Câu thơ dịch khá hay: Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên!” Sự lãng quên của người đời càng l
Trang 1đang vồ lấy, cướp lấy “mồi” - những nạn nhân và con tàu tội nghiệp
“Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời
N ém tan tành trên mặt nước
xa khơi! C òn ai biết nổi
chìm kiếp ấy
Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi
Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi!”
Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu thương “Ô i!” (O h!) và hàng loạt câu cảm thán cùng với điệp ngữ “biết bao nhiêu” vang lên
4 lần gợi lên ám ảnh không cùng về nỗi xót thương và sự hãi hùng đối với cái chết đau đớn của các thuyền viên, thuyền trưởng
gặp thảm họa giữa biển đêm (C ombien de marins… C ombien capitaines,… combien ont disparu…, combien de patrons morts, ) Tố Hữu dịch được từ “biết bao nhiêu” hai lần: “Ô i! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng… Biết bao
đã chết rồi lá i bạn…”
2 Còn ai hay, hỡi người xấu số…
Năm tháng dần trôi qua… Trên các bến cảng, những con tàu khác vẫn ra đi, và những con tàu khác vẫn trở về cập bến Nhưng cũng có biết bao cha già, mẹ yếu đợi chờ mỏi mòn những đứa con đi b iển đã lâu ngày chưa trở về Thật đau thương
“C òn ai hay hỡi người xấu số…” Dưới đâu các đại dương, thi thể (nắm xương tàn) vẫn bị sóng xô đẩy Hai lần bị đau đớn:
chết trong hãi hùng, nay “thi thể về đâu” và “trán anh va vào đá nhô đầu!” Chết không một nấm mồ! Chết vẫn còn đau đớn:
“Giữa mênh mông, thi thể về đâu
Trán anh va vào đá nhô đầu!”
Tưởng tượng là phẩm chất của thơ Tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì cảm xúc càng sâu lắng bấy nhiêu! N ghĩ về
thịt nát xương tan của những thủy thủ, thuyền trưởng xấu số mà nhà thơ đau lòng, thương xót C ha mẹ họ mòn mỏi đời chờ
họ trên những phiến đã bờ đại dương, nay cũng đã chết cả rồi; chết trong sầu muộn, chết trong già yếu Khổ ba nói về hai cái chết: chết thảm khốc của kẻ ra đi, và cái chết lặng lẽ âm thầm của mẹ cha trong sự đợi chờ vô vọng C òn ai nữa
để khóc
thương cho những người đi b iển xấu số?
“Ô i! Biết bao mẹ cha hi vọng
N gày lại ngày trên bãi bờ quê
N góng trông ai không thấy trở về!”
Sự ám ảnh và nỗi lo âu của mẹ cha già yếu, chết mòn mỏi trong đợ chờ tuyệt vọng - Trong nguyên tác chưa
được lột tả đầy đủ trong bản dịch thơ này
Mỗi tối đến, lúc lên đèn trong những mái nhà êm ấm nơi quê hương, trên những bến bờ xứ sở, cũng có người nhắc đến tên
các anh - những người xấu số đi mãi chưa về Người thân thương chỉ còn biết nhớ lại, gợi lại tiếng cưới, câu hát, chuyện phiêu
lưu và nụ hôn thầm lén của người yêu xưa Kỷ niệm càng chồng chất thì nỗi đau mất mát người thân yêu càng xót xa thương cảm:
“C ó khi người nhắc đến tên anh
Trong khúc hát, tiếng cười,
câu chuyện, Giữa cái hôn của
cả người yêu,
Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu!”
Thương nhớ rồi hy vọng Mãi vẫn không thấy anh trở về Cũng có người thầm nhắc, băn khoăn tự hỏi: hay các anh (K ẻ
đắm tàu đã chết trên đại dương mịt mùng) đã trở thành vua hải đảo nào, hay đang sống trong cuộc đời giàu sáng mà
Trang 2nhạt tình
quê hương? Dòng chảy thời gian trôi mãi…, trôi mãi N ăm tháng mờ xa dần: “Rồi chẳng ai còn nhớ… dần tan” Câu thơ:
“Thân trong nước, tên trong trí nhớ” là một câu thơ hay, cảm động Hình ảnh cụ thể đặt trong thế sánh đô i: “Thân trong
nước” (hình ảnh thể xác - một nắm xương tan) và “tên trong trí nhớ) (hình ảnh tinh thần) Tất cả đều rơi vào quên lãng Các từ
ngữ: “trí nhớ”, “thời gia n”, “bóng đen”, “biển sâu”, “lòng lãng quên” được phối hợp trong một chỉnh thể ngôn ngữ để diễn tả
nỗi đau lòng và thương cảm của nhà thơ trước sự khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng C hẳng còn thấy ai nhớ đến những người đi b iển xấu số Câu thơ dịch khá hay:
Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan
Thân trong nước, tên trong trí nhớ…
Thời gian qua dần phủ bóng đen
Trên biển sâu và lòng lãng quên!”
