Kinh nghiệm sử dụng câu hỏi trong dạy học THCS A- Đặt vấn đề ---***---I- Lý do chọn kinh nghiệm: 1 - Lý do khách quan : - Nghị quyết hội nghị lần thứ II của ban chấp hành TƯ Đảng cộng
Trang 1Kinh nghiệm
sử dụng câu hỏi trong dạy học THCS
A- Đặt vấn đề
-*** -I- Lý do chọn kinh nghiệm:
1
- Lý do khách quan :
- Nghị quyết hội nghị lần thứ II của ban chấp hành TƯ
Đảng cộng sản Việt Nam ( Khoá VII-1997) đã khẳng định: "Cuộc cách mạng về phơng pháp giáo dục phải hớng ngời học rènluyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyếtvấn đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quátrình học tập ở trờng phổ thông"
- Luật giáo dục 2005 viết:" Phơng pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luỵên kỹ năng vận dung kiếnthức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vuihứng thú học tập cho học sinh"
- Trong công cuộc đổi mới của đất nớc nói chung, cuộc cảicách giáo dục đang đợc tiến hành nói riêng, năm học 2008-
2009 toàn ngành tiếp tục thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH 10
về đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông Nghị quyết số41/2000/QH 10 về phổ cập giáo dục THCS Chỉ thị số06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ chính trị Trung ơng Đảng
về cuộc vận động” Học tập và làm theo tấm gơng đạo đức HồChi Minh” Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006của Thủtớng chính phủ về “ Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thànhtích trong giáo dục”.Cuộc vận động” Mỗi thầy cô giáo là mộttấm gơng dạo đức,tự học và sáng tạo” Thực hiện chủ đề” Nămhọc ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lí tài chính
và triển khai phonh trào xây dựng trờng học thân thiện, họcsinh tích cực” Các trừơng THCS đang đổi mới trên nhiều ph-
ơng diện: mục tiêu, nội dung phơng pháp giảng dạy, phơngtiện dạy học, hình thức kiểm tra, đánh giá …Với những con đ-ờng, những phơng pháp có tác dụng dẫn dắt các hoạt động
độc lập, hoạt động t duy sáng tạo tới những kĩ năng giải quyếtvấn đề học sinh nắm đợc tri thức Nhằm hình thành ở họcsinh có đợc tính độc lập trong quyết định của mình, giải
Trang 2quyết một cách khéo léo và sáng tạo những vấn đề khác nhautrong học tập, lao động, nghiên cứu khoa học
Do đó, đòi hỏi ngời giáo viên đứng lớp khi dạy phải biết
đặt ra những câu hỏi phát huy đợc trí thông minh của họcsinh Đó là những câu hỏi tình huống có vấn đề Trong hệthống câu hỏi, giáo viên đặt ra phải xác định tỉ lệ thích ứngtrong việc lựa chọn những câu hỏi Nếu chỉ u tiên cho nhữngcâu hỏi có tính chất gợi vấn đề, chuyên nhằm mục đích hìnhthành t duy độc lập cho học sinh thì cũng không hợp lý, màtrong giờ học để học sinh lĩnh hội đợc tài liệu học tập thì giáoviên phải có những câu hỏi có tính chất ôn tập, củng cố vànhững câu hỏi rèn luyện kỹ năng Nh vậy, khi đã có sách giáokhoa và các tài liệu tham khảo tốt, phơng tiện dạy học tơng
đối đầy đủ… thì vấn đề ở đây là vấn đề dạy của giáo
