớn nh cách mạng tháng Mời Nga Cách mạng Trung Quốc… không đợc học trong chơng trình Còn về lịch sử dân tộc những cuộc khởi nghĩa của nông dân đều đợc coi là phiến loạn: Trái lại, cuộc xâm lợc của Đế quốc Pháp vào nớc ta thì gọi là “ Một cuộc xung đột giữa Pháp và triều đình Huế” toàn bộ chơng trình lịch sử nặng về đề cao vai trò của các dòng họ vua chúa nhất là dòng họ triều Nguyễn mà ít nhắc tới lịch sử đấu tranh của nhân dân trong công cuộc dựng nớc và giữ n-ớc
Năm 1954 ở miền Bắc vẫn song song tồn tại hai chơng trình, chơng trình phổ thông 9 năm của vùng giải phóng cũ và chơng trình trung tiểu học của vùng mới giải phóng, trong một thời gian ngắn Chơng trình lịch sử vùng mới giải phóng có đợc cải tiến( 1955 – 1956) nh rút nhẹ phần cổ sử thế giới, bớt phần lịch sử Pháp, thêm những biến cố lịch sử nh công xã Pari, cách mạng tháng mời Nga, cách mạng Trung Quốc Phần lịch sử dân tộc thêm nội dung lịch sử cách mạng và kháng chiến Tuy nhiên về cơ bản chơng trình này cũng không có gì thay đổi, chủ yếu vẫn là lịch sử của các triều đại, dung lợng kiến thức còn nặng
Trang 7nghĩa ở Việt Nam Chơng trình lịch sử cũng nh chơng trình các môn học khác của nhà trờng phổ thông đã đợc xây dựng theo tinh thần: “ Dựa trên cơ sở chue nghĩa Mác – Lênin, đào tạo bồi dỡng thanh niên
và thiếu nhi trở thành những ngời phát triển về mọi mặt, những ngời công dân tốt trung thành cho tổ Quốc, những ngời chủ tơng lai của nớc nhà có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời thực hiện thống nhất nớc nhà trên cở
sở độc lập và dân chủ”
Trong thực tế, do điều kiện thời gian gấp rút và quan niệm giản đơn không tính đến những điều kiện cần thiết để thực hiện chơng trình nhtrình độ của thầy, cơ sở vật chất của trờng nên ch… ơng trình và SGK chủ yếu là dựa vào chơng trình và SGK phổ thông 10 năm của Liên Xô Vì vậy chơng trình học tuy đảm bảo đợc tính hệ thống nhng bộc lộ những nhợc đểm mà rõ nhất là sự ôm đồm, nặng nề Học sinh cấp II học toàn bộ lịch sử thế giới từ cổ đại đến hiện đại, với tổng số giờ là
111 tiết; nên cấp III học sinh lại đợc học nâng cao phần lịch sử thế giới cận và hiện đại với tổng số giờ là 134 tiết Chơng trình và nội dung SGK quá nặng nh vậy làm cho giáo viên không dạy tốt, hiệu quả học tập của học sinh thấp
Đến năm học 1958 – 1959 trớc thực tế trên chơng trình đợc lợc giản mạnh mẽ Một số phần đợc tớc bỏ hẳn ( phần lớn lịch sử thế giới
ở cấp II, trừ một số bài thuộc thời kì hiện đại ở lớp 7 và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở cấp III) Sự lợc giản lại quá mức và tiến hành một cách đơn giản nh vậy tuy làm cho chơng trình gọn nhẹ nhng tạo ra những lỗ hổng trong hệ thống kiến thức cung cấp cho học sinh từng cấp nhất là về mặt lịch sử thế giới Vì vậy từ năm học 1960 – 1961 liên tiếp có sự điều chỉnh, bổ sung chơng trình và
Trang 8SGK để khắc phục nhợc điểm trên (1960 –1961; 1961 – 1962; 1964 – 1965; 1969 –1970).
