1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn tập văn học 11 part 6 pdf

13 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 319,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu thơ dịch khá hay: Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên!” Sự lãng quên của người đời càng l

Trang 1

đang vồ lấy, cướp lấy “mồi” - những nạn nhân và con tàu tội nghiệp

“Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời

N ém tan tành trên mặt nước

xa khơi! C òn ai biết nổi

chìm kiếp ấy

Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi

Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi!”

Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu thương “Ô i!” (O h!) và hàng loạt câu cảm thán cùng với điệp ngữ “biết bao nhiêu” vang lên

4 lần gợi lên ám ảnh không cùng về nỗi xót thương và sự hãi hùng đối với cái chết đau đớn của các thuyền viên, thuyền trưởng

gặp thảm họa giữa biển đêm (C ombien de marins… C ombien capitaines,… combien ont disparu…, combien de patrons morts, ) Tố Hữu dịch được từ “biết bao nhiêu” hai lần: “Ô i! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng… Biết bao

đã chết rồi lá i bạn…”

2 Còn ai hay, hỡi người xấu số…

Năm tháng dần trôi qua… Trên các bến cảng, những con tàu khác vẫn ra đi, và những con tàu khác vẫn trở về cập bến Nhưng cũng có biết bao cha già, mẹ yếu đợi chờ mỏi mòn những đứa con đi b iển đã lâu ngày chưa trở về Thật đau thương

“C òn ai hay hỡi người xấu số…” Dưới đâu các đại dương, thi thể (nắm xương tàn) vẫn bị sóng xô đẩy Hai lần bị đau đớn:

chết trong hãi hùng, nay “thi thể về đâu” và “trán anh va vào đá nhô đầu!” Chết không một nấm mồ! Chết vẫn còn đau đớn:

“Giữa mênh mông, thi thể về đâu

Trán anh va vào đá nhô đầu!”

Tưởng tượng là phẩm chất của thơ Tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì cảm xúc càng sâu lắng bấy nhiêu! N ghĩ về

thịt nát xương tan của những thủy thủ, thuyền trưởng xấu số mà nhà thơ đau lòng, thương xót C ha mẹ họ mòn mỏi đời chờ

họ trên những phiến đã bờ đại dương, nay cũng đã chết cả rồi; chết trong sầu muộn, chết trong già yếu Khổ ba nói về hai cái chết: chết thảm khốc của kẻ ra đi, và cái chết lặng lẽ âm thầm của mẹ cha trong sự đợi chờ vô vọng C òn ai nữa

để khóc

thương cho những người đi b iển xấu số?

“Ô i! Biết bao mẹ cha hi vọng

N gày lại ngày trên bãi bờ quê

N góng trông ai không thấy trở về!”

Sự ám ảnh và nỗi lo âu của mẹ cha già yếu, chết mòn mỏi trong đợ chờ tuyệt vọng - Trong nguyên tác chưa

được lột tả đầy đủ trong bản dịch thơ này

Mỗi tối đến, lúc lên đèn trong những mái nhà êm ấm nơi quê hương, trên những bến bờ xứ sở, cũng có người nhắc đến tên

các anh - những người xấu số đi mãi chưa về Người thân thương chỉ còn biết nhớ lại, gợi lại tiếng cưới, câu hát, chuyện phiêu

lưu và nụ hôn thầm lén của người yêu xưa Kỷ niệm càng chồng chất thì nỗi đau mất mát người thân yêu càng xót xa thương cảm:

“C ó khi người nhắc đến tên anh

Trong khúc hát, tiếng cười,

câu chuyện, Giữa cái hôn của

cả người yêu,

Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu!”

Thương nhớ rồi hy vọng Mãi vẫn không thấy anh trở về Cũng có người thầm nhắc, băn khoăn tự hỏi: hay các anh (K ẻ

đắm tàu đã chết trên đại dương mịt mùng) đã trở thành vua hải đảo nào, hay đang sống trong cuộc đời giàu sáng mà

Trang 2

nhạt tình

quê hương? Dòng chảy thời gian trôi mãi…, trôi mãi N ăm tháng mờ xa dần: “Rồi chẳng ai còn nhớ… dần tan” Câu thơ:

“Thân trong nước, tên trong trí nhớ” là một câu thơ hay, cảm động Hình ảnh cụ thể đặt trong thế sánh đô i: “Thân trong

nước” (hình ảnh thể xác - một nắm xương tan) và “tên trong trí nhớ) (hình ảnh tinh thần) Tất cả đều rơi vào quên lãng Các từ

ngữ: “trí nhớ”, “thời gia n”, “bóng đen”, “biển sâu”, “lòng lãng quên” được phối hợp trong một chỉnh thể ngôn ngữ để diễn tả

nỗi đau lòng và thương cảm của nhà thơ trước sự khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng C hẳng còn thấy ai nhớ đến những người đi b iển xấu số Câu thơ dịch khá hay:

Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan

Thân trong nước, tên trong trí nhớ…

Thời gian qua dần phủ bóng đen

Trên biển sâu và lòng lãng quên!”