Sự lãng quên của người đời càng làm cho nỗi đau dồn tụ lại, nén chặt lại trong lòng người vợ góa - người cô phụ!
Đã bao nhiêu đêm dài, bao năm tháng dằng dặc, nàng đợi chờ người chồng xấu số Tuổi xuân đã trôi qua Trong lúc người đời bận
rộn với công việc làm ăn (chài lưới, cày ruộng…) “chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa” thì chỉ có người vợ góa đau khổ
“bơ phờ
mỏi mắt” buồn tủi, đau xót thương nhớ người chồng thân yêu đi b iệt mãi Mọi kỉ niệm đẹp một thời bi phủ dưới “lớp tro tàn”
của thời gia n được người vợ nhắc lại trong nỗi đau tê tái:
“Chỉ đêm đêm, giông
bão gào lay Những
người vợ bơ phờ mỏi
mắt Kể về anh, khêu
lớp tro tàn
Của lòng đau và của lo than!”
Hình ảnh “lớp tro tàn”, “lòng đau”, “lò than” cực tả nỗi đau khôn nguôi trong lòng người cô phụ Đau trong nỗi đau
cô đơn,
chỉ mình nàng biết, chỉ mình nàng hay!
Trong phần hai của bài thơ “Biển đêm”, tứ thơ vận động theo quy luật thời gian và dòng đời Khổ 3, nói về sự
nhớ
thương của cha me… Khổ 4, người thân yêu nhắc lại những hình ảnh và kỉ niệm về những kẻ viễn du trên những con tàu đi
mãi chưa về Khổ 5, nói về sự quên lãng của người đời đối với các anh Khổ 6 nói về thương nhớ, đau xót không
nguôi của những người vợ goá trong những đêm dài Có thể nó i tiếng thơ của Huygô đã diễn tả một cách sâu sắc, cảm động nỗi đau
trong 9 tầng sâu của lòng người - những người vợ có chồng đã chết thê thảm trong bão tố giữa mịt mùng biển đêm
3 Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ…
Hai khổ cuối d iễn tả nỗi lòng nhà thơ đối với những thủy thủ vĩnh viễ vùi xác dưới các đại dương Thủ phát
nghệ thuật tương phản được vận dụng thần tình để làm nổi bật tấm lòng nhân đạo bao la của tác giả
Sự lãng quên vĩnh viễn về số phận bi thảm của những người bị đắm tàu là qui luật khắc nghiệt của thời gian và sự bận rộn
của cuộc đời Sau khi những người vợ góa qua đời thì cảm thương thay, chẳng còn một ai nhắc đến tên các anh Hòn
đá, cây
liễu, người hành khất và bài hát buồn… nào ai còn nhớ đến anh đâu! Cỏ cây… và lòng người đều quên lãng C ác thuyền viên, thuyền trưởng đều trở thành cô hồn giữa đại dương:
“Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh
Cả gốc liễu mùa thu trút lá
Trang 3Và cả người hành khất bên cầu
Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu!”
Rồi nhà thơ xúc động cất lên lời than Huygô như đang nhìn vào nơi đây sâu thẳm đại dương mà đau xót:
Ô i! Đâu hết những người thủy thủ
C hìm trong đêm, bi thảm đời người”
Sóng thủy triều mỗi buổi chiều dâng lên như đang cùng nhà thơ đối thoại và chia sẻ với bao nỗi thương tâm Sóng như một chứng nhân về thảm họa một đêm không trăng trên đại dương thuở nào đang thầm thì với nhà thơ Chỉ có sóng - tượng trưng
cho thiên nhiên vĩnh hằng, chiều chiều cùng với thủy triều dâng lên như những bài ca bất tận về những người
đã khuất trên biển
đêm Sóng đại dương mãi mãi chia sẻ với nhà thơ nỗi đau lòng, thương cảm đối với những người bất hạnh vùi thân dưới đáy
đại dương mịt mùng Sóng đã được nhân hóa, sóng đang cùng nhà thơ cảm thương đau xót, kể lại nhưng câu chuyện đau lòng
cho những người mẹ đang quỳ gối nguyện cầu
Vần thơ mang sắc điệu trữ tình rung lên như một tiếng lòng nức nở thể hiện đằm thắm, thiết tha chủ nghĩa nhân đạo bao la
của Huygô:
“K inh hoàng bao
lòng mẹ, biển ơi!