viên-đó là vấn đề của quá trình truyền thụ, vấn đề đặt câu hỏicủa giáo viên
2 Lý do chủ quan:
- Đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp là một vấn đề hếtsức quan trọng Nhng trong thực tế vấn đề này không mấygiáo viên quan tâm đến Nhiều giáo viên có thâm niên giảngdạy đã cho rằng, việc đặt câu hỏi trong qúa trình giảng dạy
là một vấn đề hết sức khó và phức tạp Vì nó vừa là kiến thức,vừa là kinh nghiệm sống, vừa là nghệ thuật Do vậy, ngời ta nóirằng, qua câu hỏi có thể biết ngay tầm trí tuệ của ngời đó
Đúng nh vậy, trong chúng ta ai cũng đã rõ, câu hỏi của
ng-ời giáo viên đặt ra trong quá trình giảng dạy khác với câu hỏibình thờng trong cuộc sống Trong cuộc sống khi ngời ta hỏi aimột điều gì, thờng ngời hỏi cha biết điều đó, hoặc là biết
điều đó một cách lơ mơ, cha rõ Nhng câu hỏi mà giáo viên
đặt ra trong quá trình giảng dạy là những cái mà giáo viên đãbiết.Vì vậy, câu hỏi đặt ra trong quá trình giảng dạy củagiáo viên không phải để "đánh đố" hoặc để "bẫy" học sinh,
mà là câu hỏi mở điều đó có nghĩa là đặt câu hỏi cho họcsinh về những vấn đề mà học sinh đã học hoặc là nhữngkiến thức đã đợc học mà học sinh suy ra Vì vậy, nghệ thuật
đặt câu hỏi của giáo viên trong quá trình giảng dạy bao giờcũng mang yếu tố mở, mang yếu tố nhận biết, khám phá hoặckhám phá lại dới một dạng thông tin khác bằng cách cho học sinhtìm ra các mối quan hệ, mối liên hệ, các quy tắc, các con đ-ờng để tạo ra một câu trả lời hay hoặc một cách giải mới nhngmột điều cần lu ý đối với những giáo viên đứng lớp, khi đặt
Trang 3câu hỏi cho học sinh là luôn luôn phải nhớ đến mình đã trang
bị những kiến thức gì cho học sinh, đã bồi dỡng phơng pháphọc tập bộ môn một cách chủ động cho học sinh đến đâuthì câu hỏi đặt ra mới hấp dẫn và sát đúng với đối tợng.Trong thực tiễn, ngời giáo viên dạy giỏi thờng là những giáo viênbiết kết hợp 3 vấn đề có trong qúa trình giảng dạy một cách
tự giác 3 vấn đề đó có liên quan mật thiết với nhau và phảibiết kết hợp với nhau để nhằm nhiều mục đích riêng biệt Vìrằng, giữa kiểm tra, đánh giá nó có mối quan hệ khăng khít vớiphơng pháp dạy học Trong quá trình phát triển của giáo dục,chúng ta thấy xuất hiện 3 kiểu dạy và học: Kiểu sao chép, kiểuhọc tập có phân tích, phê phán; kiểu học tập có tìm hiểu,sáng tạo
- Nếu dạy học theo kiểu sao chép thì các câu hỏi củagiáo viên đặt ra sẽ là cái gì, nh thế nào và đánh giá kết quảcủa kiểu dạy học sao chép này sẽ là ghi nhớ, bắt chớc
-Dạy học theo kiểu phân tích thì câu hỏi giáo viên đặt
ra sẽ là tại sao, trên cơ sở nào, mức độ quan trọng, và đánh giákết quả của kiểu dạy học này sẽ là sự ứng biến và cách tân củahọc sinh
- Nếu dạy học theo kiểu sáng tạo thì câu hỏi giáo viên
đặt ra là tại sao, cái gì xẩy ra nếu…, có cái gì khác nữakhông? , tại sao lại không? và đánh giá kết quả của kiểu dạy họcsáng tạo này sẽ là sự tìm hiểu những phơng thức, giải pháp, sựsáng tạo học sinh
B.Giải quyết vấn đề.