Sự lãng quên của người đời càng làm cho nỗi đau dồn tụ lại, nén chặt lại trong lòng người vợ góa - người cô phụ!

Đã bao nhiêu đêm dài, bao năm tháng dằng dặc, nàng đợi chờ người chồng xấu số Tuổi xuân đã trôi qua Trong lúc người đời bận

rộn với công việc làm ăn (chài lưới, cày ruộng…) “chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa” thì chỉ có người vợ góa đau khổ

“bơ phờ

mỏi mắt” buồn tủi, đau xót thương nhớ người chồng thân yêu đi b iệt mãi Mọi kỉ niệm đẹp một thời bi phủ dưới “lớp tro tàn”

của thời gia n được người vợ nhắc lại trong nỗi đau tê tái:

“Chỉ đêm đêm, giông

bão gào lay Những

người vợ bơ phờ mỏi

mắt Kể về anh, khêu

lớp tro tàn

Của lòng đau và của lo than!”

Hình ảnh “lớp tro tàn”, “lòng đau”, “lò than” cực tả nỗi đau khôn nguôi trong lòng người cô phụ Đau trong nỗi đau

cô đơn,

chỉ mình nàng biết, chỉ mình nàng hay!

Trong phần hai của bài thơ “Biển đêm”, tứ thơ vận động theo quy luật thời gian và dòng đời Khổ 3, nói về sự

nhớ

thương của cha me… Khổ 4, người thân yêu nhắc lại những hình ảnh và kỉ niệm về những kẻ viễn du trên những con tàu đi

mãi chưa về Khổ 5, nói về sự quên lãng của người đời đối với các anh Khổ 6 nói về thương nhớ, đau xót không

nguôi của những người vợ goá trong những đêm dài Có thể nó i tiếng thơ của Huygô đã diễn tả một cách sâu sắc, cảm động nỗi đau

trong 9 tầng sâu của lòng người - những người vợ có chồng đã chết thê thảm trong bão tố giữa mịt mùng biển đêm

3 Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ…

Hai khổ cuối d iễn tả nỗi lòng nhà thơ đối với những thủy thủ vĩnh viễ vùi xác dưới các đại dương Thủ phát

nghệ thuật tương phản được vận dụng thần tình để làm nổi bật tấm lòng nhân đạo bao la của tác giả

Sự lãng quên vĩnh viễn về số phận bi thảm của những người bị đắm tàu là qui luật khắc nghiệt của thời gian và sự bận rộn

của cuộc đời Sau khi những người vợ góa qua đời thì cảm thương thay, chẳng còn một ai nhắc đến tên các anh Hòn

đá, cây

liễu, người hành khất và bài hát buồn… nào ai còn nhớ đến anh đâu! Cỏ cây… và lòng người đều quên lãng C ác thuyền viên, thuyền trưởng đều trở thành cô hồn giữa đại dương:

“Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh

Cả gốc liễu mùa thu trút lá

Trang 3

Và cả người hành khất bên cầu

Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu!”

Rồi nhà thơ xúc động cất lên lời than Huygô như đang nhìn vào nơi đây sâu thẳm đại dương mà đau xót:

Ô i! Đâu hết những người thủy thủ

C hìm trong đêm, bi thảm đời người”

Sóng thủy triều mỗi buổi chiều dâng lên như đang cùng nhà thơ đối thoại và chia sẻ với bao nỗi thương tâm Sóng như một chứng nhân về thảm họa một đêm không trăng trên đại dương thuở nào đang thầm thì với nhà thơ Chỉ có sóng - tượng trưng

cho thiên nhiên vĩnh hằng, chiều chiều cùng với thủy triều dâng lên như những bài ca bất tận về những người

đã khuất trên biển

đêm Sóng đại dương mãi mãi chia sẻ với nhà thơ nỗi đau lòng, thương cảm đối với những người bất hạnh vùi thân dưới đáy

đại dương mịt mùng Sóng đã được nhân hóa, sóng đang cùng nhà thơ cảm thương đau xót, kể lại nhưng câu chuyện đau lòng

cho những người mẹ đang quỳ gối nguyện cầu

Vần thơ mang sắc điệu trữ tình rung lên như một tiếng lòng nức nở thể hiện đằm thắm, thiết tha chủ nghĩa nhân đạo bao la

của Huygô:

“K inh hoàng bao

lòng mẹ, biển ơi!