Phải chăng lúc
triều lên sóng vỗ
Những tiếng
người tuyệt bọng
kêu la Mỗi chiều
về, lại đến cùng
ta!”
Những người b iết tiếng Pháp chút ít, mỗi lần đọc đến câu thơ cuối bài, rất lấy làm thú vị về âm điệu, nhạc điệu ngân rung
được Huygô diễn tả một cách tinh tế qua các điệp thanh, các phụ âm “v” dồn dập như những làn sóng biển:
“Que vous ave z le soir quand vous venez vers nous!” “Biển đê m” là một bài thơ chứa chan tinh thần
nhân đạo
Cái chết bi thảm của những thủy thủ trên đại dương để lại bao lỗi đau lòng thương nhớ không nguôi trong lòng người
Trong dòng chảy của cuộc đời và thời gian, dù họ có bị quên lãng đi trong lòng người, thì Huygô và ngàn năm sóng vỗ vẫn xót thương không cùng đối với họ
Huygô là nhà thơ tiêu biểu nhất của chủ nghĩa lãng mạn Pháp Lấy “Biển đêm”, lấy màn đêm để lột tả thiên nhiên bí ẩn, hãi hùng, để diễn tả nỗi đau âm thầm, để nhà thơ chìm sâu trong suy tưởng để trầm ngâm hoặc đối thoại với lò ng mình về nỗi đau nhân thế và số phận đau thương của con người, về cái
chết và nỗi đau trên cõi đời, về cái mất và cái còn trong dòng chảy
thời gia n
K hông gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong “Biển đêm” cho ta nhiều ám ảnh về nỗi thương đau Phải chăng “Biển
đêm” trong thơ Huygô cũng là “bể trầm luân” trong văn học cổ Việt N am, trong thơ N guyễn Du?
Con đường mùa đông
Puskin - 1826
Xuyên qua sương mù gợn sóng
Mặt trăng nhô ra
Trăng buồn bã dội ánh sáng Lên
Trang 4cánh đồng u buồn
Trên đường mùa đông buồn tẻ
Xe tam mã vun vút lao đi, Lục
lạc đơn điệu
Mệt mỏi rung lên
C ó gì vang lên thân thiết
Trong các khúc hát ngân nga của xà ích
K hi thì niềm vui rộn rã
K hi thì nỗi buồn tâm tình…
K hông một ánh lửa mái lều
Rừng sâu và tuyết… Ngược chiều tôi Chỉ có cột sọc chỉ đường
Chạy tới…
C hán ngán, buồn qua,… ngày mai, N hina
N gày mai, quay về với em yêu Tôi
sẽ lặng người bên lò sưởi, Ngắm em không chán mắt
K im đồng hồ tích tắc
Q uay hết vòng đều đều của nó, Và
xua đám người tẻ ngắt
Nửa đêm, không rẽ chia ta
Buồn quá N hina đường tôi đi tẻ ngắt, Bác xà ích lặng lẽ thiu thiu,
Tiếng lục lạc đơn điệu, Mặt
trăng mờ sương
Xuyên những làn sương gợn sóng Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua,
Buồn rải ánh vàng lai láng
Lên cánh đồng buồn dăng xa
Trên đường mùa đông vắng vẻ
Cỗ xe tam mã băng đi,
Nhạc ngựa đều đều buồn tẻ
Đều đều khắc khoải lòng quê
Bài ca của người xà ích
Có gì phảng phất thân yêu Như niềm vui mừng khôn xiết Như nỗi buồn
nặng đìu hiu…
K hông một mái lều, ánh lửa, Tuyết
trắng và rừng bao la… Chỉ những
cột dài cây số
Bên đường sừng sững chào ta
Trang 5Ô i buồn đau,