I Cơ sở lý luận và thực tiễn:
1, Cơ sở lý luận :
1.1 Khái niệm và chức năng của câu hỏi :
Câu hỏi là một trong những thành phần của " bộ máy tổchức lĩnh hội" của học sinh Do vậy, chúng ta cần đi sâuphân tích rõ những tính chất và những chức năng của cácthành phần cấu tạo câu hỏi, để giúp giáo viên đứng lớp hiểusâu sắc hơn và sử dụng đợc chính xác hơn
Những chức năng của các thành phần cấu tạo câu hỏi lànhững đặc điểm cơ bản nhất để làm cơ sở phân loại, Chức
năng cơ bản nhất của câu hỏi là chức năng tổ chức quá trình lĩnh hội nếu phân loại theo đặc điểm, cho phép chúng ta
chia ra làm 3 nhóm câu hỏi:
+ Nhóm câu hỏi thứ nhất- là các câu hỏi thực hiện chứcnăng củng cố tri thức ( tái hiện những điều đã học, hệ thốnghoá bớc đầu các sự kiện khái niệm, rèn luyện các kỹ năng)
Trang 4+ Nhóm câu hỏi thứ 2- là những câu hỏi góp phần làmcho học sinh nắm vững tính logic và các phơng pháp t duysáng tạo (hoạt động phân tích, tổng hợp độc lập: so sánh ,khái quát, đánh giá, rút ra kết luận, đào sâu làm giầu hệthống kiến thức, xác định rõ, cụ thể hoá, phát triển,…)
+ Nhóm kiến thức thứ ba- là những câu hỏi đòi hỏi ứngdụng những tri thức đã học đợc vào thực tế ( thực hiện cáchành động, hình thành công việc, thể hiện việc ứng dụng các
độc đáo trong quan niệm của mỗi giáo viên đứng lớp Mặtkhác sự phân loại này giúp cho giáo viên đứng lớp xác định đ-
ợc mối liên hệ vững chắc và sâu sắc hơn giữa tài liệu học tậptrong sách giáo khoa với " bộ máy tổ chức lĩnh hội", tránhnhững sai sót đáng tiếc thờng xảy ra nh hiện nay, đó là:
+ Giáo viên đứng lớp chỉ chú ý đến tài liệu giáo khoa màcoi các câu hỏi là những thành phần phụ của" bộ máy tổ chứclĩnh hội"
+ Hoặc giáo viên coi nhẹ ( hoặc xem thờng) khả năng tác
động quan trọng của chính tài liệu sách giáo khoa mà đề caovai trò câu hỏi trong việc phát triển và giáo dục của câu hỏi.Vì rằng, qua thực tế đã cho thấy tài liệu sách giáo khoa nóphải thể hiện cho đợc chức năng tổ chức tri thức, hình thành
ở giáo viên tính logic và phơng pháp t duy sáng tạo khoa học
Sở dĩ có sự phân loại một cách tỉ mỉ ở trên là nhằm giảithích cách phân chia cổ truyền các câu hỏi theo mục đích, ýnghĩa- logic của chúng Ví dụ nh nhóm 1 ( tái hiện, nhớ lại)nhóm 3- đòi hỏi phải vận dụng tri thức và thực tế Nhóm nàykhông yêu cầu đơn thuần tái hiện những điều đã học ( nhóm1) mà còn có tác dụng đẩy mạnh và kích thích quá trình lĩnhhội, đồng thời chuyển sang vận dụng tri thức vào các hoạt
động cụ thể Loại câu hỏi nhóm 3 này khác về chất so với câuhỏi của nhóm 2, ở chỗ là các câu hỏi này giúp học sinh nắm đ-
ợc tính logic của t duy khoa học
Do vậy, khi giáo viên soạn câu hỏi và phát vấn học sinhcần phải hình thành các nhóm câu hỏi nh trên để nhằmnhững mục đích nhất định nh nhóm câu hỏi thực hiện chứcnăng củng cố tri thức; nhóm câu hỏi giúp lĩnh hội tính logic vàhình các phơng pháp t duy sáng tạo; nhóm câu hỏi thực hiện
Trang 5chức năng vận dụng tri thức trong thực tế ( gắn bó với thựchành).