Phải chăng lúc

triều lên sóng vỗ

Những tiếng

người tuyệt bọng

kêu la Mỗi chiều

về, lại đến cùng

ta!”

Những người b iết tiếng Pháp chút ít, mỗi lần đọc đến câu thơ cuối bài, rất lấy làm thú vị về âm điệu, nhạc điệu ngân rung

được Huygô diễn tả một cách tinh tế qua các điệp thanh, các phụ âm “v” dồn dập như những làn sóng biển:

“Que vous ave z le soir quand vous venez vers nous!” “Biển đê m” là một bài thơ chứa chan tinh thần

nhân đạo

Cái chết bi thảm của những thủy thủ trên đại dương để lại bao lỗi đau lòng thương nhớ không nguôi trong lòng người

Trong dòng chảy của cuộc đời và thời gian, dù họ có bị quên lãng đi trong lòng người, thì Huygô và ngàn năm sóng vỗ vẫn xót thương không cùng đối với họ

Huygô là nhà thơ tiêu biểu nhất của chủ nghĩa lãng mạn Pháp Lấy “Biển đêm”, lấy màn đêm để lột tả thiên nhiên bí ẩn, hãi hùng, để diễn tả nỗi đau âm thầm, để nhà thơ chìm sâu trong suy tưởng để trầm ngâm hoặc đối thoại với lò ng mình về nỗi đau nhân thế và số phận đau thương của con người, về cái

chết và nỗi đau trên cõi đời, về cái mất và cái còn trong dòng chảy

thời gia n

K hông gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong “Biển đêm” cho ta nhiều ám ảnh về nỗi thương đau Phải chăng “Biển

đêm” trong thơ Huygô cũng là “bể trầm luân” trong văn học cổ Việt N am, trong thơ N guyễn Du?

Con đường mùa đông

Puskin - 1826

Xuyên qua sương mù gợn sóng

Mặt trăng nhô ra

Trăng buồn bã dội ánh sáng Lên

Trang 4

cánh đồng u buồn

Trên đường mùa đông buồn tẻ

Xe tam mã vun vút lao đi, Lục

lạc đơn điệu

Mệt mỏi rung lên

C ó gì vang lên thân thiết

Trong các khúc hát ngân nga của xà ích

K hi thì niềm vui rộn rã

K hi thì nỗi buồn tâm tình…

K hông một ánh lửa mái lều

Rừng sâu và tuyết… Ngược chiều tôi Chỉ có cột sọc chỉ đường

Chạy tới…

C hán ngán, buồn qua,… ngày mai, N hina

N gày mai, quay về với em yêu Tôi

sẽ lặng người bên lò sưởi, Ngắm em không chán mắt

K im đồng hồ tích tắc

Q uay hết vòng đều đều của nó, Và

xua đám người tẻ ngắt

Nửa đêm, không rẽ chia ta

Buồn quá N hina đường tôi đi tẻ ngắt, Bác xà ích lặng lẽ thiu thiu,

Tiếng lục lạc đơn điệu, Mặt

trăng mờ sương

Xuyên những làn sương gợn sóng Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua,

Buồn rải ánh vàng lai láng

Lên cánh đồng buồn dăng xa

Trên đường mùa đông vắng vẻ

Cỗ xe tam mã băng đi,

Nhạc ngựa đều đều buồn tẻ

Đều đều khắc khoải lòng quê

Bài ca của người xà ích

Có gì phảng phất thân yêu Như niềm vui mừng khôn xiết Như nỗi buồn

nặng đìu hiu…

K hông một mái lều, ánh lửa, Tuyết

trắng và rừng bao la… Chỉ những

cột dài cây số

Bên đường sừng sững chào ta

Trang 5

Ô i buồn đau,

ôi cô lẻ…

Trở về với em

ngày mai, N

hina, bên lò

lửa đỏ,

Ngắm em, ngắm mãi không thôi

K im đồng hồ kêu tích tắc

Xoay đi những vòng

nhịp nhàng, Và xua lũ

người tẻ ngắt

Để ta bên nhau trong đêm

Sầu lắm, N hina, đường

xa vắng, Ngủ quên bác

xà ích lặng im,

Nhạc ngựa đều đều buông

xa thẳm, Sương mờ che lấp

ánh trăng nghiêng

(Thúy Toàn dịch thơ)