ôi cô lẻ…
Trở về với em
ngày mai, N
hina, bên lò
lửa đỏ,
Ngắm em, ngắm mãi không thôi
K im đồng hồ kêu tích tắc
Xoay đi những vòng
nhịp nhàng, Và xua lũ
người tẻ ngắt
Để ta bên nhau trong đêm
Sầu lắm, N hina, đường
xa vắng, Ngủ quên bác
xà ích lặng im,
Nhạc ngựa đều đều buông
xa thẳm, Sương mờ che lấp
ánh trăng nghiêng
(Thúy Toàn dịch thơ)
Lời bình
“Con đường mùa đông” là nhà thơ trữ tình nổi tiếng của Puskin, đã được phổ nhạc, trở thành ca khúc lưu truyền
rộng
rãi Puskin viết bài thơ này vào mùa đông năm 1826, khi ông còn bị quản thúc tại miền quê Mikhailôpxcôiê, vùng quê ngoại thuộc tây Bắc Nga Âm điệu trữ tình chủ đạo của bài thơ là âm điệu buồn Từ cảnh vật đến lòng
người tỏa rộng và thấm sâu một nỗi buồn cô đơn
Bốn khổ thơ đầu là một không gian nghệ thuật phủ mở một lớp sương mù bao la, mênh mông Ánh trăng dội ánh sáng xuống cánh đồng khi mặt trăng nhô ra, xuyên qua màn sương mù gợn sóng Cảnh vật vắng lặng, bao la và buồn man mác:
“Xuyên những làn sương gợn sóng
Mảnh trăng mờ ảo
chiếu qua, Buồn rải
ánh vàng lai láng
Lên cánh đồng buồn dăng xa”
C ái nhìn mênh mang về màn sương mờ, ánh trăng mờ và cánh đồng mờ xa Hình như nhà thơ đăm chiêu cảm nhận cảnh vật trong sự mơ màng và xúc động N hìn xa rồi nhìn gần, nhân vật trữ tình lặng ngắm con đường mùa đông vắng
vẻ Chỉ có một
cỗ xe tam mã băng đi về phía trước, “xe vun vút lao đi” Tiếng lục lạc đơn điệu, mệt mỏi rung lên Bao dặm đường xa
đã
vượt qua, người lữ hành không chỉ “buồn” mà còn “mệt mỏi” Tâm hồn như dịu lại trong tiếng hát “ngân nga” của người xà
ích K húc hát vang lên “thân thiết”, bài dân ca N ga lúc vui, lúc buồn như đang xoa dịu bao nỗi buồn trong lòng nhà thơ:
“K hi thì niềm vui rộn rã
K hi thì nỗi buồn tâm tình”…
N hà thơ lấy âm thanh “vun vút” của chiếc xe lao đi, tiếng lục lạc, tiếng hát… để diễn tả cảnh vật và con đường mùa đông giữa đêm khuya vô cùng vắng vẻ, mênh mông và buồn Nỗi lòng của người lữ khách cô đơn và buồn không kể xiết!
Cảnh vật càng trở nên cô quạnh C hiếc xe tam mã, người lữ hành… như đang bị bao vây bởi “rừng sâu và tuyết”
Chỉ có,
Trang 6chỉ thấy những cột cây số “hữu tình mà vô cảm” đang ngược chiều, chạy tới, không gian đã trải rộng lại trải rộng
thêm ra Con đường mùa đông đã dài lại được kéo dài tưởng như vô tận Bao phủ cảnh vật là màu trắng của tuyết,
màu đen sẫm
của rừng Cảnh sắc thiên nhiên mùa đông nước Nga được miêu tả một cách tinh tế và chọn lọc nhằm tô đậm nỗi buồn
cô đơn
và lạnh lẽo của người lữ khách
“K hông một mái
lều, ánh lửa, Tuyết
trắng và rừng bao
la… Chỉ những cột
dài cây số
Bên đường sừng sững chào ta.”
