Bài ca về sông Bạch Đằng Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược: "Sông Đằng một giải dài ghê Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông." Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó l
Trang 1Một tiếng kêu vang lanh cả trời
Hai câu đầu nói lên niềm vui dào dạt "suốt ngày vui", đó là "dã tình", là mối tình quê
nhà, đồng ruộng, núi rừng Vui vì
chọn được "kiểu đất long xà" rất đẹp, rất thích để làm nhà Niềm vui ấy bình dị như mọi người Không Lộ tuy là một vị Thiền
sư nhưng không thoát tục, vui niềm vui bình dị, yêu tình yêu quê hương
Hai câu 3, 4 thể hiện khí phách và sự chan hoà của nhà thơ giữa thiên nhiên cao rộng,
trèo thẳng lên đỉnh núi cao rồi kêu
lên một tiếng thật to và dài trấn động cả bầu trời, vũ trụ Chữ dùng thật hay, biểu lộ một chí khí Một tâm thế hào hùng, kỳ lạ :
"Hữu thì trực thượng cô phong đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư"
Trang 2Đọc thêm
Ngư nhàn
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền
Không Lộ Thiền sư
Cảnh thanh nhàn của ngư ông
Mây xanh nước biếc muôn trùng,
Dâu chen khói toả một vùng thôn quê
Ô ng chài giấc ngủ đang mê,
Quá trưa tỉnh dậy tuyết che đầy thuyền
Trang 3Non nước ấy nghìn thu
Trần Kim Trọng dịch
(Việt Nam sử lược)
Trang 41 Tháng 4/1285, Trần Nhật Duật chém đầu Toạ Đô tại Hàm Tử quan Tháng 6/1285,
Trần Quang Khải đại phá giặc
Nguyên Mông tại Chương Dương độ, tiến lên giải phóng Thăng Long Bài thơ "Tụng giá hoàn kinh sư "được viết sau chiến
Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Hai câu đầu bình đối như hai trang kí
sự chiến trường Vị ngữ "đoạt
sóc" (cướp giáo) và "cầm Hồ" (bắt giặc Mông Cổ) được đặt ở đầu câu, thể hiện hai thế đánh, hai cú đánh liên tiếp giáng
xuống đầu giặc với sức mạnh "Sát Thát" của tướng sĩ thời Trần Chương Dương độ và Hàm
Tử quan, hai địa danh, hai chiến
công đã được ghi vào sử sách và thơ ca dân tộc trở nên trường tồn, chói lọi:
"Đoạt sóc Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan "
Câu thơ như một bản tin chiến sự, có một sức nén và vang xa, dạt dào tự hào Phải là người tham dự, chỉ huy trận đánh
Trang 5mới viết hàm súc và đĩnh đạc, hào hùng như vậy
Hai câu cuối, một ý thơ mới xuất hiện Trong khói lửa chiến trường, trong niềm vui chiến thắng giải phóng kinh thành Thăng
Long trên đống tro tàn do lũ giặc gây ra, nhà thơ nghĩ đến nhiệm vụ mới:
suốt Câu thơ trên có ý nghĩa thời sự đối với chúng ta hiện nay
Tóm lại, "Tụng giá hoàn kinh sư" là bài thơ kiệt tác Bản dịch của tác giả Trần Trọng Kim rất đặc sắc
Thuật hoài
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
Phạm Ngũ Lão
Tỏ lòng
Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
Trần Trọng Kim dịch
(Việt Nam sử lược)
Trang 6Bài thơ "Thuật Hoài" nói lên chí khí và khát vọng công danh anh hùng của đấng nam nhi
trong thời loạn- khi Tổ
Quốc bị xâm lăng
nào người anh hùng thần thoại, người dũng sĩ trong sử thi xa xưa?