Lời bình

“Con đường mùa đông” là nhà thơ trữ tình nổi tiếng của Puskin, đã được phổ nhạc, trở thành ca khúc lưu truyền

rộng

rãi Puskin viết bài thơ này vào mùa đông năm 1826, khi ông còn bị quản thúc tại miền quê Mikhailôpxcôiê, vùng quê ngoại thuộc tây Bắc Nga Âm điệu trữ tình chủ đạo của bài thơ là âm điệu buồn Từ cảnh vật đến lòng

người tỏa rộng và thấm sâu một nỗi buồn cô đơn

Bốn khổ thơ đầu là một không gian nghệ thuật phủ mở một lớp sương mù bao la, mênh mông Ánh trăng dội ánh sáng xuống cánh đồng khi mặt trăng nhô ra, xuyên qua màn sương mù gợn sóng Cảnh vật vắng lặng, bao la và buồn man mác:

“Xuyên những làn sương gợn sóng

Mảnh trăng mờ ảo

chiếu qua, Buồn rải

ánh vàng lai láng

Lên cánh đồng buồn dăng xa”

C ái nhìn mênh mang về màn sương mờ, ánh trăng mờ và cánh đồng mờ xa Hình như nhà thơ đăm chiêu cảm nhận cảnh vật trong sự mơ màng và xúc động N hìn xa rồi nhìn gần, nhân vật trữ tình lặng ngắm con đường mùa đông vắng

vẻ Chỉ có một

cỗ xe tam mã băng đi về phía trước, “xe vun vút lao đi” Tiếng lục lạc đơn điệu, mệt mỏi rung lên Bao dặm đường xa

đã

vượt qua, người lữ hành không chỉ “buồn” mà còn “mệt mỏi” Tâm hồn như dịu lại trong tiếng hát “ngân nga” của người xà

ích K húc hát vang lên “thân thiết”, bài dân ca N ga lúc vui, lúc buồn như đang xoa dịu bao nỗi buồn trong lòng nhà thơ:

“K hi thì niềm vui rộn rã

K hi thì nỗi buồn tâm tình”…

N hà thơ lấy âm thanh “vun vút” của chiếc xe lao đi, tiếng lục lạc, tiếng hát… để diễn tả cảnh vật và con đường mùa đông giữa đêm khuya vô cùng vắng vẻ, mênh mông và buồn Nỗi lòng của người lữ khách cô đơn và buồn không kể xiết!

Cảnh vật càng trở nên cô quạnh C hiếc xe tam mã, người lữ hành… như đang bị bao vây bởi “rừng sâu và tuyết”

Chỉ có,

Trang 6

chỉ thấy những cột cây số “hữu tình mà vô cảm” đang ngược chiều, chạy tới, không gian đã trải rộng lại trải rộng

thêm ra Con đường mùa đông đã dài lại được kéo dài tưởng như vô tận Bao phủ cảnh vật là màu trắng của tuyết,

màu đen sẫm

của rừng Cảnh sắc thiên nhiên mùa đông nước Nga được miêu tả một cách tinh tế và chọn lọc nhằm tô đậm nỗi buồn

cô đơn

và lạnh lẽo của người lữ khách

“K hông một mái

lều, ánh lửa, Tuyết

trắng và rừng bao

la… Chỉ những cột

dài cây số

Bên đường sừng sững chào ta.”

Hai khổ thơ 5 và 6 nói lê n tâm trạng nhớ thương của người lữ khách Bài hát của người xà ích lúc vui lúc buồn

cũng không thể xoa dịu bao nỗi buồn cô đơn đầy ắp trong lòng chàng trai đang ngồi trên cỗ xe tam mã lao vun vút trên con đường

mùa đông giữa đêm khuya lạnh lẽo Đó là hành trình đi cày của nhà thơ Con đường mùa đông xa lắc đầy tuyết

còn mang ý nghĩa tượng trưng cho mọi thử thách gian khổ mà chàng trai quý tộc khao khát tự do đang nếm trải Câu

thơ: “Ô i đau buồn, ôi cô lẻ…” nói lên nỗi buồn cô đơn của người đi đày Nhưng không tuyệt vọng, không bi luỵ N

hà thơ

thầm gọi tên người yêu Hy vọng được trở về trong sum họp đầy hạnh phúc Hai tiếng “ngày mai… ngày mai…” trong nguyên

tác như một điệp âm của khúc tâm tình xôn xao Hy vọng được trở về gặp lại người yêu Trong tuyết lạnh mà nghĩ về

lò lửa

đỏ, mái ấm hạnh phúc gia đình, trong chia li mà nghĩ đến đoàn tụ, trong xa vắng mà hy vọng trở về gặp N hina -

người yêu thương - đó là “nỗi buồn trong s áng” như lời nhận xét của nhà phê bình văn học Biê linxki