Hai khổ thơ 5 và 6 nói lê n tâm trạng nhớ thương của người lữ khách Bài hát của người xà ích lúc vui lúc buồn
cũng không thể xoa dịu bao nỗi buồn cô đơn đầy ắp trong lòng chàng trai đang ngồi trên cỗ xe tam mã lao vun vút trên con đường
mùa đông giữa đêm khuya lạnh lẽo Đó là hành trình đi cày của nhà thơ Con đường mùa đông xa lắc đầy tuyết
còn mang ý nghĩa tượng trưng cho mọi thử thách gian khổ mà chàng trai quý tộc khao khát tự do đang nếm trải Câu
thơ: “Ô i đau buồn, ôi cô lẻ…” nói lên nỗi buồn cô đơn của người đi đày Nhưng không tuyệt vọng, không bi luỵ N
hà thơ
thầm gọi tên người yêu Hy vọng được trở về trong sum họp đầy hạnh phúc Hai tiếng “ngày mai… ngày mai…” trong nguyên
tác như một điệp âm của khúc tâm tình xôn xao Hy vọng được trở về gặp lại người yêu Trong tuyết lạnh mà nghĩ về
lò lửa
đỏ, mái ấm hạnh phúc gia đình, trong chia li mà nghĩ đến đoàn tụ, trong xa vắng mà hy vọng trở về gặp N hina -
người yêu thương - đó là “nỗi buồn trong s áng” như lời nhận xét của nhà phê bình văn học Biê linxki
Lòng người lữ hành dịu lại, man mác bâng khuâng:
“Ô i buồn đau,
ôi cô lẻ… Trở
về với em
ngày mai, N
hina, bên lò
lửa đỏ,
Ngắm em, ngắm mãi không thôi.”
Rồi chàng chìm trong mộng tưởng “Ngắm em không chán mắt… Nửa đêm, không rẽ chia ta” Phải chăng chiếc đồng hồ
cổ và tiếng kêu “tích tắc” của nó như một kỷ vật nhắc nhở bao hoài niệm thương yêu?
Khổ thơ cuối bài diễn tả sâu hơn tâm trạng người lữ hành, từ mơ tưởng trở về thực tại, với con đường mùa đông
lạnh lẽo,
con đường đi đày với nỗi buồn xa vắng cô đơn Lại thì thầm nhắc tên người yêu để cố xua đi một phần nào nỗi buồn
cô đơn:
“Buồn quá, N hina, đường tôi đi tẻ ngắt…” Bác xà ích đã thiu thiu ngủ trong lặng lẽ Con đường mùa đông càng về khuya
càng trở nên vắng vẻ, hiện lên trong ánh trăng và sương mở Tiếng lục lạc đơn điệu vẫn rung lên như nhịp điệu của một bài ca buồn Người lữ khách lặng lẽ ngắm mặt trăng nhòe đi trong màn sương Lấy tiếng lục lạc và mặt trăng mờ sương
là 2 nét vẽ
tài hoa để tô đậm nỗi buồn cô đơn và sự vắng lặng của con đường mùa đông một đêm tuyết lạnh Đây là khổ thơ dịch hay nhất của Thúy Toàn:
“Sầu lắm, N hina,
đường xa vắng, Ngủ
quên bác xà ích lặng im,
Trang 7Nhạc ngựa đều đều buông
xa thẳm, Sương mờ che lấp
ánh trăng nghiêng”
Trong bài thơ “Con đường mùa đông” này, từ “buồn” xuất hiện với tần số rất cao Có trăng buồn và cánh đồng
buồn
Có con đường mùa đông buồn tẻ và vắng lặng Có tâm hồn chán ngán buồn… buồn quá, buồn cô đơn Có
tiếng lục
lạc đơn điệu buồn Sự xuất hiện của những cột cây số, rừng sâu và tuyết… càng làm cho nỗi buồn thê m phần
cô đơn
và lạnh lẽo
Có điều, sự xuất hiện của bài dân ca Nga qua tiếng hát của xà ích và hình ảnh N hina, cô gái N ga cùng với ngọn lửa
lò sưởi
là những điểm tựa nâng đỡ tâm hồn người lữ khách một đêm trăng mờ sương trên con đường mùa đông tuyết trắng C hất trữ
tình nồng nàn, chất thi vị đậm đà của bài thơ này được thể hiện một cách tài hoa qua cảnh sắc và âm thanh ấy
Con đường mùa đông là con đường lưu đày, là con đường li b iệt Người lữ hành - trong tâm tưởng - vẫn mang
theo hình
ảnh người con gái N ga yêu thương, vẫn hy vọng ngày mai trở về, sum họp trong mái ấm hạnh phúc Cảm hứng đoàn
tụ yêu thương và cảm hứng tự do tạo nên sắc điệu thẩm mĩ trong áng thơ chứa chan thi vị này
Lá thư bị đốt cháy
Puskin
1 Thôi từ biệt, lá thư của tình yêu, từ biệt
Nàng đã quyết sao ta còn luyến tiếc
Sao bàn tay mãi chẳng chịu buông ra
Cho lửa thiêu hết thảy niềm vui sướng của ta!