Nh vậy, để giúp các lĩnh hội tốt những khái niệm cơ bản
và giúp các em bổ khuyết cho sự lĩnh hội đó, ngừơi giáo viênkhi thành lập hệ thống câu hỏi, đầu tiên cần chú ý đến cáccâu hỏi về tiếp thu kiến thức và chức năng tiếp đến mới dùngcác câu hỏi có tính chất vận dụng t duy khoa học Dĩ nhiên,trong thực tiễn dạy học ngời giáo viên giỏi thờng kết hợp 2 yếu
tố đó trong một câu hỏi với tỉ lệ hợp lí của thứ tự câu hỏi
1.2-Các loại câu hỏi:
a-Câu hỏi lựa chọn:
Là dạng câu hỏi đợc sử dụng rộng rãi trong các bài kiểmtra khách quan nh chọn câu trả lời đúng Bởi lẽ nó đánh giákiến thức, hiểu biết, kĩ năng, t duy trong hầu hết các môn học.Nếu đợc cấu tạo tốt loại câu hỏi này sẽ mang tính hiệu lực cao,làm giảm cơ may đoán đúng của học sinh Tuy nhiên nó cũng
có những hạn chế ở chỗ nó khó có thể đánh giá đợc kỹ nănggiải quyết vấn đề và khó cấu tạo, đặc biệt trong việc mởrộng các phơng án trả lời hợp lý
b- Câu hỏi đúng -sai :
Đó có thể là một câu trần thuật, có thể là một tuyên bốhoặc là những câu hỏi trực tiếp đợc trả lời" có "- "không ".nhiều khi chúng có thể nhóm lại dới một câu dẫn Các phơng ántrả lời thích hợp để gợi nhớ kiến thức và khối lợng kiến thức
đáng kể có thể đợc kiểm tra một cách nhanh chóng.Tuy nhiên,câu dẫn của loại câu hỏi này phải hoàn toàn rõ ràng để câutrả lời dứt khoát là "có "hay " không" Dùng loại câu hỏi này th-ờng tạo ra sự khó khăn khi để kiểm tra trình độ hiểu biết caohơn và do đó chúng thờng bị phê phán là không tạo điều kiệncho học sinh phân biệt đợc những sinh thái tinh tế của câuhỏi và câu trả lời
c- Câu hỏi đối chiếu:
Câu hỏi đối chiếu có tác dụng đo hiểu biết về sự kiệntrong các môn học
d-Câu hỏi hoàn chỉnh câu:
Đối với loại câu hỏi hoàn chỉnh câu học sinh phải điềnthêm từ, cụm từ,số hoặc kí hiệu để trống trên cơ sở của mộtcâu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định còn cha đầy
đủ.Trong trờng hợp này học sinh phải đa ra câu trả lời nên nóhạn chế đợc khả năng đoán đúng, câu hỏi hoàn chỉnh cầnphải đợc đặt sao cho chỉ có thể có một câu trả lời ngắn gọn-giản đơn.Loại câu hỏi này thờng dùng trong các bài tập ngoạingữ và các bài tập ngôn ngữ
e- Câu hỏi tiểu luận:
Trang 6Câu hỏi tiểu luận là câu hỏi cần đến câu trả lời dài, nó
có tác dụng trong việc kiểm tra t duy nhận thức ở mức độcao.Nó tạo cho học sinh cơ hội biểu thị sự làm chủ nội dungthể hiện qua sự sắp xếp, phát triển ý tởng của mình có liênquan đến nội dung đó Qua việc trả lời câu hỏi tiểu luận chophép chúng ta nhìn thấu suốt vào thái độ và giá trị qua cáchtrả lời,cách viết cũng nh t tởng, tình cảm của học sinh Tuynhiên câu hỏi tiểu luận còn có hạn chế với những học sinh nhỏ,hơn nữa các tiểu luận khó xếp hạng và việc cho điểm thờngkhông đáng tin cậy và có khả năng bị ảnh hởng bởi khuynh h-ớng riêng của ngời cho điểm đối với câu hỏi
g- Câu hỏi nêu vấn đề:
Việc điều khiển quá trình học sinh tiếp thu kiến thức vàrèn luyện đợc thực hiện theo phơng hớng tạo ra những tìnhhuống có vấn đề cũng nh những điều kiện đảm bảo việc giảiquyết những tình huống đó và những chỉ dẫn cụ thể chohọc sinh trong tiến trình giải quyết các vấn đề Các câu hỏinêu vấn đề thờng thể hiện qua các tình huống:
+ Tình huống vấn đề (bài toán sáng tạo): học sinh khôngthể giải theo một khuôn mẫu có sẵn mà phải tự lực suy nghĩ,tìm kiếm, khám phá, lí giải các tình huống có vấn đề để
đạt đợc tri thức mới hoặcphơng pháp hành động mới
+ Tình huống đột biến: đợc đặt ra bằng cách cung cấpnhững sự kiện, hiện tợng không thể giải quyết đợc bằng nhữngtri thức và kĩ năng có sẵn
+ Tình huống bất ngờ: xuất hiện khi học sinh gặp những
sự kiện, hiện tợng bất thờng không ngờ là có thể xảy ra nh thế
+ Tình huống không phù hợp: đợc tạo rabằng cách giớithiệu những sự kiện, hiện tợng" nghịch lý", trái với quan niệmthông thờng, với kinh nghiệm cá nhân của học sinh.Giáo viêncần giải quyết làm rõ chỗ sai trong cách hiểu thông thờng củahọc sinh , từ đó tìm ra cách hiểu phù hợp với khoa học
+Tình huống xung đột: là tình huống xuất hiện khi họcsinh phải bác bỏ một kết luận phản khoa học, một luận đề sailầm.Làm đợc điều đó, học sinh phải tìm ra đợc những yếu
điểm của luận đề, chứng minh tính phản khoa học hoặc tínhchất phản động của nó
+Tình huống lựa chọn: Là tình huống xuất hiện khi họcsinh phải chọn trong số những phơng án giải quyết lấy một ph-
ơng án hợp lý nhất trong những điều kiện cụ thể
+Tình huống giải thuyết là một luận đề giả sử, đề ra
để giải thích một hiện tợng nào đó và đòi hỏi phải đợc xácminh bằng thực nghiệm hoặc bằng những sự kiện khoa học.Giả thuyết là một hình thức độc đáo của t duy, không những
Trang 7bao gồm một số khái niệm phán đoán, suy lý, giả định mà còn
là chính bản thân quá trình đề xuất, chứng minh, phát triểnnhững điều đã giả định Do vậy giả thuyết có một vai tròquan trọng trong việc rèn luyện t duy khoa học
h- Câu hỏi chơng trình hoá:
Câu hỏi chơng trình hoá là câu hỏi điều khiển kín cóliên hệ ngợc và do đó có sự điều chỉnh tiến trình dạy học từphía ngời điều khiển- Ngời giáo viên Câu hỏi chơng trìnhhoá phải dựa vào cấu trúc của hai kiểu chơng trình nghiêncứu: Chơng trình đờng thẳng và chơng trình chi nhánh
i- Câu hỏi trắc nghiệm:
Là một loại câu hỏi kiểm tra đợc chuẩn hoá, bao gồm cảchuẩn hoá về nội dung, quy trình và thủ tục tiến hành, về đáp
án và thang điểm Nó có những u điểm sau: Cho phép kiểmtra nhiều học sinh một lúc, cung cấp một bản ghi rõ ràng cáccâu trả lời của học sinh để dùng cho việc chấm điểm, câuhỏi trắc nghiệm cho phép học sinh cân nhắc đợc nhiều hơncác câu trả lời của mình và do đó có thể kiểm tra sự pháttriển của trí tuệ ở các mức độ cao hơn, mặt khác cũng dễquản lý hơn vài bản thân ngời chấm không tham gia vào bốicảnh kiểm tra Nhng đôi khi kết quả thực hiện không thu đợckhả quan của một số học sinh do những nguyên nhân sau đó
là việc giảng dạy của giáo viên, việc đề ra các mục tiêu khôngthực tế… Khi đặt câu hỏi trắc nghiệm giáo viên phải xác
định đợc những mục tiêu của mình muốn trắc nghiệm Chỉkhi điều này đợc xác định thì mới đảm bảo đợc nội dung vàyêu cầu
2- Cơ sở thực tiễn:
Nhng trên thực tế trong quá trình sử dụng cùng sách giáokhoa, cùng một lứa tuổi nhng có sự khác nhau về tần số sửdụng các câu hỏi của từng giáo viên có giáo viên sử dụng tần sốcâu hỏi nhóm 2 là chủ yếu rồi sau đó mới là câu hỏi nhóm 1,nhng có giáo viên dùng câu hỏi nhóm 2 và câu hỏi nhóm 1 thaycho nhau Kết quả điều này hiện nay cũng cha có để kết luậncơ sở chính xác đợc