Lòng người lữ hành dịu lại, man mác bâng khuâng:

“Ô i buồn đau,

ôi cô lẻ… Trở

về với em

ngày mai, N

hina, bên lò

lửa đỏ,

Ngắm em, ngắm mãi không thôi.”

Rồi chàng chìm trong mộng tưởng “Ngắm em không chán mắt… Nửa đêm, không rẽ chia ta” Phải chăng chiếc đồng hồ

cổ và tiếng kêu “tích tắc” của nó như một kỷ vật nhắc nhở bao hoài niệm thương yêu?

Khổ thơ cuối bài diễn tả sâu hơn tâm trạng người lữ hành, từ mơ tưởng trở về thực tại, với con đường mùa đông

lạnh lẽo,

con đường đi đày với nỗi buồn xa vắng cô đơn Lại thì thầm nhắc tên người yêu để cố xua đi một phần nào nỗi buồn

cô đơn:

“Buồn quá, N hina, đường tôi đi tẻ ngắt…” Bác xà ích đã thiu thiu ngủ trong lặng lẽ Con đường mùa đông càng về khuya

càng trở nên vắng vẻ, hiện lên trong ánh trăng và sương mở Tiếng lục lạc đơn điệu vẫn rung lên như nhịp điệu của một bài ca buồn Người lữ khách lặng lẽ ngắm mặt trăng nhòe đi trong màn sương Lấy tiếng lục lạc và mặt trăng mờ sương

là 2 nét vẽ

tài hoa để tô đậm nỗi buồn cô đơn và sự vắng lặng của con đường mùa đông một đêm tuyết lạnh Đây là khổ thơ dịch hay nhất của Thúy Toàn:

“Sầu lắm, N hina,

đường xa vắng, Ngủ

quên bác xà ích lặng im,

Trang 7

Nhạc ngựa đều đều buông

xa thẳm, Sương mờ che lấp

ánh trăng nghiêng”

Trong bài thơ “Con đường mùa đông” này, từ “buồn” xuất hiện với tần số rất cao Có trăng buồn và cánh đồng

buồn

Có con đường mùa đông buồn tẻ và vắng lặng Có tâm hồn chán ngán buồn… buồn quá, buồn cô đơn Có

tiếng lục

lạc đơn điệu buồn Sự xuất hiện của những cột cây số, rừng sâu và tuyết… càng làm cho nỗi buồn thê m phần

cô đơn

và lạnh lẽo

Có điều, sự xuất hiện của bài dân ca Nga qua tiếng hát của xà ích và hình ảnh N hina, cô gái N ga cùng với ngọn lửa

lò sưởi

là những điểm tựa nâng đỡ tâm hồn người lữ khách một đêm trăng mờ sương trên con đường mùa đông tuyết trắng C hất trữ

tình nồng nàn, chất thi vị đậm đà của bài thơ này được thể hiện một cách tài hoa qua cảnh sắc và âm thanh ấy

Con đường mùa đông là con đường lưu đày, là con đường li b iệt Người lữ hành - trong tâm tưởng - vẫn mang

theo hình

ảnh người con gái N ga yêu thương, vẫn hy vọng ngày mai trở về, sum họp trong mái ấm hạnh phúc Cảm hứng đoàn

tụ yêu thương và cảm hứng tự do tạo nên sắc điệu thẩm mĩ trong áng thơ chứa chan thi vị này

Lá thư bị đốt cháy

Puskin

1 Thôi từ biệt, lá thư của tình yêu, từ biệt

Nàng đã quyết sao ta còn luyến tiếc

Sao bàn tay mãi chẳng chịu buông ra

Cho lửa thiêu hết thảy niềm vui sướng của ta!