2 Nhưng đã đủ
Hỡi tình thư bốc
cháy! Tâm hồn ta
không còn nghe,
chẳng thấy Ngọn lửa
tham đã nhận bức
thư em… Gượm
chút nào! Một làn
khói nhẹ êm Quần
quại, tan đi với lời ta
cầu khẩn
Vết xi cháy sủi lên, tan hình chiếc nhẫn
Ô i trời đất, tất cả thế là xong!
Những trang giấy đen
còn hãy quăn xong,
Tàn mỏng mảnh còn
ghi trăng trắng chữ…
3 Lòng thắt lại
Tàn thân yêu quý
hỡi! Một niềm vui
nghèo cực xót xa
Còn lại đời đời trên ngực với ta
Xuân Diệu dịch
Dịch nghĩa
Vĩnh biệt, lá thư của tình yêu, vĩnh biệt! Nàng đã ra lệnh…
Trang 8Sao tôi chần chừ lâu thế, sao bàn tau lâu chẳng chịu
Giao cho ngọn lửa tất cả mọi niềm vui của tôi
Nhưng đủ rồi, giờ đã đến Cháy đi
bức thư của tình yêu! Tôi đã sẵn
sàng Lòng tôi giờ chẳng còn lắng
nghe gì nữa Ngọn lửa tham lam
đang nhận lấy từng trang thư của em
K hoan một phút thôi! Bùng lên… cháy rồi… làn khói nhẹ
Cuộn quanh tan đi cùng với lời
cầu nguyện của tôi Vết xi gắn
đã cháy sủi lên làm tiên tan mất
Dấu ấn chiếc nhẫn thủy chung… Ô i thiên mệnh!
Đã hoàn thành rồi! N hững tờ giấy đen quăn cong lại
Trên tàn mỏng mảnh còn trăng trắng
nét chữ thân thương N iềm nui nghèo
nàn trong cuộc đời sầu bi của tôi
Hãy còn lại mãi mãi cùng tôi trên tấm ngực đau thương
Phân tích
Puskin (1799-1836) là “Mặt trời thơ ca của nước Nga” N goài những trường ca “Người tù
KapKaz”, “Kị sĩ
đồng”…, ông còn để lại 800 bài thơ trữ tình, trong đó có nhiều bài thơ tình rất nổi tiếng Bài thơ “Lá thư bị đốt cháy” được
Puskin sáng tác vào năm 1825, khi nhà thơ còn bị chính quyền chuyên chế N ga hoàng lưu đầy và bị quản thúc tại là ng
M ikhailốpxkôiê - quê ngoại hẻo lánh thuộc miền Tây Bắc Nga Mặc dù bị cách li với thế giới rộng lớn bên ngoài, nhưng ông
vẫn được sáng tác, được in những tác phẩm của mình và trao đổi thư từ với bạn bè và người thân
“Lá thư bị đốt cháy” thể hiện nghệ thuật sử dụng chi tiết trong bút pháp trữ tình của Puskin để diễn tả cảm xúc và tâm trạng một cách nồng nàn nhất, say đắm nhất
“Lá thư” là của người yêu phương xa gửi tới, trên có gắn xi, có in “dấu ấn chiếc nhẫn thủy chung”
Người yêu của nhà thơ
là một người đẹp đã “ngự trị” trong tâm hồn nhà thơ, đầy “quyền uy” Phái là người đẹp được nhà thơ “tôn thờ” nên “Nàng đã
ra lệnh” cho người tình đọc xong phải đốt thư ngay Đó là mệnh lệnh của trái thu, của tình yêu Mặc dù vậy, chàng trai vẫn
“chần chừ”, vẫn giữ lại trong tay “lâu chẳng chịu” trao cho ngọn lửa Bức thư tình của người đẹp quý giá biết bao nhiêu
Trong hoàn cảnh bị quản thúc mất tự do, sống trong cô đơn, thì bức thư tình của người yêu nơi xa xôi gửi đến là vô giá, vì nó
là “tất cả mọi niềm vui” của Puskin N hà thơ thốt lên hai lần tiếng “vĩnh biệt” điều đó nói lên nỗi đau vô hạn của mình, khi phải đốt cháy bức tình thư! K hông hiểu vì sao, thi sĩ Xuân Diệu thay bằng “từ biệt” trong bản dịch thơ?
“Thôi từ biệt, lá thư của tình yêu, từ biệt
Nàng đã quyết sao ta còn luyến tiếc
Sao bàn tay mãi chẳng chịu buông ra
Cho lửa thiêu hết thảy niềm vui sướng của ta!”