Trong thực tế khi nêu câu hỏi ngời giáo viên thờng mắccác lỗi sau:
2.1 Những câu hỏi cụt lủn, tuỳ tiện và quá dễ dãi, loại câuhỏi chỉ cần lắc hay gật, có hay không, trả lời thế nào cũng
đúng và kích thích sự đoán mò, nói liều và câu trả lời thiếusuy nghĩ.Loại câu hỏi đã có đáp án ngay cạnh đó hoặc câuhỏi không có đáp án bao giờ, cũng nh những câu hỏi về loạichân lý muôn thở: Mẹ có yêu em không? Trái đất lớn hơn hay
Trang 8cái nhà lớn hơn? Khi cha mẹ cần giúp đỡ thì chúng ta có giúp
đỡ cha mẹ? v.v …,những câu hỏi áng chừng, mập mờ, lấp lửnghoặc cách phát biểu mập mờ, lấp lửng tuy câu hỏi không đếnnỗi thiếu xác định Hoặc chẻ câu hỏi thành những câu hỏivụn vặt, những mẩu âm thanh rời rạc và nhằm tìm nhữngthông tin vô bổ
2.2 Những câu hỏi trùng lặp, tối nghĩa hoặc có thể hiểutheo nhiều nghĩa khác nhau nh: Công thức hoá học của muối
ăn là gì? Muối ăn là hợp chất của những nguyên tố nào? - đó làcâu hỏi trùng lặp và thừa lời Dãy Trờng Sơn ở đâu?- câu hỏinày tối nghĩa hoặc gây ra nhiều cách hiểu khác nhau Câuhỏi thừa lời thì lãng phí thời gian và làm cho học sinh khôngbiết trả lời câu nào trớc, câu nào sau Câu hỏi tối nghĩa hay
đa nghĩa thì vô ích nh không hỏi, vừa làm rối ren suy nghĩcủa học sinh và thậm chí có hại
2.3 Những câu hỏi mớm lời , gà cách trả lời, mách nớc lộliễu Ví dụ: Dân tộc ta có phải là một dân tộc vĩ đại không?Vì sao nhân dân ta luôn tỏ ra bất khuất trớc kẻ thù xâm lợc?-
đó là những câu hỏi mớm lời, mách nớc Chúng đòi hỏi họcsinh phải có ý kiến về một chuyện rất quan trọng có liên quan
đến lập trờng t tởng, đạo đức và xã hội- lịch sử nhng thực ra ýkiến và lập trờng nh vậy đã có sẵn rồi, các em không thể nóikhác đợc
2.4 Những câu hỏi bỏ ngỏ để học sinh dễ dàng nói gợng
và cời đùa Ví dụ: Ngoài Thuý Kiều ra, trong Kiều còn có nhữngnhân vật đáng chú ý nh Tú Bà… ? Loại câu hỏi nh vậy dễ làm
ồn lớp, khiến học sinh chỉ có cách liệt kê không cần phải suynghĩ gì, dẫn đến những phản ứng đồng thanh
2.5 Những câu hỏi làm học sinh bối rối hoặc bế tắc.Tạisao Kenvin đã phát hiện đợc độ không tuyệt đối? Khi ThoátHoan phải trốn trong ống đồng thì hắn đã phải suy nghĩ nhthế nào? Những câu hỏi này không có câu trả lời, đơng nhiênhọc sinh không biết trả lời ra sao còn thời gian thì trôi qua vôích Ai dám tin mình sẽ có những hành động anh hùng nh TrầnQuốc Toản? Đó là những câu hỏi oái ămvà nghiệt ngã, chúngbuộc ngời ta phải xử lý những xung đột đạo đức một cách dễdãi, thiếu trách nhiệm, thiếu thận trọng, vội vàng, trong mộtcâu trả lời qua quýt, hoặc là không thể trả đợc vì hoàn tòankhông có cơ sở nào để trả lời cả
Trang 92.6 Những câu hỏi xẵng giọng, gắt gọng, tra xét, thẩmvấn Cái gì nữa, nói đi? Đó là hỏi xẵng, làm cho học sinh engại Nếu loại câu này đợc lặp lại, thì nó có xu hớng cao giọnghơn và chói tai- đó là gắt gỏng Nếu cách hỏi ấy nhè vào mộthọc sinh vài ba lần, đó là câu trả lời xét và thẩm vấn Nó làmcho những học sinh khác lơ đãng hoặc bất bình, làm cho ngời
bị hỏi cảm thấy có lỗi nhng ấm ức vì không hiểu mình có lỗigì
2.7 Gọi tên học sinh hay chỉ định một học sinh trớc khi vàngay sau khi nêu câu hỏi Yêu cầu một học sinh nghe mình hỏi