Người anh hùng thuở "Bình N guyên" nung nấu trong lòng, cháy bỏng tâm hồn niềm khao khát: đánh giặc lập công để đền
ơn vua báo nợ nước Mang nặng nợ công danh cũng là khát vọng anh hùng cao đẹp Tự tin
và tự hào khi nhà thơ khẳng định
"Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"
Bài thơ là khúc tráng ca của người anh hùng Phạm Ngũ Lão trăm trận trăm thắng Cùng với "Hịch tướng sĩ " (Trần Quốc
Tuấn), "Tụng giá hoàn kinh sư" (Trần Quang Khải) bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão sáng ngời Hào khí Đông - Á
Trang 7Tác giả
Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở N inh Bình Vốn là môn khách của
Hưng Đạo Vương Dưới triều Trần
Anh Tông, Trần Dụ Tông, ông làm quan to trong triều Lúc mất được truy tặng Thái bảo, được thờ ở Văn Miếu
Là bậc danh sĩ tài cao học rộng Hiện còn để lại 4 bài thơ, 3 bài văn, nổi tiếng nhất là
1 Phú cổ thể gọi là Phú lưu thuỷ, như một bài ca, hoặc một bài văn xuôi dài mà có vần
2 Phú Đường luật là thể phú được đặt ra từ đời Đường vừa có vần vừa có đối, có luật
Trang 8Những nét lớn cần biết
1 "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú lưu thuỷ, có vần, tác giả sử dụng phép
đối nhiều chỗ "Bài ca cuối bài
phú" là một sự sáng tạo Nhân vật "khách" là nhân vật trữ tình - chính là nhà thơ
2 Đoạn tả cảnh sắc Bạch Đằng giang hùng vĩ tráng lệ bằng cảm hứng thiên nhiên chan
Sông chìm giáo gẫy
Gò đầy xương khô "
3 Bô lão xuất hiện cuộc đối thoại giữa "khách" và "bô lão" làm cho giọng điệu bài phú
từ cảm xúc trữ tình chuyển thành
anh hùng ca Nhà thơ tái hiện lại cảnh tượng chiến trường một thời oanh liệt - trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng:
"Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã
Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao
Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới
Tì hổ ba quân
Trang 9Giáo gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân,
Chiến luỹ Bắc, Nam chống đối
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
( ) Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi"
4 Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì trong Bắc
sử Nhà thơ tự hào khẳng
định và ngợi ca:
"Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an
( ) Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhan "
5 Bài ca về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược:
"Sông Đằng một giải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông."
Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết chống xâm lăng Ý tưởng sâu sắc, tiến
bộ:
"Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."
Trang 10Tổng kết
"Bạch Đằng giang phú" là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc Ngôn ngữ tráng lệ Dòng sông hùng vĩ, hiểm trở Dân tộc anh
hùng có nhiều nhân tài hào kiệt Nhà thơ thể hiện những tư tưởng sâu sắc tiến bộ về vinh và
nhục, thắng và bại, tiêu vong
và trường tồn, đất hiểm và đức cao Đó là bài học lịch sử sáng giá đến muôn đời
Có những câu văn như một châm ngôn khẳng định một chân lí lịch sử
"Những người bất nghĩa tiêu vong
N ghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh"
Cuộc đời Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu là Ức Trai, người ở làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây
Là con của Nguyễn Phi Khanh,
cháu ngoại tướng công Trần Nguyên Đán Đỗ Thái học sinh năm 1400 Năm 1407 giặc Minh xâm chiếm nước ta, cha bị giặc
bắt đưa về Trung Quốc, Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng tại thành Đông Quang
- Nguyễn Trãi biệt Đông Quan, trốn vào Lam Sơn dâng "Bình Ngô sách" lên Lê Lợi, trở thành vị quân sư "viết thư thảo
hịch tài giỏi hơn hết một thời"
- Năm 1428, ông thay lời Lê Lợi thảo "Bình Ngô Đại Cáo" sau đó được cử làm Chánh chủ khảo khoa thi tiến sĩ đầu tiên
của triều Lê và viết chiếu cầu hiền Chẳng bao lâu sau, ông bị bọn nịnh thần chèn ép, gièm pha Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn
Năm 1440, ông lại được vua vời ra giúp nước