2 Nhưng đã đủ

Hỡi tình thư bốc

cháy! Tâm hồn ta

không còn nghe,

chẳng thấy Ngọn lửa

tham đã nhận bức

thư em… Gượm

chút nào! Một làn

khói nhẹ êm Quần

quại, tan đi với lời ta

cầu khẩn

Vết xi cháy sủi lên, tan hình chiếc nhẫn

Ô i trời đất, tất cả thế là xong!

Những trang giấy đen

còn hãy quăn xong,

Tàn mỏng mảnh còn

ghi trăng trắng chữ…

3 Lòng thắt lại

Tàn thân yêu quý

hỡi! Một niềm vui

nghèo cực xót xa

Còn lại đời đời trên ngực với ta

Xuân Diệu dịch

Dịch nghĩa

Vĩnh biệt, lá thư của tình yêu, vĩnh biệt! Nàng đã ra lệnh…

Trang 8

Sao tôi chần chừ lâu thế, sao bàn tau lâu chẳng chịu

Giao cho ngọn lửa tất cả mọi niềm vui của tôi

Nhưng đủ rồi, giờ đã đến Cháy đi

bức thư của tình yêu! Tôi đã sẵn

sàng Lòng tôi giờ chẳng còn lắng

nghe gì nữa Ngọn lửa tham lam

đang nhận lấy từng trang thư của em

K hoan một phút thôi! Bùng lên… cháy rồi… làn khói nhẹ

Cuộn quanh tan đi cùng với lời

cầu nguyện của tôi Vết xi gắn

đã cháy sủi lên làm tiên tan mất

Dấu ấn chiếc nhẫn thủy chung… Ô i thiên mệnh!

Đã hoàn thành rồi! N hững tờ giấy đen quăn cong lại

Trên tàn mỏng mảnh còn trăng trắng

nét chữ thân thương N iềm nui nghèo

nàn trong cuộc đời sầu bi của tôi

Hãy còn lại mãi mãi cùng tôi trên tấm ngực đau thương

Phân tích

Puskin (1799-1836) là “Mặt trời thơ ca của nước Nga” N goài những trường ca “Người tù

KapKaz”, “Kị sĩ

đồng”…, ông còn để lại 800 bài thơ trữ tình, trong đó có nhiều bài thơ tình rất nổi tiếng Bài thơ “Lá thư bị đốt cháy” được

Puskin sáng tác vào năm 1825, khi nhà thơ còn bị chính quyền chuyên chế N ga hoàng lưu đầy và bị quản thúc tại là ng

M ikhailốpxkôiê - quê ngoại hẻo lánh thuộc miền Tây Bắc Nga Mặc dù bị cách li với thế giới rộng lớn bên ngoài, nhưng ông

vẫn được sáng tác, được in những tác phẩm của mình và trao đổi thư từ với bạn bè và người thân

“Lá thư bị đốt cháy” thể hiện nghệ thuật sử dụng chi tiết trong bút pháp trữ tình của Puskin để diễn tả cảm xúc và tâm trạng một cách nồng nàn nhất, say đắm nhất

“Lá thư” là của người yêu phương xa gửi tới, trên có gắn xi, có in “dấu ấn chiếc nhẫn thủy chung”

Người yêu của nhà thơ

là một người đẹp đã “ngự trị” trong tâm hồn nhà thơ, đầy “quyền uy” Phái là người đẹp được nhà thơ “tôn thờ” nên “Nàng đã

ra lệnh” cho người tình đọc xong phải đốt thư ngay Đó là mệnh lệnh của trái thu, của tình yêu Mặc dù vậy, chàng trai vẫn

“chần chừ”, vẫn giữ lại trong tay “lâu chẳng chịu” trao cho ngọn lửa Bức thư tình của người đẹp quý giá biết bao nhiêu

Trong hoàn cảnh bị quản thúc mất tự do, sống trong cô đơn, thì bức thư tình của người yêu nơi xa xôi gửi đến là vô giá, vì nó

là “tất cả mọi niềm vui” của Puskin N hà thơ thốt lên hai lần tiếng “vĩnh biệt” điều đó nói lên nỗi đau vô hạn của mình, khi phải đốt cháy bức tình thư! K hông hiểu vì sao, thi sĩ Xuân Diệu thay bằng “từ biệt” trong bản dịch thơ?

“Thôi từ biệt, lá thư của tình yêu, từ biệt

Nàng đã quyết sao ta còn luyến tiếc

Sao bàn tay mãi chẳng chịu buông ra

Cho lửa thiêu hết thảy niềm vui sướng của ta!”