và trả lời là tự hạn chế ảnh hởng của câu hỏi, vì cả lớp chorằng câu hỏi ấy không bận gì đến mình, việc gì phải suynghĩ, còn bị hỏi sẽ căng thẳng do cha có đủ thời gian và sựbình tĩnh để suy nghĩ Nếu vừa dứt câu hỏi đã đòi học sinhtrả lời bằng cách chỉ định một, hai em cụ thể, thì tác hạicũng giống nh trên Cũng nh vậy, không lặp lại câu hỏi củamình vài lần, không đay lại câu trả lời sai của học sinh, khôngtuỳ tiện thêm bơtd vào câu trả lời đúng của học sinh
2.8 Nhanh nhảu hay hăng hái trả lời những câu hỏi củahọc sinh Điều đó dập tắt những phản ứng và hứng thú củahọc sinh vì các em sẽ có cảm giác mình thừa ra, các em có khảnăng giải đáp câu hỏi dễ bị mếch lòng, cảm giác bị xúcphạm Hơn nữa, làm thay học sinh trong khi đó là bổn phậntrọng yếu của các em là điều tối kị trong dạy học, gây ra tính
ỷ lại, thụ động, biếng nhác
2.9 Lạm dụng những học sinh giỏi, nhanh nhẹ, hăng háitham gia Làm nh vậy là loại bỏ đa số khỏi quá trình suy nghĩ
và hoạt động và tôn vinh một số ít học sinh, nuôi dỡng nhữngmối ác cảm giữa học sinh với nhau, thái độ lãnh đạm, thờ ơ của
số đông Đây là hiện tợng tơng đối phổ biến trong nhà trờng,một phần do cách kiểm tra chuyên môn, dự giờ và đánh giágiáo viên gây ra
2.10 Cho phép hoặc bỏ qua những câu trả lời cẩu thả,những hành vi ngôn ngữ và giao tiếp sỗ sàng của học sinh khitrả lời Sự nóng vội có thể làm cho giáo viên ừ ào bỏ qua nhữngcâu trả lời sai, nửa chừng hay bừa bãi của học sinh, tính tuỳtiện khiến giáo viên bỏ qua lỗi từ, lỗi câu và thậm chí cả nghithức giao tiếp cần thiết Những điều này khuyến khích thóiquen xấu của những học sinh này, và làm gơng cho những họcsinh khác
Trang 10II- giải pháp mới:
1- Lập quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học:
Câu hỏi với t cách là một phơng tiện dạy học nên việc hỏi
và sử dụng câu hỏi cần tuân thủ quy trình nhất định Giáoviên có thể lựa chọn cách làm thích hợp nhất với khả năng và ý
đồ của mình, nhng tối thiểu phải qua nhữn bớc cơ bản sau:
1.1- Chuẩn bị câu hỏi ban đầu:
Thiết kế hay hình thành hệ thống câu hỏi là việc phảilàm trớc khi tiến hành bất kì nhiệm vụ dạy học nào Bài nào,môn nào, lúc nào, học sinh nào,giáo viên nào và ở đâu đều cóthể phải dùng đến câu hỏi và chúng hầu nh đắc dụng, tiện lợihơn mọi kĩ thuật khác Trong bớc chuẩn bị, xác định nội dung
và ý chính của nội dung học tập, cần phải hỏi về những gì,hỏi để làm gì Kiểu và hình thức ngôn ngữ của câu hỏi chacần đợc khẳng định, nhng cần dự kiến hai nhóm câu hỏi:
Nhóm 1: Câu hỏi chốt bao quanh nội dung học tập cơbản có liên quan đến những ý chính của bài học, khoảng 3- 4câu hay 3- 4 ý chính ;
Nhóm 2: Câu hỏi mở rộng, hay câu hỏi bổ sung, đợcchuẩn bị dới dạng các tình huống dự kiến, giả định, còn câuhỏi cụ thể thì cha xác định đợc vì loại câu hỏi này chỉ thật
sử xuất hiện tuỳ tình huống cụ thể Tuy không chuẩn bịchính xác đợc loại câu hỏi mở rộng, nhng phải có định hớng
rõ ràng, vì chúng có vai trò cực kì quyết định trong thảoluận, giữ cho các t tởng đợc liên tục, các tình huống đợc sinh
2a - Tính rõ ràng, sáng sủa: Câu hỏi phải đơn giản, tránh
đánh đố, hoặc có thể hiểu theo nhiều cách và đa nghĩa, dễlàm học sinh hoang mang Câu hỏi phải rõ nghĩa, rõ ý, tậptrung vào mộtt vấn đề có liên quan đến chủ đề hoặc khái