- Năm 1442 xẩy ra vụ án Lệ Chi Viên, ông bị kết án "tru di tam tộc" Mãi đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới minh
oan cho ông và truy tặng ông tước Tán trù bá
Trang 11Nguyễn Trãi là người anh hùng thủa"Bình N gô", văn võ toàn tài
Sự nghiệp trước tác của Nguyễn Trãi
1 "Quân trung từ mệnh tập"
- "Bình Ngô Đại Cáo"
"Dư địa chí " "Lam Sơn thực lực"
"Phú núi Chí Linh", "Q uốc âm thi tập", "Ức Trai thi tập",
- v.v
2 Nội dung thơ văn Nguyễn Trãi
a) Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc
- Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt) tiêu diệt quân tàn bạo hại nước hại dân (trừ bạo), đem lại yên vui, hạnh
phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
- Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài Đó là
"Đại nghĩa" (nghĩa lớn vì nước vì
dân), là lòng "chí nhân" (thương người vô hạn):
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
- Lòng căm thù giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân "cuồng M inh":
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống
- Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng "trung hiếu" và niềm "ưu
ái" (lo nước, thương dân)
"Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Trang 12Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen"
(Thuận hứng - 24)
"Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông"
(Thuật hứng - 5)
b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình
- Yêu thiên nhiên:
+ Yêu cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông
"Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạt nguyệt, tuyết xâm khăn"
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then"
"Cò nằm, hạc lẩn nên bầy bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con"
+ Yêu quê hương gia đình:
" Ngỏ cửa nho, chờ khách đến
Trồng cây đức, để con ăn"
"Nợ cũ chước nào báo bổ
Ơn thầy ơn chúa liễn ơn cha"
"Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao"
+ Yêu danh lam thắng cảnh
"Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ mành"
Trang 13(Đề chùa Hoa yên, núi Yên Tử)
"Một vùng biếc sẫm gương lồng bóng,
Muôn hộc xanh om tóc mượt màu"
(Vân Đồn)
"K ình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáp gươm chìm gẫy bãi bao tầng"
(Cửa biển Bạch Đằng)
c) Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao
"Một tầm lòng son ngời lửa luyện
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng"
"Nước biển non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu"
"Say minh nguyệt, chè ba chén
Thú thanh phong, lều một gian "
"Sách một hai phiên làm bậu bạn
Rượu năm ba chén đổi công danh"
3 Nghệ thuật
- Văn chính luận như "Bình Ngô Đại Cáo" thì hùng hồn, đanh thép, sắc sảo, đúng là tiếng nói của một dân tộc chiến
thắng, một đất nước có nền văn hiến lâu đời
- Thơ chữ Hán hàm súc, tinh luyện, thâm trầm Thơ chữ Nôm bình dị mà tài hoa, thiết tha đằm thắm Thơ thất ngôn xen
lục ngôn là một dấu ấn kì lạ của nền thơ chữ Nôm dân tộc
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, nhà văn hoá vĩ đại, là đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi còn là ông tiên ở trong lầu ngọc
Trang 14mà tâm hồn lộng gió thời đại Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước, tự hào dân tộc
Xuất xứ
Năm 1407, giặc Minh xâm lăng nước ta Năm 1417, tại núi rừng Lam Sơn, Thanh Hoá,
Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa xưng là
Bình Định Vương Trải qua mười năm kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng, nhân dân ta quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ
cõi Mùa xuân năm 1428 thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo "Bình Ngô Đại cáo" Nó là một
luận văn chính trị, quân sự,
đồng thời là áng "thiên cổ hùng văn"
Chủ đề
"Bình Ngô đại cáo" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt căm thù lên án tội ác ghê
tởm của quân "cuồng Minh", ca
ngợi những chiến công oanh liệt thuở "Bình Ngô", tuyên bố đất nươc Đại Việt bước vào kỷ nguyên mới độc lập, thái bình bền