Câu thơ trong nguyên tác viết dưới hình thức câu hỏi tu từ cực tả sâu sắc nỗi đau đớn, sự ngập ngừng luyến tiếc, phút chần
chừ do dự của nhà thơ trước khi đốt cháy bức thư: “Sao tôi chần chừ lâu thế, sao bàn tay lâu chẳng
chịu…”
Cuốc đấu tranh nội tâm diễn ra: đốt bức thư tình, làm theo điều “nàng đã ra lệnh” hay giữ lại kỷ vật thiêng
Trang 9liêng chứa đựng
trong đó, nét chữ, giọng tâm tình, lời yêu thương nồng nàn say đắm… Đốt bức tình thư trong hoàn cảnh ấy đối với Puskin là
một hành động cao thượng, tự hy sinh vì tình yêu M ột chút ngập ngừng và người con trai phải làm theo “mệnh lệnh” người yêu, châm lửa đốt Dòng thơ bị cắt ra thành nhiều câu diễn tả sự ngập ngừng, thảng thốt:
“Nhưng đủ rồi, giờ đã đến Cháy đi bức thư của
tình yêu! Tôi đã sẵn sàng Lòng tôi giờ chẳng còn
lắng nghe gì nữa.”
Tâm hồn ta không còn nghe, chẳng thấy người con trai đau đớn, bàng hoàng nhìn ngọn lửa và bức thư bén lửa bốc cháy
Lời thơ run lên cùng nỗi lòng đau đớn,
xót xa: “Ngọn lửa tham đã
nhận bức thư em… Gượm
chút nào! Một làn khói nhẹ
êm”
Puskin đã sử dụng và sáng tạo một hình ảnh ẩn dụ - nhân hóa để làm nổi bật nỗi lòng xót xa, tiếc nuối khi nhình bức tình
thư đang cháy: “Ngọn lửa tham lam đang nhận lấy từng trang thư của em” N hà thơ cầu khẩn van lơn: “Gượm chút nào! ” Những câu thơ tiếp theo tả làn khói, ngọn lửa, vết xi gắn trên bức thư in dấu ấn chiếc nhẫn… Ba tiếng: “Ô i thiên mệnh!” như
một tiếng kêu rên Thiên mệnh là mệnh trời Một tình yêu đẹp do trời sắp đặt Bức thư bị đốt cháy cũng là do ý trời Hình ảnh bức thư bị đốt cháy đối với người con trai mang màu sắc cao cả thiêng liê ng:
“Quần quại, tan đi với lời ta
cầu khẩn Vết xi cháy sủi lên,
tan hình chiếc nhẫn Ô i trời
đất, tất cả thế là xong!”
Xuân Diệu không dịch được các từ ngữ: “Thủy chung”, “thiên mệnh!” Việc dịch thơ là một sáng tạo nghệ thuật chẳng chút
dễ dàng
Thương tiếc, đau đơn, nhìn đăm đăm vào mảnh tro tàn - như một vết thương lòng nhức nhối - người con trai đa tình vẫn
còn tìm thấy “trăng trắng nét chữ thân thương” của người yêu N hững nét chữ ấy như linh hồn của lá thư tình bị đốt cháy Đó
là di bút của một thiên diễm tình Cũng như hoa tàn, hoa rụng, nhưng hương hoa còn phảng phất trong không gian,
lá thư
bị đốt cháy rồi mà chàng trai vẫn còn lưu luyến nhìn những “nét chữ thân thương” in rõ trên mảnh tro tàn “trăng trắng” Hình
ảnh “Những tờ giấy đen quăn cong lại” tương phản với “trăng trắng nét chữ thân thương” khẳng định một tình yêu
đẹp, trong sáng, thủy chung Lá thư tuy bị đốt cháy nhưng tình yêu đô i lứa vẫn sống mãi trong trái tim nhà thơ “Tờ
giấy đen quăn cong lại” chỉ “thác là thể phách” còn tình yêu là mãi mãi “hồn còn tinh anh” như “trăng trắng nét chữ thân thương” ấy
Ba dòng cuối của bài thơ thể hiện nỗi đau đơn, thương tiếc của người con trai khi nhìn thấy mảnh tro tàn Phải yêu tha thiết
lắm, trân trọng, quý trọng, luyến tiếc lá thư của người yêu - kỉ vật thiêng liêng - thì tự đáy lòng mới cất lên lời thơ nghẹn ngào,
như thắt lòng lại như thế:
“Lòng thắt lại Tàn thân yêu
quý hỡi! Một niềm vui
nghèo cực xót xa
Còn lại đời đời trên ngực với ta”