Tóm lại: Đến trớc cải cách giáo dục lần thứ ba (1981) chơng trình và SGK lịch sử ở trờng phổ thông căn bản là theo chơng trình 1958 –
1959 Tất nhiên trong thời kì kháng chiến chống Mỹ có thay đổi chút ít
u điểm nổi bật nhất của các chơng trình trớc năm 1981 ở miền Bắc
là đã có phơng hớng t tởng chính trị đúng đắn và ngày càng rõ nét Việc lựa chọn trình bày kiến thức đã cố gắng quán triệt các quan diểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – LêNin về lịch sử và cập nhật với sự phát triển khoa học lịch sử và thực tế dạy học ở phổ thông
Tuy nhiên, sau nhiều lần chỉnh lý, chơng trình và SGK đến trớc năm
II các em không đựoc học một giờ nào về lịch sử thế giới cổ, trung cận
đại và bắt đầu học ngay lịch sử hiện đại thế giới với số giờ ít ỏi
( 10 tiết)
ở cấp III ngay từ đầu cấp học sinh học toàn bộ lịch sử thế giới từ
cổ đại đến cận đại với bao nhiêu kiến thức Do vậy quá tải đối sức nhận thức của học sinh Đồng thời để đảm bảo tính hệ thống của lịch
sử thế giới, chơng trình cấp III dành một phần hai số tiết học lịch sử
Trang 9thế giới do đó lịch sử Việt Nam chỉ đựoc học từ thế kỉ XIX trở đi Vì vậy nhận thức của học sinh cấp III về lịch sử dân tộc không khỏi nông cạn
Nhợc điểm lớn nhất của chơng trình và SGK miền Bắc từ 1959 đến trớc 1981 là tính chắp vá, cấu trúc vừa nặng nề vừa sơ lợc Ngoài ra còn có các nhợc điểm khác nh quá chú trọng đến lịch sử chính trị mà xem nhẹ lịch sử kinh tế, văn hoá: Cha chú trọng đúng mức việc trình bày lịch sử các nớc xung quanh ta và có liên quan dến lịch sử nớc ta
ở miền Nam từ 1954 đến 1975 về cơ bản cũng có hai vùng với hai
đờng lối giáo dục khác nhau
ở vùng giải phóng mục tiêu của giáo dục đợc ghi rõ ở điểm 5 trong chơng trình 10 điểm của mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam: “ Bài trừ văn hoá nô dịch đồi bại kiểu Mỹ, xây dựng một nền văn hoá và giáo dục dân tộc và tiến bộ” Chơng trình các môn học ở tr-ờng phổ thông đã đợc xây dựng trên tinh thần đó Song do hoàn cảnh khó khăn đối với cấp II và cấp III tạm thời vẫn dùng SGK của ngụy quyền đợc tu chỉnh lại
Tới năm 1972 với sự giúp đỡ của cơ quan giáo dục miền Bắc chơng trình và SGK môn sử cũng nh các môn học khác ở các trờng phổ thông vùng giải phóng đã đợc ấn hành về cơ bản Chơng trình và SGK môn
sử tiếp thu những mặt u điểm và khắc phục những nhợc điểm của
ch-ơng trình và SGK miền Bắc
ở vùng ngụy quyền quản lý, từ năm 1954 đến 1975 về cơ bản chơng trình môn sử cũng nh các môn học khác đã trải qua hai lần cải tổ:
1954 và 1970
Từ 1954 đến 1970 chơng trình môn sử đã nhiều lần cải tiến ( 1958,
1961, 1970) theo hớng cập nhật hoá với khoa học lịch sử còn về cơ
Trang 10số giờ nhiều hơn và học cả lịch sử cổ, trung đại thế giới.
Tuy nhiên, cả với hai cấu trúc nh vậy học sinh sẽ không nhận thức
đ-ợc một cách hệ thống và toàn diện lịch sử thế giới Trớc mắt học sinh lịch sử nhân loại phát triển không hề có quy luật
Ngoài điểm khác nhau về cấu trúc nh trên, về cơ bản hai chơng trình
có nhiều điểm giống nhau:
Trớc hết hai chơng trình đều đề cao lịch sử dân tộc Ngay nội dung lịch sử thế giới đợc chọn cũng tập trung vào các nớc gần ta hoặc có liên quan đến lịch sử dân tộc nh các nớc Đông Nam á, ấn Độ, Trung Quốc…
Thứ hai, là cả hai chơng trình đặc biệt là chơng trình trung học tổng hợp đã quan tâm tới quan điểm lịch sử là lịch sử văn minh trong quá trình trình bày nội dung lịch sử
Tuy nhiên cả hai chơng trình có nhiều điểm giống nhau trọng việc chọn lựa và trình bày nội dung thể hiện nhợc điểm cơ bản của nó Nh-
ợc điểm đó là quan niệm lịch sử là lịch sử của các vĩ nhân; chiều hớng phát triển của lịch sử là do các chính quyền quyết định ở đây không có vai trò của nhân dân Lịch sử dân tộc chịu ảnh hởng rất nhiều của văn