Câu thơ trong nguyên tác viết dưới hình thức câu hỏi tu từ cực tả sâu sắc nỗi đau đớn, sự ngập ngừng luyến tiếc, phút chần

chừ do dự của nhà thơ trước khi đốt cháy bức thư: “Sao tôi chần chừ lâu thế, sao bàn tay lâu chẳng

chịu…”

Cuốc đấu tranh nội tâm diễn ra: đốt bức thư tình, làm theo điều “nàng đã ra lệnh” hay giữ lại kỷ vật thiêng

Trang 9

liêng chứa đựng

trong đó, nét chữ, giọng tâm tình, lời yêu thương nồng nàn say đắm… Đốt bức tình thư trong hoàn cảnh ấy đối với Puskin là

một hành động cao thượng, tự hy sinh vì tình yêu M ột chút ngập ngừng và người con trai phải làm theo “mệnh lệnh” người yêu, châm lửa đốt Dòng thơ bị cắt ra thành nhiều câu diễn tả sự ngập ngừng, thảng thốt:

“Nhưng đủ rồi, giờ đã đến Cháy đi bức thư của

tình yêu! Tôi đã sẵn sàng Lòng tôi giờ chẳng còn

lắng nghe gì nữa.”

Tâm hồn ta không còn nghe, chẳng thấy người con trai đau đớn, bàng hoàng nhìn ngọn lửa và bức thư bén lửa bốc cháy

Lời thơ run lên cùng nỗi lòng đau đớn,

xót xa: “Ngọn lửa tham đã

nhận bức thư em… Gượm

chút nào! Một làn khói nhẹ

êm”

Puskin đã sử dụng và sáng tạo một hình ảnh ẩn dụ - nhân hóa để làm nổi bật nỗi lòng xót xa, tiếc nuối khi nhình bức tình

thư đang cháy: “Ngọn lửa tham lam đang nhận lấy từng trang thư của em” N hà thơ cầu khẩn van lơn: “Gượm chút nào! ” Những câu thơ tiếp theo tả làn khói, ngọn lửa, vết xi gắn trên bức thư in dấu ấn chiếc nhẫn… Ba tiếng: “Ô i thiên mệnh!” như

một tiếng kêu rên Thiên mệnh là mệnh trời Một tình yêu đẹp do trời sắp đặt Bức thư bị đốt cháy cũng là do ý trời Hình ảnh bức thư bị đốt cháy đối với người con trai mang màu sắc cao cả thiêng liê ng:

“Quần quại, tan đi với lời ta

cầu khẩn Vết xi cháy sủi lên,

tan hình chiếc nhẫn Ô i trời

đất, tất cả thế là xong!”

Xuân Diệu không dịch được các từ ngữ: “Thủy chung”, “thiên mệnh!” Việc dịch thơ là một sáng tạo nghệ thuật chẳng chút

dễ dàng

Thương tiếc, đau đơn, nhìn đăm đăm vào mảnh tro tàn - như một vết thương lòng nhức nhối - người con trai đa tình vẫn

còn tìm thấy “trăng trắng nét chữ thân thương” của người yêu N hững nét chữ ấy như linh hồn của lá thư tình bị đốt cháy Đó

là di bút của một thiên diễm tình Cũng như hoa tàn, hoa rụng, nhưng hương hoa còn phảng phất trong không gian,

lá thư

bị đốt cháy rồi mà chàng trai vẫn còn lưu luyến nhìn những “nét chữ thân thương” in rõ trên mảnh tro tàn “trăng trắng” Hình

ảnh “Những tờ giấy đen quăn cong lại” tương phản với “trăng trắng nét chữ thân thương” khẳng định một tình yêu

đẹp, trong sáng, thủy chung Lá thư tuy bị đốt cháy nhưng tình yêu đô i lứa vẫn sống mãi trong trái tim nhà thơ “Tờ

giấy đen quăn cong lại” chỉ “thác là thể phách” còn tình yêu là mãi mãi “hồn còn tinh anh” như “trăng trắng nét chữ thân thương” ấy

Ba dòng cuối của bài thơ thể hiện nỗi đau đơn, thương tiếc của người con trai khi nhìn thấy mảnh tro tàn Phải yêu tha thiết

lắm, trân trọng, quý trọng, luyến tiếc lá thư của người yêu - kỉ vật thiêng liêng - thì tự đáy lòng mới cất lên lời thơ nghẹn ngào,

như thắt lòng lại như thế:

“Lòng thắt lại Tàn thân yêu

quý hỡi! Một niềm vui

nghèo cực xót xa

Còn lại đời đời trên ngực với ta”

Trang 10

Trong hoàn cảnh bị quản thúc cách biệt với thế giới bao la, phải xa cách bạn bè và người yêu thì một lá thư tình nhận được,

đúng là “niềm vui nghèo nàn trong cuộc đời sầu bi” của mình Lá thư bị đốt cháy rồi, nhà thơ lẳng lặng, xót xa, đau đớn, buồn tủi Nét chứ, giọng điệu, tâm tình và hình ảnh người yêu “hãy còn lại mãi mãi… trên tấm ngực đau

thương” của

người Lá thư tình bị đốt cháy rồi nhưng tình yêu thủy chung của giai nhân vẫn đằm thắm, thiết tha trong trái tim chàng trai đa tình

Bài “Lá thư bị đốt cháy” thuộc thể loại bi ca trong sáng tác của Puskin Bài thơ thể hiện một tình yêu sâu nặng, thiết tha,

một tấm lòng quý trọng đến mức tôn thờ người yêu Đốt bức thư tình trong cảnh ngộ nhà thơ là một hành động vô cùng cao thượng N gôn ngữ trong sáng Câu cảm thán, câu hỏi tu từ liên kết nhau biểu đạt mãnh liệt cảm xúc đau đớn, xót xa khi nhìn

lá thư tình bị đốt cháy Hình ảnh lá thư bốc cháy trên “ngọn lửa tham” là một biểu tượng đầy ám ảnh

Xuân Diệu viết: “Yêu là chết ở trong lòng một ít” - câu thơ ấy giúp ta cảm nhận bài thơ tình “Lá thư bị đốt

cháy” của

Puskin

Vài nét về tác giả

Lép Tônxtôi (1828-1910) là đại văn hào của nước Nga xuất thân trong một gia đình đại quý tộc Tên tuổi và sự nghiệp

văn chương của ông lừng danh thế giới, là niềm tự hào của người N ga trong gần hai thế kỷ nay

Lép Tônxtôi để lại hàng vạn trang bản thảo Toàn tập Tônxtôi gồm 90 tập Ô ng là tấm gương lao động nghệ thuật kỳ diệu Trong 60 năm cầm bút, ngoài hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết, trong đó có những tác phẩm văn chương mang

tầm nhân loại: Bộ tiểu thuyết tự thuật: “Thời thơ ấu, thời niê n thiếu”, “Thời thanh niên”, “C hiến tranh và hoà bình”,

“Anna

K arênina”, “Đức cha Xerghi”, v.v…

Chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tình yêu nhân dân và niềm tự hào về đất nước Nga vĩ đại - là những tư tưởng tình cảm sâu

sắc nhất, tráng lệ nhất thấm đẫm trang văn và cuộc đời của Lép Tônxtôi

M.Sôlôkhốp, nhà văn Nga được giải thưởng N obel về văn chương đã viết: Lép Tônxtôi luôn sống trong văn

học Nga

và văn học thế giới như một đỉnh cao hùng vĩ không vươn tới được”

Phân tích đoạn văn “Hai tâm trạng” rút trong tác phẩm “Chiến tranh và Hòa bình” của Lép

Tônxtôi

“Hai tâm trạng” trích trong tập 2 bộ tiểu thuyết “C hiến tranh và Hòa bình” của đại văn hào Lép Tônxtôi Thời

gian được

nói đến trong đoạn văn là mùa xuân và mùa hè năm 1809, hơn 3 năm sau trận đánh đẫm máu Aoxteclit diễn ra, liên quân Áo

- Nga bị Napôlêông đánh cho đại bại Anđrây bị thương nặng, ước mơ dùng tài thao lược và lòng dũng cảm của mình chuyển

thế trận bị tan vỡ, giấc mộng Tulông vỡ tan thành Trở về nhà đúng lúc vợ chàng - nữ công tước Lida - sinh được đứa con trai

rồi nàng chết Con đường công danh…, bi kịch gia đình… đẩy Anđrây vào một cuộc khủng hoảng tinh thần ghê gớm

Từ đó, chẳng thiết gì đến công danh, sự nghiệp, chàng ở miết tại nông thôn, chăm lo công việc điền trang và cậu con trai bé bỏng, mồ

côi mẹ

Mùa xuân năm 1809, Anđrây đi về Riada thăm các điền trang của vợ chàng để lại cho con trai Lúc đi qua một

Ngày đăng: 12/07/2014, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w