Trang 10Trong hoàn cảnh bị quản thúc cách biệt với thế giới bao la, phải xa cách bạn bè và người yêu thì một lá thư tình nhận được,
đúng là “niềm vui nghèo nàn trong cuộc đời sầu bi” của mình Lá thư bị đốt cháy rồi, nhà thơ lẳng lặng, xót xa, đau đớn, buồn tủi Nét chứ, giọng điệu, tâm tình và hình ảnh người yêu “hãy còn lại mãi mãi… trên tấm ngực đau
thương” của
người Lá thư tình bị đốt cháy rồi nhưng tình yêu thủy chung của giai nhân vẫn đằm thắm, thiết tha trong trái tim chàng trai đa tình
Bài “Lá thư bị đốt cháy” thuộc thể loại bi ca trong sáng tác của Puskin Bài thơ thể hiện một tình yêu sâu nặng, thiết tha,
một tấm lòng quý trọng đến mức tôn thờ người yêu Đốt bức thư tình trong cảnh ngộ nhà thơ là một hành động vô cùng cao thượng N gôn ngữ trong sáng Câu cảm thán, câu hỏi tu từ liên kết nhau biểu đạt mãnh liệt cảm xúc đau đớn, xót xa khi nhìn
lá thư tình bị đốt cháy Hình ảnh lá thư bốc cháy trên “ngọn lửa tham” là một biểu tượng đầy ám ảnh
Xuân Diệu viết: “Yêu là chết ở trong lòng một ít” - câu thơ ấy giúp ta cảm nhận bài thơ tình “Lá thư bị đốt
cháy” của
Puskin
Vài nét về tác giả
Lép Tônxtôi (1828-1910) là đại văn hào của nước Nga xuất thân trong một gia đình đại quý tộc Tên tuổi và sự nghiệp
văn chương của ông lừng danh thế giới, là niềm tự hào của người N ga trong gần hai thế kỷ nay
Lép Tônxtôi để lại hàng vạn trang bản thảo Toàn tập Tônxtôi gồm 90 tập Ô ng là tấm gương lao động nghệ thuật kỳ diệu Trong 60 năm cầm bút, ngoài hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết, trong đó có những tác phẩm văn chương mang
tầm nhân loại: Bộ tiểu thuyết tự thuật: “Thời thơ ấu, thời niê n thiếu”, “Thời thanh niên”, “C hiến tranh và hoà bình”,
“Anna
K arênina”, “Đức cha Xerghi”, v.v…
Chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tình yêu nhân dân và niềm tự hào về đất nước Nga vĩ đại - là những tư tưởng tình cảm sâu
sắc nhất, tráng lệ nhất thấm đẫm trang văn và cuộc đời của Lép Tônxtôi
M.Sôlôkhốp, nhà văn Nga được giải thưởng N obel về văn chương đã viết: Lép Tônxtôi luôn sống trong văn
học Nga
và văn học thế giới như một đỉnh cao hùng vĩ không vươn tới được”
Phân tích đoạn văn “Hai tâm trạng” rút trong tác phẩm “Chiến tranh và Hòa bình” của Lép
Tônxtôi
“Hai tâm trạng” trích trong tập 2 bộ tiểu thuyết “C hiến tranh và Hòa bình” của đại văn hào Lép Tônxtôi Thời
gian được
nói đến trong đoạn văn là mùa xuân và mùa hè năm 1809, hơn 3 năm sau trận đánh đẫm máu Aoxteclit diễn ra, liên quân Áo
- Nga bị Napôlêông đánh cho đại bại Anđrây bị thương nặng, ước mơ dùng tài thao lược và lòng dũng cảm của mình chuyển
thế trận bị tan vỡ, giấc mộng Tulông vỡ tan thành Trở về nhà đúng lúc vợ chàng - nữ công tước Lida - sinh được đứa con trai
rồi nàng chết Con đường công danh…, bi kịch gia đình… đẩy Anđrây vào một cuộc khủng hoảng tinh thần ghê gớm
Từ đó, chẳng thiết gì đến công danh, sự nghiệp, chàng ở miết tại nông thôn, chăm lo công việc điền trang và cậu con trai bé bỏng, mồ
côi mẹ
Mùa xuân năm 1809, Anđrây đi về Riada thăm các điền trang của vợ chàng để lại cho con trai Lúc đi qua một