vững muôn thuở
Phân tích
1 Đại Việt là một đất nước có truyền thống nhân nghĩa cao đẹp
a) Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa, đem "quân điếu phạt" để tiêu diệt quân cường bạo, vì độc lập của
nước, vì sự yên vui hạnh phúc của nhân dân:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
b) Nguồn gốc của nhân nghĩa Đại Việt là nền văn hiến lâu đời Đâu phải "N am man" là
"man di mọi rợ" Như bọn
hoàng đế phương Bắc thường láo xược phán truyền Trái lại, Đại Việt là một quốc gia "vốn xưng nền văn hiễn đã lâu" Nền
Trang 15văn hiến ấp hợp thành bởi các nhân tố:
- Có núi sông bờ cõi "đã chia", đã " định phận tại Thiên thư"
- Có thuần phong mĩ tục
- Có nền độc lập vững bền: "Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập", "hùng cứ một phương"
- Lắm nhân tài hào kiệt
- Có truyền thống anh hùng chống ngoại xâm, có những trang sử vàng chói lọi từng làm cho "Lưu Cung thất bại", "Triệu
Tiết tiêu vong", "bắt sống Toa Đô", "giết tươi Ô mã"
2 "Bình Ngô đại cáo" là bản cáo trạng đanh thép, đầy căm thù tội ác quân "cuồng Minh" Tác giả đứng trên
quan điểm nhân nghĩa mà lên án quân xâm lược
- Giặc Minh tàn sát dã man nhân dân ta:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ"
- Tàn phá môi trường môi sinh, bóc lột vơ vét thậm tệ:
"Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi"
- Bắt dân ta xuống bể mò ngọc trai, lên rừng bẫy hươu đen gây ra bao thảm cảnh Bọn thái thú, bọn tướng tá Thiên triều
như một lũ quỷ khát máu vô cùng ghê tởm: "Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no
nê chưa chán!"
Tội ác của giặc Minh chồng chất như núi, đầy mưu mô xảo quyệt "dối trời, lừa dân gây binh, kết oán" Một cách nói thâm
xưng đầy căm thù, ám ảnh:
"Dơ bẩn thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Trang 16Độc ác thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được?"
Từ xưa tới nay, chưa có nhà văn nào viết cụ thể mà khái quát tội ác xâm lược đối với nhân dân ta như Nguyễn Trãi
3 Nguồn sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt:
a Lãnh tụ nghĩa quân là một anh hung xuất chúng:
"Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
( ) Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều"
b Sức mạnh của lòng căm thù giặc và tinh thần đại đoàn kết dân tộc để chiến thắng quân xâm lược:
- “Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống"
- "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới,
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào"
4 Quá trình phản công và toàn thắng:
a Nguồn gốc của chiến thắng là sức mạnh nhân nghĩa:
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy trí nhân để thay cường bạo"
b.Trận đầu thắng lớn, giáng sấm sét vào đầu lũ xâm lăng:
"Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay"
c Giải phóng miền rộng lớn đất nước:
Trang 17"Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về"
d Quân ta càng đánh càng thắng to Giặc Minh bị giáng những đòn chí mạng! Máu giặc chảy thành sông thây
chết đầy nội
"N inh K iều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tụy Động thây chết đầy nội, nhơ để ngàn năm"
e Viện binh giặc bị tiêu diệt: Liễu Thăng "cụt đầu", bá tước Lương Minh "đại bại từ
vong", thượng thư Lý Khánh cùng
kế tự vẫn, Đô đốc "Thôi Tụ" lê gối dâng tờ tạ tội, thượng thư Hoàng Phúc "trói tay để tự xin hàng" Cánh quân Vân Nam bị
đánh "vỡ mật", quân Mộc Thạnh "xéo lên nhau để chạy thoát thân" Cảnh tượng chiến trường vô cùng rùng rợn, thảm đạm:
"Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giáng, Bình Than máu hôi đỏ
Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc,
Thành Đan Xá thây chất đầy núi cỏ nội đầm đìa máu đen"
f Giặc Minh bị hoàn toàn thất bại thảm hại Viện binh "hai đạo tan tành"; Quân giặc các
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước mà vẫn tim đập chân run.”
- Quá trình phản công là một quá trình vươn dậy của cả dân tộc với sức mạnh vỡ bờ, bất khả chiến thắng Ngôn ngữ tráng
lệ, giọng văn mang âm điệu anh hùng ca: